|
BỘ NỘI VỤ
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 1275/QĐ-BNV
|
Hà Nội, ngày 12 tháng
04 năm 2017
|
QUYẾT ĐỊNH
BAN
HÀNH TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG THEO TIÊU CHUẨN CHỨC DANH LƯU TRỮ VIÊN TRUNG CẤP (HẠNG
IV)
BỘ TRƯỞNG BỘ NỘI VỤ
Căn cứ Nghị định số 34/2017/NĐ-CP ngày 03 tháng 4 năm 2017 của Chính
phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ;
Căn cứ Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2012 của Chính
phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức;
Căn cứ Thông tư số 13/2014/TT-BNV
ngày 31 tháng 10 năm 2014 của Bộ Nội vụ quy định mã số và tiêu chuẩn chức danh
nghề nghiệp viên chức chuyên ngành lưu trữ;
Căn cứ Thông tư số 19/2014/TT-BNV
ngày 04 tháng 12 năm 2014 của Bộ Nội vụ quy định, hướng dẫn công tác đào tạo,
bồi dưỡng viên chức;
Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức, viên chức,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban
hành kèm theo Quyết định này Tài liệu bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh Lưu
trữ viên trung cấp (hạng IV).
Điều 2. Quyết
định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Điều 3. Bộ
trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ
tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Thủ trưởng các cơ
quan liên quan, Chánh Văn phòng - Bộ Nội vụ, Vụ trưởng Vụ Đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, công chức, viên chức - Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm thi hành Quyết định
này./.
|
Nơi nhận:
- Như
Điều 3;
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP;
- HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW;
- Văn phòng Quốc hội;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Ủy ban TW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
- Văn phòng TW và các Ban của Đảng;
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;
- Kiểm toán Nhà nước;
- Các tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương;
- Cơ sở ĐTBD CBCC của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP, tổ chức chính
trị - xã hội ở Trung ương;
- Sở Nội vụ, Trường Chính trị các tỉnh, thành phố trực thuộc TW;
- Bộ Nội vụ: Bộ trưởng, các Thứ trưởng;
- Trang Thông tin điện tử của Bộ Nội vụ;
- Lưu: VT, ĐT (5b).
|
KT.
BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Triệu Việt Cường
|
TÀI
LIỆU BỒI DƯỠNG
THEO TIÊU CHUẨN CHỨC DANH LƯU TRỮ VIÊN TRUNG
CẤP (HẠNG IV)
(Ban
hành kèm theo Quyết định số 1275/QĐ-BNV ngày 12 tháng 4 năm 2017 của Bộ trưởng
Bộ Nội vụ)
Phần
1
KIẾN
THỨC CHUNG
Chuyên
đề 1
NHÀ
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
1. Những vấn đề cơ bản
về nhà nước
1.1. Nguồn gốc nhà nước
Nhà nước là một hiện
tượng xã hội đa dạng và phức tạp. Để có nhận thức đúng về bản chất Nhà nước,
cũng như những biến động trong đời sống Nhà nước, cần phải làm sáng tỏ nguồn
gốc hình thành Nhà nước, chỉ ra những nguyên nhân đích thực làm xuất hiện Nhà
nước.
Có nhiều quan điểm khác
nhau về nguồn gốc của Nhà nước như các học thuyết phi mác-xít (thuyết quyền gia
trưởng, thuyết thần quyền, thuyết khế ước xã hội, thuyết bạo lực...) và học
thuyết của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin.
Thuyết thần học khẳng
định nhà nước ra đời là do Chúa hoặc Thượng đế sinh ra. Nhà nước là sản phẩm
của Thượng đế và nhà nước là lực lượng siêu nhiên và tất yếu; quyền lực nhà
nước bất biến, vĩnh cửu. Quyền lực của nhà nước là quyền lực của Thượng đế và
tất cả các thành viên trong xã hội phải phục tùng quyền lực này. Đại diện cho
quan điểm này có các nhà tư tưởng như Ph. Acvin, Masiten, Koct...
Theo quan điểm của
Arixtot, Mikhailop, Merdooc... đại diện cho thuyết gia trưởng, nhà nước ra đời
là sản phẩm của sự phát triển gia đình và quyền lực của người gia trưởng trong
gia đình cũng giống như quyền lực của nhà nước.
Thuyết khế ước xã hội
và đa số các nhà học giả tư sản như: John Locke, Montesquieu, DenisDiderot,
Jean Jacques Roussau cho rằng nhà nước ra đời là sản phẩm của một hợp đồng
được ký kết giữa những con người sống trong trạng thái tự nhiên không có nhà
nước. Chủ quyền nhà nước thuộc về nhân dân và nếu như vai trò của nhà nước
không được giữ vững, các quyền tự nhiên bị vi phạm thì khế ước sẽ mất hiệu lực
và nhân dân có quyền lật đổ nhà nước và ký kết thỏa ước mới. Với quan niệm đó,
thuyết này là cơ sở lý luận cho cách mạng tư sản lật đổ ách thống trị phong
kiến.
Theo Gumplovich,
E.Đuyring, đại diện cho quan điểm của thuyết bạo lực lại cho rằng nhà nước ra
đời là kết quả của việc sử dụng bạo lực của thị tộc này đối với thị tộc khác mà
thị tộc chiến thắng đã nghĩ ra bộ máy nhà nước để trấn áp thị tộc chiến bại.
Với quan điểm này, nhà nước là công cụ thống trị của kẻ mạnh đối với kẻ yếu.
Thuyết tâm lý cho rằng
nhà nước ra đời xuất phát từ nhu cầu tâm lý của người nguyên thủy muốn phụ
thuộc vào các thủ lĩnh, giáo sĩ. Do đó, L.Peteraziki, Phơreder đại diện của học
thuyết này cho rằng nhà nước là tổ chức của những siêu nhân có sứ mạng lãnh đạo
xã hội.
Có thể nói, các học
thuyết trên cho rằng nhà nước là hiện tượng tồn tại mãi cùng xã hội loài người,
giải thích nguồn gốc ra đời của nhà nước đã tách rời nhà nước cùng với quá
trình vận động và phát triển của đời sống vật chất xã hội loài người, không
nhìn thấy nguyên nhân kinh tế là yếu tố nền tảng thúc đẩy quá trình hình thành
nhà nước. Các học thuyết trên đều chứng minh nhà nước là của toàn xã hội không
phụ thuộc giai cấp nào. Do bị hạn chế về lịch sử và thế giới quan nên các học
thuyết này chưa giải thích được đúng đắn và khoa học về nguồn gốc ra đời của
nhà nước.
Với quan điểm duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử, chủ nghĩa Mác - Lê nin đã chứng minh một cách
khoa học rằng nhà nước không phải là hiện tượng xã hội vĩnh cửu và bất biến.
Nhà nước chỉ xuất hiện khi xã hội loài người đã phát triển đến một giai đoạn
nhất định và chúng luôn vận động, phát triển và sẽ tiêu vong khi những điều
kiện khách quan cho sự tồn tại và phát triển của chúng không còn. Theo quan điểm
của chủ nghĩa Mác - Lê nin, sự hình thành Nhà nước có nguồn gốc như sau:
- Xã hội cộng sản
nguyên thủy và tổ chức thị tộc
Xã hội cộng sản nguyên
thủy là xã hội chưa có giai cấp, chưa có nhà nước và pháp luật. Sự phân chia
giai cấp từ đó dẫn đến sự ra đời của nhà nước và pháp luật nảy sinh chính trong
quá trình phát triển và tan rã của xã hội đó.
Cơ sở kinh tế của xã
hội cộng sản nguyên thủy được đặc trưng bằng chế độ sở hữu chung về tư liệu sản
xuất và sản phẩm lao động với trình độ hết sức thấp kém của lực lượng sản xuất.
Trong điều kiện đó, con người không thể sống riêng lẻ mà phải dựa vào nhau để
sống chung, lao động chung và thụ hưởng thành quả lao động chung. Không ai có
tài sản riêng, vì thế không có tình trạng người này chiếm đoạt tài sản của
người kia, xã hội lúc này chưa phân chia thành giai cấp và không có đấu tranh
giai cấp.
Quyền lực cao nhất
trong thị tộc là Hội đồng thị tộc, gồm những thành viên lớn tuổi trong thị tộc.
Hội đồng thị tộc có quyền quyết định những vấn đề quan trọng của thị tộc như tổ
chức lao động sản xuất, tiến hành chiến tranh, tổ chức các nghi lễ tôn giáo,
giải quyết tranh chấp nội bộ… Các quyết định của hội đồng thị tộc thể hiện ý
chí chung của tất cả các thành viên và có tính bắt buộc chung. Hội đồng thị tộc
bầu ra những người đứng đầu thị tộc như tù trưởng, thủ lĩnh quân sự... để thực
hiện quyền lực và quản lý các công việc chung của thị tộc. Quyền lực của những
người đứng đầu thị tộc dựa trên cơ sở uy tín cá nhân, sự tín nhiệm, ủng hộ của các
thành viên trong thị tộc. Những người đứng đầu thị tộc không có một đặc quyền,
đặc lợi nào, họ cùng lao động và hưởng thụ như mọi thành viên khác và có thể bị
bãi miễn bất cứ lúc nào nếu không được cộng đồng ủng hộ.
Cùng với sự phát triển
của xã hội, do nhiều yếu tố tác động khác nhau, trong đó có sự tác động của chế
độ ngoại tộc hôn, các thị tộc đã mở rộng quan hệ với nhau, dẫn đến sự xuất hiện
các bào tộc và bộ lạc.
Bào tộc là liên minh
bao gồm nhiều thị tộc hợp lại, tổ chức quyền lực của bào tộc là hội đồng bào
tộc, là sự thể hiện tập trung quyền lực cao hơn thị tộc. Hội đồng bào tộc bao
gồm các tù trưởng, thủ lĩnh quân sự của các thị tộc, phần lớn công việc của bào
tộc vẫn do hội nghị tất cả các thành viên của bào tộc quyết định.
Bộ lạc bao gồm nhiều bào
tộc, tổ chức quyền lực trong bộ lạc cũng dựa trên cơ sở những nguyên tắc tương
tự của tổ chức thị tộc và bào tộc nhưng đã thể hiện ở mức độ tập trung quyền
lực cao hơn. Tuy nhiên quyền lực vẫn mang tính xã hội, chưa mang tính giai cấp.
Như vậy, trong xã hội
cộng sản nguyên thủy đã có quyền lực, nhưng đó là thứ quyền lực xã hội, được tổ
chức và thực hiện trên cơ sở những nguyên tắc dân chủ thực sự, phục vụ lợi ích
chung của cả cộng đồng.
- Sự tan rã của tổ chức
thị tộc và sự xuất hiện nhà nước
Lực lượng sản xuất phát
triển không ngừng, công cụ lao động được cải tiến, con người ngày càng nhận
thức đúng đắn hơn về thế giới, đúc kết được nhiều kinh nghiệm trong lao động,
đòi hỏi từ sự phân công lao động tự nhiên phải được thay thế bằng phân công lao
động xã hội. Lịch sử đã trải qua ba lần phân công lao động xã hội, qua ba lần
phân công lao động xã hội này đã làm tan rã xã hội cộng sản nguyên thủy.
+ Phân công lao động
xã hội lần thứ nhất: chăn nuôi tách khỏi trồng trọt và làm xuất hiện chế độ
tư hữu. Bên cạnh ngành chăn nuôi, ngành trồng trọt có những bước phát triển
mới, năng suất lao động tăng nhanh, sản phẩm làm ra ngày càng nhiều, do đó, đã
xuất hiện những sản phẩm dư thừa. Các tù trưởng, thủ lĩnh quân sự là những
người có khả năng chiếm đoạt những sản phẩm dư thừa đó. Sự phát triển mạnh mẽ
của nghề chăn nuôi và trồng trọt đặt ra nhu cầu về sức lao động nên những tù
binh trong chiến tranh được giữ lại làm nô lệ để bóc lột sức lao động.
Như vậy, sau lần phân
công lao động xã hội thứ nhất, chế độ tư hữu đã xuất hiện, xã hội phân chia
thành người giàu, người nghèo. Mặt khác, chế độ tư hữu xuất hiện đã làm thay
đổi chế độ hôn nhân. Chế độ hôn nhân một vợ một chồng đã thay thế cho chế độ
quần hôn. Đồng thời với sự thay đổi đó, người chồng đã trở thành người chủ trong
gia đình, gia đình cá thể đã trở thành một lực lượng và đe dọa chế độ thị tộc
+ Phân công lao động
xã hội lần thứ hai: thủ công nghiệp tách ra khỏi nông nghiệp. Xã hội có
nhiều ngành nghề phát triển nên càng cần sức lao động thì số lượng nô lệ làm
việc ngày càng tăng và trở thành một lực lượng xã hội. Sự phân công lao động
lần thứ hai đã đẩy nhanh quá trình phân hóa xã hội, làm cho sự phân biệt giữa
kẻ giầu người nghèo, giữa chủ nô và nô lệ ngày càng sâu sắc, mâu thuẫn giai cấp
ngày càng tăng.
+ Phân công lao động
xã hội lần thứ ba: xuất hiện tầng lớp thương nhân và nghề thương mại. Sự
phân công này đã làm nảy sinh giai cấp thương nhân, đẩy nhanh sự phân chia giai
cấp, làm cho sự tích tụ và tập trung của cải vào trong tay một số ít người giầu
có, đồng thời thúc đẩy sự bần cùng hóa của quần chúng và sự tăng nhanh của đám
đông dân nghèo.
Như vậy, do sự phát
triển của lực lượng sản xuất dẫn đến xuất hiện những yếu tố mới làm đảo lộn đời
sống thị tộc, phá vỡ cuộc sống định cư của thị tộc. Tổ chức thị tộc dần dần
không còn phù hợp. Về mặt xã hội, bên cạnh những nhu cầu và lợi ích mà thị tộc
phải bảo vệ đã xuất hiện những nhu cầu mới. Lợi ích mới đối lập với chế độ thị
tộc về mọi phương diện của những tầng lớp người khác nhau.
