|
ỦY BAN
NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
-------
|
CỘNG HÒA
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 1061/QĐ-UBND
|
Phú Thọ,
ngày 06
tháng
4 năm 2026
|
QUYẾT ĐỊNH
PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN “PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ
ĐÀO TẠO TỈNH PHÚ THỌ ĐẾN NĂM 2030, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2045”
ỦY
BAN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
Căn cứ Luật
Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15;
Căn cứ Luật
Giáo dục số 43/2019/QH14; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục
số 123/2025/QH15 ngày 10/12/2025; Luật Giáo dục Đại học số 125/2025/QH15; Luật
Giáo dục Nghề nghiệp số 124/2025/QH15;
Căn cứ Nghị
quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa XI “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”;
Căn cứ Kết
luận số 91-KL/TW ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Bộ Chính trị tiếp tục thực hiện
Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khóa XI; Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22 tháng 8 năm 2025 của Bộ Chính trị
về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo;
Căn cứ Nghị
quyết số 248/2025/QH15 của Quốc hội khóa XV về một số cơ chế, chính sách đặc
thù, vượt trội để thực hiện đột phá phát triển giáo dục và đào tạo;
Căn cứ Nghị
quyết số 51/NQ-CP ngày 18/3/2025 của Chính phủ về việc ban hành Chương trình
hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận số 91-KL/TW ngày 12/8/2024 của Bộ
Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và
đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; Nghị quyết số
281/NQ-CP ngày 15/9/2025 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của
Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về
Đột phá phát triển giáo dục và đào tạo;
Căn cứ Quyết
định số 1705/QĐ-TTg ngày 31/12/2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến
lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045;
Căn cứ Kết
luận số 18-KL/TU ngày 05/8/2025 của Thường trực Tỉnh ủy; Kết luận số 81-KL/TU
ngày 18/12/2025 của Thường trực Tỉnh ủy ngày 18/12/2025;
Căn cứ Nghị
quyết số 01/NQ-ĐH ngày 31/10/2025, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần
thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030;
Căn cứ Nghị
quyết số 16-NQ/TU ngày 25/3/2026 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển
giáo dục, đào tạo tỉnh Phú Thọ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045;
Theo đề nghị
của Sở Giáo dục và Đào tạo tại Tờ trình số 46/TTr-SGD&ĐT ngày 27 tháng 3
năm 2026 về việc phê duyệt Đề án “Phát triển giáo dục và đào tạo tỉnh Phú Thọ
đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”.
QUYẾT
ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt kèm theo Quyết định này Đề án “Phát triển giáo dục
và đào tạo tỉnh Phú Thọ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Điều 3. Chánh Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh; Thủ trưởng các sở,
ban, ngành, đoàn thể; Chủ tịch UBND các xã, phường; Thủ trưởng các cơ quan, đơn
vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
Nơi nhận:
-
Bộ Giáo dục và Đào tạo;
- TT Tỉnh ủy;
- TT HĐND tỉnh;
- Như Điều 3;
- Chủ tịch, các PCT;
- Sở GD&ĐT;
- CVP, các PCVP UBND tỉnh;
- Lưu: VT, VX1, VX9.
|
TM. ỦY BAN
NHÂN DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Nguyễn Khắc Hiếu
|
ĐỀ ÁN
PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH PHÚ
THỌ ĐẾN NĂM 2030, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2045
(Ban hành kèm theo Quyết định số 1061/QĐ-UBND
ngày 06
tháng
4 năm 2026 của Ủy ban nhân dân tỉnh Phú thọ)
Phần
thứ nhất
SỰ CẦN THIẾT VÀ CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
I.
SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
Phát triển
giáo dục và đào tạo có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển bền vững
của mỗi quốc gia, mỗi địa phương. Văn kiện Đại hội X của Đảng đã khẳng định “Giáo
dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền
tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Quan
điểm này tiếp tục được khẳng định, làm sâu sắc thêm trong các văn kiện, cương
lĩnh, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, nhất là Nghị quyết 71- NQ/TW ngày
22/8/2025 của Bộ Chính trị đã nêu rõ: “Tạo đột phá trong đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu
hút và trọng dụng nhân tài.”.
Giáo dục và
Đào tạo tỉnh Phú Thọ sau hợp nhất đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên cả
ba mặt: quy mô, chất lượng và hiệu quả. Cơ chế, chính sách cho phát triển giáo
dục và đào tạo được chú trọng; mạng lưới trường, lớp được củng cố, phát triển;
các điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học được quan tâm đầu tư và
từng bước hiện đại hóa; đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục cơ bản đáp
ứng yêu cầu số lượng, chất lượng và được chuẩn hóa. Tuy nhiên vẫn còn tồn tại
nhiều khó khăn, bất cập, chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh và yêu
cầu đổi mới giáo dục như: quy mô, mạng lưới trường, lớp, cơ sở giáo dục còn bất
cập; giáo dục ngoài công lập phát triển chậm; giáo dục nghề nghiệp và đại học
phát triển manh mún, chưa đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng
cao; cơ sở vật chất, thiết bị dạy học chưa đồng bộ; đội ngũ nhà giáo còn thiếu
so với quy định; cơ chế, chính sách phát triển giáo dục chưa đồng bộ, thiếu
tính thống nhất; chất lượng giáo dục còn có sự chênh lệch khá lớn giữa các
vùng, miền; vai trò các tổ chức kinh tế - xã hội tham gia phát triển giáo dục
chưa rõ nét, hiệu quả chưa cao.
Trong bối
cảnh hợp nhất 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hòa Bình thành tỉnh Phú Thọ và triển
khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, yêu cầu đặt ra đối với ngành Giáo
dục càng trở nên cấp thiết; với nhiệm vụ trọng tâm phải quy hoạch lại mạng lưới
trường lớp, chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo, hiện đại hóa cơ sở vật chất, xây dựng
cơ chế quản lý và phân bổ nguồn lực phù hợp với mô hình hành chính mới. Bên cạnh
đó, với sự quan tâm đặc biệt của Trung ương và Tỉnh ủy đối với giáo dục và đào
tạo đã được thể chế hóa qua Kết luận số 51-KL/TW của Ban Bí thư, Nghị quyết số 71-NQ/TW
của Bộ Chính trị, Kết luận số 18-KL/TU và Kết luận số 81-KL/TU của Thường trực
Tỉnh ủy; cùng hệ thống pháp luật mới gồm Luật Nhà giáo, Luật Giáo dục, Luật
Giáo dục đại học, Luật Giáo dục nghề nghiệp. Đây chính là cơ sở chính trị, pháp
lý vững chắc, đặt ra yêu cầu phải xây dựng Đề án tổng thể, toàn diện để cụ thể
hóa, triển khai vào thực tiễn địa phương.
Xuất phát từ
yêu cầu và lý do trên, việc xây dựng và ban hành Đề án “Phát triển giáo dục và
đào tạo tỉnh Phú Thọ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” là yêu cầu khách
quan, cấp thiết, vừa để đáp ứng kịp thời những đột phá từ các Nghị quyết của
Đảng, Nhà nước, vừa để giải quyết căn bản những bất cập tồn tại của ngành Giáo
dục sau hợp nhất; đồng thời tạo nền tảng để Phú Thọ khẳng định vị thế trung tâm
giáo dục và đào tạo của vùng Trung du và Miền núi phía Bắc, vươn lên nhóm tỉnh
dẫn đầu cả nước về chất lượng giáo dục.
II.
CÁC CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
1.
Cơ sở chính trị và pháp lý
1.1. Cơ sở
chính trị
- Cương lĩnh
xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát
triển năm 2011);
- Chiến lược
phát triển kinh tế- xã hội 10 năm 2021- 2030, được thông qua tại Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng;
- Nghị quyết
số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về Đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa,
hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và
hội nhập quốc tế;
- Kết luận
số 91-KL/TW ngày 12/8/2024 của Bộ Chính trị, về việc tiếp tục thực hiện Nghị
quyết số 29-NQ/TW, nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số trong giáo dục, đổi
mới mô hình quản trị và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực;
- Nghị quyết
số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về Đột phá phát triển giáo dục
và đào tạo;
- Nghị quyết
số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về Đột phá phát triển khoa học,
công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia;
- Chỉ thị số
37-CT/TW, ngày 06/6/2014 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI về tăng cường
sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đào tạo nhân lực có tay nghề cao;
- Chỉ thị số
21-CT/TW ngày 04/5/2023 của Ban Bí thư về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng
cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045;
- Kết luận
số 18-KL/TU ngày 05/8/2025 của Thường trực Tỉnh ủy về định hướng phát triển
giáo dục trong thời kỳ mới; Kết luận số 81-KL/TU ngày 18/12/2025 của Thường
trực Tỉnh ủy tại Hội nghị ngày 18/12/2025;
- Nghị quyết
số 01/NQ-ĐH ngày 31/10/2025, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ I,
nhiệm kỳ 2025 - 2030;
- Nghị quyết
số 16-NQ/TU ngày 25/3/2026 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển giáo
dục, đào tạo tỉnh Phú Thọ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
1.2. Cơ sở
pháp lý
- Luật Giáo
dục số 43/2019/QH14 ngày 14/06/2019; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Giáo dục số 123/2025/QH15 ngày 10/12/2025;
- Luật Giáo
dục Đại học số 125/2025/QH15 ngày 10/12/2015; Luật Giáo dục Nghề nghiệp số 124/2025/QH15
ngày 10/12/2025; Luật Nhà giáo số 73/2025/QH15 ngày 16/6/2025;
- Các Nghị
quyết của Quốc hội, Chính phủ[1]; Các Nghị định, Quyết định của Chính
phủ[2];
Các Thông tư, quyết định của Bộ GDĐT[3].
2.
Cơ sở thực tiễn
Thực hiện
Nghị quyết 29-NQ/TW (04/11/2013), giáo dục và đào tạo của tỉnh đã có bước
chuyển biến rõ rệt: cơ chế, chính sách ban hành kịp thời; nguồn lực ưu tiên cho
đội ngũ, cơ sở vật chất và thiết bị dạy học; qua đó, các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh
Phúc, Hòa Bình trước khi hợp nhất đạt nhiều kết quả, góp phần vào tăng trưởng
kinh tế- xã hội. Trước yêu cầu đổi mới chương trình, sách giáo khoa và áp lực
gia tăng quy mô học sinh trong 5 - 10 năm tới, hệ thống giáo dục của tỉnh còn
bộc lộ hạn chế: cơ sở vật chất, đội ngũ chưa đáp ứng kịp; mô hình, loại hình
giáo dục chưa đa dạng, linh hoạt; quản trị còn bất cập; xã hội hóa đầu tư chưa
tương xứng.
Trong bối
cảnh cạnh tranh, hội nhập sâu rộng, chuyển đổi số và triển khai mô hình chính
quyền địa phương hai cấp, cần điều chỉnh phương thức quản trị, phát huy lợi thế
từng vùng, bảo đảm thống nhất toàn tỉnh. Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị
về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Kết luận 51-KL/TW, hệ thống các luật
Giáo dục mới và Kết luận 18-KL/TU, Kết luận 81-KL/TU của tỉnh đã tạo hành lang
chính trị, pháp lý vững chắc, xác định giáo dục là khâu đột phá, nhiệm vụ trọng
tâm. Vì vậy, xây dựng và triển khai Đề án “Phát triển giáo dục và đào tạo tỉnh
Phú Thọ đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045” là yêu cầu cấp thiết, đưa Phú Thọ mới
trở thành trung tâm giáo dục và đào tạo của vùng Trung du và Miền núi phía Bắc.
Phần
thứ hai
THỰC TRẠNG GIÁO DỤC TỈNH PHÚ THỌ SAU SÁP
NHẬP
I.
CÔNG TÁC LÃNH ĐẠO, CHỈ ĐẠO CỦA CÁC CẤP, CÁC NGÀNH
1. Công tác
lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền
Trước hợp
nhất, công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh
Phúc và Hòa Bình đối với giáo dục và đào tạo đạt được nhiều kết quả tích cực.
Nhiều nghị quyết, chương trình hành động, kế hoạch đầu tư được ban hành, tạo
hành lang pháp lý và định hướng chiến lược rõ ràng, giúp thống nhất mục tiêu và
phân công nhiệm vụ giữa các cơ quan, đơn vị. Giáo dục và đào tạo được xác định
là lĩnh vực trọng tâm trong phát triển kinh tế- xã hội, qua đó nâng cao tính
cam kết, trách nhiệm chính trị. Đồng thời, các địa phương đã chú trọng huy động
nguồn lực đa dạng thông qua xã hội hóa, lồng ghép ngân sách địa phương, vốn
trung ương và sự hỗ trợ từ doanh nghiệp, nhờ đó cơ sở vật chất trường học được
cải thiện, đặc biệt ở các vùng khó khăn. Chất lượng giáo dục đại trà, giáo dục
mũi nhọn đạt được các kết quả tích cực, vị thế giáo dục của tỉnh trong khu vực
và toàn quốc được nâng lên rõ rệt, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế-
xã hội địa phương. Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác lãnh đạo, chỉ đạo
đối với giáo dục và đào tạo trước hợp nhất còn một số hạn chế. Chính sách ban
hành chưa kịp thời, thiếu đồng bộ; phân bổ nguồn lực chưa đáp ứng yêu cầu đổi
mới giáo dục. Năng lực tổ chức thực hiện ở cơ sở còn hạn chế, công tác giám sát
và hệ thống dữ liệu chưa hiệu quả. Nhiều giải pháp vẫn mang tính ngắn hạn, phụ
thuộc vào chương trình hỗ trợ, thiếu cơ chế bảo đảm bền vững.
2. Công tác
phối hợp giữa sở, ngành và địa phương
Trước hợp
nhất, sự phối hợp giữa các sở, ngành và chính quyền địa phương trong công tác
giáo dục và đào tạo ở các tỉnh Phú Thọ, Hòa Bình, Vĩnh Phúc có nhiều chuyển
biến tích cực. Các cơ quan liên quan đã bám sát chỉ đạo của cấp ủy, chính
quyền, cùng triển khai các chương trình, đề án, góp phần quản lý hiệu quả mạng
lưới trường lớp, bồi dưỡng đội ngũ, đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng
giáo dục đại trà và duy trì thành tích giáo dục mũi nhọn. Tuy vậy, cơ chế phối
hợp còn chưa khoa học; phân công, phân cấp đôi khi chưa rõ ràng, dẫn đến chồng
chéo. Điều này ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý, phân bổ nguồn lực và giám sát,
nhất là ở các địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa.
II.
TÌNH HÌNH TRƯỜNG, LỚP, HỌC SINH; CƠ SỞ VẬT CHẤT, TRANG THIẾT BỊ DẠY HỌC
1.
