Kính gửi: Công ty VNLAWS.
Thực hiện thông báo số
426/TB-VPCP ngày 15/8/2026 của Văn phòng Chính phủ về kết luận của Phó Thủ tướng
Chính phủ Nguyễn Văn Thắng tại buổi làm việc với các Bộ, ngành, địa phương và
doanh nghiệp để xử lý khó khăn, vướng mắc trong lĩnh vực thuế, hải quan, Cục
Thuế có ý kiến đối với các kiến nghị từ Công ty VNLAWS như sau:
1. Nội
dung thứ nhất
- Vấn đề/vướng mắc trong
thực tế:
Hiện nay, doanh nghiệp nhập
khẩu một số nguyên liệu hóa chất được yêu cầu khai báo chi tiết 100% thành phần
hóa học. Đối với doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, công thức nguyên liệu có
thể là bí mật công nghệ, được nhà cung cấp nước ngoài bảo mật nghiêm ngặt. Việc
phải thể hiện toàn bộ thành phần trên hồ sơ có phạm vi tiếp cận rộng có thể làm
phát sinh nguy cơ lộ bí mật thương mại và ảnh hưởng năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, một số máy
móc, thiết bị mới chưa qua sử dụng, và thiết bị phục vụ sản xuất, vẫn phải thực
hiện kiểm tra chất lượng chuyên ngành. Việc lấy mẫu, giám định và chờ kết quả
có thể kéo dài thời gian thông quan, làm tăng chi phí lưu container, lưu kho và
ảnh hưởng kế hoạch sản xuất.
- Nội dung kiến nghị của
doanh nghiệp:
Đề xuất áp dụng nguyên tắc
quản lý rủi ro: doanh nghiệp tuân thủ tốt, hàng hóa mới/có chứng nhận chất lượng
quốc tế và lịch sử nhập khẩu ổn định thì được thông quan trước, kiểm tra sau.
Đối với thông tin về công
thức hóa chất, nên cho phép doanh nghiệp hoặc nhà sản xuất nước ngoài cung cấp
trực tiếp cho cơ quan chuyên ngành bằng phương thức bảo mật; hồ sơ hải quan chỉ
thể hiện thành phần cần thiết để phân loại hàng hóa và quản lý an toàn. Đối với
máy móc, thiết bị mới, cần rà soát để loại bỏ các khâu kiểm tra trùng lặp giữa
cơ quan hải quan và cơ quan quản lý chuyên ngành.
- Ý kiến phúc đáp:
Liên quan đến vướng mắc của
công ty về thủ tục hải quan đối với hóa chất xuất khẩu, nhập khẩu: Ngày
26/6/2026, Cục Hải quan có công văn số 18114/CHQ-GSQL hướng dẫn các Chi cục Hải
quan khu vực (gửi kèm theo).
Theo đó, đối với phản ánh
kiến nghị về việc phải khai báo 100% thông tin thành phần hóa chất nhập khẩu dẫn
đến nguy cơ làm lộ lọt bí mật kinh doanh và xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của
nhà sản xuất. Căn cứ Luật Hải quan, các văn bản hướng dẫn thi hành và chỉ đạo của
Lãnh đạo Bộ Tài chính, Cục Hải quan đã yêu cầu các Chi cục Hải quan khu vực chỉ
đạo các đơn vị hải quan thuộc và trực thuộc:
+ Thực hiện thủ tục hải
quan đối với hóa chất xuất khẩu, nhập khẩu trên cơ sở nội dung khai báo của người
khai hải quan và các chứng từ liên quan do người khai nộp/xuất trình theo quy định
tại khoản 1 Điều 21 Luật Hải quan, Luật Hóa chất và các văn bản hướng dẫn Luật
Hải quan, Luật Hóa chất. Cơ quan hải quan không được yêu cầu người khai hải
quan phải nộp/xuất trình bổ sung thông tin, tài liệu kỹ thuật, chứng từ ngoài
quy định tại các văn bản nêu trên. Người khai hải quan tự khai, tự chịu trách
nhiệm trước pháp luật về sự xác thực của nội dung đã khai và các chứng từ đã nộp/xuất
trình theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 18 Luật Hải quan.