Với ba lần phân công
lao động đã làm xuất hiện chế độ tư hữu dẫn đến xã hội đã phân chia thành các
giai cấp đối lập nhau luôn có mâu thuẫn và đấu tranh gay gắt với nhau để bảo vệ
lợi ích của giai cấp mình. Xã hội mới này đòi hỏi phải có một tổ
chức đủ sức dập tắt các cuộc xung đột công khai giữa các giai cấp và giữ cho
các cuộc xung đột giai cấp ấy trong vòng trật tự có lợi cho những người có của
và giữ địa vị thống trị. Tổ chức đó là Nhà nước.
Nghiên cứu về nguồn gốc
của Nhà nước cho thấy Nhà nước là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, nó
chỉ ra đời và tồn tại khi trong xã hội có những điều kiện nhất định, đó là xã hội có sự xuất
hiện giai cấp và đấu tranh giai cấp. Khi nào trong xã hội không còn những điều
kiện cho sự tồn tại và phát triển của Nhà nước thì khi đó Nhà nước sẽ không còn
nữa. Khi đó chúng ta nói rằng Nhà nước đã tiêu vong.
1.2. Bản chất nhà nước
Nhà nước là bộ máy đặc
biệt đảm bảo sự thống trị về kinh tế, để thực hiện quyền lực về chính trị và
thực hiện sự tác động về tư tưởng đối với cộng đồng dân cư, ngoài ra nhà nước
còn phải giải quyết tất cả các vấn đề nảy sinh trong xã hội, nghĩa là phải thực
hiện các chức năng xã hội. Điều đó chứng tỏ rằng, nhà nước là một hiện tượng
phức tạp và đa dạng, nó vừa mang bản chất giai cấp vừa mang bản chất xã hội.
1.2.1. Tính giai cấp
Nhà nước xuất hiện và
tồn tại trong xã hội có giai cấp; là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn
giai cấp không thể điều hòa được; nhà nước là bộ máy trấn áp đặc biệt của giai
cấp này đối với giai cấp khác. Trong xã hội có giai cấp, sự thống trị giai cấp thể
hiện trên ba phương diện về kinh tế, chính trị và tư tưởng. Trong đó, quyền lực
về kinh tế giữ vai trò quyết định. Giai cấp thống trị nắm trong tay quyền lực
về kinh tế và bắt giai cấp bị trị lệ thuộc chặt chẽ vào quyền lực của mình.
Nhưng để kiểm soát và thực hiện quyền lực này, giai cấp thống trị đã thông qua
bộ máy cưỡng chế đặc biệt để thực hiện việc đàn áp sự phản kháng của giai cấp
bị bóc lột. Nhờ đó giai cấp thống trị hợp pháp hóa ý chí của mình và buộc các
giai cấp khác phải tuân thủ ý chí này. Thông qua hệ thống quyền lực kinh tế và
quyền lực chính trị, giai cấp thống trị thiết lập hệ tư tưởng của xã hội và
buộc các giai cấp khác phải lệ thuộc vào hệ tư tưởng này. Nhà nước là công cụ
sắc bén nhất thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, bảo vệ quyền lợi của giai
cấp thống trị. Nhà nước là một bộ máy bạo lực, công cụ chuyên chế của giai cấp
này đối với giai cấp khác.
1.2.2. Tính xã hội
Tất cả các nhà nước,
bên cạnh việc duy trì sự thống trị giai cấp, còn quan tâm giải quyết các vấn đề
trực tiếp nảy sinh trong đời sống xã hội, phục vụ lợi ích của các giai tầng
khác trong chừng mực lợi ích của các giai tầng đó không đối lập với lợi ích của
giai cấp thống trị. Là phương thức tổ chức đảm bảo lợi ích chung của xã hội,
Nhà nước phải bảo đảm các hoạt động liên quan về phúc lợi xã hội, thất nghiệp,
hỗ trợ giải quyết việc làm, cải thiện điều kiện lao động, quan tâm đến các vấn
về môi trường, đê điều, dịch bệnh và các tệ nạn xã hội xảy ra. Mỗi nhà nước
khác nhau, mức độ giai cấp và vai trò xã hội là khác nhau phụ thuộc vào điều
kiện kinh tế của từng kiểu nhà nước. Như vậy, tính giai cấp và vai trò xã hội
là hai mặt
trong một
hệ thống thống nhất có mối quan hệ gắn bó, mật thiết với nhau tạo thành bản
chất nhà nước.
1.2.3. Các dấu hiệu cơ
bản của nhà nước
Mỗi kiểu nhà nước khác
nhau có bản chất riêng nhưng tất cả các nhà nước đều có những dấu hiệu chung cơ
bản làm cho nhà nước khác với tổ chức thị tộc - bộ lạc và với các tổ chức chính
trị - xã hội khác.
Thứ nhất, nhà nước thiết lập
quyền lực công cộng đặc biệt. Quyền lực công cộng đặc biệt là quyền lực chính
trị mà chủ thể của nó là giai cấp thống trị về kinh tế, chính trị và tư tưởng.
Quyền lực chính trị được đảm bảo thực hiện bằng bộ máy cưỡng chế đặc biệt của
nhà nước thông qua một tầng lớp người chuyên làm nhiệm vụ quản lý.
Thứ hai, nhà nước phân chia dân
cư theo đơn vị hành chính lãnh thổ. Nhà nước phân chia dân cư không phụ thuộc
vào chính kiến, huyết thống, nghề nghiệp, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo để
dân cư “thực hiện những quyền lợi và những nghĩa vụ xã hội của họ tại nơi cư
trú, không kể họ thuộc thị tộc nào và bộ lạc nào. Cách tổ chức những công dân
của nhà nước theo địa vực họ cư trú như thế là một đặc điểm chung của tất cả
các nhà nước”. Nhà nước phân chia theo đơn vị hành chính như tỉnh, huyện, xã để
thực hiện việc quản lí và thông qua đó nhà nước thiết lập mối quan hệ với công
dân của mình.
Thứ ba, nhà nước có chủ quyền
quốc gia. Chủ quyền quốc gia là một thuộc tính không tách rời của nhà nước, là
một khái niệm chính trị - pháp lý thể hiện quyền tự quyết về đối nội và đối
ngoại mà không chịu sự can thiệp hay lệ thuộc vào ý chí của các quốc gia khác.
Nhà nước thiết lập quyền lực trong phạm vi lãnh thổ và bình đẳng độc lập với
các quốc gia khác.
Thứ tư, nhà nước ban hành pháp luật
và áp dụng bắt buộc đối với mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội. Nhà nước và pháp
luật là phạm trù lịch sử có mối quan hệ biện chứng hữu cơ với nhau. Nhà nước
không thể tồn tại nếu thiếu pháp luật ngược lại pháp luật cũng không phát sinh
nếu không có nhà nước. Để quản lí xã hội nhà nước là chủ thể duy nhất có quyền
ban hành hệ thống pháp luật và đảm bảo cho pháp luật được thực hiện đầy đủ,
nghiêm chỉnh thông qua hệ thống cảnh sát, tòa án, quân đội, nhà tù… Chỉ có nhà
nước mới có các cơ quan cưỡng chế và đảm bảo cho pháp luật được thực thi.
Thứ năm, nhà nước đặt ra thuế
và tiến hành thu thuế dưới các hình thức bắt buộc. Thuế là nguồn thu để nuôi
dưỡng những người chuyên làm nhiệm vụ trong bộ máy nhà nước và đảm bảo cho sự
phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội cũng như việc xây dựng và duy trì cơ sở vật
chất kỹ thuật cho bộ máy nhà nước. Nhà nước là chủ thể duy nhất được quyền thu
các loại thuế đối với mọi công dân. Tuy nhiên, mỗi một nhà nước có một chế
độ, chính sách thuế riêng phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể.
1.3. Chức năng nhà nước
Chức năng của nhà nước
được thể hiện thông qua những phương diện, những mặt hoạt động cơ bản của nhà
nước, phản ánh bản chất của nhà nước, được xác định tùy thuộc vào đặc điểm tình
hình trong nước và quốc tế, nhằm thực hiện những nhiệm vụ đặt ra trước nhà nước
trong từng giai đoạn.
Chức năng của nhà nước
do các cơ quan nhà nước bộ phận hợp thành bộ máy nhà nước thực hiện. Căn cứ vào
những phương diện hoạt động của nhà nước, các chức năng của nhà nước được chia
thành chức năng đối nội và chức năng đối ngoại
- Chức năng đối nội là
những phương diện hoạt động chủ yếu của nhà nước trong nội bộ đất nước như: bảo
đảm trật tự xã hội, trấn áp những phần tử chống đối chế độ, bảo vệ và phát
triển chế độ kinh tế, văn hóa…
- Chức năng đối
ngoại thể hiện vai trò của nhà nước trong quan hệ với các nhà nước, các dân
tộc, quốc gia khác như: thiết lập mối quan hệ với các quốc gia khác, phòng thủ
đất nước, chống sự xâm lược từ bên ngoài…
Các chức năng đối nội
và đối ngoại có mối quan hệ mật thiết với nhau, nếu thực hiện tốt chức năng đối
nội thì sẽ tạo thuận lợi cho việc thực hiện chức năng đối ngoại và ngược lại,
thực hiện thành công hay thất bại chức năng đối ngoại sẽ ảnh hưởng việc thực
hiện chức năng đối nội.
1.4. Hình thức nhà nước
Hình thức nhà nước là
sự biểu hiện ra bên ngoài của việc tổ chức quyền lực nhà nước ở mỗi kiểu nhà
nước trong một hình thái kinh tế -xã hội nhất định. Hình thức nhà nước do bản
chất và nội dung của nhà nước quy định.
Như vậy, hình thức nhà
nước là khái niệm được cấu thành bởi 3 yếu tố: Chính thể, cấu trúc nhà nước,
chế độ chính trị.
- Hình thức chính thể: là hình thức tổ chức
các cơ quan quyền lực tối cao, cơ cấu trình tự và mối quan hệ giữa chúng với
nhau cũng như mức độ tham gia của nhân dân vào việc thiết lập các cơ quan này.
Hình thức chính thể gồm
2 dạng cơ bản là:
+ Chính thể quân chủ:
quyền lực nhà nước tập trung toàn bộ hay phần lớn trong tay người đứng đầu nhà
nước (Vua, Hoàng đế...) theo nguyên tắc thừa kế.
+ Chính thể cộng hòa:
quyền lực nhà nước được thực hiện bởi các cơ quan đại diện do dân bầu ra trong một thời gian nhất
định.
- Hình thức cấu trúc: là sự tổ chức nhà
nước theo các đơn vị hành chính - lãnh thổ và tính chất quan hệ giữa các bộ
phận cấu thành nhà nước, giữa cơ quan nhà nước trung ương với cơ quan nhà nước
địa phương.
Có hai hình thức cấu
trúc nhà nước chủ yếu đó là:
+ Nhà nước đơn nhất: là
nhà nước có lãnh thổ toàn vẹn, thống nhất. Các bộ phận hợp thành nhà nước là
các đơn vị hành chính lãnh thổ không có chủ quyền quốc gia và các đặc điểm khác
của nhà nước; đồng thời nó có hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương xuống
địa phương. Ví dụ: Nhà nước Việt Nam, Lào, Trung Quốc...
+ Nhà nước liên bang:
do nhiều nhà nước hợp lại. Trong nhà nước liên bang thì không chỉ liên bang có
dấu hiệu của nhà nước mà các bang thành viên cũng có. Có hai hệ thống cơ quan
nhà nước và hai hệ thống pháp luật của chung liên bang và từng nhà nước thành
viên. Ví dụ: Nhà nước liên bang Mỹ, Malaixia, Braxin...
+ Ngoài ra có một loại
hình nhà nước khác nữa là Nhà nước liên minh - chỉ là sự liên kết tạm thời của
các quốc gia để thực hiện những nhiệm vụ và mục tiêu nhất định. Sau khi hoàn
thành nhiệm vụ và đạt được mục đích rồi thì nhà nước liên minh tự giải tán,
cũng có trường hợp nó phát triển thành nhà nước liên bang. Ví dụ: Từ năm 1776
đến 1787 Hợp chủng quốc Hoa Kỳ là nhà nước liên minh sau đó phát triển thành
nhà nước liên bang.
- Chế độ chính trị
Là toàn bộ các phương
pháp, cách thức, phương tiện mà các cơ quan nhà nước sử dụng để thực hiện quyền
lực nhà nước. Nói cách khác, chế độ chính trị là phương pháp cai trị và quản lý
xã hội của giai cấp cầm quyền nhằm thực hiện những mục tiêu chính trị nhất
định. Chế độ chính trị quan hệ chặt chẽ với bản chất, nhiệm vụ, mục tiêu hoạt
động của nhà nước và các điều kiện khác về kinh tế, chính trị - xã hội, thể
hiện mức độ dân chủ trong một nhà nước.
Từ khi nhà nước xuất
hiện cho tới nay các giai cấp cầm quyền đã sử dụng nhiều phương pháp cai trị
khác nhau nhưng nhìn chung có hai phương pháp chính là phương pháp dân chủ và
phương pháp phản dân chủ. Tương ứng với 2 phương pháp ấy là 2 chế độ nhà nước:
+ Chế độ dân chủ: tôn
trọng các quyền cơ bản của công dân được đảm bảo trong thực tế bằng việc được
pháp luật bảo vệ. Công dân được tham gia vào việc xây dựng nhà nước, tham gia
quản lý và giải quyết những công việc hệ trọng của nhà nước.
Ví dụ: chế độ dân chủ
chủ nô, chế độ dân chủ quý tộc phong kiến, chế độ dân chủ tư sản.
+ Chế độ phản dân chủ:
chà đạp lên quyền tự do dân chủ của công dân.
Ví dụ: chế độ độc tài
chuyên chế chủ nô, chế độ độc tài chuyên chế phong kiến, chế độ độc tài phát
xít tư sản.
1.5. Bộ máy nhà nước
Bộ máy nhà nước là hệ
thống các cơ quan nhà nước từ TW đến địa phương được tổ chức và hoạt động theo
nguyên tắc chung, thống nhất nhằm thực hiện những nhiệm vụ và chức năng của nhà
nước, vì lợi ích của giai cấp thống trị.
