|
ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH KON TUM
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 529/QĐ-UBND
|
Kon Tum, ngày 26
tháng 6 năm 2025
|
QUYẾT
ĐỊNH
PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN PHÁT TRIỂN VÙNG NGUYÊN LIỆU
RỪNG TRỒNG GẮN VỚI NHÀ MÁY CHẾ BIẾN GỖ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KON TUM
ỦY BAN
NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
Căn cứ Luật Tổ chức
chính quyền địa phương ngày 16 tháng 6 năm 2025;
Căn cứ Luật Lâm nghiệp
ngày 15 tháng 11 năm 2017;
Căn cứ Luật Đất đai
ngày 18 tháng 01 năm 2024;
Căn cứ Nghị định số
156/2018/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành một số điều của Luật Lâm nghiệp;
Căn cứ Nghị định số
91/2024/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số
điều của Nghị định 156/2018/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2018 của Chính phủ quy
định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp;
Căn cứ Nghị quyết số
84/NQ-CP ngày 05 tháng 8 năm 2021 của Chính phủ về phê duyệt chủ trương đầu tư
Chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2021-2025;
Căn cứ Quyết định
523/QĐ-TTg ngày 01 tháng 4 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến
lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm
2050;
Quyết định số
327/QĐ-TTg ngày 10/03/2022 của Thủ tướng chính phủ Phê duyệt Đề án phát triển
ngành công nghiệp chế biến gỗ bền vững, hiệu quả giai đoạn 2021 - 2030
Căn cứ Nghị quyết số
06-NQ/ĐH ngày 30 tháng 9 năm 2020 Đại hội Đại biểu tỉnh Đảng bộ lần thứ XVI;
Căn cứ Nghị quyết số
06-NQ/TU ngày 25 tháng 11 năm 2021 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVI về
phát triển lâm nghiệp bền vững đến 2025 và định hướng đến 2030 trên địa bàn
tỉnh Kon Tum;
Theo đề nghị của Giám
đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tại Tờ trình số 294/TTr-SNNMT ngày 23 tháng 6
năm 2025 (kèm theo hồ sơ) .
QUYẾT
ĐỊNH:
Điều 1. Phê
duyệt Đề án phát triển vùng nguyên liệu rừng trồng gắn với nhà máy chế biến gỗ
trên địa bàn tỉnh Kon Tum định hướng đến 2045 (kèm theo quyết định này) với
các nội dung chính sau:
I. QUAN ĐIỂM
Quan điểm chung là Phát
triển rừng sản xuất theo cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế trong thời đại
cách mạng công nghiệp 4.0 sớm trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn có sự liên
kết giữa phát triển rừng với chế biến và thương mại lâm sản. Phát triển kinh tế
lâm nghiệp theo hướng xã hội hóa và tổ chức liên kết sản xuất, kinh doanh theo
chuỗi giá trị lâm sản hài hòa mục tiêu phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường
và an sinh xã hội.
- Đẩy mạnh phát triển
rừng trồng gỗ lớn, sử dụng hợp lý, có hiệu quả diện tích đất quy hoạch phát
triển rừng sản xuất; sớm hình thành vùng kinh doanh rừng gỗ lớn có năng suất,
chất lượng cao, cung cấp nguyên liệu ổn định, lâu dài gắn với phát triển công
nghiệp chế biến tại thị trường trong nước và xuất khẩu. Phát triển ngành công
nghiệp chế biến gỗ trên cơ sở huy động mọi nguồn lực, mọi thành phần kinh tế
cùng tham gia, tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho người dân, đóng góp đáng
kể vào tăng trưởng kinh tế, xoá đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường.
II. MỤC TIÊU
1. Mục tiêu chung:
Nâng cao giá trị sản
xuất, kinh doanh rừng trồng và phát triển lâm nghiệp bền vững về kinh tế, xã
hội và môi trường; gắn kết theo chuỗi từ trồng rừng, chế biến và tiêu thụ sản
phẩm để nâng cao giá trị lâm sản hàng hóa, góp phần thực hiện mục tiêu tái cơ
cấu ngành nông nghiệp tỉnh Kon Tum theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng,
hiệu quả, khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững.
2. Mục tiêu cụ thể đến
năm 2030 tầm nhìn đến 2045:
- Hình thành được vùng
nguyên liệu gỗ, tre nứa tập trung với quy mô khoảng 118.000 ha, đáp ứng nguyên
liệu các cho nhà máy chế biến gỗ công suất 100.000 m3/năm và tiêu
dùng nội tỉnh.
- Đưa năng suất rừng gỗ
lớn trồng mới đạt trên 20 m3/ha/năm (Mức trung bình của cả nước).
Phấn đấu rừng trồng mới khi đưa vào khai thác đạt trữ lượng trên 200 m3/ha/10
năm. Đưa tỷ lệ gỗ lớn (gỗ xẻ có đường kính ≥ 20 cm) vào chế biến tinh
sâu từ 25-35% sản lượng khai thác hiện nay lên 50% vào năm 2030.
- Thu hút nhà máy chế
biến gỗ công suất 100.000 m3/năm.
- Trên 50% cơ sở chế
biến gỗ, lâm sản đạt trình độ và năng lực công nghệ sản xuất tiên tiến và 100%
gỗ, sản phẩm gỗ xuất khẩu và tiêu dùng nội tỉnh được sử dụng từ nguồn nguyên
liệu gỗ hợp pháp, gỗ có chứng chỉ quản lý rừng bền vững vào năm 2030.
- Rừng trồng được cấp
chứng chỉ rừng bền vững theo tiêu chuẩn FSC, đến năm 2030 đạt trên 50.000 ha.
- Góp phần nâng tỷ lệ
che phủ của rừng, tạo môi trường sinh thái, chống xói mòn, hạn chế thiên tai,
điều hòa nguồn nước và khí hậu; nâng cao giá trị kinh tế của rừng, tạo công ăn
việc làm, tăng thêm thu nhập nhằm nâng cao đời sống con người dân trong vùng dự
án và bảo vệ an ninh quốc phòng, trật tự cho vùng biên giới.
III. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI
PHÁP CHỦ YẾU
(Đề
án với 11 nhóm nhiệm vụ và giải pháp chính) cụ thể như sau:
1. Tổ chức tuyên
truyền, phổ biến triển khai thực hiện Đề án
2. Nhóm giải pháp về
quản lý quy hoạch và đất lâm nghiệp
3. Nhóm giải pháp về
đẩy mạnh ứng dụng giống, quy trình kỹ thuật và máy móc, thiết bị tiến bộ vào
trồng rừng nguyên liệu
4. Nhóm giải pháp về
xúc tiến thương mại và tạo thương hiệu cho sản phẩm; Nâng cao khả năng tiếp cận
thị trường cho chủ thể trồng rừng nguyên liệu:
5. Giải pháp về cơ chế,
chính sách: đất đai, tài chính, tín dụng và đầu tư
6. Giải pháp về đào tạo
và phát triển nguồn nhân lực
7. Nâng cao hiệu lực,
hiệu quả công tác quản lý Nhà nước; phát huy vai trò của các đoàn thể chính trị
- xã hội trong công tác phát triển rừng, đặc biệt là rừng sản xuất.
8. Thực hiện cơ chế,
chính sách lâm nghiệp
9. Phát triển kinh tế
lâm nghiệp
10. Huy động các nguồn
lực đầu tư phát triển ngành lâm nghiệp
11. Danh mục các chương
trình, dự án ưu tiên
(Chi
tiết có phụ lục kèm theo)
IV. NGUỒN KINH PHÍ THỰC
HIỆN ĐỀ ÁN
Tổng nhu cầu vốn để
thực hiện Đề án là 7.903.541,1 triệu đồng, trong đó Ngân sách Nhà nước Trung
ương hỗ trợ là 252.473,7 triệu đồng chiếm 3,2% thông qua chính sách tại Nghị
định số 58/2024/NĐ-CP ngày 24 tháng 5 năm 2024 của Chính phủ về một số chính
sách đầu tư trong lâm nghiệp; Ngân sách địa phương hỗ trợ là 26.840 triệu đồng
chiếm 0,3% thực hiện các chương trình đào tạo, dự án ưu tiên của tỉnh; Vốn của
doanh nghiệp, vốn vay, huy động nguồn lực xã hội là 7.624.227,5 triệu đồng
chiếm 96,5%.
V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Sở Nông nghiệp và
Môi trường là cơ quan đầu mối theo dõi, kiểm tra, đôn đốc thực hiện Đề án. Định
kỳ tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh sơ kết, tổng kết việc thực hiện đề án theo quy
định.
- Chủ trì phối hợp với
Sở Tài chính và các đơn vị có liên quan xây dựng kế hoạch, tổng hợp nhu cầu
kinh phí hằng năm tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân
phân bổ thực hiện Đề án.
- Chủ trì, phối hợp với
các cơ quan, đơn vị, địa phương liên quan quản lý, hướng dẫn và tổ chức triển
khai thực hiện Đề án theo đúng quy định.
2. Thủ trưởng các sở,
ban ngành, địa phương; các đơn vị chủ rừng căn cứ chức năng nhiệm vụ xây dựng
chương trình, kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án; định
kỳ 6 tháng và hằng năm báo cáo kết quả thực hiện Đề án gửi về Sở Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn để tổng hợp báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh theo dõi, chỉ
đạo.
Điều 2. Quyết
định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.
Chánh Văn phòng Ủy ban
nhân dân tỉnh, Giám đốc các Sở: Nông nghiệp và Môi trường, Tài chính, Xây dựng,
Công Thương; Thủ trưởng các địa phương; các đơn vị chủ rừng và các tổ chức, đơn
vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
Nơi nhận:
-
Như Điều 2;
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường (b/c);
- Thường trực Tỉnh ủy (b/c);
- Thường trực HĐND tỉnh (b/c);
- Chủ tịch, các PCT UBND tỉnh;
- Các sở, ban ngành, đơn vị thuộc tỉnh;
- Chi cục Kiểm lâm;
- Các Công ty TNHH MTV lâm nghiệp;
- Các Ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng;
- UBND các xã, phường;
- Trung tâm truyền thông tỉnh;
- Cổng Thông tin điện tử tỉnh;
- VP UBND tỉnh: CVP, các PCVP;
- Lưu VT, KTTH, KTN.VĐH.
|
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Nguyễn Hữu Tháp
|
PHỤ
LỤC
CÁC NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP ĐỀ ÁN
(Kèm
theo Quyết định số 529/QĐ-UBND ngày 26 tháng 6 năm 2025 của Ủy ban nhân dân
tỉnh)
1.
Tổ chức tuyên truyền, phổ biến triển khai thực hiện Đề án
- Các cơ quan đoàn thể
chính trị - xã hội phát huy vai trò trách nhiệm trong công tác tuyên truyền,
vận động nhân dân tham gia phát triển rừng sản xuất.
- Tăng cường giáo dục
pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, nâng cao ý thức bảo vệ rừng của người
dân; vận động các hộ gia đình sống gần rừng thay đổi nhận thức, tập quán kinh
doanh, sản xuất lâm nghiệp quảng canh sang thâm canh.
2.
Nhóm giải pháp về quản lý quy hoạch và đất lâm nghiệp
- Đảm bảo đủ diện tích
quỹ đất để phát triển rừng nguyên liệu phù hợp với quy hoạch lâm nghiệp quốc
gia và kế hoạch của tỉnh.
- Xây dựng các cụm công
nghiệp, các nhà máy chế biến phù hợp với các định hướng chiến lược trong phát
triển kinh tế - xã hội chung trên địa bàn tỉnh nói chung và các địa phương nói
riêng.
- Phát triển vùng
nguyên liệu và công nghiệp chế biến gỗ phải phù hợp với định hướng quy hoạch
phát triển vùng. Tổ chức, cơ cấu lại ngành công nghiệp chế biến gỗ nhằm cân đối
giữa nguồn lực sản xuất và nguồn cung cấp nguyên liệu ổn định. Tập trung rà
soát, củng cố và nâng cấp hệ thống nhà máy chế biến lâm sản quy mô vừa và nhỏ
đồng thời phát triển công nghiệp chế biến lâm sản quy mô lớn sau năm 2025.
- Ưu tiên bố trí các
doanh nghiệp chế biến vào hoạt động tại các khu, cụm công nghiệp đã được quy
hoạch trên địa bàn tỉnh.
- Bố trí mặt bằng và có
cơ chế hỗ trợ đưa các doanh nghiệp chế biến gỗ vào các khu công nghiệp, cụm
công nghiệp trên địa bàn tỉnh.
- Nâng cao năng lực,
hiệu quả quản lý của cơ quan chuyên trách quản lý nhà nước về rừng, đất lâm
nghiệp các cấp. Trong đó, tập trung nâng cao trách nhiệm quản lý nhà nước về
rừng và đất lâm nghiệp của chính quyền cấp xã; thành lập các Hợp tác xã lâm
nghiệp để tập hợp các hộ gia đình có diện tích trồng rừng tham gia vùng nguyên
liệu gỗ rừng trồng và trồng rừng gỗ lớn.
- Xây dựng và ban hành
cơ chế chính sách khuyến khích, hỗ trợ phù hợp với điều kiện của địa phương
nhằm thu hút các thành phần kinh tế tham gia trồng rừng gỗ lớn, đầu tư cơ sở
chế biến với công nghệ hiện đại; tạo môi trường liên kết chuỗi sản phẩm từ khâu
sản xuất nguyên liệu, khai thác, chế biến và tiêu thụ sản phẩm.
- Tập trung hướng dẫn,
kêu gọi các doanh nghiệp đã đầu tư nhà máy trên địa bàn và hỗ trợ các chủ rừng,
liên kết để thực hiện “chứng chỉ rừng trồng FSC”.
3. Nhóm giải pháp về
đẩy mạnh ứng dụng giống, quy trình kỹ thuật và máy móc, thiết bị tiến bộ vào
trồng rừng nguyên liệu
- Ứng dụng giống tiến
bộ
Áp dụng trồng các giống
cây lâm nghiệp có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng đồng thời khuyến cáo trồng những
loài cây lâm nghiệp lấy nguyên liệu gỗ phù hợp với điều kiện lập địa tại địa
phương, đảm bảo đạt năng suất, chất lượng, ổn định. Thực hiện đúng theo Nghị
định số 27/2021/NĐ-CP ngày 25/3/2021 của Chính phủ về quản lý giống cây trồng
lâm nghiệp.
Tiếp tục tập trung
nghiên cứu phát triển về công nghệ sinh học nhằm tăng năng suất của giống cây
lâm nghiệp đang trồng phổ biến đồng thời không ngừng nghiên cứu tìm và tạo giống
cây mới có hiệu quả cao phục vụ cho lâm nghiệp tại địa phương.
Ứng dụng công nghệ cao,
công nghệ tiên tiến vào khâu chọn, tạo giống mới, trồng và chăm sóc rừng để tạo
nguồn nguyên liệu. Xây dựng các Vườn ươm cây giống áp dụng công nghệ cao từ
việc chọn tạo giống và nhân giống như công nghệ tế bào, công nghệ sử dụng vật
liệu mới ở vườn ươm, công nghệ tưới phun.
Tăng cường hợp tác quốc
tế nhằm chuyển nhượng bản quyền công nghệ, giống, thiết bị tiên tiến sản xuất,
chế biến gỗ mà trong nước chưa sản xuất được.
- Ứng dụng quy trình kỹ
thuật
Xây dựng quy trình kỹ
thuật trồng chăm sóc và phát triển các loài cây lâm nghiệp cho năng suất cao
đồng thời không ngừng cải tiến để phù hợp với thực tiễn sản xuất.
Áp dụng các giải pháp
kỹ thuật thâm canh rừng trồng ở mức độ cao, chú trọng đầu tư các khâu quan
trọng như: Làm đất, bón phân, tăng số lần chăm sóc rừng trồng, thực hiện tốt
các nội dung biện pháp nuôi dưỡng rừng.
Hỗ trợ tập huấn về công
nghệ thông tin, xây dựng và áp dụng chứng chỉ FSC, PEFC, CoC, ISO,... cho doanh
nghiệp chế biến và người trồng rừng.
- Ứng dụng máy móc,
thiết bị
Tập trung đầu tư cho
nghiên cứu, ứng dụng công nghệ cao, thiết bị hiện đại vào khâu chọn, tạo giống,
trồng rừng, khai thác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và phát triển sản
phẩm mới, nâng cao thương hiệu Việt.
Không ngừng đổi mới áp
dụng các thiết bị máy móc hiện đại phục vụ cho công tác phát triển trồng rừng
nguyên liệu. Việc sử dụng máy móc tiến bộ cần được tiến hành và áp dụng phù hợp
với thực tiễn sản xuất của tỉnh trong các khâu, các bước quan từ tạo giống, làm
đất, trồng, chăm sóc nhằm đảm bảo tối ưu hoá hiệu quả và năng suất.
4. Nhóm giải pháp về
xúc tiến thương mại và tạo thương hiệu cho sản phẩm
- Nâng cao khả năng
tiếp cận thị trường cho chủ thể trồng rừng nguyên liệu.
Cung cấp các thông tin
cần thiết, chính xác, đầy đủ về thị trường tiêu thụ gỗ nguyên liệu đối với các
chủ thể trồng rừng để họ nắm bắt và chủ động việc mua bán sản phẩm từ rừng
trồng.
Tạo cơ chế, chính sách,
đầu tư và hỗ trợ cho các chủ thể trồng rừng chủ động tham gia vào thị trường
tiêu thụ sản phẩm lâm sản tại địa phương, trong tỉnh và các khu vực lân cận.
Hỗ trợ kinh phí xây
dựng các mô hình trồng rừng xen canh cây ngắn ngày tạo sinh kế bền vững, giúp
người dân có thu nhập ổn định trong thời gian trồng rừng gỗ lớn. Hỗ trợ kinh
phí cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững đối với rừng trồng gỗ lớn, để nâng cao
giá trị gia tăng và tiếp cận được với thị trường thế giới.
- Liên kết sản xuất và
tiêu thụ giữa trồng rừng và chế biến kinh doanh lâm sản.
Xây dựng chuỗi giá trị
rừng từ trồng, khai thác, chế biến và xuất khẩu, trong đó tập trung phát triển
vùng nguyên liệu tập trung gắn với doanh nghiệp thu mua chế biến để nâng cao
giá trị, chất lượng và nguồn gốc sản phẩm nhằm tiến đến quy trình khép kín phục
vụ cho phát triển ngành gỗ bền vững.
Xúc tiến các nhà đầu tư
xây dựng vùng nguyên liệu cho các nhà máy trên cơ sở các diện tích đã được đưa
vào Đề án để thực hiện việc liên doanh, liên kết trong trồng rừng, thu mua lâm
sản. Đẩy mạnh việc thành lập các hợp tác xã lâm nghiệp để thực hiện việc liên
doanh, liên kết các hộ gia đình, cá nhân phát triển vùng nguyên liệu, tạo điều
kiện thuận lợi cho thực hiện quản lý rừng bền vững.
Khuyến khích các chủ
rừng là tổ chức xây dựng phương án quản lý rừng bền vững đối với rừng trồng,
chủ động liên liên doanh, liên kết với các chủ đầu tư của các nhà máy chế biến
gỗ.
Xây dựng môi quan hệ
liên kết chặt chẽ giữa các tổ chức, cá nhân trồng rừng với người sản xuất, chế
biến và kinh doanh thành một chuỗi khép kín, thống nhất các tiêu chuẩn của ngành,
quan tâm vấn đề lợi ích từng công đoạn và thương hiệu đầu ra của sản phẩm để
đảm bảo hiệu quả hoạt động và sức cạnh tranh để tạo ra quy mô sản lượng lớn...
đáp ứng nhu cầu của tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
5. Giải pháp về cơ chế,
chính sách
a) Chính sách về đất
đai
Tiếp tục việc thực hiện
giao đất, cho thuê đất theo quy định của Luật Đất đai cho các tổ chức, cá nhân,
hộ gia đình để thực hiện việc trồng rừng sản xuất.
Tạo mọi điều kiện hỗ
trợ doanh nghiệp trong giải quyết thủ tục hành chính cấp đất, giải phóng mặt
bằng trong đầu tư.
Đẩy nhanh tiến độ đầu
tư xây dựng và hoàn thiện kết cấu hạ tầng và đưa vào hoạt động các khu, cụm,
điểm công nghiệp nhằm tạo điều kiện thuận lợi về mặt bằng sản xuất thu hút các
dự án chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh.
b) Chính sách tài chính
và tín dụng
Huy động các thành phần
kinh tế trong nước theo cơ chế liên doanh, liên kết giữa hộ nông dân và doanh
nghiệp cùng góp vốn để phát triển rừng, hình thành vùng nguyên liệu cho chế
biến gỗ; phát triển du lịch sinh thái gắn với bảo vệ rừng; khuyến khích phát
triển nông lâm kết hợp, trang trại lâm nghiệp theo quy định tại Nghị định số
57/2018/NĐ-CP ngày 17 tháng 4 năm 2018 của Chính phủ và Quyết định số
38/2016/QĐ-TTg ngày 14 tháng 9 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ.
Các cơ quan, tổ chức
tín dụng của tỉnh cần tạo mọi điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận và
vay vốn trung và dài hạn được hỗ trợ lãi. Tiếp cận các cơ chế chính sách mới
(Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa) và vay vốn với lãi suất ưu đãi theo Nghị
định số 32/2017/NĐ-CP ngày 31/3/2017 về tín dụng đầu tư của Nhà nước.
Các tổ chức tín dụng
trên địa bàn tiếp tục triển khai hiệu quả Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày
09/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp,
nông thôn và Nghị định số 116/2018/NĐ-CP ngày 07/9/2018 của Chính phủ về sửa
đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP; các chi nhánh ngân hàng
thương mại tích cực triển khai Chương trình tín dụng đối với lĩnh vực nông,
lâm, thủy sản theo Công văn số 5631/NHNN-TD ngày 14/7/2023 và 2756/NHNN-TD ngày
15/4/2025 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các văn bản triển khai chương
trình tín dụng chính sách có liên quan của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
c) Chính sách đầu tư
Thực hiện tốt chính
sách hỗ trợ cho các thành phần kinh tế trồng rừng kinh doanh gỗ lớn. Hỗ trợ
kinh phí chuyển hóa rừng trồng kinh doanh gỗ nhỏ sang kinh doanh gỗ lớn.
Hỗ trợ kinh phí xây
dựng các mô hình trồng rừng xen canh cây ngắn ngày tạo sinh kế bền vững, giúp
người dân có thu nhập ổn định trong thời gian trồng rừng gỗ lớn. Hỗ trợ kinh
phí cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững đối với rừng trồng gỗ lớn, để nâng cao
giá trị gia tăng và tiếp cận được với thị trường thế giới.
Đầu tư, hỗ trợ nghiên
cứu, ứng dụng các loài giống cây trồng có năng suất, chất lượng và hiệu quả
kinh tế cao, phù hợp với tập quán và trình độ canh tác của người dân. Hỗ trợ
thành lập các hợp tác xã, tổ hợp tác về lâm nghiệp để tích tụ đất đai và liên
kết sản xuất. Hỗ trợ xây dựng đường lâm nghiệp, vườn ươm giống chất lượng cao
tại các vùng trồng rừng nguyên liệu gỗ lớn tập trung.
Xây dựng và triển khai
định giá rừng, định giá đất gắn với rừng, thúc đẩy việc đăng ký đất, đăng ký
tài sản trên đất (rừng) và giá trị rừng làm căn cứ cho việc thế chấp và bảo
hiểm đối với rừng trồng kinh doanh gỗ lớn, hạn chế rủi ro để người trồng rừng
yên tâm đầu tư kinh doanh gỗ lớn.
Ưu đãi đối với các
doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị hiện đại, thân thiện
với môi trường phục vụ cho hoạt động chế biến gỗ theo Thông tư số
28/2018/TT-BTC ngày 28 tháng 3 năm 2018 của Bộ Tài chính hướng dẫn lập, quản
lý, xử lý kinh phí khuyến công.
Đầu tư, hỗ trợ nghiên
cứu, ứng dụng các loài giống cây trồng có năng suất, chất lượng và hiệu quả
kinh tế cao, phù hợp với tập quán và trình độ canh tác của người dân. Hỗ trợ
thành lập các hợp tác xã, tổ hợp tác về lâm nghiệp để tích tụ đất đai và liên
kết sản xuất. Hỗ trợ xây dựng đường lâm nghiệp, vườn ươm giống chất lượng cao
tại các vùng trồng rừng nguyên liệu gỗ lớn tập trung.
6. Giải pháp về đào tạo
và phát triển nguồn nhân lực
Thường xuyên tập huấn
kỹ thuật trong công tác phát triển rừng trồng nguyên liệu đối với các chủ rừng
là các tổ chức và các hộ gia đình…nhằm nâng cao kiến thức trong trồng rừng qua
đó tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Đẩy mạnh công tác đào
tạo nghề, đào tạo kiến thức và kỹ năng, tay nghề phù hợp với sản xuất gỗ và sản
phẩm gỗ, nâng cao trình độ vận hành máy móc, thiết bị của công nhân, bồi dưỡng
nghiệp vụ quản lý, điều hành sản xuất, kiểm soát tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm
của đội ngũ quản lý cấp sơ - trung và kỹ năng quản lý, điều hành của cán bộ
quản lý doanh nghiệp.
Tăng cường hợp tác,
liên kết giữa các cơ sở đào tạo với các doanh nghiệp, gắn đào tạo với sử dụng
lao động tại chỗ để nâng cao tay nghề cho công nhân và cán bộ kỹ thuật đáp ứng
nhu cầu của các doanh nghiệp; chú trọng đào tạo cán bộ nghiên cứu và lao động
kỹ thuật trình độ chuyên môn cao.
Thu hút nghệ nhân giỏi
ở trong tỉnh và các địa phương trong nước tham gia truyền nghề, đào tạo nghề
lồng ghép với nguồn vốn đào tạo nghề của chương trình nông thôn mới.
Lồng ghép hỗ trợ tăng
cường đào tạo tay nghề công nhân chế biến gỗ. Thường xuyên tổ chức tham quan
trong và ngoài nước để học tập kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh, tiếp cận thị
trường, công nghệ mới.
Huy động và gắn kết các
nguồn lực, lồng ghép các chương trình, dự án để nâng cao hiệu quả trong công
tác bảo vệ phát triển rừng, trồng rừng nguyên liệu, trồng rừng gỗ lớn. Sử dụng
có hiệu quả nguồn vốn từ Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững,
Quỹ bảo vệ và phát triển rừng, chính sách nông nghiệp của tỉnh... để hỗ trợ,
thúc đẩy trồng rừng sản xuất.
Các doanh nghiệp cần
xây dựng chiến lược, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng để phát triển đội ngũ công
nhân kỹ thuật của mình. Ngoài ra, cần đổi mới chương trình và linh hoạt trong
tổ chức các khóa đào tạo, tập huấn. Thành lập các trung tâm, cơ sở đào tạo nghề
chế biến gỗ, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ tại các khu vực chế biến lâm sản
tập trung của tỉnh. Tổ chức các hội thi tay nghề hàng năm.
7. Nâng cao hiệu lực,
hiệu quả công tác quản lý Nhà nước; phát huy vai trò của các đoàn thể chính
trị-xã hội trong công tác phát triển rừng, đặc biệt là rừng sản xuất
Tiếp tục rà soát diện
tích 3 loại rừng cho phù hợp với phát triển kinh tế xã hội ở địa phương; rà
soát lại hiện trạng rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp cho đúng với thực trạng
trên địa bàn toàn tỉnh theo quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và quy
hoạch lâm nghiệp quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Xác
định rõ lâm phần quản lý, xây dựng phương án thay thế chủ thể quản lý lâm phần
cho phù hợp. Hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các Công
ty TNHH MTV lâm nghiệp, các Ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng theo quy định
trước năm 2030; tổ chức quản lý sử dụng có hiệu quả diện tích rừng và đất lâm
nghiệp trên địa bàn tỉnh.
- Tập trung giải quyết
dứt điểm diện tích đất chồng lấn, lấn chiếm nằm trong lâm phần của các đơn vị
chủ rừng trước năm 2025, không để phát sinh diện tích lấn chiếm mới; Xử lý cấp
quyền sử dụng đất để người dân ở và sản xuất đối với diện tích đất chồng lấn,
lấn chiếm; tạo sinh kế cho người dân sống gần rừng, trong đó có tạo việc làm
phi nông nghiệp cho người đồng bào dân tộc thiểu số như như đan lát, sản xuất
đồ gỗ, buôn bán lâm sản ngoài gỗ, cơ khí nhỏ, dịch vụ phục vụ sản xuất và đời
sống... để hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng phá rừng làm nương rẫy.
- Quản lý chặt chẽ các
cơ sở chế biến gỗ, kiên quyết đình chỉ hoạt động, thu hồi giấy phép các cơ sở
vi phạm theo quy định của pháp luật. Rà soát, xử lý dứt điểm các loại phương
tiện dùng để khai thác, vận chuyển lâm sản trái pháp luật trên địa bàn tỉnh.