Quy mô trường, lớp và học sinh[4]: Số liệu tính
đến năm học 2024- 2025, Phú Thọ sau hợp nhất có 1.984 cơ sở giáo dục các cấp
học, với trên 1 triệu học sinh, sinh viên và trẻ mầm non. Cụ thể:
1.1. Giáo
dục mầm non
Quy mô, mạng
lưới trường lớp phát triển, đa dạng hóa các loại hình; huy động tỷ lệ trẻ ra
nhóm, lớp tăng đều hàng năm. Toàn tỉnh có 1.120 cơ sở, gồm 708 trường (651 công
lập, 57 tư thục) và 412 nhóm/lớp độc lập tư thục. Có 9.374 nhóm, lớp: 2.154
nhóm trẻ và 7.220 lớp mẫu giáo (1.062 tư thục). Trẻ mầm non đi học là
215.467/281.226, đạt 76,6% (nhà trẻ 39,9%; mẫu giáo 98,6%, riêng trẻ 5 tuổi
100%), tỷ lệ trẻ tư thục ra lớp chiếm 14,5%.
1.2. Giáo
dục phổ thông
- Giáo dục
Tiểu học:
toàn tỉnh có 442 Trường Tiểu học, trong đó có 440 trường công lập (434 trường
Tiểu học, 05 trường Trường phổ thông Dân tộc bán trú, 01 trường chuyên biệt),
02 trường tư thục. Ngoài ra có 208 Trường Tiểu học và Trung học cơ sở, 10
Trường phổ thông Dân tộc bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở, 03 Trường phổ
thông liên cấp Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông có cấp học Tiểu
học. Toàn tỉnh có 201 điểm lẻ; có 11.087 lớp (trong đó có 45 lớp ghép)
với 328.072 học sinh.
- Giáo dục
Trung học cơ sở: toàn tỉnh có 612 trường Trung học cơ sở và trường phổ
thông có cấp cao nhất là Trung học cơ sở (công lập: 610, tư thục: 02 trường).
Cụ thể trường công lập 379 Trường Trung học cơ sở, 208 Trường Tiểu học và Trung
học cơ sở, 03 Trường phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở, 10 Trường Phổ
thông Dân tộc nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở, 09 Trường phổ thông Dân tộc
bán trú Trung học cơ sở và 02 trường tư thục.
- Giáo dục
Trung học phổ thông: toàn tỉnh có 137 trường Trung học phổ thông và
trường phổ thông có cấp học cao nhất là Trung học phổ thông (công lập: 118, tư
thục: 19). Cụ thể trường công lập có 99 Trường Trung học phổ thông, 03 Trường
Trung học phổ thông chuyên, 02 Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học phổ
thông, 14 Trường phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở và Trung học phổ
thông và 19 trường có cấp Trung học phổ thông tư thục. Tổng số lớp: 2.930 lớp.
Tổng số học sinh: 117.286 em.
1.3. Giáo
dục thường xuyên
Toàn tỉnh
hiện có 33 trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên với 763 lớp,
31.455 học viên trong năm học 2024-2025; riêng 11 trung tâm liên kết với 19
trường cao đẳng, trung cấp mở 234 lớp cho 9.115 học viên. Đồng thời, mạng lưới
trung tâm ngoại ngữ, tin học, tư vấn du học và học tập cộng đồng phủ khắp địa
bàn, đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời.
1.4. Giáo
dục nghề nghiệp, giáo dục đại học
- Giáo dục
nghề nghiệp: Toàn tỉnh hiện có 50 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, gồm 22 cơ sở công
lập (12 cơ sở thuộc tỉnh (08 cao đẳng, 02 trung cấp và 02 trung tâm giáo dục
nghề nghiệp); 10 cơ sở thuộc Bộ, ngành) và 28 cơ sở tư thục (02 cao đẳng, 09
trung cấp và 17 trung tâm giáo dục nghề nghiệp).
- Giáo dục
đại học: Tổng số có 4 trường đại học (1 thuộc tỉnh, 3 thuộc Bộ, ngành Trung
ương), 01 Trường Dự bị đại học dân tộc Trung ương và 01 phân hiệu Trường đại
học Công nghệ giao thông vận tải.
2.
Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học[5]
Tính đến hết
năm học 2024- 2025, toàn tỉnh có 32.288 phòng học, trong đó số phòng học kiên
cố là 31.534 phòng, đạt tỷ lệ 97,7%; trong đó: mầm non 96,2%; tiểu học 97,2%;
trung học cơ sở 99,0%; trung học phổ thông 99,2%; giáo dục thường xuyên 99,6%.
2.1. Giáo
dục mầm non
Hiện có
9.510 phòng học, đạt tỷ lệ 1 lớp/1 phòng (95,5% kiên cố, 4,5% bán kiên cố),
0,8% phòng học tạm (chủ yếu ở khu vực Hòa Bình, Phú Thọ). 2.232 phòng học thiếu
đồ dùng, đồ chơi tối thiểu theo quy định, thiếu 1.414 máy tính; nhiều thiết bị
mầm non đã cũ, hỏng, không đáp ứng nhu cầu. 524 điểm trường lẻ, nhiều nhóm/lớp
độc lập thiếu sân chơi, thiết bị, đồ chơi.
2.2. Giáo
dục phổ thông
- Cấp tiểu
học hiện có 11.482 phòng học, trong đó còn 712 phòng bán kiên cố, 14 phòng học
tạm và dự báo thiếu 14 phòng vào năm 2026; đặc biệt là thiếu 774 các phòng học
bộ môn.
- Cấp trung
học cơ sở có 11.104 phòng học (7.821 lớp học, 3.204 phòng học bộ môn), trong đó
79 phòng bán kiên cố, dự báo đến năm 2026 còn thiếu 46 phòng; nhu cầu đầu tư
mới để bảo đảm 01 phòng/lớp: 579 phòng, nhu cầu đầu tư mới phòng học bộ môn để
bảo đảm tiêu chuẩn trường chuẩn quốc gia là 612 phòng.
- Cấp Trung
học phổ thông có 5.079 phòng học (4.311 phòng lớp học, 768 phòng học bộ môn),
trong đó 20 phòng bán kiên cố, cơ bản đáp ứng quy mô hiện tại; nhu cầu đầu tư
mới để đảm bảo 01 phòng/lớp là 536 phòng, nhu cầu đầu tư mới phòng học bộ môn
để đảm bảo tiêu chuẩn trường chuẩn quốc gia là 210 phòng.
2.3. Giáo
dục thường xuyên
- Tổng số
919 phòng học, trong đó 915 phòng học kiên cố (99,56%), 4 phòng học bán kiên cố
(0,44%). Cơ sở vật chất được quan tâm đầu tư nhưng còn thiếu đồng bộ; thiết bị
xuống cấp; thiếu cơ sở cho hoạt động trải nghiệm, thực hành.
- Cơ sở vật
chất các trung tâm học tập cộng đồng được đầu tư với máy chiếu, máy tính,
Internet. Tuy nhiên, còn thiếu đồng bộ, nhiều nơi chưa có phòng làm việc, thư
viện, tài liệu và thiết bị học tập, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động.
2.4. Giáo
dục nghề nghiệp và giáo dục đại học
- Giáo dục
nghề nghiệp: Tổng số có 1.217 phòng học lý thuyết, 158 giảng đường, 888
phòng/xưởng thực hành, thí nghiệm, 91 thư viện; một số trường được đầu tư thành
cơ sở trọng điểm quốc gia, khu vực về cơ khí, điện - điện tử, công nghệ ô tô,
chế biến thực phẩm, du lịch - dịch vụ; tuy nhiên, cơ sở vật chất nhiều trường
đã xuống cấp, thiết bị lạc hậu, đầu tư chưa đồng bộ.
- Giáo dục
đại học:
Quan tâm đầu tư xây dựng, từng bước hiện đại hóa cơ sở vật chất phục vụ tốt cho
công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại các công
trình, nhà xưởng, thiết bị xuống cấp; thiếu các thiết chế văn hóa, thể thao và
thiết bị hiện đại hỗ trợ hoạt động ngoài giảng dạy, ảnh hưởng đến chất lượng
đào tạo.
3.
Công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia
Trong nhiều
năm qua, công tác xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia luôn được Tỉnh ủy, Hội
đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và ngành Giáo dục ba tỉnh trước hợp nhất đặc
biệt quan tâm[6]. Kết quả tính đến cuối năm học 2024 -
2025, có 1505/1812 trường mầm non, phổ thông công lập đạt chuẩn quốc gia, chiếm
tỷ lệ 83,1%, cao hơn mức bình quân cả nước; có 100% cơ sở đã hoàn thành tự đánh
giá; 83,1% được đánh giá ngoài; nhiều trường đạt kiểm định mức độ 2-3 (tỷ lệ
trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 2 là 25,74%).
III.
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ, GIÁO VIÊN, NHÂN VIÊN
Quy mô và số
lượng đội ngũ toàn tỉnh Phú Thọ sau hợp nhất (tính đến tháng 8/2025) có 58.609
cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên[7] từ mầm non
đến giáo dục thường xuyên. Trong đó, thiếu theo biên chế giao 1.952 cán bộ quản
lý, giáo viên và 524 nhân viên; còn thiếu theo định mức 7.200 cán bộ quản lý,
giáo viên và 1.343 nhân viên[8]. Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên,
nhân viên cơ bản được bảo đảm chất lượng, đồng bộ về cơ cấu, đáp ứng yêu cầu
phát triển giáo dục và đào tạo. Công tác rà soát, sắp xếp, tuyển dụng được thực
hiện nghiêm túc, minh bạch, bảo đảm chất lượng; cụ thể:
1. Cấp mầm
non
- Số biên
chế giao 18.862 người (1.898 cán bộ quản lý, giáo viên 15.455 và 1.509 nhân
viên); hợp đồng theo Nghị định 111: giáo viên 1.111, nhân viên 411. Số có mặt
17.901 người (cán bộ quản lý 1.897; giáo viên 14.655, nhân viên 1.349; giáo
viên hợp đồng 746; nhân viên hợp đồng 397), so với biên chế được giao thiếu 961
người (801 cán bộ quản lý, giáo viên; 160 nhân viên), còn thiếu theo định mức
là 2.339 người (56 cán bộ quản lý, giáo viên 2005, nhân viên 278). Tỉ lệ bình
quân giáo viên/lớp đạt 1,94, hiện còn thấp hơn trung bình chung toàn quốc, còn
thiếu nhiều so với định mức quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Trình độ
đào tạo đội ngũ ngày càng được nâng lên. Có 95,3% cán bộ quản lý có trình độ
trên chuẩn; 97,2% giáo viên có trình độ đào tạo đạt chuẩn trở lên, trong đó 88,5%
giáo viên có trình độ trên chuẩn; còn 2,8% (412 người) chưa đạt chuẩn trình độ
đào tạo theo Luật Giáo dục 2019.
2. Cấp tiểu
học
- Số biên
chế giao 18.953 người (cán bộ quản lý 1.116; giáo viên 1.6481, nhân viên
1.356). Số có mặt 18.179 người (cán bộ quản lý 1.105; giáo viên 15.929; nhân
viên 1.145), giáo viên hợp đồng 86, nhân viên hợp đồng 48; so với biên chế giao
thiếu 774 người (11 cán bộ quản lý, 552 giáo viên, 211 nhân viên), còn thiếu là
1278 người (236 cán bộ quản lý, 623 giáo viên, 419 nhân viên). Tỉ lệ giáo
viên/lớp mới đạt 1,41, chưa đủ đáp ứng yêu cầu dạy học 2 buổi/ngày.
- Hiện còn
1395 giáo viên chưa đạt chuẩn trình độ đào tạo theo Luật Giáo dục 2019 (chiếm
tỷ lệ 8,7%).
3. Cấp trung
học cơ sở
- Số biên
chế giao 15.798 người. Số có mặt 15.214 người (cán bộ quản lý 1.232; giáo viên
12.542; nhân viên 1.440); số biên chế được giao thiếu 584 người (02 cán bộ quản
lý; giáo viên 471; nhân viên 111); so với định mức thiếu 3.154 người (601 cán
bộ quản lý; giáo viên 2.038; nhân viên 515). Tỉ lệ giáo viên/lớp đạt 1,67, còn
thiếu nhiều so với định mức quy định.
- Hiện còn
849 giáo viên trung học cơ sở chưa đạt chuẩn trình độ đào tạo theo Luật Giáo
dục 2019 (chiếm tỷ lệ 6,8%).
4. Cấp trung
học phổ thông
- Số biên
chế giao 6.676 người. Số có mặt 6.574 người (cán bộ quản lý 367; giáo viên
5.692; nhân viên 515); so với biên chế được giao thiếu 102 người (60 giáo viên
và 42 nhân viên); thiếu theo định mức là 1.150 người (1.094 cán bộ quản lý,
giáo viên, 56 nhân viên); có tình trạng thừa thiếu cục bộ về cơ cấu môn học. Tỉ
lệ giáo viên/lớp đạt 2,06.
- 100% giáo
viên trung học cơ sở đạt chuẩn trình độ đào tạo, trong đó có 25,6% đạt trình độ
trên chuẩn.
5. Giáo dục
thường xuyên
- Số biên
chế giao 796 người (cán bộ quản lý 94; giáo viên 607; nhân viên 95); số có mặt
741 người (cán bộ quản lý 93; giáo viên 556; nhân viên 92), so với biên chế
được giao thiếu 55 giáo viên; thiếu theo định mức là 55 người (01 cán bộ quản
lý, 51 giáo viên, 33 nhân viên).
- 100% giáo
viên đạt trình độ đào tạo chuẩn, trên chuẩn 14,9%.
6. Giáo dục
nghề nghiệp, giáo dục đại học
- Giáo dục
nghề nghiệp: Số biên chế giao của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập thuộc
tỉnh 1.295 người; có mặt 1.181 người (biên chế 912; hợp đồng 111 là 27; hợp
đồng: 242); thiếu so với biên chế giao là 356 người. Trình độ sau đại học 44%,
trình độ kỹ năng nghề 55%. Đội ngũ cơ bản đáp ứng chuẩn về trình độ đào tạo, kỹ
năng nghề.
- Giáo dục
đại học: có 2.446 cán bộ, giảng viên, nhân viên, trong đó 4,7% là giáo sư, phó
giáo sư; 66% có trình độ tiến sĩ, thạc sĩ.
IV.
CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
1. Chất
lượng giáo dục mầm non[9]
- Kết quả: Các cơ sở
giáo dục mầm non thực hiện Chương trình giáo dục mầm non có chất lượng, bảo đảm
chế độ sinh hoạt hàng ngày, tích hợp phương pháp mới trong nuôi dưỡng, chăm
sóc, giáo dục trẻ, lấy trẻ làm trung tâm gắn với công tác tổ chức bán trú, bảo
đảm vệ sinh an toàn thực phẩm. 98,9% trẻ ăn bán trú, 100% trẻ được theo dõi sức
khỏe biểu đồ phát triển, trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân 1,5%, thấp còi là 2,0%,
béo phì 0,6%. 100% trẻ 5 tuổi hoàn thành chương trình giáo dục mầm non, chuẩn
bị tốt tâm thế, các điều kiện chuyển tiếp trẻ 5 tuổi vào học lớp 1.
- Hạn
chế: Tỷ lệ trẻ thấp còi ở vùng miền núi, khó khăn cao (2,9% vùng Hòa Bình);
tỷ lệ trẻ nhà trẻ, mẫu giáo tư thục ra lớp thấp; nhiều nhóm, lớp độc lập tư thục
thiếu giáo viên.
2. Chất
lượng giáo dục phổ thông
2.1. Giáo
dục đại trà[10]
Giai đoạn
2021- 2025, chất lượng giáo dục đại trà của ba tỉnh vươn lên nhóm khá, thuộc
tốp cao toàn quốc. Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 được triển khai nghiêm
túc, phù hợp thực tiễn; phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá đổi mới theo
định hướng phẩm chất, năng lực; giáo dục toàn diện được chú trọng. Nhờ đó, chất
lượng học tập, rèn luyện chuyển biến rõ rệt: đa số học sinh đạt yêu cầu phẩm
chất, năng lực, chủ động, tự tin, biết vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề
thực tiễn, vượt trội so với Chương trình 2006[11].
Chất lượng
dạy và học ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh có nhiều chuyển biến tích cực[12].
Đến năm học 2024- 2025, 100% học sinh từ lớp 3 đến lớp 12 học ngoại ngữ; kết
quả thi tốt nghiệp THPT môn tiếng Anh nhìn chung có nhiều tiến bộ tích cực. Học
sinh đạt nhiều thành tích cao tại các kỳ thi quốc gia, quốc tế; tỷ lệ đạt chuẩn
năng lực ngoại ngữ quốc tế ngày càng tăng.
Đối với môn
Tin học, tỉnh triển khai thí điểm chương trình theo chuẩn quốc tế, kết quả bước
đầu khả quan. Điểm trung bình môn Tin học tốt nghiệp THPT nhiều năm thuộc nhóm
cao của cả nước; trong 5 năm có 8.839 học sinh trung học phổ thông đạt chứng
chỉ MOS, số lượng học sinh đạt chứng chỉ MOS quốc tế tăng mạnh qua từng năm[13];
có nhiều học sinh đạt giải thưởng trong các kỳ thi Tin học cấp quốc gia, và 02
Huy chương Bạc khu vực và quốc tế.
Công tác
giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh được triển khai đồng bộ theo định hướng
đổi mới, với việc tích hợp nội dung đạo đức, pháp luật, kỹ năng sống trong
chương trình chính khóa, ngoại khóa, gắn với các phong trào rèn luyện, học tập
và làm theo tấm gương tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; các cơ sở chú
trọng xây dựng văn hóa học đường, tăng cường hoạt động trải nghiệm, giáo dục
truyền thống. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận học sinh thiếu ý thức tự rèn
luyện, chịu tác động tiêu cực từ mạng xã hội và tệ nạn.
Công tác văn
nghệ, thể dục thể thao và giáo dục Quốc phòng- An ninh[14] của ngành
Giáo dục đạt kết quả nổi bật: 100% cơ sở giáo dục dạy học giáo dục thể chất,
Giáo dục Quốc phòng- An ninh; phong trào, câu lạc bộ duy trì nền nếp; kết quả
tham gia Hội khỏe Phù Đổng đạt nhiều thành tích quốc gia. Bên cạnh đó, thiếu
hụt cơ sở vật chất, sân bãi, phòng học bộ môn còn phổ biến; một số trường vùng
khó khăn chưa có giáo viên chuyên trách thể dục thể thao, Giáo dục Quốc phòng-
An ninh.
2.2. Chất
lượng giáo dục mũi nhọn
Hệ thống
trường trọng điểm công lập được đầu tư phát triển đồng bộ, góp phần nâng cao
chất lượng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho địa phương. Mỗi huyện (cũ)
có ít nhất một trường trung học cơ sở và một trường trung học phổ thông được ưu
tiên về đội ngũ và cơ sở vật chất, trở thành mô hình điểm về chất lượng. Tại
khu vực Vĩnh Phúc và Phú Thọ trước sáp nhập, các trường trung học cơ sở chất
lượng cao là nguồn tuyển ổn định cho trường trung học phổ thông Chuyên. Hệ
thống gồm 3 Trường Trung học phổ thông Chuyên được quan tâm, phát triển theo
hướng tiên tiến, hội nhập khu vực và quốc tế.
Công tác bồi
dưỡng học sinh giỏi được quan tâm đặc biệt. Thành tích thi học sinh giỏi quốc
gia từng bước nâng lên cả về số lượng và chất lượng giải thưởng. Nhiều học sinh
đạt giải cao trong các kỳ thi quốc gia, khu vực và quốc tế đã khẳng định chất
lượng giáo dục mũi nhọn của tỉnh. Công tác phát hiện, bồi dưỡng học sinh năng
khiếu thể thao, văn nghệ được quan tâm và đạt kết quả cao[15].
3. Chất
lượng giáo dục thường xuyên
Giáo dục
thường xuyên chuyển biến thực chất; các Trung tâm Giáo dục thường xuyên, Giáo
dục nghề nghiệp- Giáo dục thường xuyên, trung tâm Kỹ thuật tổng hợp- Hướng
nghiệp đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát
triển phẩm chất, năng lực; xây dựng và sử dụng nguồn học liệu mở. Giáo dục
thường xuyên khẳng định vai trò là kênh học tập suốt đời, góp phần nâng dân trí
và bảo đảm cơ hội học tập cho mọi người. Kết quả giai đoạn 2021-2025: tốt
nghiệp trung học phổ thông hệ giáo dục thường xuyên ổn định 95,6-98,5%, cao hơn
bình quân cả nước[16].
4. Giáo dục
nghề nghiệp, giáo dục đại học
- Hệ thống
giáo dục nghề nghiệp tiếp tục được sắp xếp tinh gọn, hoạt động hiệu quả. Công
tác định hướng giáo dục nghề nghiệp và phân luồng học sinh sau trung học cơ sở
được quan tâm, với tỷ lệ học sinh học giáo dục nghề nghiệp tăng hằng năm. Mỗi
năm tỉnh có khoảng trên 20.000 học sinh, sinh viên tốt nghiệp, cung ứng cho thị
trường nguồn nhân lực đã qua đào tạo; trên 80% có việc làm.
- Giáo dục
đại học: Chất lượng giáo dục đại học từng bước được nâng lên, tiệm cận với xu
hướng phát triển của cả nước, đóng góp vào việc cung cấp nguồn nhân lực trình
độ cao cho thị trường lao động. Các cơ sở giáo dục đại học luôn chú trọng nâng
cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học, đồng thời gắn kết với doanh
nghiệp trong và ngoài tỉnh để thực hành, thực tập và cung cấp nguồn nhân lực
chất lượng. Hàng năm, hơn 85% học sinh, sinh viên tốt nghiệp có việc làm.
- Một số hạn
chế: Chương trình đào tạo giáo dục nghề nghiệp và cơ cấu ngành, nghề chưa bám
sát nhu cầu kinh tế- xã hội. Việc liên kết với doanh nghiệp còn hạn chế; nguồn
nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ mới.
5. Công tác phổ
cập giáo dục, xóa mù chữ; hướng nghiệp, phân luồng học sinh
Trước khi
hợp nhất, ba tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hòa Bình đạt nhiều kết quả quan trọng:
hoàn thành và vượt 4 mục tiêu xây dựng xã hội học tập theo kế hoạch của Ban chỉ
đạo[17]- toàn tỉnh đạt chuẩn phổ cập giáo
dục mầm non 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3, phổ cập giáo dục trung
học cơ sở mức độ 2, phổ cập giáo dục xóa mù chữ mức độ 2 (riêng Vĩnh Phúc trước
hợp nhất đạt phổ cập giáo dục trung học cơ sở mức độ 3)[18]. Hệ
thống Trung tâm học tập cộng đồng được duy trì, củng cố, góp phần giữ vững phổ
cập giáo dục, xóa mù chữ, xây dựng nông thôn mới, nâng cao nhận thức pháp luật,
phát triển kinh tế, giảm nghèo, củng cố khối đoàn kết, ổn định chính trị- xã
hội.
Tuy nhiên,
kết quả phổ cập giáo dục trung học cơ sở mức độ 2 ở một số đơn vị chưa bền vững
do điều kiện kinh tế khó khăn, còn tình trạng bỏ học, tỷ lệ thanh thiếu niên
hoàn thành chương trình trung học cơ sở thấp. Chỉ đạo triển khai nghiêm túc
Quyết định 522/QĐ-TTg (2018) về giáo dục hướng nghiệp và phân luồng[19] học sinh,
đạt nhiều kết quả tích cực: 100% trường trung học cơ sở, trung học phổ thông tổ
chức chương trình hướng nghiệp gắn với thực tiễn địa phương; hơn 5.000 cán bộ,
giáo viên được bồi dưỡng tư vấn hướng nghiệp, tỷ lệ giáo viên được đào tạo
chuyên sâu đạt 65-100%. Các hoạt động truyền thông, “Ngày hội tư vấn hướng
nghiệp” được đẩy mạnh; các Trung tâm giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp
- giáo dục thường xuyên liên kết với trường nghề, vừa dạy văn hóa vừa dạy nghề,
góp phần phân luồng học sinh sau trung học cơ sở.
6. Giáo dục
hòa nhập
Trong những
năm qua, giáo dục hòa nhập tỉnh Phú Thọ đã có nhiều tiến bộ: phần lớn học sinh
khuyết tật hoàn thành chương trình cá nhân. Hiện 100% trẻ có nhu cầu học tập
được bố trí học phù hợp. Tỷ lệ hoàn thành chương trình khoảng 70-75%, 25-30%
chưa hoàn thành do khuyết tật nặng, thiếu thiết bị và giáo viên chuyên biệt.
Năm học 2024-2025, tỉnh có 8.002 học sinh tiểu học (2,39%), 2.624 học sinh
trung học cơ sở (0,93%) và 625 học sinh trung học phổ thông (0,53%) học hòa
nhập; 122 học sinh học tại trường chuyên biệt và 584 học sinh được hỗ trợ tại
trung tâm ngoài trường. Tuy nhiên, chỉ mới có một trường giáo dục chuyên biệt
công lập và mạng lưới trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập (100% tư
thục) phân bố chưa đồng đều (Phú Thọ 13 trung tâm, Vĩnh Phúc 05 trung tâm và 16
cơ sở trực thuộc, Hòa Bình trẻ khuyết tật được các cơ sở bảo trợ xã hội - nuôi dưỡng
kết hợp giáo dục hỗ trợ).
7. Công tác
khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập
Phong trào
khuyến học, khuyến tài ở ba tỉnh Hòa Bình, Vĩnh Phúc, Phú Thọ trước hợp nhất đã
phát triển mạnh mẽ, huy động được nguồn lực xã hội lớn, tạo sức lan tỏa sâu
rộng trong cộng đồng. Tại Hòa Bình, Quỹ khuyến học huy động trên 45 tỷ
đồng/năm; hằng năm trao khoảng 160 nghìn suất học bổng, phần thưởng cho học
sinh nghèo, học sinh giỏi và gần 1.400 suất cho giáo viên, với tổng kinh phí
trên 26 tỷ đồng; riêng 5 năm qua đã chi hơn 500 suất học bổng, phần thưởng, hỗ
trợ cho các điển hình khuyến học với 2,5 tỷ đồng. Ở Vĩnh Phúc, Quỹ khuyến học,
khuyến tài cấp tỉnh đạt trên 40 tỷ đồng (chi trên 5 tỷ cho hỗ trợ học tập, xây dựng
xã hội học tập); cấp huyện, xã đạt trên 60 tỷ đồng (chi trên 20 tỷ). Tại Phú
Thọ, Quỹ khuyến học, khuyến tài đã huy động trên 35 tỷ đồng; chương trình “Chắp
cánh ước mơ- vinh danh khuyến học, khuyến tài Đất Tổ” trở thành điểm nhấn hằng
năm, với 1.518.921 lượt học sinh, sinh viên, giáo viên, huấn luyện viên, cán bộ
khuyến học được khen thưởng; trao 1.500 suất học bổng 1+n trị giá 3,750 triệu
đồng, tổng kinh phí khen thưởng và học bổng đạt 12,935 triệu đồng. Phong trào
khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập đã lan tỏa từ gia đình, dòng họ
đến cộng đồng, gắn với mô hình “gia đình học tập- dòng họ học tập-cộng đồng học
tập- đơn vị học tập”. Riêng năm 2024, toàn tỉnh có 1.393 đơn vị được công nhận
đơn vị học tập, trong đó 107 đơn vị cấp tỉnh, 1.286 đơn vị cấp huyện.
8. Công tác
xã hội hóa giáo dục
Giai đoạn
2020-2025, tỉnh Phú Thọ đã huy động được 10.857.833 triệu đồng từ các nguồn
ngoài ngân sách (chiếm 12,5%), trong đó xã hội hóa đạt 3.912.664 triệu đồng,
học phí và dịch vụ giáo dục đạt 2.043.821 triệu đồng, tài trợ khác 4.901.348
triệu đồng. Toàn tỉnh hiện có 57 cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập (tỷ lệ
8,1%); 21 cơ sở giáo dục phổ thông ngoài công lập (tỷ lệ 1,8%); trẻ em ngoài
công lập 31.018/205.473 (tỷ lệ 15,1%); học sinh phổ thông ngoài công lập 18.861/724.652
(tỷ lệ 2,6%). Ở lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học, học viên tại
cơ sở giáo dục nghề nghiệp ngoài công lập chiếm 30,2%, sinh viên đại học ngoài
công lập chiếm 5,9%. So với Quyết định 1705/QĐ-TTg (2024), tỉnh còn cách xa mục
tiêu về tỷ lệ cơ sở giáo dục tư thục (5%) và số học sinh tư thục (5,5%) trong
giáo dục phổ thông. Tuy nhiên, các chính sách xã hội hóa đã tạo thêm nguồn lực,
góp phần đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng, mở rộng cơ hội học tập.
Hạn chế là quy mô còn nhỏ, tập trung ở đô thị, thiếu trường tư thục chất lượng
cao.
V.
CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC
Trong giai
đoạn 2020- 2025, ba tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ và Hòa Bình đã triển khai nhiều
chính sách phù hợp với điều kiện thực tiễn, qua đó góp phần nâng cao chất lượng
giáo dục và đào tạo, tạo nền tảng cho phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
1. Chính
sách phát triển giáo dục mũi nhọn
Vĩnh Phúc
trước hợp nhất là địa phương triển khai chính sách khuyến tài bài bản, đồng bộ
và có hiệu quả rõ nét. Nghị quyết 53/2017/NQ-HĐND và Nghị quyết 40/2019/NQ-HĐND
quy định mức thưởng cao, minh bạch cho học sinh giỏi và giáo viên có thành
tích, thúc đẩy phong trào thi đua dạy- học. Nghị quyết 17/2021/NQ-HĐND hỗ trợ
toàn diện cho Trường Trung học phổ thông Chuyên đã góp phần giữ vững vị thế
hàng đầu quốc gia về giáo dục mũi nhọn. Hòa Bình mới triển khai chính sách
tương tự (Nghị quyết 166/2022/NQ-HĐND), song còn hạn chế về phạm vi và mức hỗ
trợ, tác động chưa sâu. Phú Thọ chưa có chính sách riêng cho trường chuyên, chủ
yếu lồng ghép trong Nghị quyết 14/2021/NQ- HĐND, chưa đáp ứng yêu cầu phát
triển giáo dục mũi nhọn trong bối cảnh mới.
2. Chính
sách tài chính giáo dục và công bằng tiếp cận dịch vụ
Ba tỉnh
trước hợp nhất đều đã ban hành chính sách quy định về các khoản thu dịch vụ
giáo dục (Vĩnh Phúc -Nghị quyết 06/2022/NQ-HĐND, Hòa Bình- Nghị quyết
164/2022/NQ-HĐND, Phú Thọ- Nghị quyết 14/2021/NQ-HĐND), góp phần minh bạch hóa
tài chính và tăng cường điều kiện tổ chức giáo dục. Tuy nhiên, còn tồn tại sự
khác biệt về danh mục thu, mức thu, cơ chế quản lý và chính sách hỗ trợ học
sinh yếu thế.
3. Chính
sách hỗ trợ đội ngũ nhà giáo và hoạt động chuyên môn
Hòa Bình
trước hợp nhất là địa phương duy nhất ban hành chính sách hỗ trợ giáo viên ôn
thi tốt nghiệp THPT (Nghị quyết 539/2025/NQ-HĐND), góp phần bảo đảm quyền lợi
cho giáo viên, minh bạch hoạt động ôn tập và hạn chế dạy thêm tự phát. Vĩnh
Phúc và Phú Thọ chưa có cơ chế tương tự; việc ôn thi do nhà trường tổ chức miễn
phí, dẫn đến khó khăn trong huy động nguồn lực, ảnh hưởng đến chất lượng ôn tập
và tạo ra sự chênh lệch giữa các đơn vị.
4. Chính
sách hợp tác quốc tế và hỗ trợ lưu học sinh
Phú Thọ (Nghị
quyết 05/2021/NQ-HĐND); Vĩnh Phúc (Nghị quyết 23/2022/NQ-HĐND) có chính sách hỗ
trợ lưu học sinh Lào. Tỉnh Vĩnh Phúc hỗ trợ toàn diện, bao gồm học phí, sinh
hoạt phí, bảo hiểm, quà tặng và chi phí đi lại; tỉnh Phú Thọ chỉ hỗ trợ cơ bản.
Chính sách hỗ trợ giúp ổn định đời sống và học tập, nâng cao hiệu quả hợp tác
quốc tế, góp phần quảng bá hình ảnh tỉnh.
5. Chính
sách xã hội hóa và phát triển cơ sở vật chất
Các tỉnh
trước hợp nhất đã ban hành nhiều kế hoạch, nghị quyết hỗ trợ đầu tư cơ sở vật
chất, tăng cường xã hội hóa và phát triển giáo dục nghề nghiệp (ví dụ: Nghị
quyết 14/2021/NQ-HĐND, 26/2021/NQ-HĐND của Phú Thọ; Nghị quyết 12/2022/NQ-HĐND
của Vĩnh Phúc). Các chính sách này đã nâng cao năng lực đầu tư, cải thiện cơ sở
vật chất và mở rộng cơ hội học nghề, đồng thời khai thác hiệu quả nguồn lực xã
hội, giảm gánh nặng tài chính cho Nhà nước. Tuy nhiên, cơ chế huy động nguồn
lực chưa đồng bộ, dẫn đến hiệu quả sử dụng chưa cao và phân bổ nguồn lực chưa
hợp lý, đặc biệt ở vùng khó khăn, hạn chế phát triển bền vững của ngành.
VI.
ĐÁNH GIÁ CHUNG
1.
Những thuận lợi, kết quả nổi bật
- Sự quan
tâm, lãnh chỉ đạo sâu sát của cấp ủy, chính quyền: Tỉnh ủy, Hội đồng nhân
dân, Ủy ban nhân dân, các tỉnh luôn xác định giáo dục là trụ cột trong chiến
lược phát triển con người. Nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, đồng bộ đã được
ban hành, tạo hành lang pháp lý để ngành Giáo dục triển khai các nhiệm vụ trong
giai đoạn mới.
- Năng
lực điều hành, tham mưu và phối hợp của ngành có sự đổi mới, sâu sát. Ngành
Giáo dục chủ động bám sát định hướng của cấp ủy, phối hợp chặt chẽ với các sở,
ban, ngành và chính quyền địa phương trong công tác quy hoạch mạng lưới, huy
động nguồn lực đầu tư, phát triển đội ngũ, bảo đảm gắn kết chặt chẽ giữa quản
lý nhà nước và thực tiễn giáo dục cơ sở.
- Quy mô
và mạng lưới các cơ sở giáo dục được mở rộng theo hướng đa dạng, toàn diện,
hiện có đầy đủ các cấp học, loại hình giáo dục: từ mầm non đến trung học, giáo
dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên; các mô hình giáo dục chất lượng cao,
trường chuyên, trường bán trú, nội trú được duy trì và phát triển.
- Chất
lượng giáo dục tiếp tục giữ vững vị thế và có nhiều chuyển biến tích cực:
Kết quả thi tốt nghiệp trung học cơ sở, học sinh giỏi quốc gia, quốc tế đều
khẳng định vai trò dẫn đầu khu vực, cả nước của Phú Thọ và Vĩnh Phúc trước hợp
nhất. Việc ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra
đánh giá, thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục được triển khai đồng bộ và
thực chất. Phổ cập giáo dục, phân luồng sau trung học cơ sở, trung học phổ
thông đạt hiệu quả rõ rệt, giúp điều tiết hợp lý giữa các cấp học và nhu cầu
thị trường lao động.
- Có sự
hội tụ và cộng hưởng giữa thế mạnh của ba địa phương. Giáo dục đại trà,
giáo dục mũi nhọn và giáo dục nghề nghiệp được bổ trợ lẫn nhau, tạo điều kiện
tái cấu trúc hệ thống giáo dục theo hướng linh hoạt, đồng bộ, hiệu quả hơn. Kỷ
cương trường học được củng cố; đổi mới quản trị, nâng cao chất lượng đội ngũ và
năng lực tự chủ các cơ sở giáo dục được chú trọng.
- Lợi thế
về vị trí địa lý, hạ tầng kết nối và tiềm lực phát triển mở ra cơ hội mới.
Tỉnh Phú Thọ sau hợp nhất nằm ở trung tâm kết nối các vùng Trung du và Miền núi
phía Bắc và Thủ đô Hà Nội, có nhiều điều kiện để hình thành các cụm trường,
trung tâm giáo dục nghề nghiệp, giáo dục chất lượng cao, mở rộng liên kết vùng
và hợp tác quốc tế.
2.
Một số hạn chế, thách thức chủ yếu
- Quy
hoạch mạng lưới trường học chưa đồng đều giữa các vùng: vùng khó khăn còn
nhiều điểm trường lẻ, nhỏ, lớp ghép, gây tốn kém nguồn lực và khó khăn trong
quản trị; trong khi đó tại đô thị, tình trạng quá tải lớp học diễn ra phổ biến;
nhiều khu vực vùng sâu, vùng dân tộc thiểu số còn manh mún, thiếu quy hoạch
tổng thể, chỉ có một trường chuyên biệt. Mạng lưới giáo dục nghề nghiệp còn dàn
trải.
- Nguồn
lực tài chính còn hạn chế: xã hội hóa chưa hiệu quả; thu hút đầu tư ngoài
ngân sách còn thấp, nhất là ở nông thôn, miền núi. Việc bố trí ngân sách còn
dàn trải, thiếu cơ chế khuyến khích phát triển giáo dục tại các khu vực đặc
thù.
- Cơ sở
vật chất và trang thiết bị dạy học nhiều nơi chưa đạt chuẩn: nhiều trường ở
vùng sâu, vùng xa chưa bảo đảm diện tích đất, thiếu phòng chức năng, phòng học
bộ môn và thiết bị tối thiểu cho chương trình mới; cơ sở vật chất xuống cấp,
việc bảo trì, nâng cấp còn chậm và thiếu đồng bộ.
- Đội ngũ
giáo viên còn thiếu, chưa cân đối cơ cấu bộ môn, chưa theo kịp yêu cầu đổi mới:
thiếu giáo viên các môn tích hợp, chuyên biệt (Ngoại ngữ, Tin học, Âm nhạc, Mỹ
thuật...).
- Chất
lượng giáo dục giữa các vùng chưa đồng đều: ở các xã miền núi, vùng khó
khăn, kết quả học tập còn thấp; chất lượng dạy và học ngoại ngữ, Tin học chưa
đáp ứng yêu cầu, làm gia tăng khoảng cách so với thành thị.
- Khoảng
cách phát triển kinh tế- xã hội và chất lượng giáo dục giữa các vùng, miền còn
lớn: đó là rào cản trong bảo đảm quyền học tập công bằng và làm gia tăng
chênh lệch về dân trí, nguồn nhân lực.
- Chuyển
đổi số trong giáo dục còn chậm: hạ tầng số chưa đáp ứng yêu cầu; nền tảng,
cơ sở dữ liệu ngành Giáo dục chưa được đồng bộ, liên thông; kiến thức và năng
lực số của đội ngũ giáo viên chưa còn hạn chế; việc ứng dụng các hệ sinh thái
giáo dục thông minh, phần mềm quản trị nhà trường trong công tác quản lí, quản
trị, tổ chức dạy, học tại các cơ sở giáo dục còn hạn chế.
3.
Nguyên nhân kết quả đạt được và tồn tại, hạn chế
3.1. Nguyên
nhân của những kết quả đạt được
- Sự quan
tâm, chỉ đạo sâu sát của các cấp ủy, chính quyền; Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân,
Ủy ban nhân dân, ba tỉnh trước hợp nhất đã cụ thể hóa thành nhiều nghị quyết,
đề án, chính sách đầu tư cho giáo dục, tạo hành lang pháp lý và động lực đổi
mới.
- Sự vào
cuộc của cả hệ thống chính trị; chính quyền các cấp, đoàn thể, tổ chức xã hội
quan tâm chăm lo sự nghiệp giáo dục; sự đồng hành của phụ huynh, nhân dân tạo
nền tảng bền vững cho xã hội học tập.
- Ngành Giáo
dục chủ động, sáng tạo; thực hiện tốt vai trò tham mưu, đổi mới quản lý, sắp
xếp mạng lưới trường lớp cơ bản hợp lý, triển khai đồng bộ các chương trình, kế
hoạch của Trung ương và địa phương; đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân
viên và học sinh thi đua dạy tốt- học tốt, tạo nên nhiều kết quả nổi bật.
- Tốc độ
tăng trưởng kinh tế của cả ba tỉnh trước hợp nhất ở mức khá, ngân sách dành cho
giáo dục được bố trí kịp thời; cơ sở vật chất trường học được tăng cường, nhiều
trường trọng điểm, trường chuyên được đầu tư đồng bộ; xã hội hóa giáo dục có
chuyển biến tích cực.
3.2. Nguyên
nhân tồn tại, hạn chế
a) Nguyên
nhân khách quan
- Điều kiện
địa lý- xã hội khác biệt; sau hợp nhất, tỉnh có diện tích rộng (9.361 km²), dân
số trên 4 triệu người với 34 dân tộc[20], khó khăn trong quy hoạch trường
lớp, phân bổ giáo viên, bảo đảm công bằng giáo dục.
- Giáo dục
còn chênh lệch vùng miền, hạ tầng hạn chế; khoảng cách giữa đô thị, đồng bằng
với miền núi, vùng sâu, vùng xa còn lớn. Ở miền núi, việc sáp nhập trường, xóa
điểm lẻ khó khăn; trong khi tại các khu công nghiệp, dân số học đường tăng
nhanh nhưng thiếu đất, cơ sở vật chất và giáo viên, khiến sĩ số lớp vượt quy
định.
- Công
nghiệp hóa, đô thị hóa và phát triển khu công nghiệp tạo áp lực về nhân lực
chất lượng cao, trong khi giáo dục nghề nghiệp chưa đáp ứng; năng lực công
nghệ, tài chính, chính sách của địa phương còn hạn chế trước yêu cầu mới.
b) Nguyên
nhân chủ quan
- Một số cấp
ủy, chính quyền cơ sở chưa quán triệt đầy đủ quan điểm “Giáo dục và đào tạo là
quốc sách hàng đầu”; đầu tư còn hình thức. Quy hoạch mạng lưới thiếu đồng bộ,
sắp xếp manh mún, kéo dài; quỹ đất cho giáo dục chưa được bảo đảm kịp thời.
- Đầu tư cơ
sở vật chất, thiết bị và hoạt động giáo dục còn hạn chế, thiếu trọng điểm;
chính sách xã hội hóa chưa hấp dẫn, nhà đầu tư khó tiếp cận ưu đãi, thiếu mô
hình hợp tác phù hợp. Chính sách thu hút nhân lực sư phạm chưa cạnh tranh, chưa
gắn với lộ trình nâng chuẩn.
- Công tác
tham mưu, phối hợp giữa các cơ quan, địa phương, đơn vị chưa hiệu quả; việc
tháo gỡ vướng mắc trong phát triển trường ngoài công lập, phân luồng và gắn kết
giáo dục nghề nghiệp với thị trường lao động còn chậm; trách nhiệm giải trình
và cơ chế kiểm tra, đánh giá theo kết quả chưa rõ.
- Một bộ
phận đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý còn hạn chế về năng lực chuyên môn, quản
trị hiện đại, công nghệ thông tin, ngoại ngữ; chưa mạnh dạn đổi mới. Còn tình
trạng thiếu giáo viên (nhất là mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, các môn Tin
học, ngoại ngữ, nghệ thuật).