2. Một số vấn đề cơ bản
về Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
2.1. Bản chất của Nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Sau Cách mạng Tháng Tám
thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, đó là nhà nước dân chủ nhân dân đầu
tiên ở Đông Nam Á. Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa trước đây, nay là Nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam là nhà nước kiểu mới về bản
chất, là nhà nước pháp quyền XHCN, khác hẳn với các kiểu nhà nước từng có trong
lịch sử. Điều 2 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Nhà nước
Cộng hòa XHCN Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân,
vì Nhân dân. Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực
nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với
giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự
phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện
các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.
Bản chất của Nhà nước
CHXHCN Việt Nam được thể hiện ở những đặc trưng sau:
Một là, Nhà nước thực
sự của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về
nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân
và đội ngũ trí thức.
Trong khuôn khổ của một
chế độ chính trị dân chủ, quyền lực nhà nước phải được xác lập và thực hiện
trên cơ sở ý chí đích thực của người chủ quyền lực, tôn trọng những quyết định
chính trị của nhân dân. Nhân dân với tư cách là người chủ quyền lực, không chỉ
lập nên Nhà nước của mình, trực tiếp và thông qua các cơ quan đại diện của mình
để thực thi quyền lực, mà còn thông qua các hình thức khác để tham gia vào hoạt
động quản lý của Nhà nước.
Do đó, Hiến pháp năm 2013 quy định cụ thể các phương
thức để nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân
chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan
khác của Nhà nước (Điều 6) mà không chỉ thông qua Quốc hội
và Hội đồng nhân dân như Hiến pháp năm 1992. Điều 6 Hiến pháp 2013 quy định cụ thể: “Nhân dân thực hiện
quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc
hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”.
Hai là, Nhà nước được
tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp,
pháp luật và bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp
và luật trong đời sống xã hội.
Trong nhà nước pháp
quyền, ý chí của nhân dân và sự lựa chọn chính trị được xác lập một cách tập
trung nhất, đầy đủ nhất và cao nhất bằng Hiến
pháp. Hiến pháp là đạo luật cơ bản của
Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất, quy định chế độ chính trị, kinh tế, văn
hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ
cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sự hiện diện của
Hiến pháp là điều kiện quan trọng nhất bảo
đảm cho sự ổn định xã hội và sự an toàn của người dân. Trong nhà nước pháp
quyền, pháp luật là cơ sở cho hoạt động của các thiết chế quyền lực, còn các
thiết chế quyền lực phải thực sự bảo đảm cho pháp luật có được những thuộc tính
công bằng, bình đẳng và dân chủ.
Pháp luật là công cụ
chủ yếu để quản lý nhà nước và xã hội. Do đó phải xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao ý thức chấp
hành pháp luật của nhân dân, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức xã
hội.
Ba là, Nhà nước tổ chức
theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và
kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp,
tư pháp.
Với bản chất nhà nước
của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân
dân, nên quyền lực nhà nước là một thể thống nhất không bị phân chia. Tính giai
cấp và tính nhân dân của quyền lực nhà nước quyết định tính thống nhất của
quyền lực nhà nước. Quyền lực thống nhất đó được trao cho những cơ quan nhà
nước khác nhau thực hiện để bảo đảm sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa
các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp...
Bốn là, Nhà nước phục
vụ Nhân dân, gắn bó mật thiết với Nhân dân; tôn trọng và bảo vệ quyền con
người, quyền công dân.
Bản chất dân chủ của
Nhà nước xét đến cùng thể hiện ở chỗ Nhà nước đó đem lại lợi ích gì cho nhân
dân. Từ đó, tiêu chí của việc đánh giá hiệu quả hoạt động của Nhà nước là khả
năng phục vụ nhân dân, là công cụ để nhân dân làm chủ về kinh tế, chính trị, xã
hội, sử dụng tốt và hiệu quả các quyền lực, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình.
Bảo đảm quyền con
người, quyền công dân, thực hành dân chủ, nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa nhà
nước và công dân, giữa công dân với nhà nước luôn được Đảng và Nhà nước ta quan
tâm đặc biệt. Phát huy dân chủ nhằm bảo đảm trên thực tế nguyên tắc “công dân
có thể làm tất cả những gì pháp luật không cấm”, còn cán bộ, công chức nhà nước
và các cơ quan nhà nước “chỉ được làm những gì luật pháp quy định”.
Năm là, Nhà nước tôn
trọng và cam kết thực hiện các công ước, điều ước quốc tế đã tham gia, ký kết,
phê chuẩn; thực hiện đường lối đối ngoại hòa bình, hữu nghị hợp tác, bình đẳng
và phát triển với các nước và dân tộc trên thế giới.
Thực hiện chính sách
hòa bình, hữu nghị, mở rộng giao lưu và hợp tác với tất cả các nước trên thế
giới, chủ động hội nhập quốc tế, trong những năm qua, Nhà nước ta đã ký kết
nhiều điều ước và gia nhập các tổ chức quốc tế. Điều ước quốc tế mà Nhà nước
Việt Nam ký kết hoặc tham gia đã và đang trở thành một bộ phận không thể tách
rời của hệ thống pháp luật quốc gia, trong trường hợp điều ước quốc tế mà Nhà
nước ta ký kết hoặc tham gia có quy định khác với các luật chuyên ngành của
Việt Nam thì được ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế.
Sáu là, Nhà nước do
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Sự lãnh đạo của Đảng
đối với Nhà nước và xã hội ở nước ta là một tất yếu lịch sử khách quan, bảo đảm
vững chắc quyền làm chủ của nhân dân, làm cho Nhà nước luôn luôn nằm trong quỹ
đạo phục vụ nhân dân, do nhân dân. Với tư cách là một Đảng cầm quyền, Đảng được
tổ chức và hoạt động với tính chất là một nhân tố quan trọng của cơ chế thực
hiện quyền lực Nhà nước. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước được thể hiện trên
những nội dung trọng yếu sau đây:
Lãnh đạo các cơ quan
nhà nước thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và tổ chức thực
hiện thông qua bộ máy nhà nước, bảo đảm cho đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng trở thành hiện thực sinh động trong đời sống toàn xã hội.
Lãnh đạo chăm lo xây
dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công cuộc xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân.
Lãnh đạo công tác kiểm
tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước và cán bộ, đảng viên hoạt động
trong các cơ quan nhà nước, bảo đảm cho các cơ quan nhà nước và cán bộ, công
chức nhà nước thực hiện đúng đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của
Nhà nước.
Những đặc điểm mang
tính bản chất nêu trên của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam được thể hiện cụ thể
trong các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước và pháp luật chế định một cách chặt
chẽ.
2.2. Chức năng của nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Chức năng của nhà nước
là những phương diện hoạt động cơ bản của nhà nước, thể hiện bản chất, mục đích
của nó, được quy định bởi thực tế khách quan của tình hình chính trị, kinh tế,
xã hội trong nước và tình hình quốc tế từng giai đoạn phát triển. Có thể chia
các chức năng của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thành chức năng đối nội và
chức năng đối ngoại.
2.2.1. Chức năng đối
nội
- Chức năng bảo vệ chế
độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Muốn
tiến hành sự nghiệp đổi mới thuận lợi, Nhà nước ta phải bảo đảm an ninh chính
trị, trật tự an toàn xã hội trên toàn bộ đất nước. Nhà nước phải có đủ sức mạnh
và kịp thời đập tan mọi âm mưu chống đối của các thế lực thù địch, đảm bảo điều
kiện ổn định cho Nhân dân sản xuất kinh doanh.
- Chức năng bảo vệ và
bảo đảm quyền con người, quyền công dân, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Điều 3 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước bảo đảm và phát
huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền
con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều
kiện phát triển toàn diện”. Đây là một trong những chức năng quan trọng của Nhà
nước Cộng hòa XHCN; bởi vì, việc thực hiện chức năng này thể hiện trực tiếp bản
chất của nhà nước kiểu mới, nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
Đồng thời, việc thực hiện chức năng này sẽ đảm bảo sức mạnh của Nhà nước trong
việc thực hiện tất cả các chức năng khác của Nhà nước, quan hệ đến sự tồn tại,
phát triển của bản thân Nhà nước và chế độ.
- Chức năng bảo vệ trật
tự pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Đây là chức năng quan
trọng, liên quan trực tiếp đến việc thực hiện tất cả các chức năng khác của Nhà
nước. Pháp luật là phương tiện quan trọng để Nhà nước tổ chức thực hiện có hiệu
quả tất cả các chức năng của mình, do đó, bảo vệ trật tự pháp luật, tăng cường
pháp chế xã hội chủ nghĩa là hoạt động thường xuyên, có ý nghĩa quyết định đối
với việc nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước. Mục đích của chức năng này là
nhằm bảo đảm cho pháp luật được thi hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất,
thực hiện quản lý trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng pháp luật.
- Chức năng tổ chức và
quản lý kinh tế.
Tổ chức và quản lý nền
kinh tế đất nước, xét đến cùng là chức năng hàng đầu và là cơ bản nhất của Nhà
nước Cộng hòa XHCN nhằm xây dựng một xã hội dựa trên cơ sở vật chất và kỹ thuật
phát triển cao.
Nhà nước ta là người
đại diện cho ý chí, quyền lực của Nhân dân lao động, là người chủ sở hữu đối
với các tư liệu sản xuất chủ yếu; là người nắm trong tay các công cụ, phương
tiện quản lý (chính sách, kế hoạch, pháp luật, tài chính, ngân hàng…) và
quản lý việc sử dụng tài sản quốc gia. Trên cơ sở đó, Nhà nước có đủ điều kiện
để tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế trong nước cũng như
hợp tác quốc tế. Điều 52, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà
nước xây dựng
và hoàn
thiện thể chế kinh tế, điều tiết nền kinh tế trên cơ sở tôn trọng các quy luật
thị trường; thực hiện phân công, phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước;
thúc đẩy liên kết kinh tế vùng, bảo đảm tính thống nhất của nền kinh tế quốc
dân”
- Chức năng tổ chức và
quản lý văn hóa, khoa học, giáo dục.
Xã hội mới mà Nhân dân
ta đang xây dựng là xã hội do Nhân dân lao động làm chủ; có nền kinh tế phát triển
trên cơ sở một nền khoa học và công nghệ tiên tiến; có nền văn hóa tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi sự áp bức, bóc lột, bất
công, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân.
Muốn xây dựng xã hội đó, Nhà nước ta phải tổ chức, quản lý sự nghiệp giáo dục
đào tạo, văn hóa, phát triển khoa học và công nghệ. Đó là quốc sách hàng đầu để
phát huy nhân tố con người, phát huy vai trò then chốt của khoa học và công
nghệ. Đó là những động lực trực tiếp của sự phát triển, tạo điều kiện cần thiết
cho việc thực hiện các chức năng khác của Nhà nước vừa nhằm tổ chức quản lý văn
hóa, khoa học, giáo dục vừa nhằm thực hiện những nhiệm vụ kinh tế xã hội. Trước
mắt, cần chuẩn bị cho đất nước bước vào những giai đoạn phát triển tiếp theo
trong tương lai, hòa nhập với sự phát triển của nền văn minh thế giới.
2.2.2. Chức năng đối
ngoại
Nhà nước ta thực hiện
chức năng đối ngoại nhằm tranh thủ sự đồng tình ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân
thế giới, mở rộng hợp tác quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời làm tròn nghĩa vụ quốc tế đối với phong trào
cách mạng thế giới. Điều 12 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Nước Cộng hòa XHCN
Việt Nam thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu
nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và
tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và
toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng,
cùng có lợi; tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và điều ước quốc tế mà Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa
Việt Nam
là thành viên; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng
đồng quốc tế vì lợi ích quốc gia, dân tộc, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc
lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”.
- Chức năng bảo vệ Tổ
quốc xã hội chủ nghĩa.
Tất cả chức năng đối
nội của nhà nước chỉ có thể được triển khai thực hiện tốt khi Tổ quốc được bảo
vệ vững chắc. Điều 64 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước
củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân mà nòng cốt
là lực lượng vũ trang nhân dân; phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước để bảo
vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới”.
Vì vậy, bảo vệ Tổ quốc
là chức năng cực kỳ quan trọng nhằm giữ gìn thành quả cách mạng, bảo vệ công
cuộc xây dựng hòa bình của nhân dân, tạo điều kiện ổn định triển khai các kế
hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
- Chức năng củng cố,
tăng cường tình hữu nghị và hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa, đồng thời mở
rộng quan hệ với các nước khác theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, cùng tồn
tại hòa bình, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.
- Chức năng ủng hộ
phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và
nhân dân lao động ở các nước tư bản, chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực
dân cũ và mới. Chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chống chính sách gây chiến
và chạy đua vũ trang, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân
thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Trong thời đại ngày
nay, sự phát triển của mỗi nước phụ thuộc vào nhiều vào cộng đồng thế giới. Vì
vậy, bất cứ nhà nước tiến bộ nào cũng đều có nghĩa vụ ủng hộ phong trào cách
mạng và tiến bộ trên thế giới. Thắng lợi của cách mạng Việt Nam không tách rời
sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn của nhân dân thế giới. Ngày nay, Nhà nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang mở rộng hợp tác với tất cả các nước trên thế
giới cùng phấn đấu vì một thế giới hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển.
2.3. Tổ chức bộ máy nhà
nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
2.3.1. Khái niệm, đặc điểm
của bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
2.3.1.1. Khái niệm bộ
máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam:
Nhà nước là tổ chức
quyền lực, đại diện cho nhân dân thống nhất quản lý mọi mặt đời sống xã hội. Để
thực hiện được nhiệm vụ đó với phạm vi rộng lớn trên toàn lãnh thổ, đòi hỏi
phải lập ra hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương. Các cơ
quan nhà nước này có cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động phù hợp với tính
chất của các chức năng, nhiệm vụ mà nhà nước giao. Tuy có sự khác nhau về tên
gọi, cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động, nhưng tất cả các cơ quan nhà nước
đều có chung một mục đích là thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Bộ máy Nhà nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là hệ thống các cơ quan nhà nước từ Trung ương
đến cơ sở, được tổ chức theo những quan điểm, nguyên tắc chung thống nhất, tạo
thành một cơ chế đồng bộ để thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước xã
hội chủ nghĩa.