- Nghiên cứu, chuyển
giao ứng dụng tiến bộ, khoa học công nghệ, công nghệ thông tin trong tất cả các
khâu của chuỗi giá trị ngành lâm nghiệp đáp ứng yêu cầu của sản xuất và thị
trường. Trồng thử nghiệm, xác định được danh mục các loài cây trồng rừng mới
phù hợp trên địa bàn tỉnh phục vụ cho trồng rừng sản xuất. Quản lý chặt chẽ
nguồn giống trong trồng rừng, giám sát chặt chẽ từ khi trồng đến khi thu hoạch
để đảm bảo trồng rừng có hiệu quả, tránh thất thoát vốn trồng rừng.
8. Thực hiện cơ chế,
chính sách lâm nghiệp
- Tiếp tục triển khai
hiệu quả các cơ chế, chính sách hiện hành theo quy định của Luật Lâm nghiệp và
các văn bản liên quan. Tổ chức thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách mới
như: Chính sách thúc đẩy xã hội hóa lâm nghiệp, phát triển lâm nghiệp cộng
đồng, chính sách cung ứng tín chỉ các bon. Thí điểm thực hiện chính sách bảo
hiểm trong lâm nghiệp đặc biệt là bảo hiểm rừng trồng.
- Rà soát các chính
sách hỗ trợ phát triển rừng của Trung ương và địa phương, đề xuất sửa đổi, bổ
sung hoàn thiện hệ thống pháp luật về lâm nghiệp theo thẩm quyền trên cơ hài
hòa với Luật Đất đai, Luật Đa dạng sinh học, Luật Bảo vệ môi trường và các điều
ước quốc tế để đáp ứng yêu cầu phát triển lâm nghiệp bền vững; trọng tâm là
chính sách đất đai và chính sách vốn để tạo điều kiện để doanh nghiệp, hộ gia
đình sử dụng đất có hiệu quả và tiếp cận được các nguồn vốn ưu đãi để phát
triển lâm nghiệp, chính sách thu hút đầu tư phát triển rừng trồng và sản xuất
chế biến gỗ, các hoạt động hỗ trợ người dân tham gia phát triển kinh tế lâm
nghiệp .
- Thực hiện tốt chính
sách phát triển rừng gắn với tạo sinh kế, nâng cao thu nhập và làm giàu từ rừng
cho người dân, cộng đồng dân cư; khuyến khích người dân trồng rừng, nghiên cứu
đề xuất chính sách hỗ trợ cho người dân sống được bằng nghề rừng và vươn lên
làm giàu từ nghề rừng.
9. Phát triển kinh tế
lâm nghiệp
- Tập trung đẩy mạnh
công tác thu hút đầu tư trong lĩnh vực lâm nghiệp, đặc biệt là thu hút đầu tư
các nhà máy chế biến gỗ rừng trồng và thu hút trồng rừng và sản xuất lâm sản
theo hướng hiện đại, phát triển dược liệu dưới tán rừng, du lịch sinh thái.
- Nghiên cứu, lựa chọn,
tập trung phát triển mạnh mẽ các mô hình kinh tế lâm nghiệp hộ gia đình, trang
trại, cộng đồng dân cư và hợp tác xã kiểu mới phù hợp. Phát triển các hình thức
liên kết giữa các thành phần kinh tế, kinh tế hợp tác, kinh tế chia sẻ trong
lâm nghiệp. Phát triển các mô hình nông-lâm kết hợp gắn với sinh kế của người
dân sống gần rừng. Khuyến khích người dân chuyển đổi diện tích đất trồng cây
nông nghiệp hàng năm trên đất lâm nghiệp kém hiệu quả sang trồng cây lâm
nghiệp.
- Xây dựng kết cấu hạ
tầng lâm nghiệp đồng bộ, hiện đại hóa ngành lâm nghiệp và dịch vụ logistics.
Phát triển hệ thống đường lâm nghiệp gắn kết vùng nguyên liệu quy mô, tập trung
với nhà máy chế biến; giảm chi phí vận chuyển, tăng giá trị sản phẩm gỗ. Thu
hút đầu tư phát triển hạ tầng logistics, kho bãi phục vụ phát triển sản xuất,
bảo quản và chế biến lâm sản.
- Tăng cường hội nhập
kinh tế quốc tế về lâm nghiệp; tham gia tích cực và hợp tác chặt chẽ với các tổ
chức lâm nghiệp quốc tế, khu vực và song phương về triển khai các chương trình,
dự án, hoạt động tăng cường năng lực, chuyển giao, hợp tác trong lĩnh vực lâm
nghiệp. Phát triển thị trường lâm sản, chủ động tham gia chuỗi cung lâm sản
toàn cầu.
10.
Huy động các nguồn lực đầu tư phát triển ngành lâm nghiệp
- Bố trí, quản lý, sử
dụng hiệu quả nguồn vốn ngân sách Nhà nước đầu tư cho ngành lâm nghiệp thông
qua chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững và Chương trình mục tiêu Quốc
gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai
đoạn 2021 - 2030.
- Đa dạng nguồn vốn huy
động để triển khai thực hiện đề án, bảo đảm huy động đầy đủ, kịp thời theo quy
định. Tăng cường vận động, tạo cơ chế huy động các nguồn đầu tư, đóng góp hợp
pháp của doanh nghiệp và vận động tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và
ngoài nước vào lĩnh vực lâm nghiệp.
11.
Danh mục các chương trình, dự án ưu tiên
Xác định các dự án,
hạng mục ưu tiên đầu tư về phát triển rừng nguyên liệu gắn với phát triển công
nghệ chế biến để định hướng kêu gọi thu hút đầu tư thời gian tới để có cơ sở tổ
chức triển khai thực hiện Đề án có hiệu quả bao gồm:
Phát triển vùng nguyên
liệu ổn định để kêu gọi đầu tư xây dựng các nhà máy chế biến, diện tích phát
triển trồng rừng gỗ lớn giai đoạn 2021-2030 là 22.810 ha cần gắn với các nhà
máy hiện có trên địa bàn tỉnh Kon Tum.
Thúc đẩy nhanh tiến độ
xây dựng các nhà máy chế biến gỗ đã có chủ trương đầu tư. Tiếp tục kêu gọi, xúc
tiến đầu tư các nhà máy chế biến gỗ tinh sâu, công suất lớn để thúc đẩy nhanh
việc liên doanh, liên kết, quản lý rừng bền vững.
Xúc tiến, kêu gọi các
tổ chức quốc tế, các chương trình, dự án hỗ trợ, đầu tư việc xây dựng các mô hình
liên doanh, liên kết; xây dựng phương án quản lý rừng trồng bền vững và cấp
chứng chỉ rừng trồng.
Xây dựng hệ thống đường
ranh cản lửa kết hợp vận chuyển cây giống, phân bón và thi công trồng rừng: 180
km; Thiết lập hệ thống vườn ươm ứng dụng công nghệ cao (10 vườn). Việc xây dựng
các hạng mục hạ tầng lâm sinh được lồng ghép trong các chương trình, dự án:
Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững; Nông thôn mới; các dự án
lâm nghiệp; các dự án giao thông nông thôn...
Hỗ trợ các doanh nghiệp
chế biến gỗ vào các khu công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Quy hoạch hệ thống rừng
giống, vườn ươm đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030.
Hỗ trợ xây dựng chứng
chỉ rừng FSC, CoC, PEFC và xây dựng thương hiệu gỗ và sản phẩm từ gỗ của tỉnh
Kon Tum.
Tập trung thực hiện tốt
Chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững: Quy hoạch diện tích đất trồng rừng
mang tính tập trung, tránh trường hợp đầu tư phân tán; thủ tục cấp đất trồng
rừng thông thoáng, có quy hoạch vùng cụ thể; thực hiện chăm sóc, bảo vệ theo
hướng bền vững để đáp ứng đầy đủ các yêu cầu cần thiết về chứng chỉ rừng (FSC)
để phát triển và khai thác rừng trồng gỗ lớn.
Giải quyết tốt về giống
cây trồng cho năng suất cao, chất lượng gỗ tốt; tiến hành các biện pháp thâm
canh theo đúng quy trình. Ưu đãi tín dụng đối với các doanh nghiệp đầu tư trồng
rừng gắn với hoạt động sản xuất, chế biến gỗ. Tiến tới đạt rừng chứng chỉ FSC
với quy mô, diện tích 50.000 ha đến năm 2040.
Chương trình phát triển
các ngành công nghiệp phụ trợ và dịch vụ: cần có chủ trương chính sách kịp thời
để ưu đãi phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ cho ngành chế biến gỗ trên
địa bàn tỉnh như chế tạo phụ kiện, đinh vít, sản xuất bao bì, hóa chất... nhằm
giảm chi phí đầu vào cho các doanh nghiệp sản xuất gỗ và sản phẩm gỗ nhằm phát
triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh. Đồng thời, từng bước xây dựng và hình
thành cơ sở tập trung cho hoạt động nhập khẩu, xẻ sấy gỗ theo quy cách tiêu
chuẩn phù hợp để đáp ứng cho cả thị trường đồ gỗ trong tỉnh và cả nước.
Tập trung đầu tư cho
nghiên cứu, ứng dụng công nghệ cao, công nghệ tiên tiến vào khâu chọn, tạo
giống, trồng rừng, khai thác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và phát triển
sản phẩm mới, nâng cao thương hiệu Việt. Đồng thời, triển khai các hoạt động
nghiên cứu công nghệ (thiết kế sản phẩm) và đào tạo nghề cho ngành chế biến lâm
sản. Có chính sách để ngân sách Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí để thực hiện.
Lồng ghép các chương trình
đào tạo nghề cho lao động nông thôn, Chương trình Khuyến công, Chương trình Xúc
tiến thương mại, Chương trình khuyến nông, Khuyến lâm, Chương trình hỗ trợ phát
triển doanh nghiệp... của tỉnh để hỗ trợ khuyến khích phát triển ngành công
nghiệp chế biến gỗ. Đặc biệt, ưu tiên hỗ trợ các doanh nghiệp trong đầu tư đổi
mới, ứng dụng máy móc, thiết bị mới vào sản xuất và chuyển giao công nghệ trong
chế biến gỗ; nghiên cứu ứng dụng khoa học về giống; tìm kiếm, mở rộng và xúc
tiến thị trường xuất khẩu sản phẩm.
Triển khai xây dựng quy
hoạch sử dụng đất giai đoạn 2025 - 2030 đồng bộ với quy hoạch lâm nghiệp để có
cơ sở triển khai thực hiện việc đầu tư trồng rừng gỗ nguyên liệu.
Xây dựng và triển khai
thực hiện các Dự án trồng rừng sản xuất nhằm đẩy mạnh công tác trồng rừng,
trồng cây phân tán trên toàn bộ diện tích đất chưa có rừng đã quy hoạch phát
triển lâm nghiệp, đặc biệt chú trọng đầu tư trồng rừng sản xuất theo hướng thâm
canh, nâng cao năng suất, chất lượng phục vụ gỗ nguyên liệu giấy, chế biến gỗ
nhỏ và ván nhân tạo.
Nâng cao giá trị sản
xuất, kinh doanh rừng trồng bằng giải pháp chuyển hóa rừng trồng hiện có và
thâm canh trồng rừng gỗ lớn (khai thác sau 10 năm tuổi đối với cây mọc nhanh,
sau 25 năm tuổi đối với cây bản địa và cây gỗ nguy cấp, quý, hiếm). Thúc đẩy
việc trồng rừng gỗ lớn, cung cấp nguyên liệu gỗ có chứng chỉ quản lý rừng bền
vững theo yêu cầu của thị trường quốc tế, kiểm soát công tác trồng rừng từ khâu
tạo giống đến khai thác gỗ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị rừng
trồng.
Tạo môi trường đầu tư
thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực trồng rừng
nguyên liệu; kêu gọi các tổ chức có tiềm lực kinh tế đầu tư trong lĩnh vực
trồng rừng; triển khai thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách khuyến
khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn quy định tại Nghị định
số 57/2018/NĐ-CP ngày 17 tháng 4 năm 2018 của Chính phủ.
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI
XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
II. CĂN CỨ PHÁP LÝ XÂY
DỰNG ĐỀ ÁN
1. Văn bản Trung ương
2. Văn bản của địa
phương
3. Các tài liệu sử dụng
để xây dựng Đề án
PHẦN 2. BỐI CẢNH XÂY
DỰNG ĐỀ ÁN
I. TÌNH HÌNH TRONG NƯỚC
VÀ QUỐC TẾ
1. Bối cảnh quốc tế
2. Bối cảnh quốc gia
3. Bối cảnh tỉnh Kon
Tum
II. CÁC YẾU TỐ ẢNH
HƯỞNG ĐẾN THỰC HIỆN ĐỀ ÁN.
1. Điều kiện tự nhiên
1.1. Vị trí địa lý,
hành chính
1.2. Địa hình
1.3. Khí hậu, thuỷ văn
1.4. Địa chất thổ
nhưỡng
1.5. Tài nguyên rừng
2. Đặc điểm kinh tế -
xã hội
2.1. Kinh tế
2.2. Xã hội
3. Ảnh hưởng của điều
kiện tự nhiên kinh tế, xã hội đến phát triển lâm nghiệp
3.1. Thuận lợi
3.2. Khó khăn
III. THỰC TRẠNG CÔNG
TÁC QUẢN LÝ SỬ DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG, CHẾ BIẾN LÂM SẢN GIAI ĐOẠN 2020-2025 TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH KON TUM
1. Tổ chức quản lý rừng
1.1. Quy hoạch rừng
theo chức năng sử dụng
1.2. Tổ chức hệ thống
quản lý rừng
2. Phát triển rừng
2.1. Trồng rừng phòng
hộ, đặc dụng
2.2. Trồng rừng sản
xuất
2.3. Khoanh nuôi phục
hồi rừng
3. Khai thác, sử dụng
rừng.
4. Tổ chức mạng lưới
chế biến gỗ và lâm sản.
5. Tổng thu của ngành
lâm nghiệp và kết quả huy động tối đa nguồn lực để triển khai thực hiện Đề án
phát triển lâm nghiệp bền vững 2021-2025:
6. Đánh giá hoạt động
sản xuất lâm nghiệp giai đoạn 2020-2025.
6.1. Kết quả đạt được
6.2. Tồn tại, hạn chế
6.3. Nguyên nhân tồn
tại, yếu kém
PHẦN 3. NỘI DUNG ĐỀ ÁN
I. QUAN ĐIỂM, ĐỊNH
HƯỚNG
II. MỤC TIÊU ĐỀ ÁN
1. Mục tiêu tổng quát
2. Mục tiêu cụ thể đến
năm 2030 tầm nhìn đến 2045
3. Các dự báo
3.1. Nhu cầu thị trường
về các sản phẩm lâm sản đã qua chế biến
3.2. Nhu cầu nguyên
liệu của các cơ sở chế biến trong tỉnh Kon Tum
3.3. Khoa học, công
nghệ đối với trồng rừng nguyên liệu
3.4. Khoa học, công
nghệ đối với chế biến và kinh doanh lâm sản
3.5. Môi trường kinh
doanh tỉnh Kon Tum
3.6. Biến đổi khí hậu
4. Định hướng phát
triển rừng trồng nguyên liệu và công nghiệp chế biến
4.1. Định hướng phát
triển rừng trồng nguyên liệu
4.2. Định hướng phát
triển công nghệ chế biến lâm sản
III. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI
PHÁP CHỦ YẾU
1. Tổ chức tuyên
truyền, phổ biến triển khai thực hiện Đề án
2. Nhóm giải pháp về
quản lý quy hoạch và đất lâm nghiệp
3. Nhóm giải pháp về
đẩy mạnh ứng dụng giống, quy trình kỹ thuật và máy móc, thiết bị tiến bộ vào
trồng rừng nguyên liệu
4. Nhóm giải pháp về
xúc tiến thương mại và tạo thương hiệu cho sản phẩm
5. Giải pháp về cơ chế,
chính sách
5.1. Chính sách về đất
đai
5.2. Chính sách tài
chính và tín dụng
5.3. Chính sách đầu tư
6. Giải pháp về đào tạo
và phát triển nguồn nhân lực
7. Nâng cao hiệu lực,
hiệu quả công tác quản lý Nhà nước; phát huy vai trò của các đoàn thể chính
trị-xã hội trong công tác phát triển rừng, đặc biệt là rừng sản xuất
8. Thực hiện cơ chế,
chính sách lâm nghiệp
9. Phát triển kinh tế
lâm nghiệp
10. Huy động các nguồn
lực đầu tư phát triển ngành lâm nghiệp
11. Danh mục các chương
trình, dự án ưu tiên
IV. HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ KHI
THỰC HIỆN ĐỀ ÁN
1. Khái toán kinh phí
thực hiện đề án
2. Phân nguồn đầu tư
3. Hiệu quả kinh tế
3.1. Về kinh tế
3.2. Về xã hội
3.3. Về môi trường
V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Sở Nông nghiệp và
Môi trường
2. Sở Công Thương
3. Sở Tài chính
4. Sở Khoa học và Công
nghệ
5. Các Sở, Ban, ngành
liên quan, UBND các huyện, thành phố (sau này là UBND cấp xã)
6. Ngân hàng Nhà nước
tỉnh, các tổ chức tín dụng, Chi cục thuế khu vực
PHẦN 4. KẾT LUẬN - KIẾN
NGHỊ
I. KẾT LUẬN
II. KIẾN NGHỊ
PHẦN MỞ ĐẦU
I.
SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
Nghị quyết Đại hội đại
biểu lần thứ XVI Đảng bộ tỉnh Kon Tum xác định: Phát huy lợi thế rừng và đất
rừng để phát triển kinh tế lâm nghiệp. Thực hiện tốt công tác quản lý bảo vệ
rừng gắn với tạo sinh kế, nâng cao thu nhập và làm giàu từ rừng cho người dân,
cộng đồng dân cư; gắn việc quản lý bảo vệ và phát triển rừng với phát triển du
lịch sinh thái; khuyến khích người dân nhận khoán và trồng rừng. Rà soát đất
lâm nghiệp còn trống thu hồi diện tích đất lâm nghiệp bị lấn chiếm và các dự án
không hiệu quả để trồng lại rừng; lựa chọn cơ cấu cây trồng có năng suất, chất
lượng, chu kỳ kinh doanh ngắn; các loại cây gỗ quí hiếm; đẩy mạnh trồng rừng
nguyên liệu theo quy hoạch gắn với thu hút nhà máy chế biến lâm sản, phấn đấu
đến năm 2025 trồng thêm được 15.000 ha rừng... Như vậy phát triển lâm nghiệp
bền vững gắn với phát triển kinh tế lâm nghiệp đã được Đảng bộ tỉnh quan tâm,
đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của ngành lâm nghiệp trong thời gian đến.
Kon Tum có tổng diện
tích rừng và đất lâm nghiệp thời kỳ 2021-2030 là 640.985 ha phân theo chức năng
03 loại rừng như sau: Diện tích đất rừng đặc dụng 95.015 ha; đất rừng phòng hộ
160.625 ha; diện tích đất rừng sản xuất 385.345 ha. Diện tích đất lâm nghiệp
chưa có rừng theo kết quả theo dõi diễn biến rừng năm 2024 hơn 101.737 ha, độ
che phủ của rừng 63,69%, tổng trữ lượng gỗ 83,316 triệu m3 đây được
xem là thế mạnh của ngành lâm nghiệp[1].
Hiện nay, trên địa bàn
tỉnh có 12 Công ty hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu lâm sản (trong đó có
9 công ty đang hoạt động và 3 công ty đang tạm ngưng hoạt động), 13 cơ sở sản
xuất kinh doanh và chế biến gỗ (trong đó 08 cơ sở đã ngừng hoạt động) và hơn
200 cơ sở chế biến mộc dân dụng khác. Nhìn chung, các sản phẩm chế biến từ gỗ
còn chưa phong phú, đa dạng, phần lớn sản phẩm gỗ chỉ phục vụ tiêu dùng nội
địa, chưa chú trọng sản xuất, chế biến các sản phẩm gỗ xuất khẩu.
Trong thời gian qua
tỉnh Kon Tum đã có nhiều chủ trương, giải pháp phát triển lâm nghiệp góp phần
tích cực vào công cuộc giảm nghèo, làm cho diện mạo nông thôn của tỉnh khởi sắc
hơn; đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện. Tuy nhiên, tăng trưởng
ngành lâm nghiệp của tỉnh chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế, đóng góp vào
tổng sản phẩm (GRDP) của tỉnh còn hạn chế. Nguồn lực đầu tư cho ngành lâm
nghiệp còn ít. Việc tạo sinh kế cho người dân sống gần rừng chưa hiệu quả.
Thực tế tỉnh Kon Tum
vẫn còn là tỉnh nghèo, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội còn yếu, nhu cầu về vốn
đầu tư lớn nhưng khả năng đáp ứng có hạn. Quy mô kinh tế còn nhỏ, công nghệ sản
xuất có năng lực cạnh tranh thấp. Quá trình đầu tư cho công tác trồng rừng, chế
biến chưa được bài bản. Nên diện tích trồng và vùng trồng phục vụ cho chế biến,
đặc biệt là chế biến sâu còn ít.
Trong bối cảnh tổ chức
chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp; tỉnh Kon Tum sáp nhập với tỉnh
Quảng Ngãi thành tỉnh Quảng Ngãi, khi đó nguồn lực đầu tư được tăng cường, dư
địa được mở rộng, chính sách được thông thoáng, kết nối giao thông là logictis
được phát triển theo hướng đồng bộ. Từ đó tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho
môi trường kinh doanh rừng và chế biến trong thời gian tới.
Xuất phát từ tình hình
thực tế hiện tại và yêu cầu phát triển trong tương lai việc xây dựng Đề án phát
triển vùng nguyên liệu rừng trồng gắn với nhà máy chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh
Kon Tum định hướng đến năm 2045 là hoạt động hết sức cần thiết, góp phần khắc
phục những tồn tại, hạn chế trong quá trình phát triển rừng trồng sản xuất,
nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng góp phần thực hiện thành công tái cơ
cấu ngành lâm nghiệp của tỉnh, nâng cao thu nhập cho người trồng rừng và bảo vệ
môi trường sinh thái.
II.
CĂN CỨ PHÁP LÝ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
1.
Văn bản Trung ương
- Luật Lâm nghiệp năm
2017;
- Luật Đất đai năm
2024;
- Luật Bảo vệ môi
trường năm 2020;
- Luật Doanh nghiệp năm
2020;
- Luật Ngân sách nhà
nước năm 2015;
- Chỉ thị số 13-CT/TW
ngày 12/01/2017 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng;
- Nghị định số
156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số
điều của Luật Lâm nghiệp;
- Nghị định số
91/2024/NĐ-CP, ngày 18/7/2024 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của
Nghị định 156/2018/NĐ-CP, ngày 16/11/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành một số điều của Luật Lâm nghiệp;
- Nghị định số
102/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một
số điều của Luật Đất đai;
- Nghị định số
47/2021/NĐ-CP ngày 01/4/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của
Luật Doanh nghiệp;
- Nghị định số
58/2024/NĐ-CP ngày 24 tháng 5 năm 2024 của Chính phủ về một số chính sách đầu
tư trong lâm nghiệp;
- Nghị định số
118/2014/NĐ-CP ngày 17/12/2014 của Chính phủ, về sắp xếp đổi mới nâng cao hiệu
quả hoạt động của các công ty nông lâm nghiệp;
- Nghị định số
27/2021/NĐ-CP ngày 25/3/2021 của Chính phủ về quản lý giống cây trồng lâm
nghiệp;
- Nghị quyết số
84/NQ-CP ngày 05/8/2021 của Chính phủ về Phê duyệt chủ trương đầu tư Chương
trình phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2021-2025;
- Quyết định số
297/QĐ-TTg ngày 18/3/2019 của Thủ tướng Chính phủ về Đề án bảo vệ, khôi phục và
phát triển rừng bền vững vùng Tây Nguyên giai đoạn 2016-2030;
- Quyết định số
523/QĐ-TTg ngày 01/4/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát
triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050;
- Quyết định số
524/QĐ-TTg ngày 01/4/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Trồng 1 tỷ
cây xanh giai đoạn 2021-2025”;
- Quyết định số 1288/QĐ-TTg
ngày 01/10/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án quản lý rừng bền vững
và chứng chỉ rừng;
- Quyết định số
327/QĐ-TTg ngày 10/03/2022 của Thủ tướng chính phủ về Phê duyệt Đề án phát
triển ngành công nghiệp chế biến gỗ bền vững, hiệu quả giai đoạn 2021 - 2030;
- Quyết định số
1756/QĐ-TTg ngày 31/12/2023 của Thủ tướng chính phủ về Phê duyệt Quy hoạch tỉnh
Kon Tum thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
- Quyết định số
895/QĐ-TTg ngày 24/8/2024 của Thủ tướng chính phủ về Phê duyệt Quy hoạch lâm
nghiệp quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
- Quyết định số
2728/QĐ-BNN-CB ngày 31/10/2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê
duyệt “Quy hoạch công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam đến năm 2020 và định hướng
đến năm 2030;
- Quyết định số
1565/QĐ-BNN-TCLN ngày 8/7/2013 của Bộ NN và PTNT về việc phê duyệt Đề án tái cơ
cấu ngành lâm nghiệp;
- Quyết định số
794/QĐ-BNN-TCLN ngày 21/4/2014 của Bộ NN và PTNT về phê duyệt Đề án: “Tái cơ
cấu ngành lâm nghiệp”;
- Quyết định số
919/QĐ-BNN-TCLN ngày 5/5/2014 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn ban hành về việc phê duyệt Kế hoạch hành động Nâng cao giá trị gia tăng
sản phẩm gỗ qua chế biến;
- Quyết định số
957/QĐ-BNN-TCLN ngày 8/5/2014 của Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và Phát triển nông
thôn ban hành về việc Kế hoạch hành động phát triển thị trường gỗ và sản phẩm
gỗ;
- Quyết định số
6448/QĐ-BCT ngày 26/6/2015 của Bộ Công thương phê duyệt “Quy hoạch phát triển
công nghiệp, thương mại vùng Tây Nguyên đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035;
- Quyết định số 23/QĐ-BNN-TCLN
ngày 04/01/2017 của Bộ Nông nghiệp và PTNT phê duyệt quy hoạch chuyển đổi loài
cây trồng rừng phục vụ đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp;
- Thông tư số
29/2018/TT-BNNPTNT ngày 16/11/2018 của Bộ Nông nghiệp và PTNT quy định về biện
pháp lâm sinh;
- Thông tư số
15/2019/TT-BNNPTNT ngày 30/10/2019 của Bộ Nông nghiệp và PTNT hướng dẫn một số
nội dung quản lý đầu tư công trình lâm sinh;
- Thông tư số
22/2021/TT-BNNPTNT ngày 29 tháng 12 năm 2021 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn quy định danh mục loài cây trồng lâm nghiệp chính; công
nhận giống và nguồn giống cây trồng lâm nghiệp;
- Thông tư số
22/2023/TT-BNNPTNT ngày 15/12/2023 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư trong lĩnh vực lâm nghiệp;
- Các văn bản liên quan
khác.
2.
Văn bản của địa phương
- Nghị quyết số
06-NQ/ĐH ngày 30/9/2020 Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Kon Tum lần thứ XVI;
- Nghị quyết số
01-NQ/TU, ngày 02/12/2020 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Khóa XVI về lãnh đạo
thực hiện nhiệm vụ kinh tế -xã hội, quốc phòng an ninh, xây dựng Đảng và hệ
thống chính trị năm 2021;
- Nghị quyết số
06-NQ/TU ngày 25/11/2021 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVI về phát triển
lâm nghiệp bền vững đến 2025 và định hướng đến 2030 trên địa bàn tỉnh Kon Tum;
- Nghị quyết số
56/2020/NQ-HĐND ngày 08/12/2020 của Hội đồng nhân dân tỉnh về Kế hoạch phát
triển kinh tế xã hội 5 năm 2021-2025;
- Các văn bản liên quan
khác.
3.
Các tài liệu sử dụng để xây dựng Đề án
- Kết quả kiểm kê rừng
năm 2014 tỉnh Kon Tum;
- Kết quả rà soát cập
nhật diễn biến rừng năm 2024 tỉnh Kon Tum;
- Niên giám thống kê
tỉnh Kon Tum năm 2024;
- Báo cáo kinh tế xã
hội tỉnh Kon Tum năm 2024,
- Báo cáo chính trị Đại
hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Kon Tum lần thứ XVI; Dự thảo báo cáo chính trị Đại
hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XVII
- Các tài liệu liên
quan khác.
4.
Một số vấn đề đặt ra cần phải giải quyết đối với đề án
Đề án cụ thể hóa chủ trương
theo Nghị quyết số 06-NQ/ĐH ngày 30/9/2020 của Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh
Kon Tum lần thứ XVI.