Phần
thứ ba
MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
I.
DỰ BÁO TÌNH HÌNH
Trong bối
cảnh cách mạng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo tái định hình giáo dục toàn
cầu, Việt Nam hội nhập sâu rộng với cạnh tranh và chuyển dịch mạnh của thị
trường lao động, nhu cầu nhân lực chất lượng cao ngày càng lớn. Quán triệt Nghị
quyết 71-NQ/BCT, tỉnh Phú Thọ xác định giáo dục là động lực then chốt, tập
trung hoàn thiện thể chế, quy hoạch, tái cấu trúc mạng lưới gắn với phát triển
kinh tế- xã hội, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và tận dụng lợi thế
sau hợp nhất để tạo không gian phát triển đồng bộ, hiện đại làm nền tảng triển
khai Đề án “Phát triển giáo dục và đào tạo tỉnh Phú Thọ đến năm 2030, tầm nhìn
đến năm 2045”. Tỉnh Phú Thọ đang đối mặt nhiều thách thức: biến động quy mô học
sinh theo chu kỳ dân số; dịch chuyển dân cư tại các khu, cụm công nghiệp gây áp
lực về trường lớp, cơ sở vật chất và đội ngũ; chênh lệch vùng miền, dân tộc,
điều kiện kinh tế- xã hội ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục. Mặc dù đã đạt kết
quả sau hợp nhất, tỉnh vẫn cần tư duy chiến lược, đổi mới, đột phá theo tinh
thần Nghị quyết 71-NQ/BCT; tổ chức hệ thống tinh gọn, hiệu quả; phát triển đội
ngũ đạt chuẩn; thúc đẩy chuyển đổi số, mô hình giáo dục mở; bảo đảm công bằng,
cơ hội học tập suốt đời và nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.
II.
QUAN ĐIỂM
1. Phát
triển giáo dục và đào tạo của tỉnh phải bám sát các quan điểm tại Nghị quyết số
71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào
tạo; bảo đảm thống nhất nhận thức và hành động trong toàn hệ thống chính trị.
Đổi mới giáo dục có lộ trình, phù hợp mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
2. Tập trung
nâng cao chất lượng dạy học thực chất, khắc phục bệnh thành tích; chú trọng
phát triển toàn diện phẩm chất, năng lực, kỹ năng sống và ý thức công dân cho
người học. Đổi mới từng bước, có trọng tâm; nâng cao chất lượng đại trà, đồng
thời phát triển hợp lý giáo dục mũi nhọn ở nơi có điều kiện.
3. Phát
triển giáo dục phù hợp điều kiện kinh tế - xã hội của từng khu vực, trong đó
khu vực có điều kiện phát triển nhanh nâng cao chất lượng, đa dạng mô hình giáo
dục; khu vực miền núi, khó khăn ưu tiên bảo đảm điều kiện học tập tối thiểu, chính
sách hỗ trợ nhà giáo, học sinh. Thu hẹp chênh lệch chất lượng giáo dục giữa các
vùng miền theo lộ trình gắn liền với bảo đảm các nguồn lực.
4. Quy
hoạch, sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục theo hướng tinh gọn, hiệu quả, bao
trùm, có lộ trình; giảm điểm trường phù hợp thực tiễn. Đổi mới quản trị giáo
dục theo hướng tăng tính chủ động cho cơ sở, gắn với kiểm soát rủi ro, trách
nhiệm giải trình, bảo đảm ổn định hệ thống.
5. Mở rộng
hợp tác, liên kết giáo dục theo hướng lựa chọn, phù hợp điều kiện, tiếp thu có
chọn lọc kinh nghiệm tiên tiến; duy trì và nâng cao chất lượng và vị thế giáo
dục của tỉnh Phú Thọ trong vùng và cả nước.
III.
MỤC TIÊU
1. Mục tiêu
tổng quát
Phát triển
giáo dục và đào tạo tỉnh Phú Thọ theo hướng đồng bộ, chất lượng, hiệu quả và
bền vững, bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục, phù hợp với điều kiện kinh
tế - xã hội. Quy hoạch, sắp xếp cơ sở giáo dục theo hướng tinh gọn, hiệu quả;
nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; đẩy mạnh
chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ, nâng cao năng lực ngoại ngữ; lấy
chất lượng giáo dục thực chất và kết quả đầu ra của người học làm tiêu chí đánh
giá chủ yếu. Đến năm 2030, chất lượng giáo dục đại trà và mũi nhọn tỉnh Phú Thọ
nằm trong nhóm các địa phương dẫn đầu cả nước; khẳng định vai trò trung tâm
giáo dục, đào tạo của vùng Trung du và miền núi phía Bắc; tầm nhìn đến năm
2045, chất lượng giáo dục và đào tạo tiệm cận trình độ tiên tiến của khu vực và
quốc tế.
2. Mục tiêu
cụ thể
2.1. Đến năm
2030[21]
a) Giáo dục
mầm non
- Tỷ lệ huy
động trẻ đến trường đạt 42% đối với trẻ nhà trẻ, 99% đối với trẻ mẫu giáo; 100%
trẻ em 5 tuổi ra lớp, tiếp tục duy trì, củng cố và nâng cao chất lượng phổ cập
giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ
từ 3-5 tuổi.
- Phấn đấu
99,5% trẻ em mầm non được học 2 buổi/ngày, nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm
sóc và giáo dục, bảo đảm trẻ em được phát triển toàn diện về thể chất, tình
cảm, trí tuệ, thẩm mỹ; hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách và chuẩn
bị tốt các điều kiện sẵn sàng vào học lớp 1. 100% số cơ sở giáo dục mầm non tại
vùng thuận lợi, bảo đảm điều kiện triển khai thực hiện cho trẻ em được làm quen
với tiếng Anh.
- Xây dựng
đội ngũ giáo viên mầm non đủ về số lượng, chuẩn hóa về trình độ, trong đó 100%
giáo viên đạt chuẩn đào tạo theo quy định của Luật Giáo dục, ít nhất 90% giáo
viên đạt trình độ trên chuẩn.
- Phát triển
hợp lý cơ sở mầm non ngoài công lập, phấn đấu tỷ lệ trường mầm non dân lập, tư
thục đạt 30%, số trẻ em theo học tại các cơ sở ngoài công lập đạt 35%, góp phần
huy động nguồn lực xã hội cho phát triển giáo dục.
- Từng bước
chuẩn hóa cơ sở vật chất, bảo đảm 100% phòng học kiên cố, 95% trở lên trường
đạt chuẩn quốc gia.
b) Giáo dục
phổ thông
- Bảo đảm
100% trẻ em 6 tuổi vào lớp 1; duy trì tỷ lệ học sinh đi học đúng độ tuổi đạt
tối thiểu 99,5% ở tiểu học và 98% ở trung học cơ sở; tỷ lệ chuyển cấp từ tiểu
học lên trung học cơ sở đạt 99,5%, từ trung học cơ sở lên trung học phổ thông
và các trình độ khác đạt 95%, trong đó ít nhất 14% học sinh sau trung học cơ sở
học chương trình trung học nghề. Phấn đấu 60% trở lên học sinh tốt nghiệp trung
học phổ thông vào học đại học. Chỉ số giáo dục đóng góp vào chỉ số phát triển
con người (HDI) đạt trên 0,8, trong đó chỉ số bất bình đẳng giáo dục giảm xuống
dưới 10%.
- 100% học
sinh tiểu học học 2 buổi/ngày, ít nhất 70% học sinh trung học cơ sở và trung
học phổ thông học 2 buổi/ngày; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT đạt từ 99,8% trở
lên, có học sinh đạt giải quốc gia, khu vực và quốc tế. Duy trì phổ cập giáo
dục tiểu học mức độ 3, phấn đấu phổ cập giáo dục trung học cơ sở đạt mức độ 3.
- Từng bước
đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, nâng cao năng lực sử
dụng tiếng Anh cho người học theo lộ trình phù hợp; trước hết triển khai tại
khu vực đô thị, khu công nghiệp và cơ sở giáo dục có điều kiện. Bảo đảm 100%
học sinh phổ thông được học tiếng Anh theo chương trình quy định, học sinh tốt
nghiệp trung học phổ thông có khả năng giao tiếp đạt trình độ Bậc 3 của Khung
năng lực ngoại ngữ 6 bậc dành cho Việt Nam; ít nhất 95% giáo viên tiếng Anh đạt
chuẩn theo khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dành cho Việt Nam, trong đó phấn đấu 30-35%
đạt chuẩn quốc tế theo Khung tham chiếu ngôn ngữ chung châu Âu. Xây dựng 55
trường dạy song ngữ (trung học phổ thông: 30 trường; trung học cơ sở: 15
trường; tiểu học: 10 trường).
- Phát triển
đội ngũ giáo viên phổ thông 100% đạt chuẩn trình độ đào tạo, trong đó ít nhất
35% giáo viên đạt trình độ trên chuẩn; 100% cán bộ quản lý giáo dục được bồi
dưỡng đạt chuẩn năng lực quản lý, trong đó trên 50% được bồi dưỡng quản trị nhà
trường hiện đại; 100% cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên được bồi dưỡng kỹ
năng số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo.
- Thành lập
01 trường trung học phổ thông công lập tại khu vực Việt Trì (cũ); phấn đấu số
cơ sở giáo dục phổ thông tư thục đạt 5%, số học sinh theo học tại các cơ sở này
đạt 5,5%; thu hút từ 1- 2 trường ngoài công lập chất lượng cao ở mỗi vùng (Phú
Thọ, Hòa Bình, Vĩnh Phúc trước hợp nhất); thu hút trường liên cấp đạt chuẩn
quốc tế, từ 01 đến 02 khu hoạt động trải nghiệm hiện đại.
- Xây dựng
các trường THPT chuyên: Vĩnh Phúc, Hùng Vương, Hoàng Văn Thụ thành các trường
trọng điểm chất lượng cao của tỉnh và cả nước theo hướng đạt chuẩn tiên tiến
khu vực, tiệm cận tiêu chuẩn quốc tế; là trung tâm nghiên cứu khoa học, đổi mới
sáng tạo và bồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh năng khiếu. Phát triển các cơ sở
giáo dục phổ thông chất lượng cao tại địa bàn có điều kiện; mỗi khu vực kinh tế
trọng điểm có ít nhất 01 cơ sở giáo dục phổ thông chất lượng cao, đồng bộ về hạ
tầng, hiện đại về trang thiết bị.
- Mở rộng
tiếp cận công bằng trong giáo dục, bảo đảm mọi người học, đặc biệt là trẻ em
khuyết tật và đối tượng yếu thế được học tập trong môi trường phù hợp, chất
lượng và an toàn. Phát triển Trường Giáo dục chuyên biệt Phú Thọ theo mô hình
liên cấp đến trung học phổ thông, đáp ứng nhu cầu học tập liên tục, ổn định và
định hướng nghề nghiệp; đồng thời thành lập 01 Trung tâm Hỗ trợ phát triển giáo
dục hòa nhập công lập cấp tỉnh thực hiện chức năng tư vấn, đánh giá, can thiệp
sớm và hỗ trợ chuyên môn cho các cơ sở giáo dục trong triển khai giáo dục hòa
nhập. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị chuyên dụng; phát triển
đội ngũ giáo viên giáo dục đặc biệt, nhân viên hỗ trợ; đẩy mạnh phối hợp liên
ngành nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục hòa nhập trên địa bàn tỉnh.
- Bảo đảm
100% phòng học được kiên cố; ít nhất 70% cơ sở giáo dục phổ thông được trang bị
phòng học, thiết bị dạy học số, hình thành kho học liệu số dùng chung; 100% cơ
sở giáo dục sử dụng hệ thống quản lý và hồ sơ điện tử; tỷ lệ trường học các cấp
đạt chuẩn quốc gia đạt trên 95%, trong đó ít nhất 30% đạt chuẩn mức độ 2.
c) Giáo dục
thường xuyên: 100% học viên học chương trình giáo dục thường xuyên được
học môn Tiếng Anh theo chương trình giáo dục phổ thông; Phấn đấu tỷ lệ người
biết chữ mức độ 1 trong độ tuổi 15- 60 đạt 99,15%, trong đó ở vùng đặc biệt khó
khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đạt 98,85%; duy trì vững chắc chuẩn xóa mù
chữ mức độ 2.
d) Giáo dục
nghề nghiệp và giáo dục đại học
- Mạng lưới
cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp được sắp xếp hợp lý và tăng cường
đầu tư nâng cấp; phấn đấu 100% cơ sở giáo dục đại học và ít nhất 80% cơ sở giáo
dục nghề nghiệp do tỉnh quản lý đạt chuẩn quốc gia, 20% cơ sở được đầu tư hiện
đại tương đương các nước phát triển ở châu Á. Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có
việc làm đạt trên 90%, người trong độ tuổi theo học các trình độ sau trung học
phổ thông đạt 50%. Tỷ lệ người lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên
đạt 24%; người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật và công nghệ đạt ít nhất
35%. Nâng tầm các cơ sở giáo dục đại học thực sự trở thành các trung tâm nghiên
cứu, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp của quốc gia và của các vùng.
- Bảo đảm
100% giáo viên đạt chuẩn trình độ đào tạo theo Luật Giáo dục nghề nghiệp, trong
đó ít nhất 40% giảng viên có trình độ thạc sĩ trở lên; tỷ lệ giảng viên đại học
có trình độ tiến sĩ đạt ít nhất 35%, có tối thiểu 10 phó giáo sư; ít nhất 90%
sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp.
- Hình thành
03 cơ sở giáo dục nghề nghiệp trọng điểm tại các khu vực Vĩnh Phúc, Phú Thọ và
Hòa Bình (cũ), trong đó có tối thiểu 01 trường cao đẳng nghề đạt tiêu chí
trường cao đẳng nghề trọng điểm quốc gia. Phấn đấu hình thành khu, làng đại học
gắn với đô thị tại khu vực Vĩnh Yên theo quy hoạch, thu hút các cơ sở giáo dục
đại học và doanh nghiệp có uy tín tham gia đầu tư.
2.2. Mục
tiêu đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045
- Đến năm
2035:
Hệ thống giáo dục và đào tạo của tỉnh phát triển đồng bộ, toàn diện, tiếp tục
được hiện đại hóa, công bằng, đa dạng loại hình, từng bước hội nhập quốc tế.