+ Đối với trường hợp có cơ
sở xác định hóa chất nhập khẩu thuộc danh mục hóa chất phải khai báo hóa chất,
hóa chất có điều kiện, hóa chất cần kiểm soát đặc biệt, hóa chất cấm nhập khẩu,
xuất khẩu nhưng người khai hải quan khai báo hóa chất xuất khẩu, nhập khẩu
không thuộc các trường hợp này, cơ quan hải quan yêu cầu người khai hải quan
cung cấp bổ sung thông tin, tài liệu kỹ thuật, chứng từ liên quan đến hóa chất
xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định pháp luật hóa chất. Cơ sở để cơ quan hải
quan xác định và yêu cầu người khai hải quan cung cấp bổ sung tài liệu kỹ thuật,
chứng từ là thông tin thu thập được về vi phạm trong quá trình nhập khẩu, xuất
khẩu, sử dụng hóa chất; thông tin cảnh báo của các cơ quan chức năng khác đối với
mặt hàng hóa chất xuất khẩu, nhập khẩu hoặc vi phạm của doanh nghiệp nhập khẩu,
xuất khẩu. Trường hợp người khai hải quan không bổ sung thông tin, tài liệu kỹ
thuật, chứng từ liên quan đến hóa chất xuất khẩu, nhập khẩu thì cơ quan hải
quan thực hiện phân tích, giám định hàng hóa để xác định bản chất hàng hóa.
+ Đối với các lô hàng hóa
chất xuất khẩu, nhập khẩu có dấu hiệu rủi ro hoặc nghi vấn có vi phạm nhưng cơ
quan hải quan không có cơ sở để yêu cầu người khai hải quan bổ sung thông tin,
tài liệu kỹ thuật, chứng từ liên quan đến hóa chất xuất khẩu, nhập khẩu theo quy
định pháp luật hóa chất, thì cơ quan hải quan thực hiện chuyển thông tin cho
các cơ quan quản lý chuyên ngành (Cục Hóa chất - Bộ Công Thương, Cục Cảnh sát
điều tra tội phạm về ma túy - Bộ Công an) để phối hợp kiểm tra và tăng cường quản
lý chặt chẽ sau khi hàng hóa đã thông quan.
+ Tăng cường công tác thu
thập thông tin, đánh giá, phân loại doanh nghiệp để thực hiện kiểm tra sau
thông quan.
+ Chủ động xây dựng cơ sở
dữ liệu về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hóa chất tại đơn vị (doanh nghiệp xuất
khẩu, nhập khẩu, mặt hàng hóa chất nhập khẩu, xuất khẩu, các hành vi vi phạm
qua địa bàn...) để làm cơ sở thông tin cho việc giải quyết thủ tục xuất khẩu,
nhập khẩu hóa chất.
Đề nghị Công ty căn cứ nội
dung tại công văn nêu trên để thực hiện. Trường hợp có vướng mắc phát sinh, đề
nghị Công ty liên hệ trực tiếp với Chi cục Hải quan nơi làm thủ tục để được hướng
dẫn cụ thể.
2. Nội
dung thứ hai
- Vấn đề/vướng mắc trong
thực tế:
Chúng tôi hoàn toàn đồng
tình với việc ngành Thuế ứng dụng dữ liệu và công nghệ để phát hiện các hành vi
mua bán hóa đơn, thành lập doanh nghiệp không hoạt động thực tế hoặc xuất hóa
đơn khống đầu ra mà không có hàng hóa mua vào. Tuy nhiên, hệ số K chủ yếu phản
ánh mối quan hệ giữa giá trị hàng hóa mua vào, tồn kho và giá trị hóa đơn bán
ra. Vì vậy, nếu áp dụng cùng một tiêu chí cho doanh nghiệp thương mại và doanh
nghiệp thuần túy cung cấp dịch vụ hoặc/và dịch vụ tư vấn thì có thể phát sinh cảnh
báo chưa phù hợp.
Trong thực tế, một số
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tư vấn, thiết kế, phần mềm, đào tạo hoặc
dịch vụ chuyên môn không mua bán hàng hóa nhưng vẫn được yêu cầu giải trình khi
có sự thay đổi cán bộ quản lý thuế, thậm chí gặp khó khăn trong quá trình sử dụng
hóa đơn điện tử.
- Nội dung kiến nghị của
doanh nghiệp:
Điều chỉnh tiêu chí kiểm
soát rủi ro trong cấu trúc dữ liệu hóa đơn điện tử theo Quyết định số
1306/QĐ-CT ngày 13/6/2025 của Cục Thuế; phân nhóm hệ số rủi ro theo từng ngành
nghề, mô hình kinh doanh và đặc điểm chi phí; đồng thời loại trừ hoặc xây dựng
bộ tiêu chí riêng đối với doanh nghiệp thuần túy cung cấp dịch vụ, không phát
sinh hoạt động mua bán hàng hóa.
Việc cảnh báo rủi ro cũng
nên được thực hiện theo lộ trình: trước hết là thông báo điện tử để doanh nghiệp
tự kiểm tra; tiếp theo là yêu cầu giải trình trực tuyến và không thông báo cho
khách hàng dẫn đến NCC bị nghi ngờ và tạm dừng hợp tác hoặc bị loại khỏi vendor
list của khách hàng; chỉ tạm ngừng sử dụng hóa đơn khi có dấu hiệu rõ ràng về
gian lận hoặc doanh nghiệp không hợp tác. Như vậy sẽ hạn chế việc cơ quan thuế
và doanh nghiệp phải gặp gỡ, giải trình nhiều lần, đồng thời vẫn bảo đảm hiệu
quả quản lý.