Tổ chức bộ máy Nhà nước
ta, theo quy định của Hiến pháp năm 2013
gồm các bộ phận cấu thành sau:
- Quốc hội.
- Chủ tịch nước.
- Chính phủ.
- Tòa án nhân dân và
Viện Kiểm sát nhân dân.
- Chính quyền địa
phương.
Ngoài ra, có 2 thiết
chế hoạt động độc lập do Quốc hội lập ra là Hội đồng bầu cử Quốc gia và Kiểm
toán nhà nước.
2.3.1.2. Đặc điểm của
bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Bộ máy nhà nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có các đặc điểm cơ bản sau:
+ Tất cả quyền lực nhà
nước thuộc về nhân dân lao động.
+ Bộ máy nhà nước vừa
là tổ chức hành chính cưỡng chế vừa là tổ chức quản lý kinh tế, văn hóa, xã
hội.
+ Đội ngũ cán bộ, công
chức, viên chức trong bộ máy nhà nước đại diện và bảo vệ lợi ích cho giai cấp
công nhân và nhân dân lao động, chịu sự giám sát của nhân dân.
+ Bộ máy nhà nước gồm
nhiều cơ quan có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, thống nhất về quyền lực nhà nước
nhưng có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực
hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
2.3.2. Nguyên tắc tổ
chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nguyên tắc tổ chức và
hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là những
nguyên lý, những tư tưởng chỉ đạo đúng đắn, khách quan và khoa học, phù hợp với
bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa, tạo thành cơ sở cho tổ chức và hoạt
động của các cơ quan nhà nước và toàn thể bộ máy nhà nước.
Những nguyên tắc tổ
chức và hoạt động của bộ máy nhà nước CHXHCN Việt Nam được thể hiện cụ thể sau:
- Nguyên tắc đảm bảo
quyền lực nhân dân trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước
Nguyên tắc này bắt
nguồn từ bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa, tất cả quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân, nhân dân trở thành chủ thể của quyền lực nhà nước, nhân dân
tổ chức, thực hiện và kiểm tra hoạt động bộ máy nhà nước.
Điều
28 Hiến pháp năm 2013
quy định: “Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội”. Nhân dân lao
động tham gia vào tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước bằng nhiều hình thức
phong phú như: bầu cử, ứng cử vào các cơ quan quyền lực nhà nước, tham gia thảo
luận, đóng góp ý kiến vào dự án luật, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước và nhân
viên cơ quan nhà nước, tham gia hoạt động xét xử của tòa án…
- Nguyên tắc đảm bảo sự
lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước
Đây là nguyên tắc đã
được Điều 4 Hiến pháp 2013 khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt
Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của
nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của
giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác -
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo nhà
nước và xã hội”.
Sự lãnh đạo của Đảng giữ
vai trò quyết định đối với việc xác định phương hướng hoạt động của nhà nước xã
hội chủ nghĩa, là điều kiện quyết định để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước.
Sự lãnh đạo của Đảng là sự lãnh đạo chính trị thông qua việc đề ra đường lối,
chủ trương, phương hướng lớn; những vấn đề quan trọng về tổ chức bộ máy và
thông qua nhà nước chúng được thể chế hóa thành pháp luật. Đảng giám sát hoạt
động của các cơ quan nhà nước thông qua các Đảng viên và tổ chức Đảng trong các
cơ quan đó; tuyên truyền, vận động quần chúng trong các cơ quan nhà nước và
thông qua vai trò tiền phong, gương mẫu của mỗi Đảng viên, tổ chức Đảng trong
các cơ quan nhà nước.
- Nguyên tắc tập trung
dân chủ
Nội dung của nguyên tắc
này được thể hiện trên các mặt tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước.
Cơ quan nhà nước ở
trung ương quyết định những vấn đề cơ bản, quan trọng về chính trị, kinh tế,
văn hóa, xã hội… trên phạm vi toàn quốc. Cơ quan nhà nước địa phương quyết định
những vấn đề thuộc phạm vi địa phương mình một cách độc lập, cơ quan nhà nước
trung ương có quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan địa phương,
thậm chí có thể đình chỉ, hủy bỏ quyết định của cơ quan cấp dưới, đồng thời
cũng tạo điều kiện cho các cơ quan địa phương phát huy quyền chủ động sáng tạo
khi giải quyết các công việc, nhiệm vụ của mình. Các quyết định, chủ trương của
cấp trên phải thông báo kịp thời cho cấp dưới, các hoạt động của cấp dưới phải
báo cáo kịp thời và đầy đủ cho cấp trên, nhằm đảm bảo sự kiểm tra của cấp trên đối
với cấp dưới khi thi hành nhiệm vụ.
- Nguyên tắc pháp chế
xã hội chủ nghĩa
Nguyên tắc này yêu cầu
việc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước đều phải
nghiêm chỉnh và triệt để tôn trọng pháp luật, tăng cường kiểm tra giám sát và
xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm pháp luật. Điều 8 Hiến pháp 2013 quy định: “Nhà nước
được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã
hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện
nguyên tắc tập trung dân chủ”.
Đây là nguyên tắc có
vai trò quan trọng trong việc bảo đảm cho tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà
nước tuân theo ý chí của nhân dân, làm cho bộ máy nhà nước hoạt động đồng bộ,
nhịp nhàng, phát huy được hiệu lực quản lý nhà nước.
- Nguyên tắc bình đẳng,
đoàn kết giữa các dân tộc
Khoản
2, Điều 5 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết,
tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ
dân tộc”. Nguyên tắc này được biểu hiện ở những điểm cơ bản về chính trị, về
văn hóa giáo dục, kinh tế. Nhà nước xã hội chủ nghĩa thực hiện chính sách đoàn
kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm các hành vi kỳ thị, chia rẽ dân
tộc. Tất cả các dân tộc đều có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc
dân tộc và phát huy những phong tục tập quán, truyền thống văn hóa tốt đẹp của
dân tộc mình. Tất cả các dân tộc đều có quyền và nghĩa vụ tham gia vào việc tổ
chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, có quyền bình đẳng về chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội.
2.3.3. Hệ thống các cơ
quan nhà nước trong bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
2.3.3.1. Quốc hội
Điều
69 Hiến pháp năm 2013
quy định: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền
lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội
thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của
đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước”.
Quốc hội có những nhiệm
vụ và quyền hạn sau đây:
1. Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật;
2. Thực hiện quyền giám
sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật
và nghị quyết của Quốc hội; xét báo cáo công tác của Chủ tịch nước, Ủy ban
thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân
tối cao, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán Nhà nước và cơ quan khác do Quốc
hội thành lập;
3. Quyết định mục tiêu,
chỉ tiêu, chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế - xã hội của đất nước;
4. Quyết định chính
sách cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các
thứ thuế; quyết định phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách
trung ương và ngân sách địa phương; quyết định mức giới hạn an toàn nợ quốc
gia, nợ công, nợ chính phủ; quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ
ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước;
5. Quyết định chính
sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước;
6. Quy định tổ chức và
hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm
sát nhân dân, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán Nhà nước, chính quyền địa
phương và cơ quan khác do Quốc hội thành lập;
7. Bầu, miễn nhiệm, bãi
nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc
hội, Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy
ban của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, Tổng
Kiểm toán Nhà nước, người đứng đầu cơ quan khác do Quốc hội thành lập; phê
chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ
trưởng và thành viên khác của Chính phủ, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; phê
chuẩn danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh, Hội đồng bầu cử quốc
gia.
8. Bỏ phiếu tín nhiệm đối
với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn;
9. Quyết định thành
lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ của Chính phủ; thành lập, giải thể, nhập,
chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đơn
vị hành chính - kinh tế đặc biệt; thành lập, bãi bỏ cơ quan khác theo quy định
của Hiến pháp và luật;
10. Bãi bỏ văn bản của
Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án
nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;
11. Quyết định đại xá;
12. Quy định hàm, cấp
trong lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao và những hàm, cấp nhà
nước khác; quy định huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước;
13. Quyết định vấn đề
chiến tranh và hòa bình; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc
biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia;
14. Quyết định chính
sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn, quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực
của điều ước quốc tế liên quan đến chiến tranh, hòa bình, chủ quyền quốc gia,
tư cách thành viên của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại các tổ chức quốc
tế và khu vực quan trọng, các điều ước quốc tế về quyền con người, quyền và
nghĩa vụ cơ bản của công dân và các điều ước quốc tế khác trái với luật, nghị
quyết của Quốc hội;
15. Quyết định trưng
cầu ý dân.
Nhiệm kỳ của Quốc hội
là 5 năm; Quốc hội hoạt động thông qua các kỳ họp; mỗi năm họp 2 kỳ do Ủy
ban thường vụ Quốc hội triệu tập.
2.3.3.2. Chủ tịch nước:
Điều
86 Hiến pháp năm 2013
quy định: Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa XHCN
Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Chủ tịch nước do Quốc hội bầu ra trong số đại
biểu Quốc hội, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; nhiệm kỳ
của Chủ tịch nước theo nhiệm kỳ của Quốc hội.
2.3.3.3. Chính phủ
Điều
94 Hiến pháp năm 2013
quy định: Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của
Quốc hội. Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước
Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước Chính phủ gồm có Thủ
tướng Chính phủ, các Phó thủ tướng, các Bộ trưởng và thủ trưởng cơ quan ngang
bộ; Cơ cấu, số lượng thành viên Chính phủ do Quốc hội quy định. Chính phủ làm
việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số.
Nhiệm kỳ của Chính phủ
theo nhiệm kỳ của Quốc hội, khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chính phủ tiếp tục làm
việc cho đến khi Quốc hội mới thành lập Chính phủ mới.
Chính phủ có những
nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1. Tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội,
pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ
tịch nước;
2. Đề xuất, xây dựng
chính sách trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định hoặc quyết định
theo thẩm quyền để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều này; trình
dự án luật, dự án ngân sách nhà nước và các dự án khác trước Quốc hội; trình dự
án pháp lệnh trước Ủy ban thường vụ Quốc hội;
3. Thống nhất quản lý
về kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường,
thông tin, truyền thông, đối ngoại, quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an
toàn xã hội; thi hành lệnh động viên, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp và các
biện pháp cần thiết khác để bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm tính mạng, tài sản của Nhân
dân;
4. Trình Quốc hội quyết
định thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ; thành lập, giải thể, nhập, chia, điều
chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đơn vị hành
chính - kinh tế đặc biệt; trình Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập,
giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương;
5. Thống nhất quản lý
nền hành chính quốc gia; thực hiện quản lý về cán bộ, công chức, viên chức và công
vụ trong các cơ quan nhà nước; tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết
khiếu nại, tố cáo của công dân, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà
nước; lãnh đạo công tác của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ,
Ủy ban nhân dân các cấp; hướng dẫn, kiểm tra Hội đồng nhân dân trong việc thực
hiện văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; tạo điều kiện để Hội đồng nhân dân
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do luật định;
6. Bảo vệ quyền và lợi
ích của Nhà nước và xã hội, quyền con người, quyền công dân; bảo đảm trật tự,
an toàn xã hội;
7. Tổ chức đàm phán, ký
điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước theo ủy quyền của Chủ tịch nước; quyết định
việc ký, gia nhập, phê duyệt hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế nhân danh
Chính phủ, trừ điều ước quốc tế trình Quốc hội phê chuẩn quy định tại khoản 14 Điều 70; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích chính
đáng của tổ chức và công dân Việt Nam ở nước ngoài;
8. Phối hợp với Ủy ban
trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của các tổ chức chính
trị - xã hội trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
2.3.3.4. Tòa án nhân
dân và Viện Kiểm sát nhân dân
- Tòa án nhân dân
Điều
102 Hiến pháp năm 2013 quy định: Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa XHCN
Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.
Theo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Tòa án
nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, thực hiện quyền tư
pháp. Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền
công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp
pháp của tổ chức, cá nhân. Bằng hoạt động của mình, Tòa án góp phần giáo dục
công dân trung thành với Tổ quốc, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tôn trọng
những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng, chống tội phạm, các
vi phạm pháp luật khác.
Hệ thống các cơ quan
xét xử gồm có: Tòa án nhân dân tối cao; Tòa án nhân dân cấp cao; Tòa án nhân
dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh và tương đương; Tòa án quân sự.
Nguyên tắc tổ chức của
Tòa án nhân dân là Các Tòa án nhân dân được tổ chức độc lập theo thẩm quyền xét xử.
Nhiệm kỳ của Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Chế độ bổ nhiệm, miễn
nhiệm, cách chức và nhiệm kỳ của Thẩm phán, chế độ bầu cử và nhiệm kỳ của Hội
thẩm do pháp luật quy định.
- Viện Kiểm sát nhân
dân
Điều
107 Hiến pháp 2013
quy định: Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư
pháp. Theo Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
2014, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người,
quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được
chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Hệ thống các cơ quan
kiểm sát gồm có: Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân cấp
cao; Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh; Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện; Viện
kiểm sát quân sự các cấp.
Hệ thống Viện Kiểm sát
được tổ chức thống nhất theo ngành dọc và thực hiện chế độ thủ trưởng. Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Quốc hội bầu, chịu trách nhiệm lãnh
đạo thống nhất toàn bộ hệ thống Viện Kiểm sát và có quyền bổ nhiệm, cách chức
đối với tất cả các thành viên của Viện Kiểm sát cấp dưới. Nhiệm kỳ của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo nhiệm kỳ Quốc hội.
2.3.3.5. Chính quyền
địa phương
Điều
111, Hiến pháp năm 2013 quy định: Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị
hành chính của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Cấp chính quyền địa phương gồm có
Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông
thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định.