Hoàn thành phổ cập trung học phổ thông và tương đương, nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực, đóng góp tích cực vào chỉ số phát triển con người (HDI) của
tỉnh và đạt trên 0,85; khẳng định vai trò trung tâm giáo dục và đào tạo của
vùng Trung du và miền núi phía Bắc, thuộc nhóm đứng đầu cả nước về chất lượng
giáo dục. 85% trở lên cơ sở giáo dục nghề nghiệp đạt chuẩn quốc gia; 02 trường
chuyên tiệm cận quốc tế; 20% số trường phổ thông đạt trình độ tiên tiến khu vực
châu Á; xây dựng Trường Đại học Hùng Vương thành Đại học Hùng Vương.
Các chỉ tiêu
chủ yếu:
100% giáo viên đạt chuẩn, trong đó mầm non ít nhất 95% trên chuẩn, phổ thông ít
nhất 40% trên chuẩn; 100% trường công lập đạt chuẩn quốc gia, trong đó trên 40%
đạt mức độ 2; trên 99,5% trẻ mầm non học 2 buổi/ngày; ít nhất 95% học sinh sau
trung học cơ sở tiếp tục học trung học phổ thông hoặc tương đương; ít nhất 65%
học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông vào đại học; 100% cơ sở giáo dục nghề
nghiệp đạt kiểm định chất lượng và liên kết doanh nghiệp; hoàn thành phổ cập
trung học phổ thông và tương đương.
- Tầm nhìn
đến năm 2045: Hệ thống giáo dục và đào tạo của tỉnh hiện đại, công bằng
và chất lượng, tiệm cận trình độ tiên tiến của khu vực và quốc tế, có vị thế
thuộc nhóm địa phương dẫn đầu cả nước. Chỉ số giáo dục đóng góp vào chỉ số phát
triển con người (HDI) đạt trên 0,9. Có 03 trường chuyên tiệm cận quốc tế; 30%
số trường phổ thông đạt trình độ tiên tiến khu vực châu Á; 100% cơ sở giáo dục
nghề nghiệp công lập đạt chuẩn quốc gia; Tiếng Anh được phổ biến như ngôn ngữ
thứ hai. Mọi người dân có cơ hội học tập suốt đời, nâng cao trình độ, kỹ năng
và phát triển tối đa tiềm năng cá nhân. Nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài
khoa học, công nghệ trở thành động lực và lợi thế cạnh tranh của tỉnh.
IV.
NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP VÀ CÁC KHÂU ĐỘT PHÁ
1.
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy và hành động,
xác định quyết tâm chính trị mạnh mẽ để đột phá phát triển giáo dục và đào tạo
- Quán triệt
đầy đủ, sâu sắc trong cả hệ thống chính trị và toàn xã hội các quan điểm, chủ
trương của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và đào tạo. Triển khai hiệu
quả các giải pháp tại Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị
về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; khẳng định nhất quán giáo dục và đào
tạo là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển bền
vững.
- Tiếp tục
đổi mới mạnh mẽ tư duy trong lãnh đạo, chỉ đạo; chuyển mạnh từ quản lý hành
chính sang kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại, hành động quyết liệt. Đặt
phát triển giáo dục và đào tạo trong tư duy quản trị quốc gia, quản trị xã hội
bảo đảm định hướng, quy hoạch, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; đưa các
mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển giáo dục và đào tạo thành một trọng
tâm trong chiến lược, quy hoạch, chính sách, chương trình, kế hoạch phát triển
trên các lĩnh vực và ưu tiên bố trí nguồn lực thực hiện.
- Tăng cường
vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của tổ chức đảng, nhất là vai trò người
đứng đầu cấp uỷ trong các cơ sở giáo dục. Không tổ chức hội đồng trường trong
các cơ sở giáo dục công lập (trừ các trường công lập có thỏa thuận quốc tế).
Thực hiện bí thư cấp uỷ kiêm người đứng đầu cơ sở giáo dục. Chú trọng xây dựng,
củng cố tổ chức đảng và các đoàn thể trong các trường học, kể cả các cơ sở giáo
dục tư thục.
- Phát huy
vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng
xã hội học tập, giám sát, phản biện và huy động nguồn lực cho giáo dục; tăng
cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, củng cố đồng thuận xã
hội, tạo nền tảng vững chắc cho phát triển giáo dục và đào tạo.
2.
Đột phá về cơ chế, chính sách đặc thù cho giáo dục và đào tạo
- Nâng cao
chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng và thực thi pháp luật; thúc đẩy đổi mới
sáng tạo và kiến tạo phát triển giáo dục và đào tạo. Đẩy mạnh phân cấp, phân
quyền gắn với phân bổ nguồn lực, tăng cường tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ
sở giáo dục gắn với kiểm tra, giám sát hiệu quả; giảm đầu mối cơ quan quản lý
đối với các cơ sở giáo dục, bảo đảm nguyên tắc gắn trách nhiệm quản lý chuyên
môn với quản lý nhân sự và tài chính, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản
lý giáo dục phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Xây dựng hệ thống
giáo dục mở, liên thông, thúc đẩy học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập.
- Ban hành
các chính sách ưu đãi đặc thù, vượt trội cho đội ngũ nhà giáo phù hợp với quy
định của pháp luật và điều kiện của thực tiễn của tỉnh. Có cơ chế để huy động
được người giỏi ngoài lực lượng nhà giáo tham gia giảng dạy, huấn luyện trong
các cơ sở giáo dục; thực hiện chế độ giảng viên đồng cơ hữu cho những người
giỏi đang công tác tại các đơn vị sự nghiệp công lập; huy động người giỏi chủ
trì các hoạt động nghiên cứu khoa học tại các cơ sở giáo dục.
- Bảo đảm
quyền tự chủ đầy đủ, toàn diện cho các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục
nghề nghiệp không phụ thuộc vào mức độ tự chủ tài chính. Phân bổ ngân sách nhà
nước cho các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp dựa trên sứ
mạng, chất lượng và hiệu quả theo cơ chế thống nhất trong toàn ngành; ưu tiên
đặt hàng, giao nhiệm vụ đối với các ngành, lĩnh vực trọng điểm theo kết quả đầu
ra.
- Chi ngân
sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo đạt tối thiểu 20% tổng chi ngân sách nhà
nước, trong đó phân bổ chi đầu tư đạt ít nhất 5% tổng chi ngân sách nhà nước và
chi cho giáo dục đại học đạt ít nhất 3% tổng chi ngân sách nhà nước. Mở rộng
các chính sách hỗ trợ tài chính, tín dụng ưu đãi cho người học, không để học
sinh, sinh viên nào bỏ học vì điều kiện tài chính. Phát huy hiệu quả các quỹ
khuyến tài, khuyến học khác từ nguồn ngân sách nhà nước và các nguồn hợp pháp
khác để khuyến khích học tập và phát triển sự nghiệp giáo dục.
- Xây dựng,
bổ sung các tiêu chuẩn đánh giá về chất lượng giáo dục cho các cấp học phù hợp
với quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, thực tiễn giáo dục và đào tạo của
tỉnh. Gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả thực hiện chính sách giáo dục;
lấy chất lượng thực chất và hiệu quả đầu ra của người học làm thước đo trung
tâm đánh giá hiệu quả chính sách.
3.
Đột phá về mạng lưới cơ sở giáo dục, cơ sở vật chất và huy động nguồn lực xã
hội
- Sắp xếp
lại mạng lưới cơ sở giáo dục và đào tạo theo hướng tinh gọn, hiệu quả, công
bằng, bao trùm và ổn định lâu dài. Quan tâm xây dựng các trường phổ thông nội
trú tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng khó khăn, các cơ sở giáo dục phục
vụ con em công nhân và người lao động tại khu công nghiệp và các cơ sở giáo dục
chuyên biệt. Mở rộng hệ thống đào tạo dự bị đại học cho học sinh người dân tộc
thiểu số, miền núi. Hình thành ít nhất một cơ sở giáo dục chuyên biệt tới cấp
trung học phổ thông. Nghiên cứu phát triển các mô hình trường học mới theo kinh
nghiệm quốc tế như trường học hạnh phúc, trường học thông minh; phát triển các
trung tâm giáo dục trải nghiệm, giáo dục kỹ năng sống, nhất là ở đô thị và
những địa bàn có điều kiện.
- Phát triển
hệ thống trường trung học phổ thông chuyên theo hướng đạt chuẩn tiên tiến khu
vực, tiệm cận tiêu chuẩn quốc tế; liên kết với các trường trung học phổ thông ở
các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới để hướng tới đào tạo song
bằng cho học sinh trung học phổ thông chuyên. Xây dựng và phát triển mạng lưới
các cơ sở giáo dục phổ thông trọng điểm, chất lượng cao theo hướng đạt chuẩn
quốc gia mức độ 2, từng bước đạt chuẩn tiên tiến khu vực.
- Nâng chuẩn
cơ sở giáo dục ở tất cả cấp học, ban hành quy định diện tích tối thiểu, quy
chuẩn, tiêu chuẩn từng bước tiệm cận khu vực, quốc tế. Tiến hành quy hoạch tổng
mặt bằng, kiến trúc cho tất cả các trường học công lập trên địa bàn tỉnh, tạo
các không gian mở, sáng tạo, kiến trúc xanh phù hợp với xu thế hội nhập theo mô
hình trường học thông minh, phù hợp với xu thế phát triển và hội nhập quốc tế.
Ưu tiên nguồn lực đầu tư xây dựng kiên cố hóa, hiện đại hóa trường học, lớp
học; bảo đảm đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị đạt chuẩn, đặc biệt chú trọng
đầu tư các phòng thực hành, trải nghiệm STEM/STEAM, không gian vui chơi, môi
trường rèn luyện thể chất.
- Xây dựng
và nâng cao chất lượng môi trường học, môi trường đọc, môi trường rèn luyện thể
chất cho học sinh. Chú trọng cải tạo khuôn viên trường học theo hướng xanh,
sạch, đẹp; bảo đảm an toàn, an ninh, phòng chống cháy nổ, đủ ánh sáng học
đường, đủ nước sạch. Phát triển hệ thống thư viện xanh, thư viện mở, thư viện
số theo hướng hiện đại; mở rộng không gian đọc sách ngoài trời phù hợp với từng
cấp học. Đầu tư nhà rèn luyện thể chất (nhà đa năng), các khu vực thể thao, vui
chơi ngoài trời cho học sinh để rèn luyện tri thức, thể chất và tính tự lập.
- Rà soát các
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất bảo đảm quỹ đất để xây dựng mới, mở rộng các cơ
sở giáo dục phù hợp với quy hoạch mạng lưới trường, lớp học. Chuyển đổi linh
hoạt mục đích sử dụng đất sang đất giáo dục; giao đất sạch cho các dự án giáo
dục, đào tạo. Không thu tiền sử dụng đất, giảm tiền thuê đất, tiền thuế đất đối
với các cơ sở giáo dục trong nước. Không áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp đối
với cơ sở giáo dục công lập, cơ sở giáo dục tư thục hoạt động không vì lợi
nhuận. Ưu tiên dành trụ sở cơ quan nhà nước dôi dư sau sắp xếp cho các cơ sở
giáo dục; cho phép áp dụng hình thức cho thuê công trình thuộc sở hữu nhà nước
đối với cơ sở giáo dục tư thục.
- Thực hiện
đồng bộ, hiệu quả các giải pháp tại Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 04/5/2025 của
Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, thúc đẩy mạnh mẽ sự tham gia của
khu vực kinh tế tư nhân. Xây dựng chính sách, giải pháp huy động nguồn lực,
khuyến khích tổ chức, doanh nghiệp đầu tư phát triển giáo dục, đào tạo; đẩy
mạnh hợp tác công tư. Mở rộng hợp tác, liên kết giữa các cơ sở giáo dục đại
học, giáo dục nghề nghiệp, cơ sở nghiên cứu, tổ chức, doanh nghiệp trong và
ngoài nước; ưu tiên vốn tín dụng cho các dự án phát triển giáo dục và đào tạo.
Hình thành quỹ tài trợ cho các cơ sở giáo dục huy động vốn cộng đồng theo hướng
dẫn của Trung ương.
4. Đột phá
về đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý và quản trị giáo dục
- Xây dựng,
đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lượng,
đồng bộ về cơ cấu, chuẩn hóa về trình độ, năng lực và đạo đức nghề nghiệp, đáp
ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Nâng cao bản lĩnh
chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ lý luận, chuyên môn, nghiệp vụ cho đội
ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo. Bồi dưỡng, tiếp cận tiêu chuẩn giáo viên toàn cầu cho đội ngũ
giáo viên.
- Ban hành
chính sách thu hút, trọng dụng giáo viên, giảng viên chất lượng cao, có chính
sách thu hút sinh viên sư phạm tại các vùng khó khăn; hỗ trợ nhà ở công vụ;
thực hiện lộ trình nâng chuẩn, bồi dưỡng thường xuyên đạt chuẩn nghề nghiệp,
chuẩn hiệu trưởng. Có cơ chế thi đua, khen thưởng nhằm khuyến khích nhà giáo
phấn đấu đạt các chứng chỉ quốc tế phục vụ cho dạy học.
- Quan tâm
đào tạo, bồi dưỡng trong và ngoài nước cho cán bộ quản lý và giáo viên có năng
lực, hình thành lực lượng cốt cán dẫn dắt đổi mới ở các cấp học, lĩnh vực. Tăng
cường liên kết với các cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu, tổ chức khoa
học công nghệ để hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ chuyên môn cho
đội ngũ giáo viên.
- Đổi mới
quản trị giáo dục theo hướng lấy kết quả đầu ra làm trung tâm, tăng cường tự
chủ gắn với trách nhiệm giải trình; đề cao vai trò nêu gương của nhà giáo và
trách nhiệm của người đứng đầu cơ sở giáo dục.
5. Đột phá về
chất lượng giáo dục toàn diện, đức, trí, thể, mỹ; chuyển đổi số, ứng dụng công
nghệ số, trí tuệ nhân tạo và ngoại ngữ
- Tăng cường
giáo dục toàn diện đức, trí, thể, mỹ, hình thành hình thành hệ giá trị con
người thời kỳ mới theo tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 07/01/2026 về
phát triển văn hóa Việt Nam và Nghị quyết số 72-NQ/TW, ngày 09/9/2025 về một số
giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân
của Bộ Chính trị; phát huy đặc trưng nổi trội tiên phong, đổi mới, sáng tạo;
tích hợp xuyên suốt trong chương trình giáo dục ở tất cả cấp học. Xây dựng văn
hoá học đường, văn hoá chất lượng, thực học, thực nghiệp gắn với trách nhiệm
nêu gương của đội ngũ nhà giáo; chú trọng bồi dưỡng đạo đức nghề nghiệp cho đội
ngũ nhà giáo; hình thành môi trường sư phạm dân chủ, bình đẳng, môi trường giáo
dục lành mạnh văn minh, thân thiện.