Đề án xây dựng nhằm
định hướng phát triển rừng gắn với chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Kon Tum theo
hướng bền vững, tạo sinh kế cho người dân và ngăn chặn tiến đến chấm dứt tình
trạng suy thoái rừng cả về số lượng và chất lượng rừng, từng bước nâng cao diện
tích và chất lượng rừng hướng đến cấp chứng chỉ rừng bền vững theo tiêu chuẩn
FSC.
Đề án phải có tính khả
thi, sát với thực tế, chỉ ra được trữ lượng nguyên liệu gỗ hiện có, tiềm năng
trong tương lai trên cơ sở đó đề xuất nhà máy chế biến với công suất phù hợp.
Xác định được vùng trồng, loài cây năng suất sản lượng để Nhà đầu tư vào có đất
để trồng.
PHẦN 2. BỐI CẢNH XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
I.
TÌNH HÌNH TRONG NƯỚC VÀ QUỐC TẾ
1.
Bối cảnh quốc tế
Cuộc cách mạng công
nghiệp lần thứ tư cùng với quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế đang là
hai xu thế lớn, chi phối sâu sắc tiến trình phát triển của nhân loại. Sự đan
xen của các quá trình hội nhập đưa thế giới đến một “cấu trúc ma trận” các hiệp
định tự do thương mại (FTA) trên nhiều tuyến và nhiều cấp độ, trong đó phải kể
đến các FTA thế hệ mới. Xu thế đổi mới công nghệ diễn ra nhanh, đặt ra nguy cơ
lớn về tụt hậu song cũng là điều kiện cho các nước đi sau thực hiện các bước
phát triển rút ngắn qua việc tận dụng những thành quả phát triển của nhân loại.
Tuy không có ưu thế về công nghệ, vốn, nguồn nhân lực chất lượng cao, kinh
nghiệm quản lý và điều hành nền kinh tế, v.v.. như các nước phát triển, nhưng
nhờ hội nhập và chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, các nước đang phát
triển có thể huy động và phân bổ hiệu quả hơn các nguồn lực, tiếp nhận kiến
thức, công nghệ và kinh nghiệm quốc tế, để thực hiện “đi tắt, đón đầu”.
Khu vực Ấn Độ Dương -
Thái Bình Dương, trong đó có Đông Nam Á, tiếp tục phát triển năng động có vị
trí địa kinh tế - chính trị ngày càng quan trọng. Đây cũng là địa bàn cạnh
tranh chiến lược gay gắt giữa các cường quốc, thể hiện qua những sáng kiến và
kế hoạch lớn như Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở, Vành Đai con
đường, v.v.... Tiểu vùng Mêkông tiếp tục là điểm sáng về tăng trưởng kinh tế
nhờ quá trình mở cửa, cải cách, chuyển đổi sang cơ chế thị trường và tăng cường
hợp tác xuyên biên giới; song các vấn đề về ô nhiễm môi trường, khan hiếm nguồn
nước ngọt và nước biển dâng đang là thách thức không nhỏ đối với mục tiêu phát
triển bền vững của các nước trong tiểu vùng.
Các quốc gia Đông Nam Á
với 11 quốc gia thành viên sẽ trở thành khu vực thương mại tự do (AFTA) nhằm mở
rộng hợp tác phát triển kinh tế, bảo vệ hoà bình và sự ổn định trong khu vực
Đông Nam Á, đồng thời mở rộng hợp tác thương mại với các nước có tiềm năng lớn
ở Châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc…dẫn đến nhu cầu xuất khẩu các sản
phẩm tăng cao trong đó có sản phẩm lâm nghiệp.
Hòa bình, hợp tác và
phát triển là xu thế chung trong khu vực và quốc tế; toàn cầu hóa kinh tế là xu
thế khách quan, hội nhập kinh tế là tất yếu.
2.
Bối cảnh quốc gia
Sau hơn 30 năm đổi mới,
Việt Nam từ một nước chậm phát triển, khó khăn, nghèo nàn về kinh tế, hạn chế
về hợp tác quốc tế… đã vươn lên trở thành nước có nền kinh tế trung bình, hội
nhập sâu rộng và vị thế không ngừng được khẳng định trên trường quốc tế. Đời
sống văn hóa tinh thần của nhân dân được nâng cao, đa dạng, phong phú về chất
lượng và số lượng. Sự phát triển của Việt Nam trong hơn 30 năm qua rất đáng ghi
nhận. Đổi mới kinh tế và chính trị từ năm 1986 đã thúc đẩy phát triển kinh tế,
nhanh chóng đưa Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo về kinh tế trở thành
quốc gia thu nhập trung bình. Từ 2002 đến 2018, GDP đầu người tăng 2,7 lần, đạt
trên 2.700 USD năm 2019, với hơn 45 triệu người thoát nghèo. Tỉ lệ nghèo giảm
mạnh từ hơn 70% xuống còn dưới 6% (3,2 USD/ngày theo sức mua ngang giá). Đại bộ
phận người nghèo còn lại ở Việt Nam là dân tộc thiểu số.
Năm 2024, kinh tế Việt
Nam vẫn tiếp tục cho thấy có nền tảng mạnh và khả năng chống chịu cao, nhờ nhu
cầu trong nước và sản xuất định hướng xuất khẩu vẫn ở mức cao. GDP thực tăng
ước khoảng 6,5% trong năm 2020, tương tự tỉ lệ tăng trưởng năm 2023, là một
trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong khu vực.
Cả nước đang nỗ lực
bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, phấn đấu trở thành
quốc gia hùng mạnh, tự lực tự cường phát triển nhanh bền vững. Ngành lâm nghiệp
cũng không đứng ngoài cuộc, cần có những quyết sách đúng đắn để đưa ngành lâm nghiệp
phát triển bền vững.
Sau 15 năm thực hiện
Chiến lược phát triển lâm nghiệp và các Chương trình, Đề án, tài nguyên rừng
được bảo vệ và phát triển ngày càng tốt hơn; năm 2024 tổng diện tích rừng cả
nước đạt trên 14,6 triệu ha, tỷ lệ che phủ rừng 43%, cơ cấu 3 loại rừng đáp ứng
cơ bản yêu cầu phát triển lâm nghiệp, bảo tồn đa dạng sinh học và an ninh môi
trường. Trồng rừng tập trung phát triển ổn định, diện tích rừng trồng đến năm
2024 đạt hơn 4,3 triệu ha, phần lớn là RSX; sản lượng gỗ từ rừng trồng liên tục
tăng, năm 2024 ước đạt 20,5 triệu m3, đáp ứng trên 70% nhu cầu
nguyên liệu gỗ cho CBLS phục vụ nội tiêu và xuất khẩu.
Giá trị sản xuất lâm
nghiệp giai đoạn 2020-2024 bình quân 4,87%/năm và tiếp tục tăng trưởng ổn định;
Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ và LSNG năm 2024 ước đạt 17 tỷ USD, duy trì
tăng trưởng ở mức cao, đặc biệt ở những thị trường truyền thống. Sản phẩm đồ gỗ
của Việt Nam đã có mặt trên thị trường 120 quốc gia và vùng lãnh thổ. Việt Nam
trở thành nước xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản ở vị trí thứ 5 trên thế giới, thứ 2
châu Á, thứ nhất Đông Nam Á.
3.
Bối cảnh tỉnh Kon Tum
- Cả hệ thống chính trị
tỉnh Kon Tum đang tích cực thực hiện Kết luận của Trung ương Đảng về sắp xếp
tinh gọn bộ máy, thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp và sáp nhập tỉnh để tạo
không gian phát triển mới, cùng với cả nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên
vươn mình của dân tộc hướng tới Quốc gia hùng mạnh.
- Nghị quyết số
202/2025/QH15 của Quốc hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, theo đó
tỉnh Kon Tum sáp nhập với tỉnh Quảng Ngãi lấy tên tỉnh Quảng Ngãi.
- Nền kinh tế tỉnh Kon
Tum vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng khá cao, thu hút đầu tư có nhiều khởi
sắc, kết cấu hạ tầng có nhiều tiến bộ và đạt nhiều thành quả đáng khích lệ.
Đảng Nhà nước có nhiều chính sách đặc thù với miền núi vùng cao. Quan hệ hợp
tác phát triển giữa Kon Tum với các tỉnh thành phố trong khu vực và cả nước
đang trở thành một xu thế tất yếu.
- Tỉnh Kon Tum vẫn còn
là tỉnh khó khăn, kết cấu hạ tầng, kinh tế xã hội còn nhiều hạn chế, nhu cầu về
vốn đầu tư lớn nhưng khả năng đáp ứng có hạn. Quy mô kinh tế còn nhỏ, công nghệ
sản xuất lạc hậu, năng lực cạnh tranh thấp. Tình hình lạm phát và giá cả các
mặt hàng tiêu dùng, vật tư thiết yếu có xu hướng gia tăng.
- Quy mô và tiềm lực
kinh tế của tỉnh tăng lên đáng kể, đến cuối năm 2024 tổng sản phẩm trong tỉnh
(GRDP) đạt 40.946 tỷ đồng, tăng 71,3% so với năm 2020. Tốc độ tăng trưởng GRDP
hàng năm thuộc nhóm khá cao của cả nước và nhiều năm liền đứng nhất khu vực Tây
Nguyên[2]; tăng trưởng bình quân giai đoạn 2021-2025
đạt 8,15%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, dự kiến đến cuối
năm 2025, tỷ trọng các ngành nông, lâm, thủy sản chiếm 19,36%; công nghiệp-xây
dựng chiếm 33,03%; dịch vụ chiếm 40,32%. GRDP bình quân đầu người tăng từ 43,01
triệu đồng năm 2020 lên 70,81 triệu đồng vào cuối năm 2025, tăng 64,6%. Thu
ngân sách nhà nước tại địa bàn đến năm 2025 đạt 5.000 tỷ đồng.
- Kon Tum là tỉnh nông
nghiệp, có nhiều thuận lợi về điều kiện về khí hậu, đất đai, nguồn nước dồi
dào.
- Chính quyền tỉnh Kon
Tum đặt mục tiêu sử dụng rừng sản xuất là một trong các giải pháp để phát triển
kinh tế và giảm nghèo đói ở khu vực nông thôn.
- Tỉnh Kon Tum đang
thực hiện chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên, đẩy mạnh công tác trồng rừng và
hướng tới sử dụng gỗ rừng trồng là chính.
II.
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỰC HIỆN ĐỀ ÁN.
1.
Điều kiện tự nhiên
1.1. Vị trí địa lý,
hành chính
Tỉnh Kon Tum nằm ở cực
bắc Tây Nguyên, có đường biên giới chung với hai nước Lào và Căm Pu Chia. Tọa
độ địa lý từ 13°55’30” đến 15°25’30” vĩ độ Bắc, từ 107°20’15” đến 108°33’00”
kinh độ Đông.
Giới cận hành chính:
phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam (chiều dài ranh giới 142 km); phía Nam giáp tỉnh
Gia Lai (chiều dài ranh giới 203 km), phía Đông giáp Quảng Ngãi (chiều dài ranh
giới 74 km), phía Tây giáp hai nước Lào và Campuchia (có đường biên giới trên
bộ dài khoảng 292,913 km, giáp với Nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào 154,222
km và Vương quốc Campuchia 138,691 km).
Về hành chính, tỉnh Kon
Tum có 9 huyện, 01 thành phố với 102 xã, phường, thị trấn. Vị trí địa lý nằm ở
ngã ba Đông Dương và là nơi hội tụ của các tuyến quốc lộ 40, 40B, 14 - Đường Hồ
Chí Minh, 14C, 24, Đông Trường Sơn, đây là điều kiện để tỉnh Kon Tum trở thành
khu vực quan trọng trên tuyến hành lang kinh tế và thương mại quốc tế nối từ Mianma
- Đông bắc Thái Lan - Nam Lào với khu vực Tây Nguyên, Duyên hải miền Trung, một
trong các tuyến hành lang kinh tế và thương mại Đông - Tây ngắn nhất thông qua
cửa khẩu Bờ Y.

Hình
1. Bản đồ hành chính tỉnh Kon Tum
1.2. Địa hình
Địa hình của Kon Tum có
hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây, rất dốc ở phía Bắc và thấp
dần ở phía nam. Địa hình đa dạng, gò đồi núi cao nguyên và vùng trũng xen kẽ
nhau khá phức tạp. Phía bắc có đỉnh Ngọc Linh cao nhất khu vực, với độ cao
2.596 m. Độ cao trung bình ở phía bắc 800 - 1.200 m, ở phía nam chỉ có 500 -
530 m. Có thể phân chia thành 4 kiểu địa hình chính:
Kiểu địa hình núi cao:
Kiểu địa hình này chiếm 0,7% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở huyện Đăk
Glei và Tu Mơ Rông. Địa hình chia cắt mạnh, độ dốc bình quân từ 250- 300. Độ
cao bình quân 1.500 m. Tỷ lệ che phủ rừng lớn, tập trung diện tích rừng có trữ
lượng cao, có nhiều nguồn gen động, thực vật quý hiếm.
Kiểu địa hình núi trung
bình: Kiểu địa hình này chiếm 61,6% diện tích tự nhiên, phân bố tập trung ở các
huyện Đăk Glei, Tu Mơ Rông, Kon Plông và Đăk Hà. Địa hình khá phức tạp, chia
cắt mạnh, độ dốc bình quân từ 200- 250. Độ cao bình quân 1.200 m. Tỷ lệ che phủ
rừng cao, là nơi tập trung diện tích rừng có trữ lượng cao.
Kiểu địa hình núi thấp:
Kiểu địa hình này chiếm 20,4% diện tích tự nhiên, phân bố tập trung huyện Sa
Thầy, Ngọc Hồi, Đăk Tô và phía nam các huyện Đăk Hà, Kon Plông. Đây là vùng
chuyển tiếp giữa kiểu địa hình núi trung bình và vùng thung lũng, độ dốc bình
quân từ 150- 200, độ cao trung bình từ 600 - 800 m. Độ che phủ của rừng không
cao, rừng tự nhiên còn ít, rừng trồng manh mún.
Kiểu địa hình thung
lũng và máng trũng: Kiểu địa hình này chiếm 17,3% diện tích tự nhiên, phân bố ở
thành phố Kon Tum, Huyện Đăk Glei, Ngọc Hồi và Sa Thầy, nằm dọc theo các triền
sông Pô Kô, Đăk Pơ Xi và Đăk Bla. Vùng này có địa hình tương đối bằng phẳng, độ
cao trung bình từ 400 – 600 m, độ dốc trung bình từ 50 - 100.

Hình
2. Mô hình không gian ba chiều địa hình tỉnh Kon Tum
1.3. Khí hậu, thuỷ văn
1.3.1. Khí hậu
Tỉnh Kon Tum có kiểu
khí hậu nhiệt đới gió mùa Cao nguyên, một năm có hai mùa rõ rệt:
- Mùa mưa từ tháng 5-10
hàng năm, lượng mưa chủ yếu tập trung từ tháng 6-9 hàng năm (chiếm trên 80%
lượng mưa trong năm). Độ ẩm không khí cao >80%, nhất là những ngày mưa
liên tục độ ẩm không khí đạt tới độ bão hoà.
- Mùa khô từ tháng 11-4
năm sau. Vào mùa khô độ ẩm không khí, độ ẩm vật liệu cháy thấp, khí hậu khô
hanh và gió nên vào mùa này nguy cơ xảy ra cháy rừng cao.
* Nhiệt độ: Do ảnh hưởng của vĩ độ
địa lý nên nhiệt độ ở đây tương đối cao, nhiệt độ bình quân năm 24,9°C, nhiệt
độ cao nhất 27,4°C (tháng 5), nhiệt độ thấp nhất 21,8°C (tháng 12).
Số ngày có nhiệt độ lớn hơn 20°C khoảng 220 ngày, tổng nhiệt lượng trong năm từ
7.700-8.700°C.
* Mưa: Mưa tập trung theo mùa,
lượng mưa trung bình hàng năm 1.600 mm, lượng mưa tháng cao nhất 379,6 mm,
lượng mưa tháng thấp nhất 1-2 mm. Hàng năm, mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 4-6
và kết thúc vào tháng 10-11, mưa tập trung vào tháng 7-8.
* Gió: Có hai loại gió chính
thịnh hành:
- Gió Tây Nam hoạt động
từ tháng 4 đến tháng 10, tần suất cao nhất 32% (tháng 5), tần suất thấp
nhất 13% (tháng 9).
- Gió Đông Bắc hoạt
động từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, tần suất cao nhất 24% (tháng 3, 4),
tần suất thấp nhất 7% (tháng 11).

Hình
3. Biểu đồ phân bố lượng mưa và nhiệt độ bình quân theo tháng
1.3.2. Thuỷ văn
1.3.2.1. Nguồn nước mặt
Kon Tum có nguồn nước
mặt khá dồi dào, được dự trữ từ 4 hệ thống sông lớn và các hồ chứa nước.
- Hệ thống sông Sê San
có lưu vực chiếm phần lớn diện tích của tỉnh, do chảy qua nhiều bậc thềm địa
hình nên độ dốc dòng chảy lớn, nhiều thác ghềnh, do vậy hệ thống sông này có
tiềm năng tiềm năng thuỷ điện lớn. Tổng lượng dòng chảy của sông từ 10-11 tỷ m3
nước.
- Phía Đông bắc là đầu
nguồn sông Trà Khúc, phía Bắc là đầu nguồn sông Thu Bồn và sông Vu Gia. Các
sông này đều chảy về các tỉnh Duyên Hải và đổ ra biển Đông, diện tích lưu vực
của 3 con sông này chỉ chiếm 1/4 diện tích của toàn tỉnh.
- Ngoài nguồn nước mặt
từ các hệ thống sông suối, Kon Tum còn có nguồn nước mặt khá dồi dào được chứa
từ các hệ thống hồ chứa thuỷ lợi, thuỷ điện như hồ thuỷ điện Plei Krông, các hồ
thuỷ lợi: Đăk Hniêng, Mùa xuân (Đăk Uy).
1.3.2.2. Nguồn nước
ngầm
Tài nguyên nước ngầm ở
Kon Tum chủ yếu tồn tại dưới 2 dạng là tầng chứa nước lỗ hổng và tầng chứa nước
khe nứt. Kon Tum có tiềm năng nguồn nước ngầm tương đối lớn và trữ lượng công
nghiệp cấp C2: 100 nghìn m3/ngày, đặc biệt ở độ sâu 60 - 300 m.
Ngoài ra, huyện Đăk Tô, Kon Plông còn có 9 điểm có nước khoáng nóng, có khả
năng khai thác, sử dụng làm nước giải khát và chữa bệnh. Với trữ lượng nước
ngầm như vậy có thể đáp ứng được nhu cầu cho sản xuất và tiêu dùng.
Hiện nay, tại một số
vùng trọng điểm như thành phố Kon Tum, huyện Ngọc Hồi, Kon Plông, Sa Thầy đã
tiến hành điều tra chi tiết để đánh giá trữ lượng, chất lượng và thành lập bản
đồ địa chất thủy văn để khoanh vùng khu vực khai thác nước ngầm cung cấp nước
sinh hoạt và các mục tiêu kinh tế trên địa bàn.
Toàn tỉnh đã phát hiện
khai thác 15 điểm nước khoáng nóng tập trung ở Kon Đào, Ngọc Tụ huyện Đăk Tô;
Đăk Ring, Ngọc Tem, xã Hiếu - huyện Kon Plông. Đây là nguồn nước có dược tính
cao, phục vụ dân sinh và phát triển du lịch nghỉ dưỡng.
1.4. Địa chất thổ
nhưỡng
1.4.1. Địa chất
Kon Tum nằm trong địa
khối cổ phía Nam hay gọi là địa khối cổ Kon Tum. Nền địa chất được cấu tạo từ 4
nhóm đá mẹ chủ yếu: nhóm đá magma axít; nhóm đá sét - biến chất; nhóm đá magma
kiềm; nhóm nền địa chất bồi, dốc tụ. Kon Tum nằm trên khối puli Kon Tum, do đó
rất đa dạng trong cấu trúc địa chất và khoáng sản. Có 21 phân vị địa tầng và 19
magma phức hợp đã được nghiên cứu và thành lập bởi các nhà địa chất cho nhiều
loại khoáng sản các loại như: sắt, crom, vàng, vật liệu chịu lửa, đá quý và đá
bán quý, kim loại phóng xạ, đất hiếm, nguyên liệu sản xuất xây dựng vật liệu,...
đã được phát hiện.
1.4.2. Thổ nhưỡng
Đất đai tỉnh Kon Tum có
5 nhóm đất gồm 16 đơn vị đất, trong đó nhóm đất đỏ vàng và nhóm đất mùn vàng đỏ
trên núi chiếm khoảng 96% tổng diện tích, phân bố theo các nhóm đất sau:
- Nhóm đất phù sa: gồm
4 đơn vị đất (đất phù sa được bồi chua Pbc, đất phù sa không được
bồi chua Pc, đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng Pf, đất
phù sa ngòi suối Py) với tổng diện tích 16.663 ha chiếm tỷ lệ
1,73%.
- Nhóm đất xám bạc màu:
gồm 2 đơn vị đất (đất xám trên phù sa cổ X và đất xám trên đá Macma axit Xa)
với tổng diện tích là 5.066 ha chiếm 0,53%.
- Nhóm đất đỏ vàng: gồm
6 đơn vị đất (đất nâu đỏ trên đá macma bazơ và trung tính Fk, đất
nâu vàng trên đá macma bazơ và trung tính Fu, đất đỏ vàng trên đá
sét và biến chất Fs, đất vàng đỏ trên đá macma axit Fa,
đất vàng nhạt trên đá cát Fq, đất nâu vàng trên phù sa cổ Fp)
với tổng diện tích 579.788 ha chiếm 60,3%.
- Nhóm đất mùn vàng đỏ
trên núi: gồm 3 đơn vị đất (đất mùn nâu đỏ trên đá macma bazơ và trung tính
Hk, đất mùn đỏ vàng trên đá sét và biến chất Hs, đất mùn vàng đỏ trên đá macma
axit Ha) với tổng diện tích 343.288 ha chiếm 35,7%.
- Nhóm đất thung lũng
do sản phẩm dốc tụ: gồm 1 đơn vị đất là đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ D,
với tổng diện tích 1.679 ha chiếm 0,17%.
1.5. Tài nguyên rừng
Tài nguyên rừng của Kon
Tum rất giàu tiềm năng cung cấp gỗ, lâm sản, có giá trị phòng hộ môi trường to
lớn và tính đa dạng sinh học cao.
- Khả năng cung cấp gỗ
và lâm sản ngoài gỗ:
Trên cơ sở chỉ tiêu trữ lượng của các loại rừng ở địa bàn tỉnh Kon Tum[3], qua tính toán xác định tổng trữ lượng gỗ
83,316 triệu m3 và 1,15 tỷ cây tre nứa đây được xem là tiềm năng và
thế mạnh số một của ngành lâm nghiệp tỉnh Kon Tum. Trữ lượng các loại lâm sản
ngoài gỗ dưới tán rừng cao, có giá trị kinh tế như: Sâm Ngọc Linh, Hồng đẵng
sâm, Sa nhân, Nhựa thông, Song mây, Mã tiền, Vạng đắng, Ngũ gia bì, Hà thủ ô,
Cây cu ly, Dây máu chó… trong đó đặc biệt là sâm Ngọc Linh, một loại dược liệu
đặc hữu với giá trị đẳng cấp thế giới đang là điểm đến hấp dẫn với nhà đầu tư.
Tính toán trên quan điểm khai thác rừng bền vững thì hàng năm có thể khai thác được
từ 30.000 - 35.000 m3 gỗ tròn từ rừng tự nhiên. Với 61.890,46 ha
rừng trồng (kể cả cao su trên đất lâm nghiệp) hiện có của tỉnh, diện
tích rừng trồng sản xuất có thể khai thác cung cấp gỗ nguyên liệu trong thời
gian đến khoảng 30.000 ha.
- Giá trị phòng hộ đầu
nguồn, bảo vệ môi trường, cảnh quan du lịch: Tỉnh Kon Tum là điểm khởi nguồn sinh
thuỷ của các con sông lớn chảy xuống vùng Duyên hải miền Trung, các tỉnh hạ Lào
và Campuchia, trên đó có nhiều công trình thuỷ lợi và thuỷ điện lớn như công
trình thuỷ điện Yaly, Sê san 3, Sê san 3A, Sê san 4, Pleikrông, công trình thuỷ
lợi Thạch nham. Do có trên 75% diện tích đất phân bố trên những vùng có độ dốc
lớn hơn 15°, nằm trong vùng có lượng mưa tương đối lớn (từ 1.800 mm đến
2.000 mm), phân bố không đều với 80% lượng mưa tập trung vào các tháng mùa
mưa cho nên vấn đề chống xói mòn đất và điều tiết nguồn nước, bảo vệ các công
trình thuỷ điện, thuỷ lợi nhằm sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên nước là đặc
biệt quan trọng. Chính hệ thống rừng của tỉnh Kon Tum là nơi nuôi dưỡng nguồn
nước cho các dòng sông, bảo vệ đất, bảo vệ môi trường sống cho người dân trong
vùng và tạo nên nhiều vùng sinh thái cảnh quan của tỉnh hết sức phong phú, đa
dạng.
- Về giá trị đa dạng
sinh học: Rừng
Kon Tum có tính đa dạng sinh học cao, là nơi sinh sống của rất nhiều loài động
vật, thực vật có giá trị. Theo thống kê chưa đầy đủ, rừng Kon Tum có khoảng
1.610 loài thực vật thuộc 734 chi của 175 họ thực vật trong đó có nhiều loài
thực vật quý như Sâm Ngọc linh, Pơ mu, Trầm hương, Vàng đắng, Trắc, Cẩm lai, Gõ
đỏ, … và các loài khác. Về hệ động vật, có trên 100 loài thú, 350 loài chim và
nhiều loài động vật khác, trong đó có thể kể đến một số loài quý hiếm như Hổ,
Bò rừng, Gấu, Trĩ, Sao, … và các loài khác.
Trong điều kiện môi
trường biến đổi khí hậu, diện tích rừng bị thu hẹp (do khai thác quá mức,
cháy rừng,…) sẽ dẫn đến nhiều hậu quả như giảm/mất chức năng của hệ sinh
thái (điều hòa nước, chống xói mòn, làm sạch môi trường, tuần hoàn vật chất
và năng lượng,…) và giá trị tài nguyên thiên nhiên, cuối cùng làm phát sinh
thêm nhiều sự cố môi trường làm suy giảm hệ thống kinh tế, gây sức ép lớn đến
sự phát triển lâm nghiệp, môi trường tự nhiên trên địa bàn tỉnh Kon Tum, tuy
nhiên qua diễn biến diện tích rừng sau các sự cố môi trường, tác động của con
người trong giai đoạn 2016-2020 thì chất lượng rừng trên địa bàn tỉnh vẫn ổn
định nhờ chính sách phát triển lâm nghiệp ban hành kịp thời, quản lý chặt chẽ
công tác trồng rừng và bảo vệ rừng.
* Tài nguyên thực vật
rừng
- Hệ thực vật rừng: Sự
đa dạng về địa hình, đất đai và khí hậu đã tạo nên môi trường thuận lợi cho sự
dung nạp của nhiều hệ thực vật có thành phần rất đa dạng và phong phú:
+ Hệ thực vật Bắc Việt
Nam - Nam Trung Hoa chủ yếu là cây lá kim của ngành phụ hạt trần như: Thông 3
lá, thông 2 lá, pơ mu. Ngoài ra còn có các loại cây lá rộng của hộ giẻ (Fagaccae),
họ thích (Aeeraccac), họ đỗ quyên (ericaccac), họ hồi (IIIciacac)
phân bố trên địa hình núi trung bình và núi cao.
+ Hệ thực vật
Inđônêxia: Đại diện là họ Bàng (Combretaceac), họ tử vi (Lithraccac),
họ gạo (Bombacacee) phân bố trên kiểu địa hình núi thấp và cao.
+ Hệ thực vật tại chỗ
tiêu biểu là chi dầu (Dipterocarpus), chi cà te (Pahudia), chi
Chiêu Liêu (Terminalia), chi bồ hòn (Sepindus)... phân bố hầu hết
ở các loại kiểu địa hình.
- Các loại cây gỗ kinh
tế: Trong tổ thành thực vật của Kon Tum có nhiều loại cây có giá trị kinh tế,
khoa học khác nhau:
+ Gỗ quý hiếm có 9 loài
trong 50 loài quý hiếm của nước ta, hiện nay đang được thị trường trong nước và
thế giới ưa chuộng như: trắc mật, cẩm lai, gụ mật, hương tía, dáng hương, cà
te, cẩm thị, muồng đen, lát vông.
+ Gỗ tàu thuyền, cầu
cống, tà vẹt gồm: gội nếp, vên vên, huỳnh đường, sao đen, sao xanh, săng lẻ...
+ Gỗ xây dựng làm đồ
gia dụng: Gội nếp, xoay, đinh hương, lòng mang, dổi đỏ, dổi xanh.