- Chính quyền địa
phương tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến
pháp, pháp luật tại địa phương; quyết định các vấn đề của địa phương do luật
định; chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên. Nhiệm vụ, quyền
hạn của chính quyền địa phương được xác định trên cơ sở phân định thẩm quyền
giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính quyền
địa phương. Trong trường hợp cần thiết, chính quyền địa phương được giao thực
hiện một số nhiệm vụ của cơ quan nhà nước cấp trên với các điều kiện bảo đảm
thực hiện nhiệm
vụ đó.
- Hội đồng nhân dân là
cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và
quyền làm chủ của Nhân dân địa phương, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu
trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Hội đồng
nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân
theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương
và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân.
- Ủy ban nhân dân ở cấp
chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành
của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách
nhiệm trước Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên. Ủy ban
nhân dân tổ chức việc thi hành Hiến pháp
và pháp luật ở địa
phương; tổ
chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân và thực hiện các nhiệm vụ do cơ
quan nhà nước cấp trên giao.
2.3.3.6. Hội đồng bầu
cử quốc gia
- Hội đồng bầu cử quốc
gia là cơ quan do Quốc hội thành lập, có nhiệm vụ tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội; chỉ đạo và
hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Hội đồng bầu cử
quốc gia gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên
2.3.3.7. Kiểm toán Nhà
nước
- Kiểm toán Nhà nước là
cơ quan do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật,
thực hiện kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công.
- Tổng Kiểm toán Nhà
nước là người đứng đầu Kiểm toán Nhà nước, do Quốc hội bầu. Nhiệm kỳ của Tổng
Kiểm toán Nhà nước do luật định. Tổng Kiểm toán Nhà nước chịu trách nhiệm và
báo cáo kết quả kiểm toán, báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian
Quốc hội không họp chịu trách nhiệm và báo cáo trước Ủy ban thường vụ Quốc hội.
2.4. Hệ thống các cơ
quan quản lý công tác lưu trữ
2.4.1. Hệ thống các cơ
quan quản lý nhà nước về công tác lưu trữ
Theo Luật Lưu trữ được năm 2011,Chính phủ thống
nhất quản lý nhà nước về lưu trữ. Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm trước Chính phủ
thực hiện quản lý nhà nước về lưu trữ và quản lý tài liệu Phông lưu trữ Nhà
nước Việt Nam. Cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện quản
lý tài liệu Phông lưu trữ Đảng Cộng sản Việt Nam. Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ, cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội trong phạm
vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý về lưu trữ. Ủy ban nhân dân
các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước
về lưu trữ ở địa phương.
Giúp việc cho các cơ
quan quản lý là các cơ quan trực tiếp tham mưu như Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà
nước, Sở Nội vụ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Phòng Nội vụ các
huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
2.4.1.1. Bộ Nội vụ
Theo Nghị định số 58/2014/NĐ-CP ngày 16/6/2014 của Chính phủ Quy
định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ, về quản lý
công tác lưu trữ nhà nước, Bộ Nội vụ có những nhiệm vụ:
+ Xây dựng các đề án,
dự án về sưu tầm, thu thập, chỉnh lý, bảo vệ, bảo quản, bảo hiểm, khai thác, sử
dụng tài liệu lưu trữ và tổ chức thực hiện sau khi được cấp có thẩm quyền phê
duyệt;
+ Hướng dẫn, kiểm tra
các cơ quan nhà nước thực hiện các quy định về quản lý công tác văn thư, lưu
trữ;
+ Thực hiện các quy
trình nghiệp vụ về sưu tầm, thu thập, bổ sung tài liệu lưu trữ, bảo vệ, bảo
quản, bảo hiểm tài liệu lưu trữ; tổ chức giải mật, công bố, giới thiệu, triển
lãm, trưng bày và tổ chức phục vụ khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ được bảo
quản tại các Trung tâm Lưu trữ Quốc gia;
+ Thống nhất quản lý về
thống kê văn thư, lưu trữ trên phạm vi cả nước;
+ Lưu trữ thông tin số
trong các cơ quan nhà nước.
Cục Văn thư và Lưu trữ
Nhà nước. Theo
Quyết định số 1121/QĐ-BNV ngày 28/10/2014 của Bộ
Nội vụ, Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước là cơ quan trực thuộc Bộ Nội vụ thực
hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Nội vụ quản lý nhà nước về văn thư,
lưu trữ trong phạm vi cả nước; quản lý tài liệu lưu trữ quốc gia và thực hiện
các dịch vụ công về văn thư, lưu trữ theo quy định của pháp luật.
2.4.1.2. Cơ quan quản
lý ở địa phương
- Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh, thành phố trực thuộc
Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh, thành phố trực thuộc TW thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương
về các lĩnh vực, trong đó có công tác Văn thư - Lưu trữ.
Sở Nội vụ là cơ quan
chuyên môn thuộc UBND tỉnh có chức năng tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh quản lý
nhà nước về văn thư, lưu trữ nhà nước.
Chi cục Văn thư - Lưu
trữ là tổ chức trực thuộc Sở Nội vụ có chức năng giúp Giám đốc Sở Nội vụ tham
mưu cho UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là tỉnh)
quản lý nhà nước về văn thư, lưu trữ của tỉnh và trực tiếp quản lý tài liệu lưu
trữ lịch sử của tỉnh theo quy định của pháp luật.
2.4.2. Hệ thống các cơ
quan Đảng thực hiện quản lý về công tác lưu trữ
- Cục Lưu trữ Văn phòng
Trung ương Đảng có chức năng giúp Chánh Văn phòng Trung ương Đảng tham mưu cho
Trung ương Đảng quản lý Phông Lưu trữ Đảng Cộng sản Việt Nam; nghiên cứu, soạn
thảo các văn bản chỉ đạo của Trung ương Đảng về công tác văn thư và lưu trữ;
kiểm tra việc thực hiện các văn bản chỉ đạo của Trung ương; trực tiếp quản lý
Lưu trữ lịch sử của Trung ương Đảng; chỉ đạo, hướng dẫn thống nhất khoa học
nghiệp vụ văn thư và lưu trữ đối với các cơ quan, tổ chức đảng và tổ chức chính
trị - xã hội; thực hiện nhiệm vụ Lưu trữ cơ quan của Trung ương Đảng và Văn
phòng Trung ương Đảng.
- Lưu trữ lịch sử của
Đảng được tổ chức ở Trung ương để lưu trữ tài liệu có giá trị bảo quản vĩnh
viễn thuộc Danh mục tài liệu nộp lưu vào Lưu trữ lịch sử của các cơ quan, tổ
chức đảng, tổ chức chính trị - xã hội.
- Phòng lưu trữ tỉnh
ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là tỉnh ủy), đặt trong
văn phòng tỉnh ủy, có chức năng giúp chánh văn phòng tỉnh ủy tham mưu cho tỉnh
ủy chỉ đạo công tác văn thư và lưu trữ; trực tiếp quản lý Lưu trữ lịch sử của
Đảng ở cấp tỉnh; chỉ đạo, hướng dẫn khoa học nghiệp vụ công tác văn thư và lưu
trữ đối với các cơ quan, tổ chức đảng, tổ chức chính trị - xã hội ở cấp tỉnh,
cấp huyện và cấp xã, phường, thị trấn; thực hiện nhiệm vụ Lưu trữ cơ quan của
tỉnh ủy và văn phòng tỉnh ủy”.
2.5. Xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
2.5.1. Sự cần thiết
phải xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà nước pháp quyền là
bước phát triển của văn minh nhân loại. Xây dựng nhà nước pháp quyền là vấn đề
có tính tất yếu và là mục tiêu có tính chiến lược trong quá trình phát triển ở
Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, kinh nghiệm xây dựng
nhà nước pháp quyền tại một số nước phát triển trên thế giới cho thấy không thể
có một nhà nước pháp quyền chung thống nhất cho mọi quốc gia, dân tộc; mô hình
tổ chức nhà nước pháp quyền vừa phản ánh các giá trị phổ biến chung của nhà
nước pháp quyền, vừa phản ánh những giá trị đặc thù của từng quốc gia. Do vậy,
nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân ở Việt Nam là
một nhà nước vừa phải thể hiện được các giá trị phổ biến của nhà nước pháp
quyền đã được xác định trong lý luận và thực tiễn của một chế độ dân chủ hiện
đại, vừa phải khẳng định được bản sắc, đặc điểm của riêng mình.
Việc xây dựng nhà nước
pháp quyền XHCN ở nước ta hiện nay xuất phát từ tất yếu kinh tế, là một nhu cầu
chính trị khách quan. Thông qua xây dựng nhà nước pháp quyền, Nhà nước ta mới
có thể xác định đúng chức năng và nhiệm vụ, vị trí và vai trò của mình trong hệ
thống chính trị nói riêng và trong đời sống chính trị nói chung.
Xây dựng Nhà nước pháp
quyền XHCN Việt Nam chính là xây dựng và thực hiện nền dân chủ XHCN, xây dựng
và thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân; làm cho quyền lực nhà nước và hệ thống
tổ chức thực thi quyền lực - hệ thống chính trị - được xác định đúng đắn và có
hiệu quả hơn. Quyền lực Nhà nước được củng cố và tăng cường cũng có nghĩa là
quyền lãnh đạo của Đảng được củng cố và tăng cường. Giữ vững và tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là nhằm củng cố và tăng cường sức mạnh của
Nhà nước.
Cương lĩnh xây dựng đất
nước thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định rõ: “Nhà
nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh
giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam
lãnh đạo. Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm
soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư
pháp. Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và
không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”1.
Tuy nhiên, bên cạnh
nhiều ưu điểm, quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vẫn còn
bộc lộ những hạn chế cần khắc phục như: “chưa chế định rõ, đồng bộ, hiệu quả cơ
chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước ở các cấp. Tổ chức bộ
máy và cơ chế hoạt động của các thiết chế cơ bản trong bộ máy nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa như Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, hệ thống tư pháp
còn những điểm chưa thực sự hợp lý, hiệu lực, hiệu quả. Chưa khắc phục được sự
chồng chéo, vướng mắc về chức năng, nhiệm vụ giữa các thiết chế, làm ảnh hưởng
tới sự thống nhất quyền lực nhà nước và hiệu quả hoạt động của Nhà nước. Hệ
thống pháp luật thiếu đồng bộ, nhiều nội dung chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà
nước pháp quyền, còn chồng chéo; tính công khai, minh bạch, khả thi, ổn định
còn hạn chế. Kỷ cương, kỷ luật trong quản lý nhà nước, thực thi công vụ còn
nhiều yếu kém. Cải cách hành chính còn chậm, thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng yêu
cầu; thủ tục hành chính còn phức tạp, phiền hà, đang là rào cản lớn đối với
việc tạo lập môi trường xã hội, môi trường kinh doanh lành mạnh, minh bạch,
hiệu quả cho sự phát triển. Tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương
chậm đổi mới; hiệu lực, hiệu quả ở nhiều nơi chưa cao. Trách nhiệm giải trình
của các cấp chính quyền chưa được quy định rõ ràng. Việc triển khai một số
nhiệm vụ cải cách tư pháp còn chậm; vẫn còn tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực,
oan, sai, bỏ lọt tội phạm. Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí chưa đạt
yêu cầu đề ra; tham
nhũng,
lãng phí vẫn còn nghiêm trọng2.
Những hạn chế nói trên
đặt ra yêu cầu khách quan phải đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của bộ
máy nhà nước để phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện tốt quyền lực nhà
nước thuộc về nhân dân, phát triển kinh tế thị trường tạo cơ sở vật chất cho
việc xây dựng chủ nghĩa xã hội và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.
2.5.2. Những định hướng
cơ bản trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tiếp tục xây dựng, hoàn
thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo là nhiệm
vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị
Trong tổ chức và hoạt
động của Nhà nước, phải thực hiện dân chủ, tuân thủ các nguyên tắc pháp quyền
và phải tạo ra sự chuyển biến tích cực, đạt kết quả cao hơn. Xây dựng Nhà nước
pháp quyền phải tiến hành đồng bộ cả lập pháp, hành pháp, tư pháp và được tiến
hành đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu
quả; gắn với đổi mới kinh tế, văn hóa, xã hội. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo
vệ Hiến pháp và pháp luật.
Hoàn thiện thể chế,
chức năng, nhiệm vụ, phương thức và cơ chế vận hành, nâng cao hiệu lực, hiệu
quả của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Tiếp tục hoàn thiện
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức của Nhà nước theo quy định của Hiến pháp năm 2013, đáp ứng các đòi hỏi của
Nhà nước pháp quyền XHCN trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định
hướng XHCN và hội nhập quốc tế. Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc
tập trung dân chủ. Phân định rõ hơn vai trò và hoàn thiện cơ chế giải quyết tốt
mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường.
Đẩy mạnh việc hoàn
thiện pháp luật gắn với tổ chức thi hành pháp luật nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu
quả của Nhà nước pháp quyền XHCN. Bảo đảm pháp luật vừa là công cụ để Nhà nước
quản lý xã hội, vừa là công cụ để nhân dân làm chủ, kiểm tra, giám sát quyền
lực nhà nước. Quản lý đất nước theo pháp luật, đồng thời coi trọng xây dựng nền
tảng đạo đức xã hội.
Xác định rõ cơ chế phân
công, phối hợp thực thi quyền lực nhà nước, nhất là cơ chế kiểm soát quyền lực
giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp,
tư pháp trên cơ sở quyền lực nhà nước là thống nhất; xác định rõ hơn quyền hạn
và trách nhiệm của mỗi quyền. Đồng thời, quy định rõ hơn cơ chế phối hợp trong
việc thực hiện và kiểm soát các quyền ở các cấp chính quyền. Tiếp tục phân định
rõ thẩm quyền và trách nhiệm giữa các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa
phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương.
Tăng cường sự lãnh đạo,
chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp; huy động sự tham gia tích cực của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức thành viên
đối với công tác xây dựng pháp luật và giám sát thi hành pháp luật. Xây dựng và
hoàn thiện pháp luật phải gắn với tổ chức thi hành pháp luật; củng cố các thiết
chế thi hành pháp luật, bảo đảm pháp luật vừa là công cụ quản lý xã hội, vừa là
công cụ để nhân dân kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật.