- Đổi mới
nội dung, phương thức giảng dạy, nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục đạo
đức, lý tưởng, trách nhiệm xã hội, lối sống văn hoá, truyền thống lịch sử,
chính trị, tư tưởng, pháp luật, kinh tế, tài chính, quốc phòng và an ninh. Biên
soạn, lồng ghép nội dung giáo dục nét đẹp văn hóa dân gian trong bộ tài liệu
giáo dục của địa phương; đưa các trò chơi dân gian vào chương trình giáo dục
thể chất của học sinh. Phối hợp với các đơn vị quân đội đóng quân trên địa bàn
tổ chức dạy học các nội dung thực hành giáo dục quốc phòng nhằm khơi dậy truyền
thống yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, rèn luyện cho học sinh tính kỷ luật,
kỷ cương.
- Xây dựng
Đề án giáo dục đạo đức lối sống cho học sinh tỉnh Phú Thọ; hoàn thành bộ chương
trình, tài liệu giảng dạy về đạo đức lối sống để tổ chức giảng dạy trong các
nhà trường. Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá môi trường giáo dục các nhà trường
nhằm hướng tới môi trường giáo dục lành mạnh, an toàn và văn minh. Thực hiện
các giải pháp ngăn ngừa, hạn chế tối đa những ảnh hưởng tiêu cực từ cơ chế thị
trường, truyền thông, mạng xã hội. Ngăn chặn, đẩy lùi, tiến tới chấm dứt bạo
lực học đường, ma tuý học đường. Ban hành quy định để nâng cao dinh dưỡng học
đường và thể chất người Phú Thọ.
- Triển khai
thực hiện có hiệu quả các giải pháp đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi
mới sáng tạo và chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo theo Nghị
quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị. Tập trung xây dựng hệ sinh
thái thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học gắn liền với phát triển (R&D),
hoạt động đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực giáo dục và đạo tạo. Khuyến khích các
các trường đại học, cao đẳng thành lập các đơn vị nghiên cứu khoa học, đổi mới
sáng tạo; triển khai thử nghiệm các nghiên cứu, các giải pháp ứng dụng công
nghệ mới đáp ứng nhu cầu thực tiễn. Bố trí đủ nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất,
hạ tầng công nghệ để đẩy nhanh chuyển đổi số, phổ cập và ứng dụng công nghệ số,
trí tuệ nhân tạo trong quản lý, tổ chức hoạt động giáo dục, đào tạo ở tất cả
các cấp học.
- Hình thành
cơ sở dữ liệu giáo dục và đào tạo của tỉnh, đồng bộ với cơ sở dữ liệu quốc gia;
kết nối liên thông từ tỉnh đến xã và các cơ sở giáo dục công lập, tư nhân. Xây
dựng các nền tảng giáo dục thông minh, sách giáo khoa, giáo trình thông minh;
đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, trí tuệ nhân tạo trong đổi mới phương
pháp dạy và học, kiểm tra, đánh giá; thúc đẩy ứng dụng các mô hình giáo dục số,
giáo dục trí tuệ nhân tạo, quản trị giáo dục thông minh, trường học số, lớp học
thông minh. Nâng cao chuẩn năng lực số và trí tuệ nhân tạo cho người học và đội
ngũ nhà giáo ở tất cả các cấp học, đưa vào chương trình giáo dục gắn với thúc
đẩy các hoạt động sáng tạo, trải nghiệm. Có chính sách khuyến khích, huy động
các doanh nghiệp, cơ sở giáo dục đại học tham gia bồi dưỡng, đào tạo giáo viên,
người học về năng lực số, trí tuệ nhân tạo. Ban hành bộ chỉ số đánh giá chuyển
đổi số trong giáo dục, giao chỉ tiêu cụ thể, tổ chức đánh giá định kỳ gắn với
trách nhiệm người đứng đầu.
- Xây dựng
lộ trình nâng cao năng lực ngoại ngữ đưa, tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai
trong nhà trường và dạy ngôn ngữ của các nước láng giềng phù hợp điều kiện từng
khu vực bảo đảm hiệu quả, đáp ứng hội nhập quốc tế theo Nghị quyết số 59-NQ/TW,
ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới. Nâng
chuẩn tiếng Anh cho giáo viên và học sinh các cấp học; bảo đảm đủ số lượng,
trình độ đội ngũ, cơ sở vật chất và công nghệ, ứng dụng mạnh mẽ trí tuệ nhân
tạo trong dạy và học Tiếng Anh; tăng cường giảng dạy các môn học bằng tiếng Anh
tại các nơi có điều kiện. Có cơ chế để các cơ sở giáo dục thu hút giáo viên
nước ngoài tham gia giảng dạy trên cơ sở thỏa thuận tự nguyện của học sinh và
phụ huynh. Tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các trung tâm dạy ngoại ngữ
trong các cơ sở giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu người học. Ban hành các chính
sách để tuyển dụng giáo viên tốt nghiệp đại học ngành sư phạm ngoại ngữ và thu
hút các giáo viên tình nguyện người nước ngoài có trình độ sư phạm và năng lực
ngoại ngữ tốt tham gia giảng dạy tại các cơ sở giáo dục.
6. Đột phá
về giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học, phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng
nghề cao, trình độ cao và hội nhập quốc tế
- Cơ cấu,
sắp xếp lại mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt. Nâng
cao chất lượng đào tạo giáo dục nghề nghiệp theo hướng ứng dụng, thực hành, gắn
kết cung cầu với doanh nghiệp, tạo nguồn nhân lực có kỹ năng nghề cao. Tăng
nhanh tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ. Quan tâm phát triển
giáo dục nghề nghiệp và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, miền núi,
đồng bào người dân tộc thiểu số.
- Thúc đẩy
hình thành các trường đại học, cao đẳng tầm cỡ quốc gia và khu vực; các cơ sở
đào tạo, dạy nghề trọng điểm quốc gia. Đầu tư phát triển một số trường đại học,
cao đẳng trọng điểm trên địa bàn tỉnh trở thành các trung tâm khoa học, công
nghệ và đổi mới sáng tạo cho vùng, gắn với nghiên cứu đổi mới sáng tạo, đưa kết
quả nghiên cứu đi vào ứng dụng thực tiễn. Khuyến khích, hỗ trợ các cơ sở giáo
dục lớn thành lập phân hiệu, mở văn phòng đại diện hoặc triển khai chương trình
giáo dục tại tỉnh; liên kết đào tạo với các trường trọng điểm, trường có uy tín
trong nước và quốc tế. Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng
yêu cầu phát triển các ngành kinh tế mới. Ban hành cơ chế đặc thù để thu hút,
trọng dụng chuyên gia, nhà khoa học, kỹ sư trong lĩnh vực công nghệ cao, công
nghệ mới và công nghiệp chủ lực của tỉnh. Đặt hàng, giao nhiệm vụ đào tạo giáo
viên, giảng viên giáo dục nghề nghiệp cho các ngành nghề trọng điểm từ ngân
sách nhà nước tỉnh. Phát triển mô hình đô thị đại học đáp ứng nhu cầu sinh
sống, học tập, làm việc của sinh viên, giảng viên, chuyên gia và người lao động
chất lượng cao.
- Mở rộng
hợp tác quốc tế trong giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học. Tăng cường áp
dụng các tiêu chuẩn quốc tế trong hệ thống giáo dục phù hợp với điều kiện thực
tiễn. Thúc đẩy, ký kết các thoả thuận về hợp tác giáo dục, đào tạo, khoa học,
công nghệ; tham gia các tổ chức bảo đảm chất lượng, phát triển giáo dục quốc
tế. Cấp học bổng hoặc có chính sách khuyến khích, hỗ trợ học sinh, sinh viên,
giảng viên đi học tập, nghiên cứu, thỉnh giảng ở các nước phát triển, các nước
có quan hệ truyền thống, có thế mạnh trong các lĩnh vực, ngành trọng điểm, tận
dụng các chương trình hợp tác song phương.
- Hỗ trợ các
cơ sở giáo dục đại học hợp tác, liên kết với các đại học có uy tín, doanh
nghiệp lớn ở nước ngoài, nhất là trong các lĩnh vực trọng điểm, công nghệ mới
nổi; khuyến khích hợp tác, liên kết đào tạo theo mô hình giáo dục số, xuyên
biên giới. Đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục đại học
và giáo dục nghề nghiệp, xây dựng các trường phổ thông quốc tế; tạo điều kiện
cho đội ngũ nhà giáo, người học giao lưu văn hóa và giáo dục quốc tế. Thúc đẩy
hợp tác, liên kết thành lập đơn vị đào tạo, viện nghiên cứu chung với cơ sở
giáo dục của tỉnh.
7. Triển
khai đồng bộ các giải pháp đột phá, tạo chuyển biến thực chất về chất lượng
giáo dục; siết chặt kỷ cương, nâng cao hiệu lực quản lý, bảo đảm thực thi chính
sách thống nhất và bền vững
- Triển khai
đồng bộ các giải pháp đột phá, tạo chuyển biến thực chất về chất lượng giáo
dục. Đổi mới công tác phát hiện, tuyển chọn, đào tạo học sinh, sinh viên có
năng khiếu, năng lực nổi trội; mở rộng quy mô đào tạo nhân lực chất lượng cao
gắn với khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và ngoại ngữ. Ưu tiên đầu tư hạ
tầng, phòng thí nghiệm, thư viện hiện đại; tăng cường kết nối với mạng lưới cơ
sở đào tạo trong nước và quốc tế; nâng cao bền vững chất lượng giáo dục mũi
nhọn và thành tích tại các kỳ thi quốc gia, quốc tế.
- Tăng cường
thanh tra, kiểm tra, siết chặt kỷ cương, kỷ luật; nâng cao hiệu lực, hiệu quả
quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo; bảo đảm công khai chất lượng giáo dục,
minh bạch trong quản lý, phân bổ và sử dụng nguồn lực. Đổi mới thi đua, khen
thưởng theo hướng thực chất, lấy "dạy thật - học thật - thi thật - chất
lượng thật" làm trọng tâm; giảm hình thức, phong trào.
- Tập trung
kiểm tra trách nhiệm quản lý ở cơ sở, kết quả giáo dục, công tác cán bộ và thực
hiện tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình; tăng cường giám sát các lĩnh vực
nhạy cảm. Thực hiện nghiêm tiếp công dân; phòng, chống tham nhũng, lãng phí; xử
lý kịp thời, công minh vi phạm, củng cố niềm tin xã hội đối với ngành Giáo dục.
Phần
thứ tư
TÍNH KHẢ THI VÀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA ĐỀ
ÁN
I.
TÍNH KHẢ THI CỦA ĐỀ ÁN
1. Phù hợp
với chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước
- Đề án được
xây dựng trên cơ sở chính trị vững chắc, tiếp thu và cụ thể hóa đầy đủ các nghị
quyết, kết luận, chỉ thị của Trung ương và của tỉnh về đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục và đào tạo; trong đó, bám sát Nghị quyết số 29- NQ/TW của Ban
Chấp hành Trung ương về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; Kết
luận số 51-KL/TW của Ban Bí thư; Kết luận số 91-KL/TW của Bộ Chính trị; Nghị
quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và
chuyển đổi số quốc gia; đặc biệt là Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị.
- Đề án tuân
thủ Hiến pháp năm 2013 và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan, gồm: Luật
Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Giáo dục năm 2019, Luật Nhà giáo, Luật
CBCC, các nghị định của Chính phủ về điều kiện đầu tư, quản lý và hoạt động
trong lĩnh vực giáo dục, các nghị quyết của Quốc hội về lộ trình thực hiện
chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông 2018.
2. Phù hợp
với xu thế phát triển chung và thực tiễn của tỉnh Phú Thọ
- Đề án được
xây dựng trên cơ sở phân tích thực tiễn và yêu cầu đổi mới giáo dục của đất
nước, đáp ứng xu thế hội nhập quốc tế, cách mạng công nghiệp lần thứ tư và yêu
cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
- Nội dung
Đề án khẳng định sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với quy luật tất yếu của phát
triển giáo dục, gắn với yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội bền vững của tỉnh
Phú Thọ.
3. Có quyết
tâm chính trị cao, đồng thuận xã hội và quy trình chặt chẽ
- Quá trình
xây dựng Đề án được thực hiện theo quy trình khoa học, dân chủ, có sự tham gia
của các cơ quan, cơ sở vật chất, tổ chức chính trị- xã hội và sự đóng góp rộng
rãi của nhân dân.
- Thể hiện
quyết tâm chính trị cao của cấp ủy, chính quyền, sự đồng thuận xã hội và nguyện
vọng chính đáng của nhân dân trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, coi giáo
dục là quốc sách hàng đầu.
4. Bảo đảm
tính khả thi trong triển khai
- Đề án tập
trung vào các giải pháp đồng bộ: đổi mới quản lý giáo dục; hoàn thiện cơ chế,
chính sách phát triển giáo dục; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; xây
dựng đội ngũ cán bộ quản lý, nhà giáo và nhân viên trường học đạt chuẩn, đáp
ứng yêu cầu đổi mới.
- Các mục
tiêu, nhiệm vụ và giải pháp được đề xuất đều bám sát chủ trương của Đảng, chính
sách pháp luật của Nhà nước và phù hợp điều kiện phát triển kinh tế- xã hội của
tỉnh, bảo đảm tính khả thi cao trong thực hiện.
5. Bảo đảm
nguồn lực tài chính để thực hiện Đề án
- Tỉnh Phú
Thọ sau hợp nhất có quy mô kinh tế mở rộng, tăng trưởng ổn định, thu ngân sách
ngày càng gia tăng, tỉnh có đủ khả năng cân đối ngân sách để bảo đảm tối thiểu
20% tổng chi ngân sách cho giáo dục và đào tạo theo quy định.
- Đề án xác
định rõ việc huy động các nguồn lực xã hội hóa, nguồn đầu tư từ doanh nghiệp,
tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước, bổ sung nguồn lực tài chính, bảo đảm
triển khai các nhiệm vụ và giải pháp một cách đồng bộ, hiệu quả.
II.
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA ĐỀ ÁN
1. Về chính
trị
- Đề án tiếp
tục cụ thể hóa và triển khai hiệu quả Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành
Trung ương và Kết luận số 51-KL/TW của Ban Bí thư; Đồng thời, cụ thể hóa Nghị
quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị khẳng định, làm sâu sắc thêm quan điểm của Đảng
coi Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt của phát
triển bền vững.
- Đề án góp
phần chuyển biến nhận thức, tư duy của cấp ủy, chính quyền, tổ chức xã hội và
nhân dân về vai trò, ý nghĩa của giáo dục và đào tạo, từ đó nâng cao trách
nhiệm, khát vọng và quyết tâm chính trị trong tổ chức thực hiện.