+ Gỗ ván lạng: Thông
nàng, vạng trứng, trám hồng, cóc đá, gội, chiêu liêu.
+ Gỗ làm điêu khắc mỹ
nghệ: Thông nàng, cẩm lai, trắc, cẩm thị, pơ mu, nến, dọc, thành ngạch thơm...
+ Gỗ làm nguyên liệu
giấy: Thông 3 lá, thông 2 lá, vạng trứng,...
Kon Tum có nhiều loài
cây đặc sản có giá trị kinh tế và dược liệu cao.
+ Sâm Ngọc Linh: Là
loại dược liệu quý hiếm mà cả nước chỉ có ở núi Ngọc Linh.
+ Gió: Sản phẩm của nó
là trầm hương, loài cây này phân bố nhiều trong kiểu rừng kín lá rộng thường
xanh thuộc các huyện Kon Plông, Đăk Tô.
+ Ươi: Có giá trị kinh
tế và xuất khẩu, phân bố nhiều ở huyện Sa Thầy.
+ Ngoài ra còn có nhiều
loại dược liệu quý hiếm như: mã tiền, vạng đắng, hoàng đằng, ngũ gia bì, hà thủ
ô, bồ cốt toái... phân bố ở trong hầu hết các kiểu rừng.
- Song mây: Là một
nguồn lợi khá lớn gồm các loại mây tắt, mây đắng, song bột, mây nếp. Phân bố ở
khắp nơi trong tỉnh. Hàng năm tỉnh khai thác gần 1 triệu mét song mây làm
nguyên vật liệu cho các mặt hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu.
- Nứa, lồ ô: Kon Tum là
tỉnh có trữ lượng nứa, lồ ô cao nhất trong toàn quốc, đấy là những loại cây làm
nguyên liệu chế biến giấy rất tốt,...
* Tài nguyên động vật
rừng: Theo thống kê sơ bộ Kon Tum có hơn 30 loại thú và hơn 70 loại chim khác
nhau. Điều đáng chú ý là có một số loại chim, thú quý hiếm được ghi trong cuốn
sách đỏ Việt Nam như: Hươu vàng, Cà Toong, Công,...
2.
Đặc điểm kinh tế - xã hội
2.1. Kinh tế
2.1.1. Tăng trưởng kinh
tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Quy mô và tiềm lực
kinh tế của tỉnh tăng lên đáng kể, đến cuối năm 2024 tổng sản phẩm trong tỉnh
(GRDP) đạt 40.946 tỷ đồng, tăng 71,3% so với năm 2020. Tốc độ tăng trưởng GRDP
hàng năm thuộc nhóm khá cao của cả nước và nhiều năm liền đứng nhất khu vực Tây
Nguyên[4]; tăng trưởng bình quân giai đoạn
2021-2025 đạt 8,15%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, dự
kiến đến cuối năm 2025, tỷ trọng các ngành nông, lâm, thủy sản chiếm 19,36%;
công nghiệp-xây dựng chiếm 33,03%; dịch vụ chiếm 40,32%. GRDP bình quân đầu
người tăng từ 43,01 triệu đồng năm 2020 lên 70,81 triệu đồng vào cuối năm 2025,
tăng 64,6%. Thu ngân sách nhà nước tại địa bàn đến năm 2025 đạt 5.000 tỷ đồng.
Tổng giá trị sản phẩm
bình quân đầu người tăng từ 32,14 triệu đồng (năm 2016) lên 46,58 triệu
đồng (năm 2020), tỷ lệ tăng trưởng GRDP trên đầu người đạt ở mức 9,35%.
So với giai đoạn 2011-2015, GRDP bình quân tăng 16,78 triệu đồng/người.
2.1.2. Thực trạng phát
triển Nông, lâm nghiệp
Ngành nông nghiệp từng
bước phát triển theo chiều sâu, phát huy tiềm năng, lợi thế từng vùng, thích
ứng với biến đổi khí hậu. Đã phát triển các loại cây trồng chủ lực theo hướng
ổn định diện tích, gắn với thâm canh, nâng cao năng suất để phục vụ các cơ sở
chế biến và tiêu thụ trong nước và xuất khẩu; mở rộng diện tích một số cây
trồng đặc hữu, cây trồng mới có giá trị kinh tế cao, phù hợp với điều kiện thổ
nhưỡng từng vùng. Tăng cường dồn đổi, tích tụ đất nông nghiệp để hình thành
"cánh đồng lớn", vùng sản xuất tập trung, phát triển nông nghiệp ứng
dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học, nông nghiệp hữu cơ gắn với chế biến và
thị trường tiêu thụ[5]. Các mô hình kinh tế trong nông
nghiệp, nhất là kinh tế tập thể phát triển, hoạt động ngày càng hiệu quả, thực
chất hơn. Tư duy, nhận thức của cán bộ, đảng viên và Nhân dân có bước chuyển
biến từ "sản xuất nông nghiệp" sang "kinh tế nông nghiệp",
gắn với nhu cầu thị trường. Chất lượng Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP)
được nâng lên[6]. Công tác cấp mã vùng trồng và chỉ
dẫn địa lý được chú trọng. Hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ trong
nông nghiệp có nhiều tiến bộ[7].
Phát triển lâm nghiệp
bền vững đạt nhiều kết quả tích cực, dự kiến trồng mới 21.433 ha rừng vào cuối
năm 2025, đạt 142,9 % mục tiêu Nghị quyết; trồng cây phân tán ước đạt 4,3 triệu
cây; khoanh nuôi phục hồi hơn 9.733 ha rừng; nuôi dưỡng làm giàu khoảng 1.000
ha rừng; nâng độ che phủ rừng của tỉnh lên 64%, đạt 100% mục tiêu Nghị quyết.
Công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng được triển khai quyết liệt, số vụ
vi phạm, khối lượng gỗ và diện tích thiệt hại đều giảm so với nhiệm kỳ trước.
Đã tập trung phát triển dược liệu dưới tán rừng, góp phần thay đổi diện mạo
nông thôn, cải thiện sinh kế người dân sống gần rừng.
2.1.3. Đầu tư phát
triển
- Tổng vốn đầu tư toàn
xã hội trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn là 62.329 tỷ đồng, trong đó, khu vực
nhà nước chiếm khoảng 37,55%, khu vực ngoài nhà nước chiếm khoảng 62,26%, khu
vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm khoảng 0,18%.
2.1.4. Thu hút đầu tư
xã hội và phát triển doanh nghiệp
- Công tác thu hút đầu
tư được tăng cường và đạt nhiều kết quả. Ủy ban nhân dân tỉnh đã thành lập Tổ
hỗ trợ thủ tục đầu tư tỉnh; thiết lập và đưa vào vận hành Hệ thống “Tiếp nhận,
phản hồi kiến nghị của doanh nghiệp” trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh; triển
khai thực hiện Mô hình Quán cà phê “khơi nguồn khởi nghiệp”; thành lập và đưa
vào hoạt động Trung tâm phục vụ hành chính công của tỉnh; kiện toàn lại Trung
tâm xúc tiến đầu tư; Trung tâm khuyến công và Trung tâm thông tin và xúc tiến
du lịch của tỉnh; thành lập Tổ công tác chỉ đạo thực hiện các dự án trọng điểm
thu hút đầu tư trên địa bàn... Qua đó, đã kịp thời giải quyết, tháo gỡ những
khó khăn, vướng mắc cho nhà đầu tư, đôn đốc đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án
trên địa bàn. Đến nay, có 341 dự án được chấp thuận chủ trương đầu tư còn hiệu
lực trên địa bàn tỉnh (ngoài Khu công nghiệp, khu kinh tế) với tổng vốn
63.771 tỷ đồng, trong đó có 201 dự án đã đầu tư hoàn thành với tổng vốn 22.297
tỷ đồng. Đã có một số nhà đầu tư, tập đoàn kinh tế lớn, có tiềm lực về tài
chính, công nghệ, kinh nghiệm đến tìm hiểu và đầu tư tại tỉnh, như: Tập đoàn
Vin Group, Công ty cổ phần Sun Group, đây sẽ là tiềm năng, tiềm lực phát triển
của tỉnh trong thời gian tới.
Các thành phần kinh tế
trong tỉnh bước đầu đã phát huy được nguồn lực nội tại để phát triển, nhất là
kinh tế tư nhân với nhiều ngành nghề kinh doanh khác nhau, kết quả và hiệu quả
hoạt động của các doanh nghiệp góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho người
lao động và tăng thu ngân sách. Tổng số lượng doanh nghiệp của tỉnh ước đến hết
năm 2024 là 2.748 doanh nghiệp, trong đó thành lập mới là 1.390 doanh nghiệp,
vốn đăng ký mới 13.772 tỷ đồng. Trên địa bàn tỉnh hiện có 205 tổ hợp tác, thu
hút 1.950 thành viên và người lao động tham gia. Có 132 hợp tác xã và 01 Liên hiệp
hợp tác xã, trong đó có 131 hợp tác xã đang hoạt động với 9.968 thành viên và
người lao động.
2.1.5. Hoạt động xuất
nhập khẩu
Toàn tỉnh Kon Tum hiện
có 04 cửa khẩu, gồm 01 cửa khẩu quốc tế và 03 cửa khẩu phụ. Cửa khẩu Bờ Y được
thành lập năm 1999, hiện đang hoạt động theo Quyết định 217/2005/QĐ-TTg của Thủ
tướng Chính phủ. 03 cửa khẩu phụ Đăk Long - Văn Tách (Lào), Đăk Blô -
Đak Ba (Lào) khai thông năm 2005.
Tỉnh Kon Tum hiện có
hơn 15 doanh nghiệp thực hiện hoạt động xuất khẩu hàng hóa với các mặt hàng chủ
yếu: cà phê nhân, cà phê bột, cao su thô, cao su tổng hợp, dây thun khoanh,
tinh bột sắn, bàn - ghế gỗ các loại.
Tổng kim ngạch xuất
khẩu đạt khoảng 353 triệu USD[8], tăng gần 124% so với năm 2020.
Mức tăng trưởng xuất
khẩu bình quân giai đoạn 2021-2025 cao và tăng so với giai đoạn 2016-2020 vì
giai đoạn này kim ngạch xuất khẩu dần ổn định, nhiều nhà máy chế biến nông sản
xuất khẩu được thành lập và đi vào hoạt động sản xuất, thị trường xuất khẩu một
số mặt hàng nông sản dần được mở rộng, ít phụ thuộc vào thị trường truyền thống
Trung Quốc.
Nhóm hàng nông sản (cao
su, cà phê, sắn) chiếm tỷ trọng rất cao chiếm hơn 90% tổng cơ cấu các mặt
hàng xuất khẩu, nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp chỉ chiếm
khoảng 10%.
Công tác phát triển thị
trường xuất khẩu đạt được những kết quả tích cực; Hàng hóa xuất khẩu tiếp tục
khai thác các thị trường truyền thống và mở rộng tìm kiếm, phát triển thêm các
thị trường mới.
Tăng trưởng xuất khẩu
góp phần vào tăng trưởng GDP, cải thiện cán cân thanh toán, thúc đẩy sản xuất
và tạo công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động.
2.1.6. Kết cấu hạ tầng
kinh tế xã hội thiết yếu liên quan đến lâm nghiệp
2.1.6.1. Giao thông
- Hệ thống giao thông
trên địa bàn tỉnh không ngừng được đầu tư, nâng cấp và mở mới[9]; các
tuyến nối liền tỉnh Kon Tum với các tỉnh Tây Nguyên và Duyên hải Miền Trung,
các nước bạn Lào, Campuchia và các tỉnh Đông Bắc Thái Lan thông suốt, cùng với
nhiều tuyến đường huyện, đường đô thị, đường liên xã, giao thông nông thôn được
đầu tư, nâng cấp tạo nên mạng lưới giao thông cơ bản hoàn chỉnh, đảm bảo thuận
lợi cho sản xuất và phục vụ đời sống của Nhân dân. Phong trào "Toàn dân
tham gia làm đường giao thông nông thôn" được triển khai rộng khắp trên
địa bàn tỉnh; các đường, ngõ nhỏ ở đô thị và các tuyến đường ở những khu vực
khó khăn được tập trung xây dựng đã mang lại hiệu quả thiết thực.
- Toàn tỉnh hiện có
6.082 km đường giao thông, trong đó: Quốc lộ: 444 km; Tỉnh lộ: 495 km;
Đường huyện: 714,62 km; Đường đô thị: 448 km; Đường xã: 948 km; Đường thôn,
xóm, trục nội đồng: 2.517 km; Đường chuyên dùng: 28 km; Đường Tuần tra Biên
giới: 435 km; Đường Trường Sơn Đông: 52 km. Kết cấu đường: Mặt đường bê tông
nhựa chiếm 17%; mặt đường bê tông xi măng chiếm 35%; mặt đường nhựa chiếm 12%;
còn lại là đường cấp phối và đường đất vẫn chiếm tỷ lệ lớn 36%. Tỷ lệ đường tốt
chiếm 40%; tình trạng đường trung bình chiếm 36%.
2.1.6.2. Thủy lợi
Nhiều công trình thủy
lợi lớn đã và đang được tu bổ, nâng cấp và xây mới, như: Hồ chứa nước Đăk
Pokei; Hồ chứa nước phục vụ vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Măng Đen;
Sửa chữa, nâng cấp Đập Bà Tri; Sửa chữa và nâng cao an toàn đập (WB8)…
Trên địa bàn tỉnh hiện có 543 công trình thủy lợi[10] phục
vụ sản xuất với tổng diện tích tưới theo thiết kế là 17.250 ha (trong đó:
cây lúa 11.734 ha, cây công nghiệp và hoa màu 5.516 ha). Tổng diện tích
tưới năm 2019 đạt 20.042,34 ha[11], tăng 4.011,92 ha so với năm 2015.
Đã lồng ghép các chương trình, dự án, tận dụng sự hỗ trợ của nhà nước, vận động
khuyến khích người dân, doanh nghiệp phát triển nông nghiệp theo hướng hiện
đại, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả với hình thức tưới phun mưa và tưới nhỏ
giọt áp dụng công nghệ Israel, kết quả hiện nay diện tích cây trồng trên cạn áp
dụng mô hình tưới nước tiên tiến trên địa bàn tỉnh khoảng 6.451 ha, chủ yếu tập
trung vào các loại cây trồng như: Cà phê (5.825,91 ha), chanh dây (180,2
ha), rau, đậu các loại (191,43 ha). Bên cạnh đó, chú trọng thực hiện
công tác tuyên truyền vận động nhân dân nâng cao ý thức bảo vệ công trình thủy
lợi và công tác ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng chặt phá rừng làm nương rẫy để
bảo vệ diện tích rừng hiện có và đảm bảo nguồn nước ngầm ổn định.
2.1.6.3. Điện
Việc cấp điện cho các
thôn làng chưa có điện từ lưới điện quốc gia được quan tâm chỉ đạo triển khai
thực hiện. Đến nay, đã cấp điện đến 10 thôn, làng trắng điện thuộc khu vực gần
biên giới, vùng sâu, vùng xa cần tăng cường về an ninh, quốc phòng[12],
nâng tỷ lệ số thôn, làng, tổ dân phố có lưới điện quốc gia lên 100% vào năm
2020 (năm 2015 là 97,35%). Hệ thống truyền tải lưới điện được chú trọng
đầu tư đưa vào vận hành, góp phần nâng tỷ lệ hộ được sử dụng điện trên địa bàn
tỉnh đạt 99,3% (năm 2015 là 98,13%). Bên cạnh đó, Ủy ban nhân dân tỉnh
cũng đã phê duyệt thiết kế điển hình dự án "Hệ thống lưới điện nông
thôn" thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn tỉnh giai đoạn
2016-2020 theo Nghị quyết số 161/2016/NQ-CP ngày 02/12/2016 của Chính phủ để
các ngành, địa phương căn cứ thực hiện.
1.1.6.4. Kết cấu hạ
tầng
- Kết cấu hạ tầng đô
thị được đầu tư nâng cấp, mở rộng. Bộ mặt đô thị có nhiều khởi sắc. Thành phố
Kon Tum ngày càng được đầu tư khang trang và mở rộng[13]; thị
trấn Măng Đen, huyện Kon Plông được thành lập; đô thị huyện Ngọc Hồi được tích
cực đầu tư, nâng cấp và đủ điều kiện trở thành thị xã vào năm 2020. Hạ tầng khu
hành chính mới huyện Ia H'Drai đang được hoàn thiện; trung tâm huyện lỵ các
huyện, trung tâm các xã, cụm xã được đầu tư mở rộng, nâng cấp, ngày càng đồng
bộ. Các khu, cụm công nghiệp được tập trung đầu tư, đưa vào hoạt động[14],
cơ bản đáp ứng yêu cầu tiếp nhận các cơ sở sản xuất kinh doanh.
- Đã ban hành Chương
trình hành động triển khai thực hiện chỉnh trang, đầu tư phát triển kết cấu hạ
tầng đô thị, các khu đô thị mới, các khu, cụm công nghiệp - đô thị - dịch vụ
trên địa bàn tỉnh Kon Tum[15]; Đã tập trung đầu tư phát triển kết
cấu hạ tầng đô thị, thu hút đầu tư xây dựng các khu đô thị mới; kết cấu hạ tầng
các khu, cụm công nghiệp; đẩy mạnh khai thác quỹ đất để phát triển kết cấu hạ
tầng đô thị. Qua đó, đã thu hút nhiều nhà đầu tư có tiềm lực mạnh về kinh tế
vào tìm hiểu cơ hội đầu tư vào tỉnh, một số dự án lớn đã được khởi công xây
dựng[16]. Bộ mặt đô thị đã dần hình thành
diện mạo mới của đô thị phát triển với nhiều công trình, các khu đô thị mới,
khu dân cư, cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đã và đang thực hiện[17];
đầu tư nâng cấp, mở rộng và từng bước ngầm hóa hệ thống hạ tầng kỹ thuật theo
các trục giao thông đô thị; xây dựng hào kỹ thuật đối với các dự án đầu tư một
số tuyến đường chính trong các khu đô thị mới. Nhiều dự án đã được cấp có thẩm
quyền quyết định chủ trương đầu tư đã và đang triển khai thực hiện. Toàn tỉnh
có 06/09 huyện, thành phố đã có bến xe khách tại trung tâm huyện cơ bản phục vụ
nhu cầu đi lại của nhân dân. Các công trình, dự án có tác động lớn đến phát
triển kinh tế - xã hội của địa phương được tập trung đẩy nhanh thực hiện. Cơ sở
hạ tầng được quan tâm đầu tư và từng bước hoàn chỉnh để phục vụ yêu cầu phát
triển kinh tế - xã hội, đời sống người dân.
2.2. Xã hội
2.2.1. Dân số, dân tộc,
lao động, đời sống
Dân số trung bình năm
2024 ước đạt 555 nghìn người, tốc độ tăng dân số bình quân 2,25%/năm (trong
đó tăng tự nhiên 1,2%); Công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình đạt kết quả
tích cực, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm từ 1,42% năm. Dân tộc thiểu số
292.373 người chiếm 53,65% với 43 dân tộc cùng sinh sống[18],
trong đó có 07 dân tộc tại chỗ, gồm: Xơ Đăng, Ba Na, Gia Rai, Giẻ-Triêng, Hrê,
Brâu và Rơ Măm.
Lao động, việc làm có
nhiều chuyển biến tích cực, công tác đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm
được quan tâm chỉ đạo; hệ thống cơ sở giáo dục - nghề nghiệp từng bước được sắp
xếp tinh gọn, hiệu quả[19], năng lực đào tạo của các cơ sở giáo
dục nghề nghiệp sau khi sáp nhập được cải thiện. Tỷ lệ lao động qua đào tạo[20]
và số lao động được tạo việc làm thông qua các chương trình ngày càng tăng,
bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho trên 4.600 lao động. Việc làm cho con
em đồng bào dân tộc thiểu số sau khi tốt nghiệp các trường cao đẳng, đại học
được chú trọng giải quyết. Đã thực hiện tư vấn cho 9.886 lao động có nhu cầu
học nghề và tìm việc làm, trong đó lao động là dân tộc thiểu số 3.537 người; Tỷ
lệ bao phủ bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp được nâng lên.
2.2.2. Giáo dục và đào
tạo
Chất lượng giáo dục và
đào tạo, nguồn nhân lực được nâng lên, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào
dân tộc thiểu số. Đã thực hiện tốt chủ trương về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo, triển khai Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018. Ban
hành và triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết về nâng cao chất lượng giáo
dục và đào tạo vùng đồng bào dân tộc thiểu số, qua đó, chất lượng giáo dục vùng
khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số chuyển biến tích cực. Hiệu quả, chất
lượng các kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông tiếp tục được củng cố, nâng
lên; kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học
đúng độ tuổi và giáo dục trung học cơ sở được duy trì và nâng cao. Đội ngũ giáo
viên, cán bộ quản lý ngành giáo dục được bổ sung, kiện toàn, đào tạo, bồi dưỡng
đáp ứng yêu cầu chuyên môn. Hệ thống trường, lớp học tiếp tục được củng cố,
toàn tỉnh có 191/343 trường đạt chuẩn quốc gia (đạt tỷ lệ 55,69%); hệ thống các
cơ sở giáo dục ngoài công lập có bước phát triển. Công tác giáo dục hướng
nghiệp và phân luồng học sinh được quan tâm, đạt được kết quả nhất định. Chất lượng
nguồn nhân lực được cải thiện, tỷ lệ lao động được đào tạo đến năm 2025 dự kiến
đạt khoảng 60%, đạt chỉ tiêu Nghị quyết.
2.2.3. Y tế và chăm sóc
sức khỏe
Cơ sở vật chất, thiết
bị y tế phục vụ công tác khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế được đầu tư theo
hướng ngày càng hiện đại. Đội ngũ cán bộ y tế từ huyện đến cơ sở được nâng cao
trình độ chuyên môn và y đức. Tỷ lệ số giường bệnh/1 vạn dân đạt 38,6 giường;
100% xã, phường, thị trấn được công nhận đạt Bộ tiêu chí Quốc gia y tế xã giai
đoạn 2011-2020. Phát triển y tế ngoài công lập chất lượng cao đã kết quả tích
cực. Năng lực dự báo, giám sát, phát hiện và khống chế các dịch bệnh của hệ
thống mạng lưới y tế dự phòng cơ bản đáp ứng yêu cầu. Công tác phòng, chống
dịch bệnh Covid-19 được triển khai thực hiện quyết liệt, hiệu quả, kịp thời[21];
các bệnh dịch, bệnh truyền nhiễm nguy hiểm được kiểm soát tốt; tiêm chủng mở
rộng được triển khai đến 100% các xã, phường, thị trấn.
Chất lượng dân số từng
bước được cải thiện, tuổi thọ trung bình đến năm 2025 đạt khoảng 69,85 tuổi,
tăng 3,25% so với năm 2020. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên với mức sinh thấp[22].
Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng thể thấp còi từ 30,8% năm 2020 còn dưới 28% năm
2025; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể nhẹ cân giảm từ 20,1% năm
2020 xuống 16,5% năm 2025.
2.2.4. An sinh xã hội
và giảm nghèo
Đã thực hiện hiệu quả
các chính sách an sinh, phúc lợi xã hội, mở rộng đối tượng hưởng trợ cấp xã hội[23].
Tỷ lệ lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội dự kiến đạt
khoảng 30% vào năm 2025, tăng 13,2% so với năm 2020. Tỷ lệ hộ nghèo bình quân
giảm 3,6%/năm, đạt chỉ tiêu Nghị quyết. Các chế độ, chính sách đối với người có
công, gia đình chính sách được giải quyết đồng bộ, kịp thời[24].
Chính sách xóa nhà tạm, nhà dột nát được quan tâm thực hiện quyết liệt, dự kiến
trong 6 tháng đầu năm 2025 xóa bỏ 100% nhà tạm, nhà dột nát trên địa bàn tỉnh;
cải tạo vườn tạp bước đầu đạt kết quả tích cực[25].
2.2.5. Khoa học, công
nghệ
Hoạt động nghiên cứu,
ứng dụng và chuyển giao các thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời
sống đã có chuyển biến tích cực[26]. Tiềm lực khoa học và công nghệ đã
được tăng cường. Nhiều kết quả nghiên cứu, các công nghệ mới đã được ứng dụng
thành công; góp phần quan trọng vào việc nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu
quả sản xuất, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp góp phần thúc đẩy chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng, vật nuôi, chăm sóc sức khỏe và bảo vệ môi
trường. Hoạt động khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, sở hữu trí tuệ, an toàn bức xạ
và hạt nhân, tiêu chuẩn đo lường chất lượng đã được đẩy mạnh. Một số công nghệ
chủ chốt của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư bước đầu đã được tiếp cận và
ứng dụng vào các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội. Hợp tác trong và ngoài
nước về khoa học và công nghệ đã được chú trọng.
3.
Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội đến phát triển lâm nghiệp
3.1. Thuận lợi
- Điều kiện kinh tế, xã
hội trên địa bàn tỉnh ngày càng phát triển có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình
xây dựng và phát triển lâm nghiệp. Hệ thống cơ sở hạ tầng ngày càng hoàn thiện
như giao thông, điện, thông tin liên lạc đã tạo điều kiện tiếp cận địa bàn sản
xuất thuận lợi, giảm giá thành trong sản xuất và vận chuyển hàng hoá.
- Hoạt động sản xuất
lâm nghiệp đã có sự chuyển biến rõ rệt từ nhiệm vụ khai thác gỗ và lâm sản rừng
tự nhiên là chính chuyển sang nhiệm vụ cơ bản là bảo vệ, xây dựng và phát triển
vốn rừng, dịch vụ môi trường rừng, kinh doanh lâm sản. Lực lượng sản xuất được
xã hội hóa, thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia, thay dần cơ chế tập
trung vào các tổ chức kinh tế của Nhà nước.
- Đầu tư cho lâm nghiệp
ngày càng tăng, có nhiều dự án, chương trình của quốc gia và quốc tế thúc đẩy
hoạt động sản xuất lâm nghiệp ngày càng phát triển, góp phần vào phát triển
kinh tế, bảo vệ môi trường và xóa đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh.
3.2. Khó khăn
Bên cạnh những ảnh
hưởng tích cực, còn có không ít tác động tiêu cực đối với công tác bảo vệ và
phát triển rừng trên địa bàn tỉnh.
- Điều kiện kinh tế xã
hội ngày càng phát triển, thu hút ngày càng nhiều lao động và dân cư đến sinh
sống, kéo theo nhu cầu đất ở, đất sản xuất, gỗ làm nhà và tiêu dùng ngày càng
tăng, đã tạo áp lực lên tài nguyên rừng.
- Tình hình giá cả thị
trường của một số mặt hàng nông sản như sắn, cà phê, cao su tác động không nhỏ
đến hoạt động bảo vệ và phát triển rừng. Thực tế cho thấy, trong những năm gần
đây tình trạng phát rừng làm nương rẫy, lấn chiếm, sang nhượng đất lâm nghiệp
trái phép để trồng cây công nghiệp có chiều hướng gia tăng trên địa bàn tỉnh.
- Việc phát triển cơ sở
hạ tầng như xây dựng các công trình giao thông, đường điện, công trình thủy
điện, thủy lợi và phát triển cao su, cây công nghiệp đã chuyển đổi mục đích sử
dụng một diện tích đất lâm nghiệp khá lớn, làm giảm diện tích rừng và đất rừng
của tỉnh.
- Chất lượng đội ngũ
lao động thấp, không đáp ứng yêu cầu sản xuất quy mô công nghiệp.
III.
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ SỬ DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG, CHẾ BIẾN LÂM SẢN GIAI
ĐOẠN 2020-2025 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KON TUM
1.
Tổ chức quản lý rừng
1.1. Quy hoạch rừng
theo chức năng sử dụng
Diện tích rừng và đất
lâm nghiệp đã được quy hoạch theo 3 chức năng phòng hộ, đặc dụng và sản xuất,
được định vị trên bản đồ và thực địa theo một hệ thống quản lý thống nhất từ
tỉnh đến từng huyện, xã, tiểu khu từ năm 2008 Đây là cơ sở dữ liệu quan trọng
để lập quy hoạch, kế hoạch phát triển lâm nghiệp, tổ chức hệ thống quản lý rừng
phù hợp.