Tiếp tục đổi mới hoạt
động lập pháp của Quốc hội theo hướng bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, khả thi
trên cơ sở thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng và quy định của Hiến pháp, có thứ tự ưu tiên hợp lý và bảo
đảm phù hợp với
thực tiễn.
Thực hiện nghiêm túc kế hoạch xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của
Chính phủ và chính quyền địa phương. Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan có
trách nhiệm trong việc soạn thảo, thẩm tra, chỉnh lý, hoàn thiện, bảo đảm tiến độ,
chất lượng, quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Kiện toàn tổ chức
các cơ quan và các cơ sở đào tạo liên quan đến lĩnh vực tư pháp và pháp luật.
Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về án lệ.
Kịp thời ban hành văn
bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh; quan tâm công tác
giải thích pháp luật; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc
chấp hành pháp luật; phát hiện và xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi hành vi vi
phạm pháp luật; rà soát, hệ thống hóa, pháp điển hóa văn bản quy phạm pháp luật;
đẩy mạnh xã hội hóa các dịch vụ pháp lý và hoạt động bổ trợ tư pháp; đổi mới
mạnh mẽ nội dung, phương pháp phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật.
Hoàn thiện tổ chức và
nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước
Tiếp tục đổi mới tổ
chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu
cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Quốc hội thực hiện
tốt chức năng lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám
sát tối cao, nhất là đối với việc quản lý, sử dụng các nguồn lực của đất nước.
Hoàn thiện cơ chế để
nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan dân cử, nhất là hoạt động
lập pháp của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, cơ chế giám sát, đánh giá đối với
người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn. Tăng cường
hơn nữa sự gắn kết giữa giám sát của Quốc hội với kiểm tra, giám sát của Đảng,
Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và giám sát của nhân dân.
Hoàn thiện cơ cấu tổ
chức Chính phủ, xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ là
cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan
chấp hành của Quốc hội.
Đẩy mạnh thực hiện Chương
trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước theo hướng xây dựng nền hành chính
dân chủ, hiện đại, chuyên nghiệp, năng động, phục vụ nhân dân, hoạt động có
hiệu lực, hiệu quả. Hoàn thiện thể chế hành chính dân chủ - pháp quyền, quy định
trách nhiệm và cơ chế giải trình của các cơ quan nhà nước; giảm mạnh, bãi bỏ những
thủ tục hành chính gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp. Đề cao đạo đức
công vụ, trách nhiệm xã hội, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong chỉ đạo và thực
thi công vụ của cán bộ, công chức; đẩy nhanh việc áp dụng chính phủ điện tử.
Tiếp tục đẩy mạnh việc
thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp, xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững
mạnh, dân chủ, nghiêm minh, từng bước hiện đại; bảo vệ pháp luật, công lý,
quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích của
Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân. Phân định
rành mạch thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp
trong tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp. Cụ thể hóa đầy đủ các nguyên
tắc hiến định về chức năng, nhiệm vụ của Tòa án nhân dân và hoạt động xét xử.
Tổ chức tòa án theo
thẩm quyền xét xử; bảo đảm nguyên tắc độc lập, nguyên tắc tranh tụng trong xét
xử, bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, của đương sự. Tiếp tục xã hội
hóa một số hoạt động tư pháp và bổ trợ tư pháp có đủ điều kiện.
Viện Kiểm sát nhân dân
thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp; được tổ chức phù hợp với
hệ thống tổ chức của Tòa án; tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều
tra.
Kiện toàn tổ chức cơ
quan điều tra, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và nâng cao chất
lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan điều tra. Nâng cao chất lượng, hiệu quả
hoạt động của luật sư, bổ trợ tư pháp.
Về chính quyền địa
phương:
Trên cơ sở bảo đảm tính thống nhất, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả của nền hành
chính quốc gia, xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm quản lý nhà nước của mỗi
cấp chính quyền địa phương theo quy định của Hiến
pháp và pháp luật. Việc hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của
chính quyền địa phương gắn kết hữu cơ với đổi mới tổ chức và cơ chế hoạt động
của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội ở các cấp. Hoàn thiện mô
hình tổ chức chính quyền địa phương phù hợp với đặc điểm ở nông thôn, đô thị,
hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt theo luật định.
Chú trọng công tác xây
dựng đội ngũ cán bộ, công chức
Đẩy mạnh dân chủ hóa
công tác cán bộ, quy định rõ trách nhiệm, thẩm quyền của mỗi tổ chức, mỗi cấp
trong xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm
chất đạo đức trong sáng, có trình độ, năng lực chuyên môn phù hợp, đáp ứng yêu
cầu của giai đoạn mới. Thực hiện thí điểm dân trực tiếp bầu một số chức danh ở
cơ sở và ở cấp huyện; mở rộng đối tượng thi tuyển chức danh cán bộ quản lý.
Hoàn thiện tiêu chí đánh giá và cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực
thi công vụ; xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành
chính.
Rà soát, sửa đổi, bổ
sung chính sách đối với cán bộ, công chức theo hướng khuyến khích cán bộ, công
chức nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức công vụ, hoàn thành tốt
nhiệm vụ; lấy bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực, hiệu quả thực
thi nhiệm vụ để đánh giá, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ. Xây dựng cơ chế, chính sách
đãi ngộ, thu hút, trọng dụng nhân tài.
Đẩy mạnh đấu tranh phòng,
chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, hách dịch, cửa quyền; thực hành tiết
kiệm trong các cơ quan nhà nước và trong đội ngũ cán bộ, công chức.
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
1. Ban Chấp hành Trung
ương: Quy định số 270-QĐ/TW ngày 06/12/2014 về Phông Lưu trữ Đảng Cộng sản Việt
Nam.
2. Bộ Nội vụ: Thông tư
số 02/2010/TT-BNV ngày 28/10/2010 hướng dẫn
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của tổ chức Văn thư, Lưu trữ Bộ, cơ
quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân.
3. Bộ Nội vụ: Thông tư
số 15/2014/TT-BNV ngày 31/10/2014 Hướng dẫn
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Nội vụ thuộc Ủy ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Phòng Nội vụ thuộc Ủy ban nhân
dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
4. Bộ Nội vụ: Thông tư
số 06/2015/TT-BNV ngày 08/12/2015 hướng dẫn
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của tổ chức Văn thư, Lưu trữ Bộ, cơ
quan ngang Bộ.
5. Chính phủ: Nghị định
số 01/2013/NĐ-CP ngày 03/1/2013 quy định chi tiết
thi hành một số điều của Luật Lưu trữ.
6. Đảng Cộng sản Việt
Nam: Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI. NXB.Chính trị Quốc gia. HN. 2011
7. Đảng Cộng sản Việt
Nam: Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII. NXB.Chính trị Quốc gia. HN. 2016
8. Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013
9. Dương Văn Khảm (2015).
Từ điển tra cứu Nghiệp vụ Quản trị Văn phòng - Văn thư - Lưu trữ
Việt Nam, NXB
Thông tin và Truyền thông.
10. Phan Đình Nham
(2015). Lưu trữ học đại cương, NXB Đại học Quốc gia TPHCM.
11. Quốc hội: Luật Tổ chức Quốc hội năm 2015
12. Quốc hội: Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015
13. Quốc hội: Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2015
14. Quốc hội: Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 2015
15. Quốc hội: Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015
16.Quốc hội: Luật số 01/2011/QH13 ngày 11/11/2011 ban hành Luật lưu trữ, Hà Nội năm 2011.
CÂU
HỎI ÔN TẬP, THẢO LUẬN
1. Hãy phân
tích nguồn gốc, bản chất của Nhà nước
2. Hãy phân
tích bản chất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
3. Hãy trình
bày nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam
4. Hãy trình bày
khái quát hệ thống các cơ quan Nhà nước trong bộ máy nhà nước CHXHCN Việt Nam
5. Hãy trình bày khái
quát hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về công tác lưu trữ.
Chuyên
đề 2
PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRONG NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
1. Một số vấn đề cơ bản
về pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1.1. Khái niệm và bản
chất hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1.1.1. Khái niệm
Mỗi quốc gia đều có hệ
thống pháp luật với những nét đặc trưng về truyền thống pháp luật, văn hóa pháp
luật. Do vậy, khi nghiên cứu, các học giả đã nhóm các hệ thống pháp luật có
những điểm chung nhất định vào những dòng họ pháp luật khác nhau. Hệ thống pháp
luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam là hệ thống pháp luật thuộc dòng họ pháp luật xã
hội chủ nghĩa với nhiều đặc trưng so với các dòng họ pháp luật khác. Đây là hệ
thống pháp luật ra đời muộn nhất và gắn liền với hệ tư tưởng Mác - Lênin, chịu
nhiều ảnh hưởng của hệ thống pháp luật lục địa Châu Âu; là hệ thống pháp luật
coi trọng pháp luật thành văn và không có truyền thống áp dụng án lệ [8, 326].
Có nhiều quan điểm khác
nhau về hệ thống pháp luật. Theo nghĩa hẹp, hệ thống pháp luật là tổng thể các
quy phạm pháp luật có mối liên hệ nội tại thống nhất với nhau, được phân định
thành các chế định pháp luật, các ngành luật và được thể hiện trong các văn bản
quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành theo trình tự và hình thức thống nhất
[1, 469]. Theo nghĩa rộng, hệ thống pháp luật được xem là tổng thể tất cả các
quy phạm pháp luật, các thiết chế bảo vệ và bảo đảm việc thực thi pháp luật,
các hoạt động thực hiện pháp luật, các nguồn lực pháp luật và hoạt động đào tạo
luật của quốc gia có sự liên hệ gắn bó chặt chẽ và thống nhất với nhau, tác
động qua lại lẫn nhau và được vận hành theo những trật tự, quy trình nhất định.
Ngoài ra có quan điểm cho rằng các thành tố của hệ thống pháp luật bao gồm toàn
bộ pháp luật, cơ chế hình thành pháp luật, giải thích và thực thi pháp luật ở
một quốc gia nhất định luôn liên kết, gắn bó chặt chẽ với nhau để thực hiện
việc điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ xã hội [1, 470].
Trong phạm vi nghiên
cứu của chuyên đề, hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam được hiểu là
tổng thể các quy phạm pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, được phân
định thành các chế định pháp luật, các ngành luật và được thể hiện trong các
văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ban hành
theo trình tự, thủ tục luật định.
1.1.2. Bản chất
Bản chất của hệ thống
pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xem xét dưới hai nội dung: bản chất
của pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đặc điểm của hệ thống pháp luật xã
hội chủ nghĩa Việt Nam.
Pháp luật xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là hệ thống các quy tắc xử sự chung, do Nhà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam ban hành và được bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của nhà
nước, của nhân dân, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội vì lợi ích và mục
đích của nhân dân, vì sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước nước
Việt Nam với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
[1, 455]. Bản chất pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thể hiện ở những
nội dung cơ bản sau:
- Bản chất xã hội: Pháp
luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện để Nhà nước thực hiện việc quản
lí xã hội trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã
hội với mục tiêu làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh. Bản chất xã hội của pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam còn thể hiện ở
việc pháp luật là phương tiện quan trọng để thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam.
- Bản chất giai cấp:
Tính giai cấp của pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam có những đặc thù riêng.
Pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam thể hiện ý chí của nhân dân Việt Nam. Nhân
dân Việt Nam xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến
pháp; thông qua Hiến pháp ủy quyền cho
các cơ quan nhà nước thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp và tự mình
kiểm soát việc thực thi quyền lực nhà nước của bộ máy nhà nước. Bên cạnh đó,
pháp luật xã hội chủ nghĩa còn ghi nhận, tôn trọng và bảo đảm quyền con người,
quyền công dân. Pháp luật xã hội chủ nghĩa là pháp luật của nhân dân, do nhân
dân, tạo điều kiện để Nhân dân Việt Nam tham gia hoạt động quản lý nhà nước và
xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của
cơ sở, địa phương và cả nước.
Với những bản chất đặc
thù riêng của pháp luật xã hội chủ nghĩa, hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa
Việt Nam ở những giai đoạn khác nhau có những đặc trưng cơ bản khác nhau. Pháp luật
xã hội chủ nghĩa Việt Nam được hình thành cùng với sự ra đời và phát triển của
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Do vậy, pháp luật xã hội chủ nghĩa
Việt Nam có những đặc trưng riêng theo từng giai đoạn phát triển của Nhà nước.
Trong thời kỳ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện
nay, hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, là hệ thống
pháp luật thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều
này xuất phát từ một trong những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà
nước Việt Nam đó là nguyên tắc Đảng lãnh đạo. Hệ
thống pháp luật xã hội
chủ nghĩa Việt Nam có nhiệm vụ qui phạm hóa đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng thành các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung để điều chỉnh các
quan hệ xã hội phát sinh trong các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế,
văn hóa, xã hội.
Thứ hai, hệ thống pháp luật
xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của nhân dân
lao động. Đặc điểm này phản ánh mối quan hệ giữa bản chất nhà nước và bản chất
pháp luật. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của Nhân
dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, do đó pháp luật là phương tiện để nhà nước ghi
nhận, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân; là phương tiện bảo đảm
Nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội.
Thứ ba, hệ thống pháp luật
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là hệ thống các quy phạm pháp luật có mối liên hệ nội
tại thống nhất với nhau nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong các lĩnh vực của
đời sống chính trị, kinh tế, xã hội. Nguồn của hệ thống pháp luật xã hội chủ
nghĩa Việt Nam chủ yếu là các văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành
và bảo đảm thực hiện.