2. Về đội
ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên ngành Giáo dục
- Đề án xác
định phát triển đội ngũ là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt; được bảo đảm đủ về
số lượng, đồng bộ về cơ cấu, nâng cao về chất lượng.
- Các chính
sách, giải pháp đồng bộ về đào tạo, bồi dưỡng, nâng chuẩn, đãi ngộ và cải thiện
đời sống sẽ tạo động lực phấn đấu, khơi dậy tinh thần cống hiến, góp phần trực
tiếp nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, bồi dưỡng nhân tài và xây dựng
nguồn nhân lực chất lượng cao cho tỉnh.
3. Tác động
kinh tế - xã hội
- Đầu tư cho
giáo dục là đầu tư cho phát triển. Việc quy hoạch, sắp xếp hợp lý mạng lưới
trường lớp sẽ hạn chế dàn trải, giảm lãng phí ngân sách, tạo điều kiện tập
trung nguồn lực đầu tư có trọng tâm, trọng điểm. Phát triển các trường chất
lượng cao, đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục sẽ giảm gánh nặng ngân sách nhà nước.
- Đề án góp
phần phát triển và hoàn thiện mạng lưới cơ sở giáo dục, trong đó có trường
chuyên biệt dành cho trẻ khuyết tật, Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa
nhập, sẽ bảo đảm quyền học tập cho mọi đối tượng, nâng cao dân trí, giảm thất
nghiệp, hạn chế tệ nạn xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh
đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước.
III.
DỰ BÁO KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC; BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC
1. Khó khăn,
vướng mắc:
Việc triển khai Đề án đặt ra nhiều thách thức: yêu cầu sự đồng thuận, thống
nhất cao trong cả hệ thống chính trị và nhân dân; đòi hỏi ban hành cơ chế,
chính sách đặc thù vượt trội để tạo động lực phát triển; đồng thời có thể chịu
tác động từ các yếu tố khách quan như dịch bệnh, biến động kinh tế- xã hội, ảnh
hưởng đến nguồn lực thực hiện.
2. Biện pháp
khắc phục:
Tăng cường tuyên truyền, tạo đồng thuận và thống nhất hành động từ tỉnh đến cơ
sở; mở rộng dân chủ trong thảo luận và thực hiện Đề án. Rà soát, hoàn thiện văn
bản pháp lý, ban hành kịp thời cơ chế, chính sách đặc thù. Xác định rõ nhiệm vụ
ưu tiên từng giai đoạn, bảo đảm thực hiện trọng tâm, hiệu quả, tránh dàn trải.
Phần
thứ năm
LỘ TRÌNH, TỔ CHỨC THỰC HIỆN
I.
LỘ TRÌNH VÀ KINH PHÍ THỰC HIỆN
1.
Lộ trình thực hiện
a) Giai đoạn
2025 - 2026
- Hoàn thành
việc xây dựng, trình phê duyệt Nghị quyết của Tỉnh ủy về “Phát triển giáo dục
và đào tạo tỉnh Phú Thọ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2030”.
- Tổ chức
quán triệt, phổ biến sâu rộng trong toàn ngành; thống kê, đánh giá hiện trạng
mạng lưới cơ sở giáo dục, nhu cầu và thực trạng cơ sở vật chất làm căn cứ quy
hoạch, cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới.
b) Giai đoạn
2026 - 2027
- Đầu tư cải
tạo, nâng cấp và xây mới các trường học, bảo đảm đồng bộ, hiện đại, trong đó ưu
tiên các trường trọng điểm, trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập; thay
thế dứt điểm các công trình xuống cấp trước năm 2027.
- Xây dựng
không gian đọc sách, rèn luyện và trải nghiệm cho học sinh; phát triển hệ thống
thư viện mở, thư viện số, thư viện xanh.
- Trang bị
đầy đủ thiết bị dạy học tối thiểu phục vụ Chương trình GDPT 2018 ở tất cả các
cấp học.
- Đầu tư,
trang bị hạ tầng số đối với các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh bảo đảm đường
truyền kết nối băng thông rộng, phủ sóng 5G đến 100% cơ sở giáo dục; xây dựng
cơ sở dữ liệu ngành giáo dục tỉnh Phú Thọ bảo đảm liên thông, đồng bộ với dữ
liệu quốc gia; triển khai các hệ sinh thái giáo dục thông minh bảo đảm 100% cơ
sở giáo dục triển khai các phần mềm quản trị, tổ chức dạy, học trên nền tảng
số; 100% cơ sở giáo dục triển khai các dịch vụ trực tuyến như đăng kí tuyển
sinh đầu cấp, thanh toán không dùng tiền mặt; 100% giáo viên, học sinh được bồi
dưỡng năng lực số, kiến thức và ứng dụng trí tuệ nhân tạo AI trong dạy, học.
- Tuyển
dụng, bổ sung giáo viên đủ số lượng và cơ cấu vào năm 2026.
- Xây dựng
nghị quyết đặc thù thu hút đầu tư xây dựng cơ sở giáo dục chất lượng cao ngoài
công lập.
c) Giai đoạn
2028 - 2030
- Hình thành
hệ thống trường ngoài công lập chất lượng cao, trường liên cấp quốc tế, trung
tâm giáo dục kỹ năng, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân.
- Bảo đảm
trên 95% trường đạt chuẩn quốc gia; thí điểm mỗi xã/phường tối thiểu 01 mô hình
lớp học thông minh, trường học số; quy hoạch và xây dựng đồng bộ hạ tầng trường
phổ thông, trang thiết bị hiện đại, tiệm cận mô hình tiên tiến trong khu vực và
quốc tế.
- Bảo đảm hạ
tầng công nghệ số tiên tiến, hiện đại, dung lượng siêu lớn, băng thông siêu
rộng; quản lý, kết nối và vận hành thông suốt toàn ngành Giáo dục trên môi
trường số; khai thác và sử dụng an toàn, có hiệu quả tài nguyên số, dữ liệu số;
triển khai có hiệu quả hệ sinh thái giáo dục thông minh, ứng dụng trí tuệ nhân
tạo AI trong quản lí, quản trị và tổ chức dạy, học.
- Đào tạo,
bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, đạt chuẩn và trên chuẩn
theo Luật Giáo dục 2019; nâng cao năng lực số, năng lực hội nhập quốc tế,
phương pháp giảng dạy hiện đại gắn với đổi mới sáng tạo.
- Hoàn thành
phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 3-5 tuổi; thực hiện giáo dục bắt buộc 9 năm;
mở rộng cơ hội học tập suốt đời cho mọi đối tượng.
- Tổ chức
tổng kết giai đoạn, đánh giá toàn diện kết quả thực hiện; xác định khó khăn,
thách thức và đề xuất định hướng, nhiệm vụ cho giai đoạn sau năm 2030.
d) Định
hướng đến năm 2035
- Xây dựng
tỉnh Phú Thọ trở thành trung tâm giáo dục chất lượng cao vùng Trung du và Miền
núi phía Bắc, có một số cơ sở đạt trình độ ngang tầm khu vực và quốc tế.
- Hoàn thiện
hệ thống trường chuyên, trường trọng điểm, trường quốc tế và các mô hình hợp
tác đào tạo-nghiên cứu- đổi mới sáng tạo với các cơ sở đại học, viện nghiên cứu
trong và ngoài nước.
- Phát triển
mạnh mẽ giáo dục số, giáo dục mở, học tập suốt đời; phổ cập giáo dục mầm non
cho trẻ từ 2 tuổi; bảo đảm 100% học sinh được tiếp cận chương trình học tập cá
thể hóa theo năng lực và nhu cầu.
- Hình thành
đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục có trình độ cao, ngang tầm khu vực,
tạo nguồn chuyên gia, nhà khoa học trong lĩnh vực giáo dục.
- Đưa Phú
Thọ vào nhóm địa phương dẫn đầu cả nước về giáo dục đại trà và mũi nhọn; có học
sinh đạt giải quốc tế ở nhiều lĩnh vực, hình thành thương hiệu giáo dục Phú Thọ
trên bản đồ khu vực.
2.
Dự kiến nhu cầu Kinh phí thực hiện
Tổng nhu cầu
kinh phí dự kiến thực hiện Đề án: 22.875.977 triệu đồng (không bao gồm các
khoản chi thường xuyên); trong đó:
- Kinh phí
huy động từ nguồn ngân sách nhà nước (chính sách đặc thù trường chuyên; đầu tư
công và xây dựng chuẩn quốc gia; các chương trình, dự án): từ 75 - 80%;
- Các nguồn
kinh phí huy động xã hội hóa, huy động hợp pháp khác 20- 25%.
(Chi tiết có phụ biểu kèm theo)
II.
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Đề nghị
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện
việc triển khai Nghị quyết. Hàng năm tổ chức sơ kết, cuối kỳ tổ chức tổng kết,
đánh giá, bổ sung nhiệm vụ, giải pháp phù hợp thực tiễn.
2. Đề nghị
Đảng ủy cơ quan Đảng tỉnh chỉ đạo Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành các nghị
quyết về cơ chế, chính sách đặc thù. Quyết định phân bổ ngân sách tỉnh, bảo đảm
nguồn lực triển khai Nghị quyết.
3. Đề nghị
Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo các sở, ban, ngành và đơn vị sự nghiệp
trực thuộc cụ thể hóa, triển khai đồng bộ Nghị quyết. Chủ trì tham mưu các cơ
chế, chính sách đặc thù, báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy, trình Hội đồng nhân dân
tỉnh xem xét, quyết định.
4. Đề nghị
Ban Tuyên giáo, Dân vận Tỉnh ủy chủ trì công tác tuyên truyền, phổ biến, quán
triệt sâu rộng Nghị quyết trong toàn hệ thống chính trị, tạo sự đồng thuận xã
hội. Phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo, các cơ quan liên quan theo dõi, kiểm
tra, đôn đốc, định kỳ báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy kết quả thực hiện.
5. Đề nghị
các ban xây dựng Đảng, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội tỉnh
tổ chức tuyên truyền, vận động cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và nhân
dân tích cực tham gia thực hiện. Chủ động giám sát, phản biện, kịp thời kiến
nghị, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng triển khai Nghị quyết.
6. Sở Giáo
dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp các sở, ngành triển khai toàn diện Đề án trong
ngành Giáo dục. Hướng dẫn các cơ sở giáo dục xây dựng kế hoạch phù hợp; tham
mưu phân bổ, quản lý kinh phí; định kỳ kiểm tra, tổng hợp, báo cáo Uỷ ban nhân
dân tỉnh.
7. Sở Tài
chính chủ trì tham mưu cân đối, bố trí vốn đầu tư công cho xây dựng cơ sở vật
chất, trang thiết bị giáo dục. Lồng ghép với các chương trình, dự án phát triển
kinh tế- xã hội của tỉnh; Bố trí, quản lý nguồn kinh phí chi thường xuyên thực
hiện Nghị quyết. Hướng dẫn cơ chế xã hội hóa, bảo đảm minh bạch, hiệu quả, phù
hợp thực tiễn của tỉnh.
8. Sở Nội vụ
tham mưu UBND tỉnh sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy ngành Giáo dục theo hướng
tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; tham mưu về biên chế, vị trí việc làm,
cơ chế tuyển dụng và chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ nhà giáo.
9. Sở Ngoại
vụ tham mưu, hỗ trợ xúc tiến hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục; phối hợp
tổ chức các chương trình giao lưu giáo dục, văn hóa quốc tế; kết nối các cơ sở
giáo dục của tỉnh với mạng lưới đối tác, tổ chức quốc tế và cơ quan đại diện
Việt Nam ở nước ngoài.
10. Sở Khoa
học và Công nghệ chủ trì thúc đẩy nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa
học công nghệ trong giáo dục; hỗ trợ đăng ký, khai thác sáng chế, sáng kiến;
gắn kết đào tạo với nghiên cứu, sản xuất và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Hỗ
trợ hạ tầng số, chuyển đổi số trong giáo dục; bảo đảm kết nối Internet đồng bộ
trên địa bàn tỉnh.
11. Sở Nông
nghiệp và Môi trường tổng hợp nhu cầu sử dụng đất cho phát triển mạng lưới cơ
sở giáo dục khi các cơ sở giáo dục kiến nghị để đưa vào quy hoạch sử dụng đất
cấp tỉnh riêng hoặc Quy hoạch chung cấp tỉnh; đồng thời hướng dẫn tháo gỡ khó
khăn vướng mắc khi thực hiện công tác bồi thường giải phóng mặt bằng tạo quỹ
đất phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục. Phối hợp với các sở, ngành, đơn vị có
liên quan thường xuyên kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các quy định về bảo vệ
môi trường.
12. Sở Văn
hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp phát triển giáo dục thể chất, thẩm mỹ, hoạt
động trải nghiệm cho học sinh. Khai thác giá trị di sản văn hóa để giáo dục
truyền thống; phát huy hệ thống thiết chế văn hóa truyền thống, trung tâm học
tập cộng đồng; chỉ đạo báo chí, truyền thông tuyên truyền, lan tỏa Nghị quyết.
13. Sở Xây
dựng rà soát, tham mưu quy hoạch, kiến trúc, cải tạo hoặc xây dựng mới cơ sở
giáo dục theo chuẩn hóa, hiện đại hóa. Bảo đảm an toàn giao thông quanh trường
học. Phối hợp giáo dục ý thức chấp hành pháp luật về giao thông cho học sinh,
phụ huynh.
14. Ngân
hàng Chính sách xã hội tỉnh bố trí vốn tín dụng ưu đãi cho học sinh, sinh viên
có hoàn cảnh khó khăn, đặc biệt học sinh giỏi, nhân tài; hỗ trợ tiếp cận chương
trình đào tạo chất lượng cao trong và ngoài nước.
15. Báo và
Phát thanh, Truyền hình tỉnh xây dựng chuyên mục, chuyên đề tuyên truyền về
phát triển giáo dục. Đa dạng hóa hình thức thông tin, phản ánh kịp thời kết
quả, mô hình hay, nhân tố mới.
16. Ủy ban
nhân dân các xã, phường cụ thể hóa nhiệm vụ, giải pháp triển khai Đề án tại cơ
sở. Quan tâm phát triển giáo dục vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số;
huy động xã hội hóa, bố trí đất, cơ sở vật chất, bảo đảm quyền tiếp cận giáo
dục công bằng, chất lượng.
17. Các cơ
sở giáo dục nghiêm túc quán triệt và triển khai Đề án; xây dựng kế hoạch cụ
thể, gắn với nhiệm vụ, giải pháp của ngành. Chủ động thực hiện, bảo đảm chất
lượng, hiệu quả; tích cực phối hợp trong công tác truyền thông, tạo lan tỏa
trong cán bộ, giáo viên, học viên, sinh viên và cộng đồng xã hội./.