Diện tích rừng và đất
lâm nghiệp tỉnh Kon Tum tính đến 31/12/2024 phân chia theo 3 loại rừng được
tổng hợp tại sau:
Bảng
1. Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp tỉnh Kon Tum
|
Phân
loại rừng
|
Diện tích
|
Đặc
dụng
|
Phòng
hộ
|
Sản
xuất
|
|
Cộng
|
Vườn
quốc gia
|
Khu
dự trữ thiên nhiên
|
Cộng
|
Đầu
nguồn
|
|
TỔNG DIỆN TÍCH (gồm
diện tích có rừng và rừng trồng chưa thành rừng)
|
634.151,02
|
90.405,68
|
53.231,32
|
37.174,36
|
161.520,36
|
161.520,36
|
382.224,98
|
|
DIỆN TÍCH RỪNG
|
616.195,94
|
90.069,55
|
52.968,24
|
37.101,31
|
159.729,18
|
159.729,18
|
366.397,21
|
|
RỪNG PHÂN THEO NGUỒN
GỐC
|
616.195,94
|
90.069,55
|
52.968,24
|
37.101,31
|
159.729,18
|
159.729,18
|
366.397,21
|
|
Rừng tự nhiên
|
552.350,72
|
89.802,61
|
52.791,52
|
37.011,09
|
155.009,65
|
155.009,65
|
307.538,46
|
|
- Rừng nguyên sinh
|
18.166,85
|
18.166,85
|
18.166,85
|
|
|
|
|
|
- Rừng thứ sinh
|
534.183,87
|
71.635,76
|
34.624,67
|
37.011,09
|
155.009,65
|
155.009,65
|
307.538,46
|
|
Rừng trồng
|
63.845,22
|
266,94
|
176,72
|
90,22
|
4.719,53
|
4.719,53
|
58.858,75
|
|
- Trồng mới trên đất
chưa có rừng
|
23.099,13
|
103,24
|
26,80
|
76,44
|
4.412,56
|
4.412,56
|
18.583,33
|
|
- Trồng lại sau khi
khai thác rừng trồng đã có
|
40.720,51
|
163,70
|
149,92
|
13,78
|
306,97
|
306,97
|
40.249,84
|
|
- Tái sinh tự nhiên
từ rừng trồng đã khai thác
|
25,58
|
|
|
|
|
|
25,58
|
|
Trong đó:
|
40.014,02
|
10,10
|
10,10
|
|
333,06
|
333,06
|
39.670,86
|
|
- Rừng trồng cao su
|
40.006,57
|
10,10
|
10,10
|
|
329,95
|
329,95
|
39.666,52
|
|
- Rừng trồng cây đặc
sản
|
7,45
|
|
|
|
3,11
|
3,11
|
4,34
|
|
RỪNG PHÂN THEO ĐIỀU
KIỆN LẬP ĐỊA
|
616.196,18
|
90.069,55
|
52.968,24
|
37.101,31
|
159.729,18
|
159.729,18
|
366.397,45
|
|
Rừng trên núi đất
|
616.126,34
|
90.069,55
|
52.968,24
|
37.101,31
|
159.729,18
|
159.729,18
|
366.327,61
|
|
Rừng trên núi đá
|
69,60
|
|
|
|
|
|
69,60
|
|
RỪNG TỰ NHIÊN PHÂN
THEO LOÀI CÂY
|
552.350,72
|
89.802,61
|
52.791,52
|
37.011,09
|
155.009,65
|
155.009,65
|
307.538,46
|
|
Rừng gỗ tự nhiên
|
478.250,09
|
74.509,89
|
38.730,12
|
35.779,77
|
142.832,46
|
142.832,46
|
260.907,74
|
|
- Rừng gỗ lá rộng
thường xanh hoặc nửa rụng lá
|
448.516,54
|
69.202,78
|
38.604,56
|
30.598,22
|
126.543,63
|
126.543,63
|
252.770,13
|
|
- Rừng gỗ lá rộng
rụng lá
|
515,55
|
125,56
|
125,56
|
|
1,23
|
1,23
|
388,76
|
|
- Rừng gỗ lá kim
|
13.336,91
|
2.323,01
|
|
2.323,01
|
7.778,81
|
7.778,81
|
3.235,09
|
|
- Rừng gỗ hỗn giao lá
rộng và lá kim
|
15.881,09
|
2.858,54
|
|
2.858,54
|
8.508,79
|
8.508,79
|
4.513,76
|
|
Rừng tre nứa
|
21.473,39
|
3.246,13
|
2.838,33
|
407,80
|
4.366,75
|
4.366,75
|
13.860,51
|
|
- Lồ ô
|
13,54
|
|
|
|
|
|
13,54
|
|
- Các loài khác
|
21.459,85
|
3.246,13
|
2.838,33
|
407,80
|
4.366,75
|
4.366,75
|
13.846,97
|
|
Rừng hỗn giao gỗ và
tre nứa
|
52.627,24
|
12.046,59
|
11.223,07
|
823,52
|
7.810,44
|
7.810,44
|
32.770,21
|
|
- Gỗ là chính
|
38.840,10
|
7.122,16
|
6.317,46
|
804,70
|
6.451,21
|
6.451,21
|
25.266,73
|
|
- Tre nứa là chính
|
13.787,14
|
4.924,43
|
4.905,61
|
18,82
|
1.359,23
|
1.359,23
|
7.503,48
|
|
DIỆN TÍCH CHƯA THÀNH
RỪNG
|
164.052,01
|
3.161,12
|
1.609,58
|
1.551,54
|
22.670,11
|
22.670,11
|
138.220,78
|
|
Diện tích đã trồng
chưa đạt tiêu chí thành rừng
|
17.955,08
|
336,13
|
263,08
|
73,05
|
1.791,18
|
1.791,18
|
15.827,77
|
|
Diện tích khoanh nuôi
tái sinh
|
25.543,68
|
156,24
|
67,63
|
88,61
|
4.732,00
|
4.732,00
|
20.655,44
|
|
Diện tích khác
|
120.553,25
|
2.668,75
|
1.278,87
|
1.389,88
|
16.146,93
|
16.146,93
|
101.737,57
|
(Nguồn:
Kết quả theo dõi diễn biến rừng 2024)
1.2. Tổ chức hệ thống
quản lý rừng
Hệ thống quản lý rừng
được tổ chức thống nhất theo quy chế quản lý rừng của Chính phủ quy định.
- Tổ chức quản lý Nhà
nước về rừng và đất lâm nghiệp.
+ Ở cấp tỉnh: UBND tỉnh
và các cơ quan chuyên môn, trực tiếp là Sở Nông nghiệp và Môi trường.
+ Ở cấp huyện: UBND
huyện và các phòng chuyên môn trực thuộc, Hạt kiểm lâm huyện.
+ Ở cấp xã: UBND xã và
cán bộ kiểm lâm, Địa chính
- Tổ chức sản xuất,
kinh doanh.
Diện tích đất lâm
nghiệp trên địa bàn tỉnh được UBND tỉnh giao cho các chủ thể quản lý và sử dụng
(gọi là các chủ rừng) thể hiện tại bảng 2.
Bảng
2. Diện tích các loại rừng giao cho các chủ thể quản lý sử dụng.
|
Phân
loại rừng
|
Tổng
|
BQL Rừng ĐD
|
BQL
rừng PH
|
Tổ
chức kinh tế
|
Lực
lượng vũ trang
|
Tổ
chức KH&CN, ĐT, GD
|
Hộ
gia đình, cá nhân trong nước
|
Cộng
đồng dân cư
|
Doanh
nghiệp đầu tư nước ngoài
|
UBND
|
|
(2)
|
(4)
|
(5)
|
(6)
|
(7)
|
(8)
|
(9)
|
(10)
|
(11)
|
(12)
|
(13)
|
|
TỔNG DIỆN TÍCH (gồm
diện tích có rừng và rừng trồng chưa thành rừng)
|
634.151,02
|
96.198,76
|
122.570,67
|
257.059,02
|
6.491,26
|
4.774,92
|
49.116,44
|
19.089,85
|
1.048,41
|
77.801,69
|
|
DIỆN TÍCH RỪNG
|
616.195,94
|
95.843,39
|
121.466,27
|
254.050,79
|
6.369,90
|
4.469,01
|
48.821,51
|
18.975,59
|
924,46
|
65.275,02
|
|
RỪNG PHÂN THEO NGUỒN
GỐC
|
616.195,94
|
95.843,39
|
121.466,27
|
254.050,79
|
6.369,90
|
4.469,01
|
48.821,51
|
18.975,59
|
924,46
|
65.275,02
|
|
Rừng tự nhiên
|
552.350,72
|
95.577,95
|
118.902,59
|
221.357,35
|
1.026,31
|
1.825,77
|
48.356,11
|
18.813,99
|
365,72
|
46.124,93
|
|
- Rừng nguyên sinh
|
18.166,85
|
18.166,85
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
- Rừng thứ sinh
|
534.183,87
|
77.411,10
|
118.902,59
|
221.357,35
|
1.026,31
|
1.825,77
|
48.356,11
|
18.813,99
|
365,72
|
46.124,93
|
|
Rừng trồng
|
63.845,22
|
265,44
|
2.563,68
|
32.693,44
|
5.343,59
|
2.643,24
|
465,40
|
161,60
|
558,74
|
19.150,09
|
|
- Trồng mới trên đất
chưa có rừng
|
23.099,13
|
102,05
|
2.559,34
|
11.941,31
|
52,22
|
126,68
|
172,49
|
145,78
|
471,50
|
7.527,76
|
|
- Trồng lại sau khi
khai thác rừng trồng đã có
|
40.720,51
|
163,39
|
4,34
|
20.755,15
|
5.291,37
|
2.516,56
|
292,91
|
15,82
|
62,71
|
11.618,26
|
|
- Tái sinh tự nhiên từ
rừng trồng đã khai thác
|
25,58
|
|
|
|
|
|
|
|
24,53
|
1,05
|
|
Trong đó:
|
40.014,02
|
9,79
|
13,11
|
17.508,92
|
5.040,15
|
2.446,93
|
249,84
|
3,43
|
12,38
|
14.729,47
|
|
- Rừng trồng cao su
|
40.006,57
|
9,79
|
13,11
|
17.506,08
|
5.040,15
|
2.446,93
|
249,37
|
3,43
|
12,38
|
14.725,33
|
|
- Rừng trồng cây đặc
sản
|
7,45
|
|
|
2,84
|
|
|
0,47
|
|
|
4,14
|
|
RỪNG PHÂN THEO ĐIỀU
KIỆN LẬP ĐỊA
|
616.196,18
|
95.843,39
|
121.466,27
|
254.050,79
|
6.369,90
|
4.469,01
|
48.821,51
|
18.975,59
|
924,46
|
65.275,26
|
|
Rừng trên núi đất
|
616.126,34
|
95.843,39
|
121.466,27
|
253.982,19
|
6.369,90
|
4.469,01
|
48.821,51
|
18.975,59
|
924,46
|
65.274,02
|
|
Rừng trên núi đá
|
69,60
|
|
|
68,60
|
|
|
|
|
|
1,00
|
|
RỪNG TỰ NHIÊN PHÂN
THEO LOÀI CÂY
|
552.350,72
|
95.577,95
|
118.902,59
|
221.357,35
|
1.026,31
|
1.825,77
|
48.356,11
|
18.813,99
|
365,72
|
46.124,93
|
|
Rừng gỗ tự nhiên
|
478.250,09
|
78.479,66
|
112.507,29
|
193.504,43
|
518,28
|
826,58
|
41.563,85
|
16.889,63
|
244,74
|
33.715,63
|
|
- Rừng gỗ lá rộng
thường xanh hoặc nửa rụng lá
|
448.516,54
|
73.161,79
|
96.418,42
|
187.571,92
|
518,28
|
826,58
|
40.516,90
|
16.324,16
|
244,74
|
32.933,75
|
|
- Rừng gỗ lá rộng rụng
lá
|
515,55
|
125,56
|
|
4,56
|
|
|
207,40
|
48,37
|
|
129,66
|
|
- Rừng gỗ lá kim
|
13.336,91
|
2.333,31
|
7.835,66
|
2.069,34
|
|
|
591,06
|
235,36
|
|
272,18
|
|
- Rừng gỗ hỗn giao lá
rộng và lá kim
|
15.881,09
|
2.859,00
|
8.253,21
|
3.858,61
|
|
|
248,49
|
281,74
|
|
380,04
|
|
Rừng tre nứa
|
21.473,39
|
3.305,44
|
3.028,27
|
6.294,64
|
140,71
|
68,13
|
2.521,45
|
947,74
|
55,61
|
5.111,40
|
|
- Lồ ô
|
13,54
|
|
|
13,54
|
|
|
|
|
|
|
|
- Các loài khác
|
21.459,85
|
3.305,44
|
3.028,27
|
6.281,10
|
140,71
|
68,13
|
2.521,45
|
947,74
|
55,61
|
5.111,40
|
|
Rừng hỗn giao gỗ và
tre nứa
|
52.627,24
|
13.792,85
|
3.367,03
|
21.558,28
|
367,32
|
931,06
|
4.270,81
|
976,62
|
65,37
|
7.297,90
|
|
- Gỗ là chính
|
38.840,10
|
8.065,44
|
3.314,88
|
16.492,60
|
358,31
|
900,07
|
2.875,53
|
926,37
|
60,97
|
5.845,93
|
|
- Tre nứa là chính
|
13.787,14
|
5.727,41
|
52,15
|
5.065,68
|
9,01
|
30,99
|
1.395,28
|
50,25
|
4,40
|
1.451,97
|
|
Rừng cau dừa
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
DIỆN TÍCH CHƯA THÀNH RỪNG
|
164.052,01
|
2.671,38
|
5.863,43
|
21.340,47
|
1.401,39
|
1.167,88
|
6.261,72
|
1.020,92
|
807,81
|
123.517,01
|
|
Diện tích đã trồng
chưa đạt tiêu chí thành rừng
|
17.955,08
|
355,37
|
1.104,40
|
3.008,23
|
121,36
|
305,91
|
294,93
|
114,26
|
123,95
|
12.526,67
|
|
Diện tích khoanh nuôi
tái sinh
|
25.543,68
|
147,86
|
1.515,10
|
3.561,10
|
227,79
|
120,02
|
1.349,81
|
357,45
|
182,71
|
18.081,84
|
|
Diện tích khác
|
120.553,25
|
2.168,15
|
3.243,93
|
14.771,14
|
1.052,24
|
741,95
|
4.616,98
|
549,21
|
501,15
|
92.908,50
|
(Nguồn:
Kết quả theo dõi diễn biến rừng 2024)
Qua đây cho thấy tình
hình quản lý và sử dụng các loại rừng như sau:
+ Đối với diện tích rừng
đặc dụng:
Toàn bộ diện tích 90.405,68 ha đã được giao cho 3 Ban quản lý rừng đặc
dụng quản lý là Vườn Quốc gia Chư Mom Ray, Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc linh và
Khu rừng đặc dụng Đăk Uy, được tổ chức quản lý theo quy chế quản lý rừng đặc
dụng.
+ Đối với diện tích rừng
phòng hộ.
Toàn bộ diện tích 161.520,36 ha rừng phòng hộ của tỉnh là rừng phòng hộ
đầu nguồn, hiện có nhiều chủ thể quản lý khác nhau. Trong đó 126.102 ha chiếm
gần 69% diện tích rừng liền vùng liền khoảnh đã giao cho 7 BQL rừng phòng hộ
quản lý bảo vệ. Diện tích còn lại có 27.075 ha do các Công ty Lâm nghiệp quốc
doanh quản lý và 29.818 ha do hộ gia đình, UBND xã và các tổ chức kinh tế khác
quản lý.
+ Đối với diện tích rừng
sản xuất: Đây
là đối tượng rừng có diện tích lớn nhất với 382.224,98 ha, được giao cho
nhiều chủ thể quản lý khác nhau, bao gồm: Các Ban quản lý rừng phòng hộ và đặc
dụng tạm thời quản lý 7.296 ha chiếm tỷ lệ 1%; Các công ty Lâm nghiệp quốc
doanh quản lý 194.577 ha chiếm trên 39% diện tích rừng sản xuất của tỉnh; Diện
tích còn lại có 346.823 ha do cộng đồng dân cư thôn, hộ gia đình, UBND xã và
các tổ chức kinh tế khác quản lý.
2.
Phát triển rừng
2.1. Trồng rừng phòng
hộ, đặc dụng
Toàn bộ diện tích rừng
trồng phòng hộ và đặc dụng hiện có trên địa bàn tỉnh đều do các Ban quản lý
rừng và Công ty, Lâm trường quốc doanh tổ chức trồng theo Chương trình phát
triển lâm nghiệp bền vững. Từ năm 2020 đến năm 2025 đã trồng được 820 ha Mặc dù
có nhiều cố gắng nhưng công tác trồng rừng phòng hộ và đặc dụng trên địa bàn tỉnh
còn rất hạn chế.
2.2. Trồng rừng sản
xuất
Diện tích rừng trồng
sản xuất trên địa bàn tỉnh chủ yếu do các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và hộ
gia đình trồng, Nhà nước hỗ trợ về đất đai, giống và kỹ thuật. Tổng diện tích
đã trồng giai đoạn 2021-2025 là 20.613 ha
Nhìn chung diện tích
rừng trồng còn hạn chế, chất lượng và năng suất rừng trồng còn thấp (chỉ
khoảng 15-16 m3/ha/năm), tập đoàn cây trồng còn đơn điệu, chất
lượng giống cây trồng chưa đảm bảo phát huy điều kiện tiềm năng lập địa, hiệu
quả kinh tế chưa đáp ứng nhu cầu của người trồng rừng, trình độ thâm canh rừng
thấp. Nguyên nhân: (i) Không thể tích tụ đất đai để trồng rừng; (ii) Thị trường
tiêu thụ và hiệu quả kinh tế không thuyết phục được người dân tham gia trồng
rừng sản xuất; (iii) Chính sách hỗ trợ tài chính của Nhà nước cho trồng rừng
sản xuất bất cập; (iv) Tình hình thị trường nông sản trong thời gian qua như
giá Sắn, Cao su, Cà phê tăng cao gây biến động lớn về tình hình sử dụng đất,
làm ảnh hưởng đến việc phát triển rừng trồng trong nhân dân và các doanh
nghiệp.
2.3. Khoanh nuôi phục
hồi rừng
Toàn bộ diện tích
khoanh nuôi phục hồi rừng hiện có trên địa bàn tỉnh đều do các Ban quản lý rừng
và Công ty, Lâm trường quốc doanh tổ chức thực hiện theo Chương trình phát
triển lâm nghiệp bền vững. Giai đoạn 2021-2025 diện tích khoanh nuôi phục hồi
rừng đạt 8.212 ha.
Thực tiễn cho thấy diện
tích sau khoanh nuôi tỷ lệ thành rừng tương đối cao, nâng cao độ che phủ rừng.
Tuy nhiên, diện tích khoanh nuôi phục hồi rừng chưa nhiều, sinh trưởng chậm,
năng suất và chất lượng rừng phục hồi sau khoanh nuôi thấp, tổ thành loài cây
phức tạp, khả năng cung cấp gỗ và lâm sản chưa đảm bảo.
3.
Khai thác, sử dụng rừng.
Giai đoạn 2021-2025
tổng khối lượng gỗ khai thác tận dụng trên các công trình chuyển đổi mục đích
sử dụng rừng, khai thác tỉa thưa rừng trồng, khai thác gỗ vườn nhà, gỗ cao su :
351.844m3 gỗ các loại và 626,4 Ster củi.
4.
Tổ chức mạng lưới chế biến gỗ và lâm sản.
Để triển khai Quy hoạch
chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Kon Tum giai đoạn 2011-2020, Sở Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum phê duyệt Quy
hoạch mạng lưới chế biến gỗ giai đoạn 2011- 2020, tầm nhìn đến năm 2025 tại Quyết
định số 639/QĐ-UBND ngày 14/7/2011. Để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế
xã hội giai đoạn 2011- 2015, Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum đã điều chỉnh, bổ
sung Quy hoạch mạng lưới chế biến gỗ tại các Quyết định số 516/QĐ-UBND ngày
16/7/2013 và Quyết định số 1062/2014/QĐ-UBND ngày 20/10/2014.
Hiện nay, trên địa bàn
tỉnh có 12 Công ty hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu lâm sản (trong đó có
9 công ty đang hoạt động và 3 công ty đang tạm ngưng hoạt động), 13 cơ sở sản
xuất kinh doanh và chế biến gỗ (trong đó 08 cơ sở đã ngừng hoạt động) và hơn
200 cơ sở chế biến mộc dân dụng khác.
Nhìn chung công tác chế
biến gỗ và lâm sản trên địa bàn phát triển không ổn định, giá trị sản xuất
chiếm tỷ trọng thấp chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh hiện có của tỉnh
Kon Tum. Sản phẩm gỗ xuất khẩu còn nhiều hạn chế chỉ mang tính gia công, không
có thương hiệu nên chưa đủ sức cạnh tranh với thị trường trong và quốc tế. Công
nghiệp chế biến gỗ rừng trồng chưa được đầu tư phát triển, gỗ khai thác từ rừng
trồng chủ yếu được bán chưa qua chế biến. Công nghiệp chế biến lâm sản ngoài gỗ
hầu như không có. Công tác chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011- 2015
có chiều hướng suy giảm, số lượng cơ sở chế biến từ 53 cơ sở năm 2010 giảm
xuống 31 cơ sở năm 2015. Nguyên nhân chủ yếu do nguồn gỗ nguyên liệu không ổn
định, ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới nên việc xuất khẩu gặp
khó khăn, thu hút đầu tư trong lĩnh vực chế biến sản phẩm gỗ rừng trồng và lâm
sản ngoài gỗ còn hạn chế.
5.
Giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp và kết quả huy động tối đa nguồn lực để triển
khai thực hiện Đề án phát triển lâm nghiệp bền vững 2021-2025:
- Theo số liệu thống
kê, tổng nguồn lực để phát triển ngành lâm nghiệp giai đoạn 2021-2024 đã huy
động hơn 1.547,3 tỷ đồng .Tổng giá trị sản xuất ước đạt 7.508,5 tỷ đồng (Trong
đó giá trị trồng rừng ước đạt 948 tỷ đồng; trồng sâm ngọc linh 6.560,5 tỷ
đồng).
6.
Đánh giá hoạt động sản xuất lâm nghiệp giai đoạn 2020-2025.
6.1. Kết quả đạt được
- Hiệu lực, hiệu quả
trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh được nâng lên; vai
trò, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng
được tăng cường; đã huy động toàn hệ thống chính trị và Nhân dân tích cực tham
gia quản lý, bảo vệ rừng; qua đó hoạt động lâm nghiệp của tỉnh đã đạt được một
số kết quả nhất định, trong đó, cơ bản nhất là bảo vệ được vốn rừng hiện có,
duy trì độ che phủ của rừng đến năm 2024 là 63,69%. Công tác theo dõi, nắm bắt
thông tin, xử lý các vụ khai thác, vận chuyển, cất giấu lâm sản đạt nhiều kết
quả tích cực; đã xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân để xảy ra vi phạm trong lĩnh
vực quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn.
- Đã tạo công ăn việc
làm cho lao động nông thôn, thu hút người dân sống gần rừng tham gia vào sản
xuất lâm nghiệp, tạo thêm thu nhập, góp phần ổn định đời sống, đặc biệt là
người đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng sâu, vùng xa. Ngoài ra, việc
đầu tư cho các hoạt động lâm nghiệp cũng đã góp phần cùng với các chương trình
khác của Nhà nước xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, nâng cao đời
sống vật chất tinh thần cho Nhân dân trên địa bàn, góp phần giữ vững an ninh chính
trị, trật tự xã hội và an ninh quốc phòng.
- Rừng tự nhiên được
quản lý, bảo vệ tốt, tăng khả năng phòng hộ đầu nguồn, bảo vệ môi trường, bảo
tồn tính đa dạng sinh học. Đã thực hiện nghiêm việc đóng cửa rừng tự nhiên,
dừng các dự án chuyển đổi rừng tự nhiên sang mục đích khác, không cấp phép khai
thác tận dụng trên diện tích rừng tự nhiên đối các dự án đã có quyết định
chuyển đổi nhưng chưa khai thác tận dụng.
- Tổ chức, bộ máy quản
lý nhà nước về lâm nghiệp được sắp xếp, kiện toàn, bộ máy, nhân sự hoạt động
trong lĩnh vực lâm nghiệp đã dần hoạt động ổn định và hiệu quả. Việc phân công,
phân cấp trách nhiệm quản lý nhà nước trong lĩnh vực Lâm nghiệp thực hiện theo
quy định hiện hành[27]. Trong đó, thường xuyên luân chuyển
cán bộ thực hiện nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng, không bố trí các trường hợp đã
bị xử lý kỷ luật hoặc có dấu hiệu vi phạm vào các chức danh lãnh đạo, quản lý.
- Các khó khăn vướng
mắc về hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về quản lý, bảo vệ và phát triển
rừng đã được chính quyền địa phương xác định rõ và kiến nghị với Bộ ngành Trung
ương. Đồng thời, đã ban hành một số chính sách hỗ trợ cho công tác quản lý, bảo
vệ và phát triển rừng nhằm ưu đãi, thu hút các dự án đầu tư về phát triển lâm
nghiệp và công tác giao đất, giao rừng cho các cộng đồng dân cư thôn, hộ gia
đình cá nhân tham gia quản lý, bảo vệ theo quy định, nhất là đầu tư phát triển
dược liệu dưới tán rừng để vừa đạt mục tiêu phát triển dược liệu, kinh tế-xã
hội gắn với công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn.
- Chuyển dịch cơ cấu
ngành lâm nghiệp theo hướng tích cực, từ khai thác lâm sản tự nhiên chuyển dần
sang trồng rừng và dịch vụ lâm nghiệp. Sản xuất lâm nghiệp tăng trưởng khá, tỷ
trọng đóng góp của ngành lâm nghiệp vào tổng giá trị sản phẩm của tỉnh (GRDP)
ngày càng tăng; đời sống người dân sống dựa vào tài nguyên rừng được nâng cao.
- Chủ trương xã hội hóa
trong lĩnh vực lâm nghiệp được cụ thể hóa đầy đủ hơn; quản lý nhà nước có tiến
bộ chủ yếu bằng công cụ pháp luật, chính sách; nhận thức của xã hội về ngành
kinh tế lâm nghiệp nhất quán hơn.
6.2. Tồn tại, hạn chế
- Tăng trưởng của ngành
lâm nghiệp chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của tỉnh, tác động của
ngành lâm nghiệp đối với việc xóa đói, giảm nghèo còn hạn chế, người dân sống
chưa thể sống ổn định bằng nghề rừng.
- Việc đảm bảo cho
ngành lâm nghiệp của tỉnh phát triển nhanh và bền vững còn khó khăn; nguồn kinh
phí đầu tư cho hoạt động sản xuất lâm nghiệp còn thiếu, chưa thu hút hiệu quả
các nguồn lực xã hội tham gia, phương án sử dụng vốn đối với đầu tư, kinh doanh
trong lĩnh vực phát triển rừng sản xuất của các tổ chức, cá nhân ít khả thi nên
việc tiếp cận vốn tín dụng còn hạn chế.
- Cơ cấu quản lý sử
dụng rừng và đất rừng chưa hợp lý. Hầu hết diện tích đất lâm nghiệp do Nhà nước
quản lý, diện tích giao cho hộ gia đình, tổ chức và cá nhân còn ít. Việc quản
lý sử dụng rừng và đất lâm nghiệp có phần tách biệt và khép kín đã tạo ra rào
cản cho việc tổ chức các hoạt động sản xuất lâm nghiệp khác như trồng rừng,
khai thác, chế biến gỗ và lâm sản, gây cản trở cho việc thu hút các nguồn lực
xã hội đầu tư vào việc bảo vệ và phát triển rừng. Năng lực tổ chức sản xuất
kinh doanh của các Công ty TNHH MTV lâm nghiệp quốc doanh chưa hiệu quả, tính
tự chủ thấp, chưa tạo được sự liên kết các hoạt động sản xuất lâm nghiệp từ khâu
trồng rừng, khai thác, chế biến đến tiếp thị thương mại sản phẩm hàng hoá và
dịch vụ, không huy động được vốn đầu tư cho phát triển lâu dài.
- Chưa khai thác, sử
dụng có hiệu quả tiềm năng và lợi thế của tài nguyên rừng, đặc biệt sử dụng đất
lâm nghiệp còn lãng phí. Sản lượng gỗ khai thác rừng trồng chưa đáp ứng nhu cầu
phát triển công nghiệp chế biến và sử dụng của nhân dân; khai thác, sử dụng các
loại lâm sản ngoài gỗ còn hạn chế. Thực hiện chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên
một cách triệt để và tức thời cũng đã gây thiệt hại lớn cho công nghiệp chế
biến gỗ của tỉnh và khó khăn gỗ dân dụng cho Nhân dân địa phương.
- Việc thành lập các mô
hình kinh tế tập thể, kinh tế hộ gia đình trong lâm nghiệp, thúc đẩy liên kết
với các thành phần kinh tế khác để nâng cao giá trị hàng hóa lâm sản còn hạn
chế. Chưa có giải pháp khuyến khích người dân tại địa bàn chuyển đổi diện tích
đất trồng cây nông nghiệp hằng năm trên đất lâm nghiệp kém hiệu quả sang trồng
cây lâm nghiệp, cây ăn quả đa mục đích có giá trị kinh tế cao hơn.
- Một số ngành, địa
phương còn buông lỏng quản lý để chủ đầu tư một số dự án có giao đất giao rừng,
sử dụng đất sai mục đích dẫn đến mất rừng.