1.2. Cấu trúc của hệ
thống pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1.2.1. Quy phạm pháp luật,
văn bản quy phạm pháp luật
1.2.1.1. Quy phạm pháp luật
Quy phạm pháp luật là
phương tiện quan trọng để Nhà nước điều chỉnh các quan hệ xã hội. Cũng giống
như các quy phạm xã hội khác, quy phạm pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự
chung, là giới hạn xử sự của con người trong một phạm vi, điều kiện, hoàn cảnh
nhất định. Tuy nhiên, nếu các quy phạm xã hội được hình thành bằng nhiều con
đường khác nhau thì quy phạm pháp luật do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận. Việc
Nhà nước đặt ra quy phạm pháp luật có nghĩa là các cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền sẽ tiến hành ban hành pháp luật theo trình tự, thủ tục luật định.
Đây là hệ thống pháp luật thành văn, là nguồn chủ yếu hình thành nên quy phạm
pháp luật. Ngoài ra, bằng con đường thừa nhận, Nhà nước tạo ra thêm hai hình
thức pháp luật của hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa: tập quán pháp và tiền
lệ pháp. Các tập quán pháp được Nhà nước Việt Nam thừa nhận chủ yếu nằm trong
các quy định của lệ làng, hương ước, luật tục. Pháp luật Việt Nam còn thừa nhận
việc áp dụng tập quán thương mại quốc tế, tiền lệ pháp là một trong những
nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thương mại và giải quyết tranh chấp thương
mại quốc tế. Đối với án lệ, trước đây, Việt Nam không coi là nguồn của hệ thống
pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay, Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối
cao chính thức công bố việc áp dụng án lệ trong hoạt động tư pháp của Nhà nước
Việt Nam. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, án lệ là những lập luận, phán
quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ
việc cụ thể được Hội đồng
thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công
bố. (Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015
của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về quy trình lựa chọn, công bố
và áp dụng án lệ - Điều 1).
Quy phạm pháp luật luôn
là những chuẩn mực để đánh giá tính hợp pháp của hành vi con người trong các
quan hệ xã hội. Dựa vào quy phạm pháp luật, chúng ta có thể xác định được các
hành vi hợp pháp và hành vi bất hợp pháp, từ đó sử dụng chính các quy phạm pháp
luật với tư cách là các quy tắc xử sự chung để điều chỉnh hành vi của con người
theo một trật tự pháp lý nhất định. Để thực hiện được chức năng điều chỉnh, quy
phạm pháp luật phải được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh của quyền lực
nhà nước. Điều này không thể có trong đặc điểm của quy phạm xã hội. Quy phạm xã
hội có thể được đảm bảo bằng nhiều biện pháp khác nhau như dư luận xã hội hoặc
các biện pháp tác động nội bộ của cơ quan, tổ chức.
Các quy phạm pháp luật
không tồn tại độc lập. Chúng thiết lập mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành
một hệ thống, được phân định thành các chế định pháp luật, các ngành luật để điều
chỉnh nhóm quan hệ xã hội có cùng tính chất.
Với những đặc trưng cơ
bản, quy phạm pháp luật có thể được định nghĩa như sau: Quy phạm pháp luật là
quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện
bằng sức mạnh của quyền lực nhà nước.
Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015,
quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp
dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi
cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước, người có thẩm
quyền ban hành và được Nhà nước bảo đảm thực hiện (Điều 3).
1.2.1.2. Văn bản quy
phạm pháp luật
a. Các loại văn bản quy
phạm pháp luật:
Văn bản quy phạm pháp luật
là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình
thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật
Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Luật
Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định cụ thể các loại văn bản quy
phạm pháp luật như sau:
1. Hiến pháp.
2. Bộ luật, luật (sau
đây gọi chung là luật), nghị quyết của Quốc hội.
3. Pháp lệnh, nghị
quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ
Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
4. Lệnh, quyết định của
Chủ tịch nước.
5. Nghị định của Chính
phủ; nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam.
6. Quyết định của Thủ
tướng Chính phủ.
7. Nghị quyết của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
8. Thông tư của Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao; thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao; thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; thông tư liên tịch
giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
tối cao; thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước.
9. Nghị quyết của Hội
đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là
cấp tỉnh).
10. Quyết định của Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh.
11. Văn bản quy phạm
pháp luật của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.
12. Nghị quyết của Hội
đồng nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành
phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện).
13. Quyết định của Ủy
ban nhân dân cấp huyện.
14. Nghị quyết của Hội
đồng nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã).
15. Quyết định của Ủy
ban nhân dân cấp xã.
b. Thẩm quyền ban hành
và nội dung của văn bản quy phạm pháp luật.
Ngoài Hiến pháp là đạo luật tối cao trong hệ thống
pháp luật, được Nhân dân xây dựng nhằm quy định những vấn đề quan trọng, cơ bản
nhất của nhà nước và xã hội, luật được Quốc hội ban hành để quy định:
- Tổ chức và hoạt động
của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân
dân, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước, chính quyền địa phương, đơn
vị hành chính - kinh tế đặc biệt và cơ quan khác do Quốc hội thành lập.
- Quyền con người,
quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân mà theo Hiến
pháp phải do luật định, việc hạn chế quyền con người, quyền công dân; tội
phạm và hình phạt.
- Chính sách cơ bản về
tài chính, tiền tệ quốc gia, ngân sách nhà nước; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ
các thứ thuế; chính sách cơ bản về văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, công
nghệ, môi trường; chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước; chính
sách cơ bản về đối ngoại.
- Quốc phòng, an ninh
quốc gia; hàm, cấp trong lực lượng vũ trang nhân dân; hàm, cấp ngoại giao; hàm,
cấp nhà nước khác; huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước.
- Trưng cầu ý dân.
- Cơ chế bảo vệ Hiến pháp
- Các vấn đề khác thuộc
thẩm quyền của Quốc hội. Quốc hội ban hành nghị quyết để quy định:
- Tỷ lệ phân chia các khoản
thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương.
- Thực hiện thí điểm một
số chính sách mới thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội nhưng chưa có luật điều
chỉnh hoặc khác với quy định của luật hiện hành.
- Tạm ngưng hoặc kéo
dài thời hạn áp dụng toàn bộ hoặc một phần luật, nghị quyết của Quốc hội đáp
ứng các yêu cầu cấp bách về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quyền con
người, quyền công dân.
- Quy định về tình
trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc
gia.
- Đại xá.
- Các vấn đề khác thuộc
thẩm quyền của Quốc hội.
Ủy ban thường vụ Quốc
hội ban hành pháp lệnh để quy định những vấn đề được Quốc hội giao; ban hành
nghị quyết để quy định:
- Giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh.
- Tạm ngưng hoặc kéo
dài thời hạn áp dụng toàn bộ hoặc một phần pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban
thường vụ Quốc hội đáp ứng các yêu cầu cấp bách về phát triển kinh tế - xã hội.
- Bãi bỏ pháp lệnh,
nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; trường hợp bãi bỏ pháp lệnh thì Ủy
ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm báo cáo Quốc hội tại kỳ hợp gần nhất;
- Tổng động viên hoặc
động viên cục bộ; ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng
địa phương;
- Hướng dẫn hoạt động
của Hội đồng nhân dân;
- Vấn đề khác thuộc
thẩm quyền của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Chủ tịch nước ban hành lệnh,
quyết định để quy định tổng động viên hoặc động viên cục bộ, công bố, bãi bỏ
tình trạng khẩn cấp căn cứ vào nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; công
bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương trong trường
hợp Ủy ban thường vụ Quốc hội không thể họp được và các vấn đề khác thuộc thẩm
quyền của Chủ tịch nước.
Ủy ban thường vụ Quốc
hội hoặc Chính phủ và Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
ban hành, nghị quyết liên tịch để quy định chi tiết những vấn đề được luật
giao.
Chính phủ ban hành nghị
định để quy định:
- Chi tiết điều, khoản,
điểm được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của
Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước;
- Các biện pháp cụ thể
để tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị
quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh,
quyết định của Chủ tịch nước; các biện pháp để thực hiện chính sách kinh tế -
xã hội, quốc phòng, an ninh, tài chính, tiền tệ, ngân sách, thuế, dân tộc, tôn
giáo, văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, đối ngoại, chế
độ công vụ, cán bộ, công chức, viên chức, quyền, nghĩa vụ của công dân và các
vấn đề khác thuộc thẩm quyền quản lý, điều hành của Chính phủ; những vấn đề
liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của từ hai bộ, cơ quan ngang bộ trở lên;
nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ và các cơ quan khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ;
- Vấn đề cần thiết
thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội nhưng chưa đủ điều
kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước,
quản lý kinh, tế, quản lý xã hội. Trước khi ban hành nghị định này phải được sự
đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Thủ tướng Chính phủ ban
hành quyết định để quy định:
- Biện pháp lãnh đạo, điều
hành hoạt động của Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến
địa phương, chế độ làm việc với các thành viên Chính phủ, chính quyền địa
phương và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ;
- Biện pháp chỉ đạo,
phối hợp hoạt động của các thành viên Chính phủ; kiểm tra hoạt động của các bộ,
cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, chính quyền địa phương trong việc
thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao ban hành, nghị quyết để hướng dẫn việc áp dụng thống nhất
pháp luật trong xét xử thông qua tổng kết việc áp dụng pháp luật, giám đốc việc
xét xử.
Chánh án Tòa án nhân dân
tối cao ban hành thông tư để thực hiện việc quản lý các Tòa án nhân dân và Tòa
án quân sự về tổ chức và những vấn đề khác được Luật
tổ chức Tòa án nhân dân và luật khác có liên quan giao.
Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao ban hành thông tư để quy định, những vấn đề được Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và luật
khác có liên quan giao.
Bộ trưởng, Thủ trưởng
cơ quan ngang bộ ban hành thông tư để quy định:
- Chi tiết điều, khoản,
điểm được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của
Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị định của
Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ; quy định biện pháp thực hiện
chức năng quản lý nhà nước của mình.
Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang bộ và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao ban hành thông tư liên tịch để quy định về việc phối
hợp giữa các cơ quan này trong việc thực hiện trình tự, thủ tục tố tụng.
Tổng Kiểm toán nhà nước
ban hành quyết định để quy định chuẩn mực kiểm toán nhà nước, quy trình kiểm
toán, hồ sơ kiểm toán.
Hội đồng nhân dân cấp
tỉnh ban hành nghị quyết để quy định:
- Chi tiết điều, khoản,
điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên;
- Chính sách, biện pháp
nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn
bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên;
- Biện pháp nhằm phát
triển kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương;
- Biện pháp có tính
chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh ban hành quyết định để quy định:
- Chi tiết điều, khoản,
điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên;
- Biện pháp thi hành Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước
cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp về phát triển kinh tế - xã
hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương;
- Biện pháp thực hiện
chức năng quản lý nhà nước ở địa phương.
Hội đồng nhân dân ở đơn
vị hành chính - kinh tế đặc biệt ban hành nghị quyết, Ủy ban nhân dân ở đơn vị
hành chính - kinh tế đặc biệt ban hành quyết định theo quy định của Luật này và
các luật khác có liên quan.
Hội đồng nhân dân cấp
huyện, cấp xã ban hành nghị quyết, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã ban hành
quyết định để quy định những vấn đề được luật giao.
c. Hiệu lực của văn bản
quy phạm pháp luật
- Hiệu lực về thời gian
Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015,
thời điểm có hiệu lực của toàn bộ hoặc một phần văn bản quy phạm pháp luật được
quy định tại văn bản đó nhưng không sớm hơn 45 ngày kể từ ngày thông qua hoặc
ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước trung ương;
không sớm hơn 10 ngày kể từ ngày ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật
của Hội đồng nhân dân; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; không sớm hơn 07 ngày kể từ
ngày ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy
ban nhân dân cấp huyện và cấp xã.
Văn bản quy phạm pháp luật
được ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn thì có thể có hiệu lực kể từ ngày
thông qua hoặc ký ban hành, đồng thời phải được đăng ngay trên Cổng thông tin
điện tử của cơ quan ban hành và phải được đưa tin trên phương tiện thông tin
đại chúng; đăng Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc Công báo
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chậm nhất là sau 03 ngày kể từ ngày công
bố hoặc ký ban hành.
Chỉ trong trường hợp
thật cần thiết để bảo đảm lợi ích chung của xã hội, thực hiện các quyền, lợi
ích của tổ chức, cá nhân được quy định trong luật, nghị quyết của Quốc hội, văn
bản quy phạm pháp luật của cơ quan trung ương mới được quy định hiệu lực trở về
trước. Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp,
chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt không được quy
định hiệu lực trở về trước.
Văn bản quy phạm pháp luật
bị đình chỉ việc thi hành hoặc theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền để
giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội phát sinh thì ngưng hiệu lực toàn bộ
hoặc một phần cho đến khi có quyết định xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền. Thời điểm ngưng hiệu lực, tiếp tục có hiệu lực của văn bản hoặc hết hiệu
lực của văn bản phải được quy định rõ tại văn bản quy phạm pháp luật của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền.
Văn bản quy phạm pháp luật
hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong các trường hợp sau đây:
1. Hết thời hạn có hiệu
lực đã được quy định trong văn bản;
2. Được sửa đổi, bổ
sung hoặc thay thế bằng văn bản quy phạm pháp luật mới của chính cơ quan nhà
nước đã ban hành văn bản đó;
3. Bị bãi bỏ bằng một
văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
4. Văn bản quy phạm
pháp luật hết hiệu lực thì văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết thi
hành, văn bản đó cũng đồng thời hết hiệu lực.
- Hiệu lực về không
gian
Văn bản quy phạm pháp luật
của các cơ quan nhà nước ở trung ương có hiệu lực trong phạm vi cả nước và được
áp dụng đối với mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trừ trường hợp văn bản quy phạm pháp luật của
cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.
Văn bản quy phạm pháp luật
của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ở đơn vị hành chính nào thì có hiệu lực
trong phạm vi đơn vị hành chính đó và phải được quy định cụ thể ngay trong văn
bản đó.
d. Nguyên tắc áp dụng
văn bản quy phạm pháp luật
Văn bản quy phạm pháp luật
được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực, đối với hành vi xảy ra tại thời điểm
mà văn bản đó đang có hiệu lực. Nếu văn bản quy phạm pháp luật có quy định hiệu
lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó. Trường hợp các văn bản quy phạm
pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu
lực pháp lý cao hơn.