- Ý kiến phúc đáp:
Đối với ý kiến điều chỉnh
tiêu chí kiểm soát rủi ro trong cấu trúc dữ liệu hóa đơn điện tử theo Quyết định
số 1306/QĐ-CT ngày 13/6/2025 của Cục Thuế, Cục Thuế sẽ nghiên cứu, điều chỉnh
cho phù hợp.
Đối với hệ số K hiện chỉ
là công cụ cảnh báo rủi ro, đang triển khai đối với người nộp thuế (NNT) có
ngành nghề kinh doanh chính thuộc nhóm ngành Thương mại, Sản xuất; chưa áp dụng
đối với các doanh nghiệp thuần túy cung cấp dịch vụ, tư vấn, phần mềm, đào tạo...
Khi thuộc diện cảnh báo, hệ thống tự động gửi email đến NNT. Do đó, việc cảnh
báo không đồng nghĩa với kết luận NNT có vi phạm mà là cơ sở để cơ quan Thuế tiếp
tục rà soát, đánh giá rủi ro và thực hiện các bước xử lý theo quy định
3. Nội
dung thứ ba
- Nội dung kiến nghị của
doanh nghiệp:
Chúng tôi kiến nghị khi
ban hành chính sách Thuế và Hải quan có ảnh hưởng rộng đến doanh nghiệp, cơ
quan quản lý nên đồng thời công bố ba nội dung: văn bản pháp luật; tài liệu hướng
dẫn tình huống thực tế; và bảng so sánh giữa quy định cũ với quy định mới.
Trong thời gian đầu áp dụng,
đối với sai sót lần đầu có tính chất kỹ thuật, không làm thiếu số thuế phải nộp,
không có dấu hiệu gian lận và doanh nghiệp đã chủ động khắc phục, nên ưu tiên
nhắc nhở, hướng dẫn thay vì xử phạt ngay.
Bên cạnh đó, cần xây dựng
một cơ sở dữ liệu hỏi - đáp thống nhất toàn ngành. Một vấn đề đã được cơ quan
trung ương hướng dẫn thì các cơ quan thuế, hải quan địa phương và cộng đồng
doanh nghiệp có thể tra cứu, áp dụng chung. Cơ chế này sẽ giảm đáng kể tình trạng
cùng một quy định nhưng mỗi địa phương có một cách hiểu khác nhau.
- Ý kiến phúc đáp:
Khi ban hành chính sách mới,
Cục Thuế đã có công bố văn bản pháp luật, có đăng văn bản nêu rõ điểm mới của
văn bản và các hướng dẫn tình huống thực tế được đăng thành các bài hướng dẫn,
hỗ trợ, tổ chức các buổi livestream hoặc hội nghị. Tiếp thu ý kiến, Cục Thuế sẽ
tăng cường thông tin trên nhiều kênh để nội dung được tiếp cận rộng rãi, giúp
doanh nghiệp nhận diện nhanh các nội dung thay đổi, hiểu đúng và thực hiện đúng
ngay từ khi chính sách có hiệu lực, qua đó giảm chi phí tuân thủ và hạn chế sai
sót phát sinh.
Đối với các sai sót phát
sinh trong giai đoạn đầu thực hiện chính sách mới, cơ quan Thuế chia sẻ quan điểm
cần tăng cường hướng dẫn, cảnh báo và hỗ trợ người nộp thuế chủ động phòng ngừa,
phát hiện và khắc phục sai sót, đặc biệt đối với những sai sót có tính chất kỹ
thuật, không dẫn đến thiếu số thuế phải nộp và không có dấu hiệu gian lận.
Đối với kiến nghị xây dựng
cơ sở dữ liệu hỏi - đáp thống nhất, Cục Thuế đánh giá đây là đề xuất phù hợp với
định hướng chuyển đổi số và nâng cao chất lượng hỗ trợ người nộp thuế. Cục Thuế
đã có kế hoạch hoàn thiện các kênh hỗ trợ theo hướng tập trung, số hóa và thống
nhất, tăng cường chuẩn hóa nội dung hỏi - đáp, hướng dẫn theo tình huống và cập
nhật kịp thời khi chính sách thay đổi.
Cục Thuế kính chuyển Quý
Công ty được biết./.
|
Nơi nhận:
- Như
trên;
- Lãnh đạo Cục (để b/c);
- Lưu: VT, QLTT.
|
TL. CỤC TRƯỞNG
TRƯỞNG BAN QLTT&HT NNT
Nguyễn Thu Trà
|