- Công tác phối hợp
giữa các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương trong công tác phát triển
lâm nghiệp bền vững có mặt chưa chặt chẽ, đồng bộ.
6.3. Nguyên nhân tồn
tại, yếu kém
6.3.1. Nguyên nhân
khách quan
- Điều kiện tự nhiên,
kinh tế, xã hội của tỉnh và đời sống người dân còn nhiều khó khăn; nhận thức
của một bộ phận dân cư vùng nông thôn còn hạn chế ảnh hưởng đến hiệu quả đầu
tư, phát triển lâm nghiệp.
- Hoạt động sản xuất
lâm nghiệp có chu kỳ dài, độ rủi ro cao (địa bàn vùng sâu, vùng xa, điều
kiện tự nhiên khó khăn, chi phí đầu tư cao, thiên tai, hỏa hoạn…), lợi
nhuận thấp nên chưa thực sự thu hút các nhà đầu tư và các nguồn lực xã hội tham
gia trồng rừng, chế biến gỗ và lâm sản. Chính sách thu hút đầu tư trong lâm
nghiệp chưa tạo đột phá, hấp dẫn nhà đầu tư vào địa bàn tỉnh.
- Diện tích rừng lớn,
sức ép dân số lên đất rừng và lâm sản ngày càng gia tăng, nhất là đối với khu
vực vùng sâu, vùng xa.
- Thị trường đầu ra của
sản phẩm rừng trồng không có tiềm năng nên người dân không phát triển trồng
rừng sản xuất. Tình hình giá cả thị trường của một số loại nông sản như: sầu
riêng, cà phê, sắn… tăng cao đã tác động không nhỏ đến hoạt động bảo vệ và phát
triển rừng, người dân phá rừng để lấy đất sản xuất.
- Chính sách cho những
người làm công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng còn bất cập, chưa phù
hợp; lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách phải làm việc ở nơi xa xôi, hẻo lánh,
giờ giấc nghiêm ngặt, khối lượng công việc chuyên môn nhiều, áp lực cao, trách
nhiệm lớn, thu nhập thấp, các chế độ đãi ngộ không có, vì thế ở một số đơn vị
xảy ra tình trạng thôi việc, nghỉ việc, chuyển công tác, nghỉ hưu sớm... gây ảnh
hưởng đến hiệu quả quản lý bảo vệ rừng[28].
6.3.2. Nguyên nhân chủ
quan
- Nguồn vốn phát triển
lâm nghiệp chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước; nguồn lực của khu vực ngoài quốc
doanh còn nhiều tiềm năng nhưng chưa được phát huy.
- Mô hình các công ty
lâm nghiệp hoạt động chưa có hiệu quả, cơ chế liên doanh liên kết với các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh để trồng rừng sản xuất còn nhiều bất cập nên khó thực
hiện.
- Các chỉ tiêu như giao
đất giao rừng, cho thuê rừng; Xây dựng được ít nhất 01 nhà máy chế biến gỗ công
suất trên 50.000m3/năm không đạt được mục tiêu Nghị quyết đề ra do
Tập Đoàn Hoàng Anh Gia Lai đăng ký khảo sát lập dự án đầu tư điện sinh khối tại
huyện Ngọc Hồi nhưng không triển khai thực hiện.
- Nguyên nhân tình hình
vi phạm Luật lâm nghiệp vẫn xảy ra: (i) Năng lực tổ chức, điều hành và tinh
thần trách nhiệm của một số chủ rừng còn hạn chế; (ii) lực lượng bảo vệ rừng ở
một số nơi có tình trạng buông lỏng quản lý; (iii) chính quyền cấp xã thiếu sự
kiểm tra, chấn chỉnh thường xuyên; (iv) Việc kiểm tra, kiểm soát người, phương
tiện ra vào khu vực biên giới chưa chặt chẽ...
PHẦN 3. NỘI DUNG ĐỀ ÁN
I.
QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG
Quan điểm chung là Phát
triển rừng sản xuất theo cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế trong thời đại
cách mạng công nghiệp 4.0 sớm trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn có sự liên
kết giữa phát triển rừng với chế biến và thương mại lâm sản. Phát triển kinh tế
lâm nghiệp theo hướng xã hội hóa và tổ chức liên kết sản xuất, kinh doanh theo
chuỗi giá trị lâm sản hài hòa mục tiêu phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường
và an sinh xã hội.
- Đẩy mạnh phát triển
rừng trồng gỗ lớn, sử dụng hợp lý, có hiệu quả diện tích đất quy hoạch phát
triển rừng sản xuất; sớm hình thành vùng kinh doanh rừng gỗ lớn có năng suất,
chất lượng cao, cung cấp nguyên liệu ổn định, lâu dài gắn với phát triển công
nghiệp chế biến tại thị trường trong nước và xuất khẩu. Phát triển ngành công
nghiệp chế biến gỗ trên cơ sở huy động mọi nguồn lực, mọi thành phần kinh tế
cùng tham gia, tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho người dân, đóng góp đáng
kể vào tăng trưởng kinh tế, xoá đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường.
- Phát triển gỗ lớn
theo hướng bền vững góp phần thực hiện hiệu quả chủ trương tái cơ cấu ngành lâm
nghiệp, nâng cao giá trị gia tăng và nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản
phẩm gỗ rừng trồng, thu hút ngoại tệ thông qua sản xuất, chế biến, xuất khẩu gỗ
và các sản phẩm chế biến từ gỗ rừng trồng;
- Xác định vùng rừng
trồng nguyên liệu gắn với các doanh nghiệp chế biến; Phát triển kinh doanh rừng
gỗ lớn phải được thực hiện đồng bộ các giải pháp từ khâu xác định vùng cho đến
tổ chức trồng, chăm sóc, khai thác và chế biến lâm sản, thực hiện tốt công tác
tuyên truyền, vận động nhân dân nhằm huy động mọi nguồn lực xã hội cho công tác
phát triển kinh doanh rừng nguyên liệu nói chung và rừng gỗ lớn nói riêng;
- Mở rộng quy mô doanh
nghiệp chế biến gỗ phải đảm bảo yêu cầu công nghệ hiện đại, thiết bị tiên tiến
kết hợp với công nghệ thiết bị truyền thống và có quy mô phù hợp với vùng
nguyên liệu để phát triển những mặt hàng có lợi thế so sánh, phải gắn với thị
trường tiêu thụ trong nước, thế giới; nâng cao chất lượng, tăng nhanh giá trị
gia tăng và khả năng cạnh tranh trong nước và quốc tế để công nghiệp chế biến
gỗ phát triển bền vững và hiệu quả.
II.
MỤC TIÊU ĐỀ ÁN
1.
Mục tiêu tổng quát
Nâng cao giá trị sản
xuất, kinh doanh rừng trồng và phát triển lâm nghiệp bền vững về kinh tế, xã
hội và môi trường; gắn kết theo chuỗi từ trồng rừng, chế biến và tiêu thụ sản
phẩm để nâng cao giá trị lâm sản hàng hóa, góp phần thực hiện mục tiêu tái cơ
cấu ngành nông nghiệp tỉnh Kon Tum theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng,
hiệu quả, khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững.
2.
Mục tiêu cụ thể đến năm 2030 tầm nhìn đến 2045
- Hình thành được vùng
nguyên liệu gỗ, tre nứa tập trung với quy mô khoảng 118.000 ha, đáp ứng
nguyên liệu các cho nhà máy chế biến gỗ công suất 100.000 m3/năm và
tiêu dùng nội tỉnh.
- Đưa năng suất rừng gỗ
lớn trồng mới đạt trên 20 m3/ha/năm (Mức trung bình của cả nước).
Phấn đấu rừng trồng mới khi đưa vào khai thác đạt trữ lượng trên 200 m3/ha/10
năm. Đưa tỷ lệ gỗ lớn (gỗ xẻ có đường kính ≥ 20 cm) vào chế biến tinh sâu từ
25-35% sản lượng khai thác hiện nay lên 50% vào năm 2030.
- Thu hút nhà máy chế
biến gỗ công suất 100.000 m3/năm.
- Trên 50% cơ sở chế
biến gỗ, lâm sản đạt trình độ và năng lực công nghệ sản xuất tiên tiến và 100%
gỗ, sản phẩm gỗ xuất khẩu và tiêu dùng nội tỉnh được sử dụng từ nguồn nguyên
liệu gỗ hợp pháp, gỗ có chứng chỉ quản lý rừng bền vững vào năm 2030.
- Rừng trồng được cấp
chứng chỉ rừng bền vững theo tiêu chuẩn FSC, đến năm 2030 đạt trên 50.000 ha.
- Góp phần nâng tỷ lệ
che phủ của rừng, tạo môi trường sinh thái, chống xói mòn, hạn chế thiên tai,
điều hòa nguồn nước và khí hậu; nâng cao giá trị kinh tế của rừng, tạo công ăn
việc làm, tăng thêm thu nhập nhằm nâng cao đời sống con người dân trong vùng dự
án và bảo vệ an ninh quốc phòng, trật tự cho vùng biên giới.
3.
Các dự báo
3.1. Nhu cầu thị trường
về các sản phẩm lâm sản đã qua chế biến
Định hướng chung của
thị trường khu vực và toàn cầu về công nghiệp chế biến gỗ, chế biến lâm sản
ngoài gỗ là hướng tới bền vững, hiệu quả, hiện đại trên cơ sở hội nhập, sử dụng
nguyên liệu gỗ hợp pháp. Thị trường tiêu thụ các sản phẩm lâm sản đã qua chế
biến nội tỉnh không nhiều, chủ yếu là các sản phẩm nội thất, đồ gia dụng là
chính. Thị trường tiêu thụ chính là ở các khu vực đô thị, khu trung tâm nơi có
mức sống và thu nhập bình quân đầu người cao, nhu cầu về các sản phẩm về gỗ sẽ
tăng cao.
Đặc biệt nhu cầu về sản
phẩm lâm sản có các chứng nhận về tiêu chuẩn Việt Nam, tiêu chuẩn quốc tế, các
sản phẩm có chứng nhận nguồn gốc xuất xứ trong tương lai càng có xu hướng tiêu
thụ mạnh hơn không chỉ cho nhu cầu trong nước mà cả trên thị trường quốc tế.
Năm 2019, Thủ tướng
Chính phủ đã có chỉ thị 08/CT-TTg về một số nhiệm vụ, giải pháp phát triển
nhanh và bền vững ngành công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ phục vụ
xuất khẩu. Qua đó, phấn đấu đưa kim ngạch xuất khẩu gỗ và lâm sản ngoài gỗ cả
nước đến năm 2025 đạt 18 đến 20 tỷ USD; từng bước tăng tỉ trọng xuất khẩu sản
phẩm được chế biến sâu có thương hiệu Việt Nam, có giá trị gia tăng cao trong
tổng kim ngạch xuất khẩu cho thấy tiềm năng và thị trường tiêu thụ gỗ và các
sản phẩm chế biến đang rất lớn cả nội địa và quốc tế.
3.2. Nhu cầu nguyên
liệu của các cơ sở chế biến trong tỉnh Kon Tum
Trong tình hình biến
đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra ngày một khắc nghiệt hơn thì việc sử dụng
nguồn tài nguyên gỗ rừng tự nhiên ở nước ta nói chung và tỉnh Kon Tum nói riêng
gần như sẽ không được tác động đến trong một khoảng thời gian dài sắp tới.
Chính vì thế mà nguồn nguyên liệu chủ yếu được sử dụng chủ yếu là từ gỗ rừng
trồng và nguyên liệu gỗ nhập nội.
Nhu cầu về các sản phẩm
thân thiện với môi trường dự báo ngày càng tăng cao, nguồn nguyên liệu gỗ có
chứng chỉ cũng ngày càng được quan tâm nhiều hơn. Chính vì lẽ đó, nhu cầu về
nguồn nguyên liệu gỗ không chỉ tăng cao ở Kon Tum mà còn ở nhiều tỉnh thành
khác trên cả nước.
Xu hướng bảo tồn nguyên
bản và nâng cao chất lượng rừng tự nhiên, đảm bảo tính đa dạng sinh học. Trong
khi đó nguồn vật thay thế sử dụng như gỗ tự nhiên còn thiết. Do vậy nhu cầu sử
dụng gỗ rừng trồng, đặc biệt là rừng trồng gỗ lớn là cao trong thời gian tới.
3.3. Khoa học, công
nghệ đối với trồng rừng nguyên liệu
Hiện nay, khoa học công
nghệ được sử dụng trong công tác trồng rừng nguyên liệu ở nước ta không nhiều,
chủ yếu được sử dụng trong các khâu gieo ươm cây giống nhưng cũng chưa thực sự
theo kịp được với một số nước trong khu vực. Trong lĩnh vực trồng rừng thì việc
ứng dụng khoa học mới chỉ dừng lại trên các mô hình thí điểm chứ chưa thực sự
áp dụng trên quy mô lớn. Cũng có nhiều nguyên nhân mà khoa học công nghệ chưa
thực sự được áp dụng trong công tác trồng rừng nguyên liệu trên phạm vi toàn
quốc nói chung, chủ yếu do đầu tư ban đầu lớn, khả năng tiếp cận với khoa học
công nghệ tiên tiến không nhiều hay điều kiện địa hình phức tạp… Vì vậy, hướng
tiếp cận khoa học công nghệ trong trồng rừng nguyên liệu không nên chỉ bó hẹp
trong việc sử dụng các công nghệ tiên tiến sẵn có của các nước phát triển mà
cần có sự thay đổi công nghệ để phù hợp với thực tiễn đặt ra ở mỗi địa phương
khác nhau. Từ đó, việc áp dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ mới thực sự đem
lại hiệu quả cao.
3.4. Khoa học, công
nghệ đối với chế biến và kinh doanh lâm sản
Giống như trong công
tác trồng rừng, việc khai thác chế biến và kinh doanh lâm sản có ứng dụng khoa
học công nghệ cũng đang là mối quan tâm của cá nhà quản lý, các doanh nghiệp và
các cơ sở chế biến, kinh doanh quy mô vừa và nhỏ. Việc áp dụng khoa học công
nghệ ứng dụng trong chế biến lâm sản không chỉ là thay đổi tư duy của con người
về máy móc và còn giúp giải phóng sức lao động, tăng năng suất, nâng hiệu quả
công việc cũng như chất lượng sản phẩm làm ra. Từ chế biến lâm sản sử dụng các
dụng cụ thủ công, hiện nay máy móc đã được sử dụng rộng rãi trong nhiều khâu
chế biến lâm sản ở nước ta. Tuy vậy, việc ứng dụng khoa học công nghệ cũng luôn
cần phải đổi mới để đạt được hiệu quả cao nhất đồng thời đáp ứng được các nhu
cầu của thị trường.
Kon Tum là tỉnh có tiềm
năng lớn để phát triển công nghiệp mà trong đó có chế biến lâm sản. Công nghiệp
chế biến gỗ ván nhân tạo: MDF, HDF... với gỗ cao su từ thanh lý rừng cao su hết
mủ hằng năm, gỗ rừng trồng cũng là hướng đi mà tỉnh Kon Tum gần như đã bỏ quên
nhiều năm qua. Công nghệ này hiện đang thịnh hành ở nước ta: Cả nước có tới 13
nhà máy công suất từ 50.000 tới 400.000 khối ván nhân tạo/năm; một số tỉnh như
Tuyên Quang, Đắk Nông, Bình Phước, Bình Dương, Long An cũng đã có nhiều nhà máy
công suất rất lớn.
Tỉnh Kon Tum cần chú
trọng xây dựng các chương trình dự án với công nghệ mới tiên tiến có áp dụng
công nghệ cao trong cả chuỗi giá trị nông lâm sản để bảo đảm các sản phẩm sạch,
an toàn, đạt tiêu chuẩn quốc tế..., truy xuất nguồn gốc, có chỉ dẫn địa lý,
thương hiệu, nhãn hiệu tầm cỡ quốc gia và quốc tế. Nên nghiên cứu nhập công
nghệ của Nhật Bản, Israel, Đài Loan, Hàn Quốc bằng con đường dự án FDI và doanh
nghiệp, doanh nhân lớn.
3.5. Môi trường kinh
doanh tỉnh Kon Tum
Đa số các doanh nghiệp
chế biến lâm sản trên địa bàn tỉnh Kon Tum có quy mô vừa và nhỏ. Các doanh
nghiệp có vốn dưới 10 tỷ đồng chiếm đại đa số.
Hiện thị trường kinh
doanh chủ yếu của ngành công nghiệp chế biến lâm sản Kon Tum chủ yếu là sản
xuất phục phụ nhu cầu nội tỉnh chiếm khoảng 25 – 30%. Các sản phẩm chính cung
cấp cho thị trường trong tỉnh là gỗ xây dựng, ván dăm, ván ép, đồ nội thất, các
sản phẩm thủ công mỹ nghệ...
Tiềm năng trồng rừng
nguyên liệu và các sản phẩm lâm sản trên địa bàn tỉnh đến năm 2030 là rất lớn.
Mặt khác, thị trường tiêu thụ các sản phẩm lâm sản trên cả nước nói chung và
khu vực Tây Nguyên đang ở mức cao. Chính vì thế, thị trường kinh doanh lâm sản
của Kon Tum rất thuận lợi và phù hợp với nhu cầu sử dụng gỗ ngày càng cao của
con người. Các sản phẩm có nguồn gốc từ gỗ được cấp chứng nhận FSC luôn được ưu
tiên và sẽ là hướng đi đúng đắn cho sự phát triển vùng nguyên liệu và chế biến
lâm sản trên địa bàn tỉnh Kon Tum.
Nguồn nguyên liệu gỗ
lớn, chế biến tinh sâu với công nghệ tiên tiến, hiện đại cùng với nhu cầu tiêu
thụ sản phẩm về gỗ của con người ngày càng tăng sẽ thúc đẩy môi trường kinh
doanh của tỉnh ngày một phát triển hơn, tạo thuận lợi cho sự vươn lên của ngành
công nghiệp chế biến gỗ của tỉnh vươn tầm khu vực và quốc tế.
3.6. Biến đổi khí hậu
Thách thức về biến đổi
khí hậu trên toàn cầu đang là mối quan tâm lớn của toàn xã hội. Biến đổi này
không chỉ ảnh hưởng tới một ngành, một lĩnh vực mà gần như ảnh hưởng đến hầu
hết các ngành. Vì thế, các dự báo về biến đổi khí hậu trong tương lai ở nước ta
là cần thiết và cấp bách để có những hướng đi cụ thể, chính xác và hiệu quả
trong các lĩnh vực.
Biến đổi khí hậu có thể
khiến nguy cơ chuyển dịch đất sản xuất lâm nghiệp sang mục đích phát triển kinh
tế xã hội khác là rất lớn do đó quỹ đất để dành cho trồng rừng sản xuất có thể
bị thu hẹp. Khí hậu thay đổi có thể phát sinh nhiều loại sâu bệnh nguy hại hơn
hoặc một số sâu bệnh ngoại lai sẽ tác động không nhỏ đến công tác trồng và chăm
sóc rừng nguyên liệu. Mặt khác, quá trình hoang mạc hoá diễn ra ngày càng mạnh
hơn làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng đất, chỉ số ẩm ướt trong đất giảm đi
ảnh hưởng đến việc phát triển rừng trồng nguyên liệu trong tương lai. Bên cạnh
đó, việc nóng lên của trái đất có thể khiến nạn cháy rừng xảy ra thường xuyên
và khó kiểm soát hơn ảnh hưởng tới quá trình chăm sóc, bảo vệ rừng nói chung và
rừng trồng nguyên liệu nói riêng.
4.
Định hướng phát triển rừng trồng nguyên liệu và công nghiệp chế biến
4.1. Định hướng phát
triển rừng trồng nguyên liệu
4.1.1. Diện tích dự kiến
đưa vào quy hoạch trồng rừng sản xuất thâm canh.
Trên cơ sở kết quả điều
tra hiện trạng rừng, đất chưa có rừng ngoài thực địa, căn cứ vào lập địa đất
đai, thổ nhưỡng, tính liên kết liền vùng, tính ổn định về nguồn cung sản lượng
khai thác và thuộc chức năng rừng sản xuất theo quy hoạch lâm nghiệp quốc gia.
Diện tích dự kiến đưa
vào quy hoạch rừng nguyên liệu gỗ với các loài cây chủ yếu: Thông, keo, bạch
đàn, bời lời, lõi thọ (không bao gồm cao su) là 34.456,71 ha; trong đó diện
tích dự kiến trồng mới là: 22.279,50 ha và trồng lại rừng sau khai thác trên
diện tích rừng trồng đã trồng là 12.177,21 ha.
|
TT
|
Huyện/th.phố
|
Tổng
|
Trồng
mới
|
Trồng
lại rừng
sau khai thác
|
|
|
Tổng
|
34.456,71
|
22.279,50
|
12.177,21
|
|
1
|
Các xã trên địa bàn
huyện Đắk Glei cũ
|
3.067,59
|
2.551,26
|
516,33
|
|
2
|
Các xã trên địa bàn
huyện Đắk Hà cũ
|
3.925,06
|
2.369,48
|
1.555,58
|
|
3
|
Các xã trên địa bàn
huyện Đắk Tô cũ
|
5.557,53
|
3.011,60
|
2.545,93
|
|
4
|
Các xã trên địa bàn
huyện Ia H' Drai cũ
|
1.630,81
|
1.580,89
|
49,92
|
|
5
|
Các xã trên địa bàn
huyện Kon Plông cũ
|
1.907,73
|
1.771,31
|
136,42
|
|
6
|
Các xã trên địa bàn
huyện Kon Rẫy cũ
|
5.962,26
|
3.833,93
|
2.128,33
|
|
7
|
Các xã trên địa bàn
huyện Ngọc Hồi cũ
|
3.929,11
|
2.842,48
|
1.086,63
|
|
8
|
Các xã trên địa bàn
huyện Sa Thầy cũ
|
3.664,89
|
2.093,68
|
1.571,21
|
|
9
|
Các xã trên địa bàn
huyện Tu Mơ Rông cũ
|
4.681,86
|
2.114,86
|
2.567,00
|
|
10
|
Các xã trên địa bàn
huyện TP.Kon Tum cũ
|
129,87
|
110,01
|
19,86
|

4.1.2. Diện tích dự kiến đưa
vào trồng rừng phân theo nhóm chủ rừng
Diện tích dự kiến đưa
vào trồng rừng phân theo nhóm chủ rừng được thể hiện tại bảng sau
Đơn
vị: ha
|
TT
|
Huyện
|
Tổng
|
Phân
theo nhóm chủ quản lý
|
|
BQL
RPH, ĐD
|
Cty TNHH MTV LN
|
UBND xã,CĐ, HGĐ
|
Tổ
chức
khác
|
|
|
Tổng
|
34.456,71
|
366,63
|
7.303,94
|
19.958,72
|
6.827,42
|
|
1
|
Các xã trên địa bàn
huyện Huyện Đắk Glei
|
3.067,59
|
34,35
|
770,08
|
2.263,16
|
|
|
2
|
Các xã trên địa bàn
huyện Huyện Đắk Hà
|
3.925,06
|
251,80
|
|
2.447,65
|
1.225,61
|
|
3
|
Các xã trên địa bàn
huyện Huyện Đắk Tô
|
5.557,53
|
|
2.809,81
|
1.888,83
|
858,89
|
|
4
|
Các xã trên địa bàn
huyện Huyện Ia H' Drai
|
1.630,81
|
|
158,11
|
1.453,33
|
19,37
|
|
5
|
Các xã trên địa bàn
huyện Huyện Kon Plông
|
1.907,73
|
|
58,07
|
1.849,66
|
|
|
6
|
Các xã trên địa bàn
huyện Huyện Kon Rẫy
|
5.962,26
|
26,85
|
1.792,64
|
3.444,42
|
698,35
|
|
7
|
Các xã trên địa bàn
huyện Huyện Ngọc Hồi
|
3.929,11
|
|
359,54
|
2.671,19
|
898,38
|
|
8
|
Các xã trên địa bàn
huyện Huyện Sa Thầy
|
3.664,89
|
43,72
|
|
2.096,43
|
1.524,74
|
|
9
|
Các xã trên địa bàn
huyện Huyện Tu Mơ Rông
|
4.681,86
|
9,91
|
1.355,69
|
1.714,18
|
1.602,08
|
|
10
|
Các xã trên địa bàn
huyện Thành phố Kon Tum
|
129,87
|
|
|
129,87
|
|
Theo số liệu tại bảng
trên tổng diện tích vùng quy hoạch trồng rừng nguyên liệu tập trung thuộc chức
năng sản xuất là 34.456,71 ha, trong đó:
Theo đó diện tích tập
trung nhiều nhất là nhóm I (UBND xã chưa giao, cộng đồng và hộ gia đình)
19.958,72 ha, tiếp đến là nhóm các Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp 7.303,94 ha, kế
đến là các tổ chức khác đã được giao, cho thuê đất để phát triển rừng là
6.827,42 ha, và ít nhất là nhóm các ban quản lý rừng 366,63 ha.
4.1.3. Diện tích loài
cây trồng nguyên liệu dự kiến
Căn cứ vào dạng lập
địa, thổ nhưỡng, khí hậu, đai cao, năng suất rừng, chu kỳ sản xuất kinh doanh,
thực trạng rừng trồng hiện có đề xuất các loại cây trồng như sau:
- Đối với đai cao trên
700 mét so với mặt nước biển trồng các loại Thông như Thông 3 lá, Thông caribe.
Diện tích này phân bổ chủ yếu ở các xã thuộc huyện Kon Plông, Kon Rẫy, Tu Mơ
Rông và Đak Glei (cũ).
- Đối với đai cao dưới
700 mét so với mặt nước biển trồng các loại cây sinh trưởng nhanh như Keo, Bạch
đàn, Lõi thọ, Tre nứa. Diện tích này tập trung ở các xã còn lại.
Từ kết quả xây dựng bản
đồ mô hình số độ cao DEM và vùng quy hoạch dự kiến trồng rừng nguyên liệu, diện
tích rừng trồng sẽ trồng lại rừng sau khai thác. Kết quả dự kiến trồng các loài
cây trên địa bàn các huyện như sau:
|
TT
|
Huyện/thành
phố[29]
|
Tổng
|
Trồng
mới
|
Trồng
lại rừng sau khai thác
|
|
Cộng
|
Gỗ
nhỏ,
gỗ nguyên liệu (<700m)
|
Gỗ
lớn (>700m)
|
Cộng
|
Gỗ nhỏ, gỗ nguyên
liệu hiện có
|
Gỗ
lớn (Thông hiện có)
|
|
|
Tổng
|
34.456,71
|
22.279,50
|
4.422,07
|
17.857,43
|
12.177,21
|
364,70
|
11.812,51
|
|
1
|
Đắk Glei
|
3.067,59
|
2.551,26
|
11,09
|
2.540,17
|
516,33
|
22,31
|
494,02
|
|
2
|
Đắk Hà
|
3.925,06
|
2.369,48
|
142,37
|
2.227,11
|
1.555,58
|
20,90
|
1.534,68
|
|
3
|
Đắk Tô
|
5.557,53
|
3.011,60
|
298,70
|
2.712,90
|
2.545,93
|
31,34
|
2.514,59
|
|
4
|
Ia H' Drai
|
1.630,81
|
1.580,89
|
1.580,89
|
|
49,92
|
49,92
|
|
|
5
|
Kon Plông
|
1.907,73
|
1.771,31
|
619,92
|
1.151,39
|
136,42
|
57,30
|
79,12
|
|
6
|
Kon Rẫy
|
5.962,26
|
3.833,93
|
436,99
|
3.396,94
|
2.128,33
|
27,05
|
2.101,28
|
|
7
|
Ngọc Hồi
|
3.929,11
|
2.842,48
|
483,53
|
2.358,95
|
1.086,63
|
43,55
|
1.043,08
|
|
8
|
Sa Thầy
|
3.664,89
|
2.093,68
|
840,85
|
1.252,83
|
1.571,21
|
112,33
|
1.458,88
|
|
9
|
Tu Mơ Rông
|
4.681,86
|
2.114,86
|
|
2.114,86
|
2.567,00
|
|
2.567,00
|
|
10
|
TP.Kon Tum
|
129,87
|
110,01
|
7,73
|
102,28
|
19,86
|
|
19,86
|
Từ kết quả bảng trên
diện tích trồng:
- Các loài cây cung cấp
gỗ nhỏ, gỗ nguyên liệu là các loài sinh trưởng nhanh Keo lai, Bạch đàn các loại
là 4.786,77 ha, trong đó trồng mới 4.422,07 ha (tập trung dưới 700m); tái canh
rừng trồng khoản 364,70 ha. Vùng tập trung trồng chủ là các huyện Ia H' Drai khoảng
trên 1.600 ha; Sa Thầy trên 950 ha ngoài ra còn trồng rải rác ở các huyện khác
nơi có độ cao thấp hơn 700m.
- Loài cây cung cấp gỗ
lớn như Thông ba lá, lõi thọ: Diện tích quy hoạch trồng 29.669,94 ha, trong đó
trồng mới 17.857,43 ha, trồng tái canh 11.812,51 ha. Diện tích quy hoạch tập
trung Kon Rẫy (trên 5.500 ha), Đắk Tô Trên 5.200 ha, Tu Mơ Rông trên 4.800 ha
và các huyện khác như Đăk Glei, Đắk Hà, Ngọc Hồi dự kiến từ 3000-4000 ha, thấp
nhất là thành phố Kon Tum khoảng 20ha.

4.1.4. Khai thác bền
vững diện tích lồ ô, le tre nứa khác.
Theo số liệu kiểm kê
rừng hiện nay tỉnh Kon Tum có hơn hơn 21.460 ha rừng lồ ô, tre nứa với sản
lượng hơn 1,15 tỷ cây, trữ lượng nguyên liệu sợi dài ước đạt 11,5 triệu tấn,
phân theo địa bàn các huyện như sau:
Đơn
vị: ha
|
TT
|
Phân
theo huyện
|
Lồ
ô, tre nứa
|
Cộng
|
|
|
Tổng toàn tỉnh
|
21.460,1
|
21.460,1
|
|
1
|
Các xã trên địa bàn
huyện Đắk Glei cũ
|
3.453,3
|
3.453,3
|
|
2
|
Các xã trên địa bàn
huyện Đắk Hà cũ
|
1.770,0
|
1.770,0
|
|
3
|
Các xã trên địa bàn
huyện Đắk Tô cũ
|
825,0
|
825,0
|
|
4
|
Các xã trên địa bàn
huyện Ia H' Drai cũ
|
1.139,4
|
1.139,4
|
|
5
|
Các xã trên địa bàn
huyện Kon Plông cũ
|
2.713,2
|
2.713,2
|
|
6
|
Các xã trên địa bàn
huyện Kon Rẫy cũ
|
1.911,7
|
1.911,7
|
|
7
|
Các xã trên địa bàn
huyện Ngọc Hồi cũ
|
4.077,2
|
4.077,2
|
|
8
|
Các xã trên địa bàn
huyện Sa Thầy cũ
|
1.689,0
|
1.689,0
|
|
9
|
Các xã trên địa bàn
huyện Tu Mơ Rông cũ
|
3.866,8
|
3.866,8
|
|
10
|
Các xã trên địa bàn
huyện TP.Kon Tum cũ
|
14,5
|
14,5
|
4.1.5. Khai thác bền
vững diện tích rừng trồng hiện có
Theo số liệu kiểm kê,
diễn biến rừng rừng hiện nay tỉnh Kon Tum có hơn 63.858 ha rừng trồng với trữ
lượng khoảng 8,9 triệu m3, trong đó rừng trồng sản xuất 58.858 ha
với trữ lượng khoảng 8,2 triệu m3
Định hướng sử dụng rừng
trồng: Đối với rừng trồng phòng hộ khai thác với cường độ 20%; đối với rừng sản
xuất khai thác trắng khi đến tuổi thành thục công nghệ và trồng lại rừng theo
quy định của Luật lâm nghiệp.
4.1.6. Khai thác diện
tích cao su trồng trên đất lâm nghiệp khi tái canh
Nguồn nguyên liệu phục
vụ công nghiệp chế biến đáng kể mà lâu nay tỉnh Kon Tum chưa khai thác đó là gỗ
cao su khi tái canh, theo số liệu thống kê Tỉnh Kon tum hiện có hơn 80.000 ha
cây cao su trong đó có 40.000 ha cao su trồng trên đất quy hoạch lâm nghiệp ước
trữ lượng 7,4 triệu m3 gỗ.
Ngoài diện tích rừng
trồng hiện có giai đoạn 2021-2025 trồng mới 21.433 ha trong đó có 15.827 ha quy
hoạch sản xuất chưa đủ tiêu chí thành rừng.
Tóm lại: Vùng nguyên liệu phục
vụ công nghiệp chế biến gỗ được xác định: khoảng 118.000 ha chiếm 31% tổng diện
tích quy hoạch phát triển rừng sản xuất toàn tỉnh, bao gồm:
- Rừng trồng hiện có
quy hoạch sản xuất: 58.858 ha (trong đó có khoảng 40.000 ha rừng trồng Cao
su, 12.177,21 ha rừng trồng gỗ là cây lâm nghiệp sẽ tái canh, trồng lại rừng
sau khai thác, rừng trồng các loài cây trồng khác còn lại 6.680,79 ha).
- Rừng lồ ô, tre nứa: 21.460
ha
- Rừng trồng chưa đủ
tiêu chí thành rừng: 15.827 ha
- Trồng mới: 22.279,50
ha.
Định hướng phát triển
nguyên liệu: Vùng nguyên liệu gỗ lớn phục vụ công nghiệp chế biến mộc dân dụng
(Rừng trồng gỗ lớn Thông, Lõi thọ, .. khoảng 29.000 ha và rừng trồng Cao su
khoảng 40.000 ha) khoảng 69.000 ha, chiếm tỷ lệ 58%. Trồng rừng gỗ nhỏ
và Rừng lồ ô, tre nứa phục vụ công nghiệp chế biến ván dăm, giấy, bột giấy
khoảng 49.000 ha chiếm tỷ lệ 42%. (Diện tích Lồ ô, tre nứa khai thác,
nuôi dưỡng, tái canh phục vụ nguyên liệu sợi dài trong sản xuất giấy và bột
giấy).
Về nâng cao năng suất,
chất lượng rừng trồng nguyên liệu: Đối với rừng trồng mới: Đưa năng suất rừng
trồng mới đạt trên 20 m3/ha/năm, trữ lượng trên 200 m3/ha/10
năm. Quản lý, giám sát về chất lượng giống cây trồng lâm nghiệp đạt 100%, góp
phần nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng.
- Về quản lý rừng trồng
bền vững và chứng chỉ rừng: Đẩy mạnh triển khai thực hiện quản lý rừng bền vững
và cấp chứng quản lý rừng bền vững (FSC), phấn đấu đến năm 2040 đạt 50.000 ha
diện tích rừng gỗ lớn được cấp chứng chỉ rừng (bao gồm cả diện tích cao su).
- Về liên doanh, liên
kết phát triển vùng nguyên liệu: Xúc tiến các nhà đầu tư xây dựng vùng nguyên
liệu cho các nhà máy trên cơ sở các diện tích đã được đưa vào Đề án.
4.2. Định hướng phát
triển công nghệ chế biến lâm sản
- Phát triển ngành công
nghiệp chế biến gỗ phải trên cơ sở huy động mọi nguồn lực, mọi thành phần kinh
tế tham gia nhằm nâng cao tốc độ tăng trưởng và tạo ra sự phát triển mới. Đẩy
mạnh xúc tiến thu hút đầu tư nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến gỗ,
trong đó chú trọng thu hút các doanh nghiệp trong nước thuộc mọi thành phần
kinh tế phát triển công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản vào tỉnh, huy động mọi
nguồn vốn đảm bảo cho phát triển công nghiệp chế biến gỗ ổn định, đáp ứng kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
- Phát triển sản phẩm
gỗ kết hợp với sử dụng hợp lý tài nguyên, từ trồng rừng, cải tạo rừng và làm
giàu rừng đến khai thác, chế biến. Tập trung phát triển diện tích rừng nguyên
liệu, đặc biệt là rừng trồng gỗ lớn, trong đó chú trọng và đẩy mạnh công tác
xây dựng những cánh rừng bền vững để được cấp chứng chỉ rừng (FSC) cho diện
tích rừng đang có, phát triển rừng nguyên liệu trồng mới phải có chứng chỉ rừng
bền vững (FSC) để phù hợp với xu thế hội nhập, tham gia cạnh tranh thị trường
quốc tế, đặc biệt là các thị trường xuất khẩu khó tính như EU, Mỹ...
- Phát triển công
nghiệp chế biến gỗ của tỉnh phải phù hợp với định hướng quy hoạch phát triển
vùng: Tổ chức, cơ cấu lại ngành công nghiệp chế biến gỗ nhằm cân đối giữa nguồn
lực sản xuất và nguồn cung cấp nguyên liệu ổn định. Từ nay đến năm 2030, tập
trung rà soát, củng cố và nâng cấp hệ thống nhà máy chế biến lâm sản quy mô vừa
và nhỏ và phát triển công nghiệp chế biến lâm sản quy mô lớn trong giai đoạn từ
2026 đến 2030 và ở những năm tiếp theo.
- Xây dựng và mở rộng
các cụm công nghiệp chế biến lâm sản ở các vùng có khả năng cung cấp đủ nguyên
liệu, ổn định, thuận lợi về cơ sở hạ tầng, giao thông, đảm bảo có lợi nhuận và
cạnh tranh được trên thị trường khu vực và quốc tế. Khuyến khích xây dựng các
cơ sở sản xuất, chế biến tổng hợp gỗ rừng trồng và lâm sản ngoài gỗ; Đẩy mạnh
chế biến ván nhân tạo và các sản phẩm từ gỗ, từ ván MDF, giảm dần chế biến và
xuất khẩu dăm giấy.
- Phát triển công
nghiệp chế biến gỗ phải gắn với thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu,
tập trung đầu tư vào những mặt hàng có lợi thế cạnh tranh cao; Đẩy mạnh xây
dựng chuỗi cung ứng, trong đó tăng cường hợp tác giữa nhà sản xuất với nhà cung
cấp, nhà sản xuất với nhà phân phối; Ưu tiên đầu tư phát triển nhóm sản phẩm có
giá trị gia tăng cao đối với hoạt động xuất khẩu.
- Phát triển công
nghiệp chế biến gỗ trên cơ sở ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, kết hợp với nhập
khẩu máy móc thiết bị, công nghệ cao, khuyến khích các doanh nghiệp đẩy mạnh
ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới kết hợp với đầu tư máy móc thiết bị
công nghệ cao, xuất xứ từ các nước phát triển.
- Phát triển công
nghiệp chế biến gỗ theo hướng đầu tư chiều sâu; Từng bước đổi mới, ứng dụng
công nghệ, thiết bị tiên tiến trong việc trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng và trong
chế biến nhằm tăng giá trị gia tăng của sản phẩm gỗ, giảm thiểu tối đa khối
lượng gỗ phế phẩm trên cơ sở chế biến tổng hợp, bao gồm sản xuất ván nhân tạo,
viên nén, phụ phẩm trong quá trình chế biến.
Trên cơ sở xác định cơ
cấu sản phẩm, nhất là với nhóm sản phẩm chủ lực, các doanh nghiệp cần đầu tư,
đổi mới thiết bị và công nghệ theo hướng đồng bộ và hiện đại hóa. Tăng tự động
hóa ở những khâu sử dụng nhiều lao động phổ thông như gia công nguyên liệu, đánh
bóng, phun sơn,…vừa làm tăng năng suất lao động, tăng chất lượng sản phẩm. Dần
thay thế các dây chuyền thiết bị cũ, lạc hậu bằng các dây chuyền mới, hiện đại
đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật và môi trường, nâng cao giá trị và khả năng
cạnh tranh của sản phẩm.
-Công nghệ chế biến
giấy, bột giấy với công nghệ nấu liên tục, tẩy trắng không sử dụng Clo nguyên
tố (ECF), hệ thống thiết bị hiện đại, mới 100%. Hệ thống thu hồi có khả năng
thu hồi đến 95% lượng hóa chất sử dụng trong quá trình sản xuất.
III.
NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1.
Tổ chức tuyên truyền, phổ biến triển khai thực hiện Đề án
- Các cơ quan đoàn thể
chính trị - xã hội phát huy vai trò trách nhiệm trong công tác tuyên truyền,
vận động nhân dân tham gia phát triển rừng sản xuất.
- Tăng cường giáo dục
pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, nâng cao ý thức bảo vệ rừng của người
dân; vận động các hộ gia đình sống gần rừng thay đổi nhận thức, tập quán kinh
doanh, sản xuất lâm nghiệp quảng canh sang thâm canh.
2.
Nhóm giải pháp về quản lý quy hoạch và đất lâm nghiệp
- Đảm bảo đủ diện tích
quỹ đất để phát triển rừng nguyên liệu phù hợp với quy hoạch lâm nghiệp quốc
gia và kế hoạch của tỉnh.
- Xây dựng các cụm công
nghiệp, các nhà máy chế biến phù hợp với các định hướng chiến lược trong phát
triển kinh tế - xã hội chung trên địa bàn tỉnh nói chung và các địa phương nói
riêng.
- Phát triển vùng
nguyên liệu và công nghiệp chế biến gỗ phải phù hợp với định hướng quy hoạch
phát triển vùng. Tổ chức, cơ cấu lại ngành công nghiệp chế biến gỗ nhằm cân đối
giữa nguồn lực sản xuất và nguồn cung cấp nguyên liệu ổn định. Tập trung rà
soát, củng cố và nâng cấp hệ thống nhà máy chế biến lâm sản quy mô vừa và nhỏ
đồng thời phát triển công nghiệp chế biến lâm sản quy mô lớn sau năm 2025.
- Ưu tiên bố trí các
doanh nghiệp chế biến vào hoạt động tại các khu, cụm công nghiệp đã được quy
hoạch trên địa bàn tỉnh.
- Bố trí mặt bằng và có
cơ chế hỗ trợ đưa các doanh nghiệp chế biến gỗ vào các khu công nghiệp, cụm
công nghiệp trên địa bàn tỉnh.
- Nâng cao năng lực,
hiệu quả quản lý của cơ quan chuyên trách quản lý nhà nước về rừng, đất lâm
nghiệp các cấp. Trong đó, tập trung nâng cao trách nhiệm quản lý nhà nước về
rừng và đất lâm nghiệp của chính quyền cấp xã; thành lập các Hợp tác xã lâm
nghiệp để tập hợp các hộ gia đình có diện tích trồng rừng tham gia vùng nguyên
liệu gỗ rừng trồng và trồng rừng gỗ lớn.
- Xây dựng và ban hành
cơ chế chính sách khuyến khích, hỗ trợ phù hợp với điều kiện của địa phương
nhằm thu hút các thành phần kinh tế tham gia trồng rừng gỗ lớn, đầu tư cơ sở
chế biến với công nghệ hiện đại; tạo môi trường liên kết chuỗi sản phẩm từ khâu
sản xuất nguyên liệu, khai thác, chế biến và tiêu thụ sản phẩm.
- Tập trung hướng dẫn,
kêu gọi các doanh nghiệp đã đầu tư nhà máy trên địa bàn và hỗ trợ các chủ rừng,
liên kết để thực hiện “chứng chỉ rừng trồng FSC”.
3.
Nhóm giải pháp về đẩy mạnh ứng dụng giống, quy trình kỹ thuật và máy móc, thiết
bị tiến bộ vào trồng rừng nguyên liệu
- Ứng dụng giống tiến
bộ
Áp dụng trồng các giống
cây lâm nghiệp có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng đồng thời khuyến cáo trồng những
loài cây lâm nghiệp lấy nguyên liệu gỗ phù hợp với điều kiện lập địa tại địa
phương, đảm bảo đạt năng suất, chất lượng, ổn định. Thực hiện đúng theo Nghị
định số 27/2021/NĐ-CP ngày 25/3/2021 của Chính phủ về quản lý giống cây trồng
lâm nghiệp.
Tiếp tục tập trung
nghiên cứu phát triển về công nghệ sinh học nhằm tăng năng suất của giống cây
lâm nghiệp đang trồng phổ biến đồng thời không ngừng nghiên cứu tìm và tạo
giống cây mới có hiệu quả cao phục vụ cho lâm nghiệp tại địa phương.
Ứng dụng công nghệ cao,
công nghệ tiên tiến vào khâu chọn, tạo giống mới, trồng và chăm sóc rừng để tạo
nguồn nguyên liệu. Xây dựng các Vườn ươm cây giống áp dụng công nghệ cao từ
việc chọn tạo giống và nhân giống như công nghệ tế bào, , công nghệ sử dụng vật
liệu mới ở vườn ươm, công nghệ tưới phun.
Tăng cường hợp tác quốc
tế nhằm chuyển nhượng bản quyền công nghệ, giống, thiết bị tiên tiến sản xuất,
chế biến gỗ mà trong nước chưa sản xuất được.
- Ứng dụng quy trình kỹ
thuật
Xây dựng quy trình kỹ
thuật trồng chăm sóc và phát triển các loài cây lâm nghiệp cho năng suất cao
đồng thời không ngừng cải tiến để phù hợp với thực tiễn sản xuất.
Áp dụng các giải pháp
kỹ thuật thâm canh rừng trồng ở mức độ cao, chú trọng đầu tư các khâu quan
trọng như: Làm đất, bón phân, tăng số lần chăm sóc rừng trồng, thực hiện tốt
các nội dung biện pháp nuôi dưỡng rừng.
Hỗ trợ tập huấn về công
nghệ thông tin, xây dựng và áp dụng chứng chỉ FSC, PEFC, CoC, ISO,... cho doanh
nghiệp chế biến và người trồng rừng.
- Ứng dụng máy móc, thiết
bị
Tập trung đầu tư cho
nghiên cứu, ứng dụng công nghệ cao, thiết bị hiện đại vào khâu chọn, tạo giống,
trồng rừng, khai thác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và phát triển sản
phẩm mới, nâng cao thương hiệu Việt.
Không ngừng đổi mới áp
dụng các thiết bị máy móc hiện đại phục vụ cho công tác phát triển trồng rừng
nguyên liệu. Việc sử dụng máy móc tiến bộ cần được tiến hành và áp dụng phù hợp
với thực tiễn sản xuất của tỉnh trong các khâu, các bước quan từ tạo giống, làm
đất, trồng, chăm sóc nhằm đảm bảo tối ưu hoá hiệu quả và năng suất.
4.
Nhóm giải pháp về xúc tiến thương mại và tạo thương hiệu cho sản phẩm
- Nâng cao khả năng
tiếp cận thị trường cho chủ thể trồng rừng nguyên liệu
Cung cấp các thông tin
cần thiết, chính xác, đầy đủ về thị trường tiêu thụ gỗ nguyên liệu đối với các
chủ thể trồng rừng để họ nắm bắt và chủ động việc mua bán sản phẩm từ rừng
trồng.
Tạo cơ chế, chính sách,
đầu tư và hỗ trợ cho các chủ thể trồng rừng chủ động tham gia vào thị trường
tiêu thụ sản phẩm lâm sản tại địa phương, trong tỉnh và các khu vực lân cận.
Hỗ trợ kinh phí xây
dựng các mô hình trồng rừng xen canh cây ngắn ngày tạo sinh kế bền vững, giúp
người dân có thu nhập ổn định trong thời gian trồng rừng gỗ lớn. Hỗ trợ kinh
phí cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững đối với rừng trồng gỗ lớn, để nâng cao
giá trị gia tăng và tiếp cận được với thị trường thế giới.
- Liên kết sản xuất và
tiêu thụ giữa trồng rừng và chế biến kinh doanh lâm sản
Xây dựng chuỗi giá trị
rừng từ trồng, khai thác, chế biến và xuất khẩu, trong đó tập trung phát triển
vùng nguyên liệu tập trung gắn với doanh nghiệp thu mua chế biến để nâng cao
giá trị, chất lượng và nguồn gốc sản phẩm nhằm tiến đến quy trình khép kín phục
vụ cho phát triển ngành gỗ bền vững.
Xúc tiến các nhà đầu tư
xây dựng vùng nguyên liệu cho các nhà máy trên cơ sở các diện tích đã được đưa
vào Đề án để thực hiện việc liên doanh, liên kết trong trồng rừng, thu mua lâm
sản. Đẩy mạnh việc thành lập các hợp tác xã lâm nghiệp để thực hiện việc liên
doanh, liên kết các hộ gia đình, cá nhân phát triển vùng nguyên liệu, tạo điều
kiện thuận lợi cho thực hiện quản lý rừng bền vững.
Khuyến khích các chủ
rừng là tổ chức xây dựng phương án quản lý rừng bền vững đối với rừng trồng,
chủ động liên liên doanh, liên kết với các chủ đầu tư của các nhà máy chế biến
gỗ.
Xây dựng môi quan hệ
liên kết chặt chẽ giữa các tổ chức, cá nhân trồng rừng với người sản xuất, chế
biến và kinh doanh thành một chuỗi khép kín, thống nhất các tiêu chuẩn của
ngành, quan tâm vấn đề lợi ích từng công đoạn và thương hiệu đầu ra của sản
phẩm để đảm bảo hiệu quả hoạt động và sức cạnh tranh để tạo ra quy mô sản lượng
lớn... đáp ứng nhu cầu của tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
5.
Giải pháp về cơ chế, chính sách
5.1. Chính sách về đất
đai
Tiếp tục việc thực hiện
giao đất, cho thuê đất theo quy định của Luật Đất đai cho các tổ chức, cá nhân,
hộ gia đình để thực hiện việc trồng rừng sản xuất.
Tạo mọi điều kiện hỗ
trợ doanh nghiệp trong giải quyết thủ tục hành chính cấp đất, giải phóng mặt
bằng trong đầu tư.
Đẩy nhanh tiến độ đầu
tư xây dựng và hoàn thiện kết cấu hạ tầng và đưa vào hoạt động các khu, cụm,
điểm công nghiệp nhằm tạo điều kiện thuận lợi về mặt bằng sản xuất thu hút các
dự án chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh.
5.2. Chính sách tài
chính và tín dụng
Huy động các thành phần
kinh tế trong nước theo cơ chế liên doanh, liên kết giữa hộ nông dân và doanh
nghiệp cùng góp vốn để phát triển rừng, hình thành vùng nguyên liệu cho chế
biến gỗ; phát triển du lịch sinh thái gắn với bảo vệ rừng; khuyến khích phát
triển nông lâm kết hợp, trang trại lâm nghiệp theo quy định tại Nghị định số
57/2018/NĐ-CP ngày 17 tháng 4 năm 2018 của Chính phủ và Quyết định số
38/2016/QĐ-TTg ngày 14 tháng 9 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ.
Các cơ quan, tổ chức
tín dụng của tỉnh cần tạo mọi điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận và
vay vốn trung và dài hạn được hỗ trợ lãi. Tiếp cận các cơ chế chính sách mới
(Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa) và vay vốn với lãi suất ưu đãi theo Nghị
định số 32/2017/NĐ-CP ngày 31/3/2017 về tín dụng đầu tư của Nhà nước. Các tổ
chức tín dụng trên địa bàn tiếp tục triển khai hiệu quả Nghị định số 55/2015/NĐ-CP
ngày 09/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp,
nông thôn và Nghị định số 116/2018/NĐ-CP ngày 07/9/2018 của Chính phủ về sửa
đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP; các chi nhánh ngân
hàng thương mại tích cực triển khai Chương trình tín dụng đối với lĩnh vực nông,
lâm, thủy sản theo Công văn số 5631/NHNN-TD ngày 14/7/2023 và 2756/NHNN-TD ngày
15/4/2025 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các văn bản triển khai chương
trình tín dụng chính sách có liên quan của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
5.3. Chính sách đầu tư
Thực hiện tốt chính
sách hỗ trợ cho các thành phần kinh tế trồng rừng kinh doanh gỗ lớn. Hỗ trợ
kinh phí chuyển hóa rừng trồng kinh doanh gỗ nhỏ sang kinh doanh gỗ lớn.
Hỗ trợ kinh phí xây
dựng các mô hình trồng rừng xen canh cây ngắn ngày tạo sinh kế bền vững, giúp
người dân có thu nhập ổn định trong thời gian trồng rừng gỗ lớn. Hỗ trợ kinh
phí cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững đối với rừng trồng gỗ lớn, để nâng cao
giá trị gia tăng và tiếp cận được với thị trường thế giới.
Đầu tư, hỗ trợ nghiên
cứu, ứng dụng các loài giống cây trồng có năng suất, chất lượng và hiệu quả
kinh tế cao, phù hợp với tập quán và trình độ canh tác của người dân. Hỗ trợ
thành lập các hợp tác xã, tổ hợp tác về lâm nghiệp để tích tụ đất đai và liên
kết sản xuất. Hỗ trợ xây dựng đường lâm nghiệp, vườn ươm giống chất lượng cao
tại các vùng trồng rừng nguyên liệu gỗ lớn tập trung.
Xây dựng và triển khai
định giá rừng, định giá đất gắn với rừng, thúc đẩy việc đăng ký đất, đăng ký
tài sản trên đất (rừng) và giá trị rừng làm căn cứ cho việc thế chấp và bảo
hiểm đối với rừng trồng kinh doanh gỗ lớn, hạn chế rủi ro để người trồng rừng
yên tâm đầu tư kinh doanh gỗ lớn.
Ưu đãi đối với các
doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị hiện đại, thân thiện
với môi trường phục vụ cho hoạt động chế biến gỗ theo Thông tư số
28/2018/TT-BTC ngày 28 tháng 3 năm 2018 của Bộ Tài chính hướng dẫn lập, quản
lý, xử lý kinh phí khuyến công.
Đầu tư, hỗ trợ nghiên
cứu, ứng dụng các loài giống cây trồng có năng suất, chất lượng và hiệu quả
kinh tế cao, phù hợp với tập quán và trình độ canh tác của người dân. Hỗ trợ
thành lập các hợp tác xã, tổ hợp tác về lâm nghiệp để tích tụ đất đai và liên
kết sản xuất. Hỗ trợ xây dựng đường lâm nghiệp, vườn ươm giống chất lượng cao
tại các vùng trồng rừng nguyên liệu gỗ lớn tập trung.
6.
Giải pháp về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
Thường xuyên tập huấn
kỹ thuật trong công tác phát triển rừng trồng nguyên liệu đối với các chủ rừng
là các tổ chức và các hộ gia đình…nhằm nâng cao kiến thức trong trồng rừng qua
đó tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Đẩy mạnh công tác đào
tạo nghề, đào tạo kiến thức và kỹ năng, tay nghề phù hợp với sản xuất gỗ và sản
phẩm gỗ, nâng cao trình độ vận hành máy móc, thiết bị của công nhân, bồi dưỡng
nghiệp vụ quản lý, điều hành sản xuất, kiểm soát tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm
của đội ngũ quản lý cấp sơ - trung và kỹ năng quản lý, điều hành của cán bộ
quản lý doanh nghiệp.
Tăng cường hợp tác,
liên kết giữa các cơ sở đào tạo với các doanh nghiệp, gắn đào tạo với sử dụng
lao động tại chỗ để nâng cao tay nghề cho công nhân và cán bộ kỹ thuật đáp ứng
nhu cầu của các doanh nghiệp; chú trọng đào tạo cán bộ nghiên cứu và lao động
kỹ thuật trình độ chuyên môn cao.
Thu hút nghệ nhân giỏi
ở trong tỉnh và các địa phương trong nước tham gia truyền nghề, đào tạo nghề
lồng ghép với nguồn vốn đào tạo nghề của chương trình nông thôn mới.
Lồng ghép hỗ trợ tăng
cường đào tạo tay nghề công nhân chế biến gỗ. Thường xuyên tổ chức tham quan
trong và ngoài nước để học tập kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh, tiếp cận thị
trường, công nghệ mới.
Huy động và gắn kết các
nguồn lực, lồng ghép các chương trình, dự án để nâng cao hiệu quả trong công
tác bảo vệ phát triển rừng, trồng rừng nguyên liệu, trồng rừng gỗ lớn. Sử dụng
có hiệu quả nguồn vốn từ Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững,
Quỹ bảo vệ và phát triển rừng, chính sách nông nghiệp của tỉnh... để hỗ trợ,
thúc đẩy trồng rừng sản xuất.
Các doanh nghiệp cần
xây dựng chiến lược, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng để phát triển đội ngũ công
nhân kỹ thuật của mình. Ngoài ra, cần đổi mới chương trình và linh hoạt trong
tổ chức các khóa đào tạo, tập huấn. Thành lập các trung tâm, cơ sở đào tạo nghề
chế biến gỗ, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ tại các khu vực chế biến lâm sản
tập trung của tỉnh. Tổ chức các hội thi tay nghề hàng năm.
7.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước; phát huy vai trò của các
đoàn thể chính trị-xã hội trong công tác phát triển rừng, đặc biệt là rừng sản
xuất
Tiếp tục rà soát diện
tích 3 loại rừng cho phù hợp với phát triển kinh tế xã hội ở địa phương; rà
soát lại hiện trạng rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp cho đúng với thực trạng
trên địa bàn toàn tỉnh theo quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và quy
hoạch lâm nghiệp quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Xác
định rõ lâm phần quản lý, xây dựng phương án thay thế chủ thể quản lý lâm phần
cho phù hợp. Hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các Công
ty TNHH MTV lâm nghiệp, các Ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng theo quy định
trước năm 2030; tổ chức quản lý sử dụng có hiệu quả diện tích rừng và đất lâm
nghiệp trên địa bàn tỉnh.
- Tập trung giải quyết
dứt điểm diện tích đất chồng lấn, lấn chiếm nằm trong lâm phần của các đơn vị
chủ rừng trước năm 2025, không để phát sinh diện tích lấn chiếm mới; Xử lý cấp
quyền sử dụng đất để người dân ở và sản xuất đối với diện tích đất chồng lấn,
lấn chiếm; tạo sinh kế cho người dân sống gần rừng, trong đó có tạo việc làm
phi nông nghiệp cho người đồng bào dân tộc thiểu số như như đan lát, sản xuất
đồ gỗ, buôn bán lâm sản ngoài gỗ, cơ khí nhỏ, dịch vụ phục vụ sản xuất và đời
sống... để hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng phá rừng làm nương rẫy.
- Quản lý chặt chẽ các
cơ sở chế biến gỗ, kiên quyết đình chỉ hoạt động, thu hồi giấy phép các cơ sở
vi phạm theo quy định của pháp luật. Rà soát, xử lý dứt điểm các loại phương
tiện dùng để khai thác, vận chuyển lâm sản trái pháp luật trên địa bàn tỉnh.
- Nghiên cứu, chuyển
giao ứng dụng tiến bộ, khoa học công nghệ, công nghệ thông tin trong tất cả các
khâu của chuỗi giá trị ngành lâm nghiệp đáp ứng yêu cầu của sản xuất và thị
trường. Trồng thử nghiệm, xác định được danh mục các loài cây trồng rừng mới
phù hợp trên địa bàn tỉnh phục vụ cho trồng rừng sản xuất. Quản lý chặt chẽ
nguồn giống trong trồng rừng, giám sát chặt chẽ từ khi trồng đến khi thu hoạch
để đảm bảo trồng rừng có hiệu quả, tránh thất thoát vốn trồng rừng.
8.
Thực hiện cơ chế, chính sách lâm nghiệp
- Tiếp tục triển khai
hiệu quả các cơ chế, chính sách hiện hành theo quy định của Luật Lâm nghiệp và
các văn bản liên quan. Tổ chức thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách mới
như: Chính sách thúc đẩy xã hội hóa lâm nghiệp, phát triển lâm nghiệp cộng
đồng, chính sách cung ứng tín chỉ các bon. Thí điểm thực hiện chính sách bảo
hiểm trong lâm nghiệp đặc biệt là bảo hiểm rừng trồng.
- Rà soát các chính
sách hỗ trợ phát triển rừng của Trung ương và địa phương, đề xuất sửa đổi, bổ
sung hoàn thiện hệ thống pháp luật về lâm nghiệp theo thẩm quyền trên cơ hài
hòa với Luật Đất đai, Luật Đa dạng sinh học, Luật Bảo vệ môi trường và các điều
ước quốc tế để đáp ứng yêu cầu phát triển lâm nghiệp bền vững; trọng tâm là
chính sách đất đai và chính sách vốn để tạo điều kiện để doanh nghiệp, hộ gia
đình sử dụng đất có hiệu quả và tiếp cận được các nguồn vốn ưu đãi để phát
triển lâm nghiệp, chính sách thu hút đầu tư phát triển rừng trồng và sản xuất
chế biến gỗ, các hoạt động hỗ trợ người dân tham gia phát triển kinh tế lâm
nghiệp .
- Thực hiện tốt chính
sách phát triển rừng gắn với tạo sinh kế, nâng cao thu nhập và làm giàu từ rừng
cho người dân, cộng đồng dân cư; khuyến khích người dân trồng rừng, nghiên cứu
đề xuất chính sách hỗ trợ cho người dân sống được bằng nghề rừng và vươn lên
làm giàu từ nghề rừng.
9.
Phát triển kinh tế lâm nghiệp
- Tập trung đẩy mạnh
công tác thu hút đầu tư trong lĩnh vực lâm nghiệp, đặc biệt là thu hút đầu tư
các nhà máy chế biến gỗ rừng trồng và thu hút trồng rừng và sản xuất lâm sản
theo hướng hiện đại, phát triển dược liệu dưới tán rừng, du lịch sinh thái.
- Nghiên cứu, lựa chọn,
tập trung phát triển mạnh mẽ các mô hình kinh tế lâm nghiệp hộ gia đình, trang
trại, cộng đồng dân cư và hợp tác xã kiểu mới phù hợp. Phát triển các hình thức
liên kết giữa các thành phần kinh tế, kinh tế hợp tác, kinh tế chia sẻ trong
lâm nghiệp. Phát triển các mô hình nông-lâm kết hợp gắn với sinh kế của người
dân sống gần rừng. Khuyến khích người dân chuyển đổi diện tích đất trồng cây
nông nghiệp hàng năm trên đất lâm nghiệp kém hiệu quả sang trồng cây lâm
nghiệp.
- Xây dựng kết cấu hạ
tầng lâm nghiệp đồng bộ, hiện đại hóa ngành lâm nghiệp và dịch vụ logistics.
Phát triển hệ thống đường lâm nghiệp gắn kết vùng nguyên liệu quy mô, tập trung
với nhà máy chế biến; giảm chi phí vận chuyển, tăng giá trị sản phẩm gỗ. Thu
hút đầu tư phát triển hạ tầng logistics, kho bãi phục vụ phát triển sản xuất,
bảo quản và chế biến lâm sản.
- Tăng cường hội nhập
kinh tế quốc tế về lâm nghiệp; tham gia tích cực và hợp tác chặt chẽ với các tổ
chức lâm nghiệp quốc tế, khu vực và song phương về triển khai các chương trình,
dự án, hoạt động tăng cường năng lực, chuyển giao, hợp tác trong lĩnh vực lâm
nghiệp. Phát triển thị trường lâm sản, chủ động tham gia chuỗi cung lâm sản
toàn cầu.
10.
Huy động các nguồn lực đầu tư phát triển ngành lâm nghiệp
- Bố trí, quản lý, sử
dụng hiệu quả nguồn vốn ngân sách Nhà nước đầu tư tư cho ngành lâm nghiệp thông
qua chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững và Chương trình mục tiêu Quốc
gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai
đoạn 2021 - 2030.
- Đa dạng nguồn vốn huy
động để triển khai thực hiện đề án, bảo đảm huy động đầy đủ, kịp thời theo quy
định. Tăng cường vận động, tạo cơ chế huy động các nguồn đầu tư, đóng góp hợp
pháp của doanh nghiệp và vận động tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và
ngoài nước vào lĩnh vực lâm nghiệp.
11.
Danh mục các chương trình, dự án ưu tiên
Xác định các dự án,
hạng mục ưu tiên đầu tư về phát triển rừng nguyên liệu gắn với phát triển công
nghệ chế biến để định hướng kêu gọi thu hút đầu tư thời gian tới để có cơ sở tổ
chức triển khai thực hiện Đề án có hiệu quả bao gồm:
Phát triển vùng nguyên
liệu ổn định để kêu gọi đầu tư xây dựng các nhà máy chế biến, diện tích phát
triển trồng rừng gỗ lớn giai đoạn 2021- 2030 là 22.810 ha cần gắn với các nhà
máy hiện có trên địa bàn tỉnh Kon Tum.
Thúc đẩy nhanh tiến độ
xây dựng các nhà máy chế biến gỗ đã có chủ trương đầu tư. Tiếp tục kêu gọi, xúc
tiến đầu tư các nhà máy chế biến gỗ tinh sâu, công suất lớn để thúc đẩy nhanh
việc liên doanh, liên kết, quản lý rừng bền vững.
Xúc tiến, kêu gọi các
tổ chức quốc tế, các chương trình, dự án hỗ trợ, đầu tư việc xây dựng các mô
hình liên doanh, liên kết; xây dựng phương án quản lý rừng trồng bền vững và
cấp chứng chỉ rừng trồng.
Xây dựng hệ thống đường
ranh cản lửa kết hợp vận chuyển cây giống, phân bón và thi công trồng rừng: 180
km; Thiết lập hệ thống vườn ươm ứng dụng công nghệ cao (10 vườn). Việc xây dựng
các hạng mục hạ tầng lâm sinh được lồng ghép trong các chương trình, dự án:
Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững; Nông thôn mới; các dự án
lâm nghiệp; các dự án giao thông nông thôn...
Hỗ trợ các doanh nghiệp
chế biến gỗ vào các khu công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Quy hoạch hệ thống rừng
giống, vườn ươm đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030.
Hỗ trợ xây dựng chứng
chỉ rừng FSC, CoC, PEFC và xây dựng thương hiệu gỗ và sản phẩm từ gỗ của tỉnh
Kon Tum.
Tập trung thực hiện tốt
Chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững: Quy hoạch diện tích đất trồng rừng
mang tính tập trung, tránh trường hợp đầu tư phân tán; thủ tục cấp đất trồng
rừng thông thoáng, có quy hoạch vùng cụ thể; thực hiện chăm sóc, bảo vệ theo
hướng bền vững để đáp ứng đầy đủ các yêu cầu cần thiết về chứng chỉ rừng (FSC)
để phát triển và khai thác rừng trồng gỗ lớn.
Giải quyết tốt về giống
cây trồng cho năng suất cao, chất lượng gỗ tốt; tiến hành các biện pháp thâm
canh theo đúng quy trình. Ưu đãi tín dụng đối với các doanh nghiệp đầu tư trồng
rừng gắn với hoạt động sản xuất, chế biến gỗ. Tiến tới đạt rừng chứng chỉ FSC
với quy mô, diện tích 50.000 ha đến năm 2040.
Chương trình phát triển
các ngành công nghiệp phụ trợ và dịch vụ: cần có chủ trương chính sách kịp thời
để ưu đãi phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ cho ngành chế biến gỗ trên
địa bàn tỉnh như chế tạo phụ kiện, đinh vít, sản xuất bao bì, hóa chất... nhằm
giảm chi phí đầu vào cho các doanh nghiệp sản xuất gỗ và sản phẩm gỗ nhằm phát
triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh. Đồng thời, từng bước xây dựng và hình
thành cơ sở tập trung cho hoạt động nhập khẩu, xẻ sấy gỗ theo quy cách tiêu
chuẩn phù hợp để đáp ứng cho cả thị trường đồ gỗ trong tỉnh và cả nước.
Tập trung đầu tư cho
nghiên cứu, ứng dụng công nghệ cao, công nghệ tiên tiến vào khâu chọn, tạo
giống, trồng rừng, khai thác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và phát triển
sản phẩm mới, nâng cao thương hiệu Việt. Đồng thời, triển khai các hoạt động
nghiên cứu công nghệ (thiết kế sản phẩm) và đào tạo nghề cho ngành chế biến lâm
sản. Có chính sách để ngân sách Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí để thực hiện.
Lồng ghép các chương trình
đào tạo nghề cho lao động nông thôn, Chương trình Khuyến công, Chương trình Xúc
tiến thương mại, Chương trình khuyến nông, Khuyến lâm, Chương trình hỗ trợ phát
triển doanh nghiệp... của tỉnh để hỗ trợ khuyến khích phát triển ngành công
nghiệp chế biến gỗ. Đặc biệt, ưu tiên hỗ trợ các doanh nghiệp trong đầu tư đổi
mới, ứng dụng máy móc, thiết bị mới vào sản xuất và chuyển giao công nghệ trong
chế biến gỗ; nghiên cứu ứng dụng khoa học về giống; tìm kiếm, mở rộng và xúc
tiến thị trường xuất khẩu sản phẩm.
Triển khai xây dựng quy
hoạch sử dụng đất giai đoạn 2025 - 2030 đồng bộ với quy hoạch lâm nghiệp để có
cơ sở triển khai thực hiện việc đầu tư trồng rừng gỗ nguyên liệu.
Xây dựng và triển khai
thực hiện các Dự án trồng rừng sản xuất nhằm đẩy mạnh công tác trồng rừng,
trồng cây phân tán trên toàn bộ diện tích đất chưa có rừng đã quy hoạch phát
triển lâm nghiệp, đặc biệt chú trọng đầu tư trồng rừng sản xuất theo hướng thâm
canh, nâng cao năng suất, chất lượng phục vụ gỗ nguyên liệu giấy, chế biến gỗ
nhỏ và ván nhân tạo.
Nâng cao giá trị sản
xuất, kinh doanh rừng trồng bằng giải pháp chuyển hóa rừng trồng hiện có và
thâm canh trồng rừng gỗ lớn (khai thác sau 10 năm tuổi đối với cây mọc nhanh,
sau 25 năm tuổi đối với cây bản địa và cây gỗ nguy cấp, quý, hiếm). Thúc đẩy
việc trồng rừng gỗ lớn, cung cấp nguyên liệu gỗ có chứng chỉ quản lý rừng bền
vững theo yêu cầu của thị trường quốc tế, kiểm soát công tác trồng rừng từ khâu
tạo giống đến khai thác gỗ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị rừng
trồng.
Tạo môi trường đầu tư
thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực trồng rừng
nguyên liệu; kêu gọi các tổ chức có tiềm lực kinh tế đầu tư trong lĩnh vực
trồng rừng; triển khai thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách khuyến
khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn quy định tại Nghị định
số 57/2018/NĐ-CP ngày 17 tháng 4 năm 2018 của Chính phủ.
IV.
HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ KHI THỰC HIỆN ĐỀ ÁN
1.
Khái toán kinh phí thực hiện đề án
Các cơ sở xác định vốn
đầu tư và cơ cấu nguồn vốn thực hiện Đề án:[30]
- Nghị định số 45/2012/NĐ-CP
ngày 21/5/2012 của Chính phủ về Khuyến công, trong đó có quy định về Hỗ trợ
liên doanh liên kết, hợp tác kinh tế, phát triển các cụm công nghiệp và di dời
cơ sở gây ô nhiễm môi trường;
- Nghị định số
98/2018/NĐ-CP ngày 05/7/2018 của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát
triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp có quy
định hỗ trợ đào tạo nghề, tập huấn kỹ thuật, nâng cao nghiệp vụ quản lý, kỹ
thuật sản xuất, năng lực quản lý hợp đồng, quản lý chuỗi và phát triển thị
trường;
- Nghị định số
68/2017/NĐ-CP ngày 25/5/2017 của Chính phủ về quản lý phát triển cụm công
nghiệp;
- Nghị định số 58/2024/NĐ-CP
ngày 24 tháng 5 năm 2024 của Chính phủ về một số chính sách đầu tư trong lâm
nghiệp;
- Quyết định số
327/QĐ-TTg ngày 10/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án Phát
triển ngành công nghiệp chế biến gỗ bền vững, hiệu quả giai đoạn 2021 – 2030;
- Thông tư số
21/2023/TT-BNNPTNT ngày 15/12/2023 của Bộ Nông nghiệp và PTNT “Quy định một số
định mức kinh tế - kỹ thuật về Lâm nghiệp”;
- Thông tư số
29/2018/TT-BNNPTNT, ngày 16/11/2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
“về việc Quy định về các biện pháp lâm sinh”;
- Quyết định số
319/QĐ-UBND ngày 03/6/2024 của UBND tỉnh Kon Tum về việc Phê duyệt đơn giá
trồng rừng thay thế trên địa bàn tỉnh Kon Tum;
Tổng nhu cầu vốn để
thực hiện Đề án là 7.903.541,1 triệu đồng, chi tiết như sau:
Đơn
vị: triệu đồng
|
TT
|
Hạng
mục
|
Đơn
vị
|
Khối
lượng
|
Đơn
giá
|
Tổng
|
|
A
|
CHI PHÍ TRỰC TIẾP
|
|
|
|
6.478.312,4
|
|
I
|
Phát triển trồng rừng nguyên liệu
|
|
22.279,5
|
|
3.233.592,1
|
|
1
|
Trồng rừng nguyên
liệu gỗ nhỏ
|
ha
|
4.422,1
|
114,6
|
506.869,7
|
|
2
|
Trồng rừng gỗ lớn
|
ha
|
17.857,4
|
152,7
|
2.726.722,4
|
|
II
|
Đầu tư xây dựng các
nhà máy
CBLS
|
|
|
|
3.200.000
|
|
1
|
Đầu tư nhà máy Giấy,
Bột giấy tại Đắk Tô
|
Nhà
máy
|
1
|
1.900.000
|
1.900.000,0
|
|
2
|
Đầu tư nhà máy CB gỗ
lớn tại thành phố Kon Tum
|
Nhà
máy
|
1
|
1.300.000
|
1.300.000,0
|
|
III
|
Các hạng mục đề án,
chương trình ưu tiên thực hiện
|
|
|
|
44.720,2
|
|
1
|
Cấp chứng chỉ rừng
FSC
|
ha
|
50000
|
0,25
|
12.500,0
|
|
2
|
Xây dựng hệ thống
đường ranh cản lửa kết hợp vận chuyển cây giống, phân bón và thi công trồng
rừng
|
km
|
100
|
22,20243
|
2.220,2
|
|
3
|
Xây dựng Vườn ươm ứng
dụng công nghệ cao
|
Vườn
|
10
|
2000
|
20.000,0
|
|
4
|
Nghiên cứu chọn tạo
giống cây trồng, trồng rừng
|
Chương
trình
|
2
|
|
2.000,0
|
|
5
|
Nghiên cứu ứng dụng
công nghệ cao vào khai thác lâm sản
|
Chương
trình
|
2
|
|
2.000,0
|
|
6
|
Đào tạo nghề cho lao
động trong khâu nhân giống cây lâm nghiệp công nghệ cao
|
Chương
trình
|
2
|
|
2.000,0
|
|
7
|
Đào tạo nghề cho lao
động trong khâu trồng rừng
|
Chương
trình
|
2
|
|
2.000,0
|
|
8
|
Đào tạo nghề cho lao
động trong khâu CBLS áp dụng công nghệ cao
|
Chương
trình
|
2
|
|
2.000,0
|
|
B
|
CHI PHÍ GIÁN TIẾP
|
|
|
|
1.425.228,7
|
|
1
|
Chi phí quản lý
(12%*A)
|
|
|
|
777.397,5
|
|
2
|
Chi phí dự phòng (10%
A)
|
|
|
|
647.831,2
|
|
|
TỔNG CỘNG (A+B)
|
|
|
|
7.903.541,1
|
2.
Phân nguồn đầu tư
Ngân sách Nhà nước
Trung ương hỗ trợ 252.473,7 triệu đồng chiếm 3,2% thông qua chính sách tại Nghị
định số 58/2024/NĐ-CP ngày 24 tháng 5 năm 2024 của Chính phủ về một số chính
sách đầu tư trong lâm nghiệp; Ngân sách địa phương hỗ trợ 26.840 triệu đồng
chiếm 0,3% thực hiện các chương trình đào tạo, dự án ưu tiên của tỉnh; Vốn của
doanh nghiệp, vốn vay, huy động nguồn lực xã hội 7.624.227,5 triệu đồng chiếm 96,5%,
chi tiết xem biểu sau:
|
TT
|
HẠNG
MỤC
|
Tổng
nhu cầu
vốn (triệu đồng)
|
Phân
theo nguồn vốn
|
|
NSTW
|
NS
tỉnh
|
Vốn
doanh nghiệp, vốn vay, xã hội hóa
|
|
A
|
CHI PHÍ TRỰC TIẾP
|
6.478.312,4
|
206.945,6
|
22.000,0
|
6.249.366,8
|
|
I
|
Phát triển trồng rừng nguyên liệu
|
3.233.592,1
|
200.261,8
|
|
3.033.330,4
|
|
|
Trồng rừng nguyên
liệu gỗ nhỏ
|
506.869,7
|
66.331,1
|
|
440.538,7
|
|
|
Trồng rừng gỗ lớn
|
2.726.722,4
|
133.930,7
|
|
2.592.791,7
|
|
II
|
Đầu tư xây dựng, nâng cấp các nhà
máy CBLS
|
3.200.000,0
|
|
|
3.200.000,0
|
|
III
|
Các hạng mục đề án,
chương trình ưu tiên thực hiện
|
44.720,2
|
6.683,9
|
22.000,0
|
16.036,4
|
|
B
|
CHI PHÍ GIÁN TIẾP
|
1.425.228,7
|
45.528,0
|
4.840,0
|
1.374.860,7
|
|
1
|
Chi phí quản lý
(12%*A)
|
777.397,5
|
24.833,5
|
2.640,0
|
749.924,0
|
|
2
|
Chi phí dự phòng (10%
A)
|
647.831,2
|
20.694,6
|
2.200,0
|
624.936,7
|
|
|
TỔNG CỘNG (A+B)
|
7.903.541,1
|
252.473,7
|
26.840,0
|
7.624.227,5
|
|
|
Tỷ lệ %
|
100,0
|
3,2
|
0,3
|
96,5
|
3.
Hiệu quả kinh tế
3.1. Về kinh tế
- Nâng cao thu nhập của
người dân trồng rừng thông qua việc ứng dụng khoa học kỹ thuật công nghệ tiên
tiến vào các khâu giống, chăm sóc lên 20% - 30 % so với sản xuất thủ công.
- Doanh thu cho doanh
nghiệp chế biến sản phẩm từ gỗ rừng trồng trên 3.000 tỉ đồng/năm, nộp ngân sách
Nhà nước từ 120 đến 140 tỉ đồng/năm[31].
- Trồng rừng nguyên
liệu tại hàng triệu ngày công lao động giải quyết hơn 62.000 lao động, bình
quân mỗi năm tạo công ăn việc làm cho hơn 10.000 lao động.
- Nâng cao đóng góp của
khâu trồng rừng nguyên liệu vào kinh tế trên địa bàn tỉnh Kon Tum lên 5 – 10%.
3.2. Về xã hội
- Thu hút lực lượng lao
động, giải quyết công ăn việc làm vào lĩnh vực trồng rừng tại các địa phương.
- Thu hút lực lượng lao
động, giải quyết công ăn việc làm vào lĩnh vực chế biến lâm sản tinh sâu
- Nguồn lực về kinh tế
cho các hộ cá nhân, các doanh nghiệp tham gia vào công tác trồng rừng, khai
thác và chế biến lâm sản ngày càng cao và ổn định hơn.
- Trồng rừng nguyên
liệu và các giải pháp phù hợp tạo ra các khoản thu nhập ổn định kết hợp vận
động tuyên truyền đúng hướng đã củng cố lòng tin của nhân dân, nhất là đồng bào
dân tộc miền núi vào đường lối đổi mới của Đảng và Chính phủ. Từ đó người dân
và cộng đồng tích cực tham gia hoạt động lâm nghiệp, góp phần giữ vững an ninh
chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh.
3.3. Về môi trường
- Việc trồng rừng
nguyên liệu, trồng rừng trồng gỗ lớn có chu kỳ dài tiến tới cấp chứng chỉ rừng
bền vững cho khoảng 10.000 ha đến năm 2030, giúp cải thiện môi trường sinh
thái, ổn định mực nước ngầm trong khu vực.
- Xây dựng các nhà máy
chế biến gỗ công nghệ cao, tiên tiến giúp hạn chế các tác nhân gây hại cho môi
trường đối với các chất thải từ các xưởng chế biến gây ra.
V.
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1.
Sở Nông nghiệp và Môi trường
Chủ trì và phối hợp với
các cơ quan liên quan để tổ chức thực hiện nội dung về phát triển rừng nguyên
liệu:
- Chủ trì phối hợp với
các Sở, Ban ngành, đơn vị có liên quan tổ chức thực hiện đúng tiến độ nội dung
của Đề án, định kỳ hàng năm báo kết quả thực hiện về UBND tỉnh và Bộ Nông
nghiệp và Môi trường.
- Tổ chức thực hiện tốt
các quy hoạch, kế hoạch phát triển rừng trồng và khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh
rừng, bảo vệ rừng đã được phê duyệt; Rà soát, bổ sung quy hoạch sử dụng đất,
thực hiện tốt việc giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp, giao đất rừng nhằm đẩy
mạnh phát triển rừng trồng phục vụ chế biến.
- Đẩy mạnh việc nghiên
cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học về lâm nghiệp phục vụ công tác trồng, chăm
sóc và bảo vệ rừng rừng nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị kinh tế
cây rừng; Đẩy mạnh việc xây dựng, phát triển rừng bền vững (cấp chứng chỉ FSC),
tập trung phát triển rừng nguyên liệu gỗ lớn nhằm cung cấp nguồn nguyên liệu gỗ
chất lượng cao phục vụ cho chế biến sâu xuất khẩu.
Chủ trì phối hợp với
UBND các huyện, thị xã, thành phố rà soát, kiểm kê diện tích rừng, thực hiện
tốt công tác giao đất, giao rừng, khoán quản lý bảo vệ rừng, cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho các doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình và cộng
đồng dân cư trên địa bàn.
2.
Sở Công Thương
Phối hợp xây dựng
phương án phát triển các cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh trong kỳ quy hoạch;
thành lập, mở rộng cụm công nghiệp nhằm phục vụ công nghiệp chế biến gỗ.
Hướng dẫn, khuyến khích
và hỗ trợ các doanh nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh (tham gia các hội chợ,
triển lãm, kết nối cung cầu trong và ngoài nước, xây dựng thương hiệu, tham gia
sàn thương mại điện tử của tỉnh,...) thông qua chương trình xúc tiến thương
mại, thương mại điện tử hàng năm nhằm quảng bá, giới thiệu sản phẩm, mở rộng
thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất và tiêu thụ gỗ, sản
phẩm gỗ.
- Chủ trì, phối hợp các
cơ quan liên quan xây dựng sàn giao dịch điện tử chuyên ngành đồ gỗ tại tỉnh
Kon Tum. Hướng dẫn các DN tham gia Chương trình xúc tiến thương mại Quốc gia,
tham gia hội chợ triển lãm trong và ngoài nước theo quy định.
- Chỉ trì, phối hợp Sở
Tài chính hỗ trợ các doanh nghiệp trong đầu tư đổi mới máy móc, thiết bị mới và
sản xuất, chuyển giao công nghệ, sản xuất sạch sản phẩm thân thiện với môi
trường, xúc tiến thị trường xuất khẩu.
3.
Sở Tài chính
Phối hợp với Sở Nông
nghiệp và Môi trường, Sở Công Thương và các đơn vị, địa phương có liên quan
tham mưu cấp có thẩm quyền bố trí kinh phí thực hiện các chương trình, chính
sách liên quan để triển khai thực hiện đề án, hỗ trợ doanh nghiệp trong đầu tư
phát triển sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới máy móc thiết bị, sản
xuất sạch hơn, xúc tiến thương mại thị trường trong nước và quốc tế theo quy
định và phù hợp với khả năng cân đối ngân sách địa phương.
4.
Sở Khoa học và Công nghệ
Chủ trì, phối hợp với
các Sở, ngành liên quan nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ sản xuất giống
cây bằng công nghệ mới, công nghệ nuôi cấy mô nhằm sản xuất các giống cây rừng
trồng có chất lượng cao, sinh trưởng và phát triển tốt, phù hợp với khí hậu và
thổ nhưỡng của tỉnh nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất rừng của doanh nghiệp và
người dân.
5.
Các Sở, Ban, ngành liên quan, UBND các huyện, thành phố (sau này là UBND cấp
xã)
Tạo điều kiện thuận lợi
cho các doanh nghiệp, hộ gia đình về thủ tục thuê đất trồng rừng, đầu tư mặt
bằng sản xuất, tuyển dụng và đào tạo lao động... khi tham gia thực hiện chuyển
đổi.
6.
Ngân hàng Nhà nước khu vực XI; Chi cục thuế khu vực XIV.
- Ngân hàng Nhà nước
chi nhánh Khu vực XI: Chỉ đạo các tổ chức tín dụng tiếp tục thực hiện hiệu quả
Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng
phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và Nghị định số 116/2018/NĐ-CP ngày
07/9/2018 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
55/2015/NĐ-CP; chỉ đạo các chi nhánh ngân hàng thương mại tích cực triển khai
Chương trình tín dụng đối với lĩnh vực nông, lâm, thủy sản theo Công văn số 5631/NHNN-TD
ngày 14/7/2023 và 2756/NHNN-TD ngày 15/4/2025 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
và các văn bản triển khai chương trình tín dụng chính sách có liên quan của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
- Tiếp tục triển khai
việc giảm thuế, giãn thời gian nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thuê đất
trồng rừng, tạm hoàn thuế GTGT đầu vào... tạo điều kiện cho doanh nghiệp duy
trì và phát triển SXKD, tăng sức cạnh tranh sản phẩm, các DN khó khăn trong
tiêu thụ sản phẩm... góp phần thực hiện thành công chính sách kích cầu của
Chính phủ.
PHẦN 4. KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ
I.
KẾT LUẬN
Đề án Đề án phát triển
vùng nguyên liệu rừng trồng gắn với nhà máy chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Kon
Tum được xây dựng trên cơ sở hiện trạng tài nguyên rừng và các điều kiện thực
tế tổ chức sản xuất kinh doanh rừng trên địa bàn tỉnh. Đề án đã đưa ra được các
mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu nhằm đảm bảo kinh doanh rừng lâu dài,
liên tục với năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế ngày càng cao.
II.
KIẾN NGHỊ
- Đề nghị UBND tỉnh xem
xét phê duyệt đề án để có cơ sở triển khai thực hiện./.