Khi các văn bản quy
phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một
vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau.
Trong trường hợp văn
bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định
trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra, trước ngày văn bản có hiệu
lực thì áp dụng văn bản mới.
Việc áp dụng văn bản
quy phạm pháp luật trong nước không được cản trở việc thực hiện điều ước quốc
tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Trong trường hợp văn
bản quy phạm pháp luật trong nước và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp
dụng quy định của điều ước quốc tế đó, trừ Hiến
pháp.
1.2.2. Hệ thống các
ngành luật
Các ngành luật trong hệ
thống pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định trên cơ sở đối tượng điều
chỉnh và phương pháp điều chỉnh. Đối tượng điều chỉnh của các ngành luật là các
quan hệ xã hội trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Mỗi ngành luật
sẽ điều chỉnh những nhóm quan hệ xã hội có cùng tính chất bằng những phương
pháp điều chỉnh nhất định. Phương pháp điều chỉnh của ngành luật được hiểu là
cách thức, biện pháp pháp luật tác động lên các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều
chỉnh của ngành luật đó. Như vậy, nội dung, tính chất các quan hệ xã hội sẽ
quyết định đến sự lựa chọn phương pháp điều chỉnh của ngành luật.
Căn cứ vào đối tượng điều
chỉnh và phương pháp điều chỉnh, hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam
bao gồm rất nhiều các ngành luật khác nhau như: luật hiến pháp, luật hành
chính, luật dân sự, luật hình sự, luật lao động, luật đất đai, luật thương mại,
luật tố tụng dân sự, luật tố tụng hình sự, luật tố tụng hành chính…
Trong hệ thống các
ngành luật này, có quan điểm lại phân chia thành các ngành luật nội dung (luật
dân sự, luật hình sự, luật hành chính…) và các ngành luật thủ tục (luật tố tụng
dân sự, luật tố tụng hình sự, luật tố tụng hành chính) hay phân chia thành luật
công và luật tư. Tư tưởng phân chia các ngành luật công và ngành luật tư trong
hệ thống pháp luật bắt nguồn từ việc phân chia các hệ thống pháp luật thuộc
dòng họ pháp luật Châu Âu lục địa (Civil law). Luật công bao gồm các ngành luật
điều chỉnh các quan hệ xã hội có liên quan đến việc thực hiện chức năng, nhiệm
vụ của các cơ quan nhà nước (luật hiến pháp, luật hành chính, luật hình sự, luật
tài chính công…). Luật tư bao gồm các ngành luật điều chỉnh các quan hệ giữa tư
nhân với tư nhân (luật dân sự, luật thương mại, luật lao động…). Theo các nhà
khoa học pháp lý, việc phân định giữa luật công và luật tư có ý nghĩa rất quan
trọng về cả lý luận và thực tế. Về lý luận, việc phân chia luật công và luật tư
sẽ đảm bảo sự thống nhất, chặt chẽ của hệ thống pháp luật. Về thực tế, việc xác
định ranh giới giữa luật công và luật tư sẽ đảm bảo những nguyên tắc nhất định
khi áp dụng pháp luật, đặc biệt là việc lựa chọn các quy phạm nội dung cũng như
phương pháp điều chỉnh trong hoạt động xét xử hoặc giải quyết tranh chấp.
1.3. Một số nội dung cơ
bản trong hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1.3.1. Nội dung cơ bản
của Luật Hiến pháp
1.3.1.1. Chế định pháp luật
về chế độ chính trị, chính sách kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học,
công nghệ và môi trường
- Chế độ chính trị.
Khái niệm chế độ chính
trị được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau. Chế độ chính trị là nội dung, phương
thức tổ chức và hoạt động trong hệ thống chính trị của một quốc gia [9, 432].
Xét dưới góc độ phương pháp, chế độ chính trị là tổng thể các phương pháp, cách
thức, biện pháp tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước. Xét dưới góc độ luật hiến
pháp, chế độ chính trị là tổng thể các nguyên tắc, quy phạm của luật hiến pháp
(bao gồm các nguyên tắc, quy phạm hiến định và các nguyên tắc, quy phạm pháp luật
thể hiện trong các nguồn khác của luật hiến pháp) để xác lập và điều chỉnh các
vấn đề về chính thể và chủ quyền quốc gia, về bản chất và mục đích của nhà
nước, về tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước và quyền lực nhân dân, về tổ
chức và hoạt động của hệ thống chính trị và chính sách đối nội, đối ngoại của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam [6].
- Chính sách kinh tế,
xã hội.
Chính sách kinh tế và
chính sách xã hội là hai chính sách có mối quan hệ mật thiết với nhau. Sự phát
triển bền vững của một quốc gia phụ thuộc vào sự đúng đắn, hợp lý vào chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia đó. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam chủ trương xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ, phát huy nội lực,
hội nhập, hợp tác quốc tế, gắn kết chặt chẽ với phát triển văn hóa, thực hiện
tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, thực hiện công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước (Điều 50 Hiến pháp 2013). Để thực hiện
được các mục tiêu trong chính sách kinh tế đó, Nhà nước phải thực hiện các
chính sách xã hội như chính sách an sinh xã hội; xóa đói, giảm nghèo; chính
sách về sức khỏe cộng đồng; chính sách dân số; chính sách đối với đồng bào dân
tộc thiểu số, đồng bào miền núi, hải đảo…Để thực hiện tốt các chính sách kinh
tế và xã hội chúng ta cần giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế để
ổn định xã hội; thực hiện chính sách xã hội để phát triển xã hội, đảm bảo công
bằng trong phân phối nhằm tạo động lực phát triển mạnh mẽ nền kinh tế của đất
nước.
- Chính sách văn hóa
Chính sách văn hóa là
những tư tưởng chỉ đạo, những nguyên tắc và định hướng cơ bản trong việc xây
dựng và phát triển nền văn hóa của một cộng đồng, quốc gia, dân tộc, khu vực
lãnh thổ hoặc trong phạm vi quốc tế [6, 165]. Hiến
pháp 2013 ghi nhận chính sách
văn hóa của Nhà nước Việt Nam là chăm lo xây dựng và phát triển nền văn hóa
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân
loại. Nhà nước, xã hội phát triển văn học nghệ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu tinh
thần đa dạng và lành mạnh của nhân dân; phát triển các phương tiện thông tin
đại chúng nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của nhân dân, phục vụ sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Chính sách giáo dục
Có thể nói, chính sách
giáo dục được ghi nhận nhất quán trong các bản Hiến pháp Việt Nam của thời kỳ
đổi mới đất nước. So với Hiến pháp 1992, Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2011), Hiến pháp 2013 tiếp tục khẳng định giáo dục
đào tạo là quốc sách hàng đầu với mục tiêu nâng cao dân trí, phát triển nguồn
nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. Với mục tiêu đó, Đại hội Đảng XII của Đảng tiếp
tục đề ra chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển
nguồn nhân lực. Đây là một chủ trương đúng đắn góp phần tạo ra nhiều biến đổi
tích cực trong đời sống xã hội Việt Nam.
- Chính sách khoa học
và công nghệ
Với chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế, khoa học và
công nghệ trở thành động lực thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước. Nhận thức rõ điều đó, Hiến pháp
2013 khẳng định phát triển khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, giữ
vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nhà
nước ưu tiên đầu tư và khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư nghiên cứu phát
triển, chuyển giao, ứng
dụng có
hiệu quả thành tựu khoa học, công nghệ. Nhà nước tạo điều kiện để mọi người
tham gia và được thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động khoa học, công nghệ.
- Chính sách môi trường
So với các Hiến pháp
trước đây, chính sách bảo vệ môi trường được Hiến
pháp 2013 đặc biệt quan tâm. Theo quy định của Hiến pháp 2013, Nhà nước có chính sách bảo vệ
môi trường; quản lí sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên thiên
nhiên, đa dạng sinh học; chủ động phòng chống thiên tai, ứng phó với biến đổi
khí hậu. Nhà nước khuyến khích mọi hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển, sử
dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo. Tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi
trường, làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy giảm đa dạng sinh học phải
bị xử lý nghiêm minh và có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại.
1.3.1.2. Chế định pháp luật
về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
Quyền con người là
những giá trị tự nhiên, vốn có của mọi cá nhân, được pháp luật ghi nhận và bảo
vệ. Hiến pháp Việt Nam 2013 là Hiến pháp đầu tiên ghi nhận và bảo vệ quyền
con người. Theo Văn phòng Cao ủy Liên Hợp quốc, quyền con người là những bảo
đảm pháp lý phổ quát có tác dụng bảo vệ cá nhân và nhóm chống lại những hành
động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ
bản của con người [10]. Quyền con người bao gồm các quyền dân sự, chính trị;
quyền kinh tế, văn hóa, xã hội bao gồm những đặc trưng cơ bản như tính phổ
quát, tính không thể chuyển nhượng, tính không thể phân chia và tính liên hệ
phụ thuộc lẫn nhau. Quyền con người là cơ sở tiền đề cho việc ghi nhận quyền
công dân. Theo quy định của Hiến pháp 2013,
các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã
hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Việc thực hiện quyền
con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền
và lợi ích hợp pháp của người khác. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân. Mọi người có nghĩa vụ tôn
trọng quyền của người khác. Công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với
Nhà nước và
xã hội.
1.3.1.3. Chế định pháp luật
về tổ chức bộ máy nhà nước
Bộ máy nhà nước Cộng
hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương
đến địa phương, được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định, bảo
đảm cho Nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước và thực sự là công
cụ quyền lực của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân [1].
Theo quy định của Hiến pháp 2013, bộ máy nhà nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ
chức và hoạt động theo những nguyên tắc cơ bản sau:
- Nguyên tắc tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân (Điều 2).
- Nguyên tắc Đảng lãnh
đạo các cơ quan nhà nước (Điều 4).
- Nguyên tắc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật (Điều
8)
- Nguyên tắc bình đẳng
và đoàn kết dân tộc (Điều 5).
- Nguyên tắc tập trung
dân chủ (Điều 8).
- Nguyên tắc quyền lực
nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan
nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp (Khoản 3 Điều 2).
Ngoài chế định nguyên
thủ quốc gia (Chủ tịch nước), chế định Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán
nhà nước, bộ máy nhà nước được phân chia như sau:
- Cơ quan quyền lực nhà
nước: Quốc hội và Hội đồng nhân dân.
- Cơ quan hành chính
nhà nước: Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp.
- Cơ quan xét xử: Tòa
án nhân dân.
- Cơ quan kiểm sát:
Viện kiểm sát nhân dân.
Theo quy định của Hiến pháp 2013, Quốc hội là cơ quan đại biểu
cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp,
quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt
động của Nhà nước. Chủ tịch nước là người đứng đầu nhà nước, thay mặt nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội, đối ngoại. Chính phủ là cơ quan hành
chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện
quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội. Tòa án nhân dân là cơ quan
xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.
Viện Kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Ở
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chính quyền địa phương được tổ chức ở
các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cấp chính
quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù
hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc
biệt do luật định. Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa
phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân
dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan
nhà nước cấp trên. Ủy ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phương do Hội đồng
nhân dân cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành
chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và cơ
quan hành chính nhà nước cấp trên.
Như vậy, với vị trí
pháp lý của các cơ quan nhà nước, Hiến pháp
2013 lần đầu tiên ghi nhận các cơ quan nhà nước thực hiện quyền lập pháp,
hành pháp, tư pháp để đảm bảo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có
sự kiểm soát quyền lực nước giữa Quốc hội, Chính phủ, Tòa án góp phần xây dựng
và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
1.3.2. Nội dung cơ bản
của Luật Hành chính
1.3.2.1. Địa vị pháp lý
của chủ thể quản lí hành chính nhà nước
* Cơ quan hành chính
nhà nước
Cơ quan hành chính nhà
nước là bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, trực thuộc trực tiếp hoặc gián
tiếp cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp, có phương diện hoạt động chủ yếu là
hoạt động chấp hành - điều hành, có cơ cấu tổ chức và phạm vi thẩm quyền do
pháp luật quy định [7, 193]. Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ, cơ quan hành chính
nhà nước bao gồm: cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương (Chính phủ, bộ, cơ
quan ngang bộ); cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương (ủy ban nhân dân cấp
tỉnh, ủy ban nhân dân cấp huyện, ủy ban nhân dân cấp xã).
Vị trí pháp lý, cơ cấu
tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan hành chính nhà nước được quy định
trong Hiến pháp 2013, Luật Tổ chức Chính phủ 2015, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.
* Cán bộ, công chức
- Khái niệm cán bộ,
công chức
Theo quy định của Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008, cán bộ là công dân
Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ
trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội
ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp
tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp
huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Cán bộ xã, phường,
thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ
chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí
thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội.
Công chức là công dân
Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan
của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương,
cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không
phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan,
đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên
nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng
Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là
đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức
trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo
đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
Công chức cấp xã là
công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc
Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Căn cứ vào ngạch được
bổ nhiệm, công chức được phân thành bốn loại: Loại A gồm những người được bổ
nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tương đương; loại B gồm những người
được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính hoặc tương đương; loại C gồm những
người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên hoặc tương đương; loại D gồm những
người được bổ nhiệm vào ngạch cán sự hoặc tương đương và ngạch nhân viên. Căn
cứ vào vị trí công tác, công chức được phân thành công chức giữ chức vụ lãnh
đạo, quản lý và công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
Trong hoạt động công
vụ, cán bộ, công chức phải tuân thủ Hiến pháp
và pháp luật; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,
công dân; công khai, minh bạch, đúng thẩm quyền và có sự kiểm tra, giám sát;
bảo đảm tính hệ thống, thống nhất, liên tục, thông suốt và hiệu quả; bảo đảm
thứ bậc hành chính và sự phối hợp chặt chẽ trong thực thi công vụ.
- Quản lí, sử dụng cán
bộ, công chức
+ Nguyên tắc quản lí,
sử dụng cán bộ, công chức
Trong quá trình quản
lí, sử dụng cán bộ, công chức, cơ quan quản lí phải thực hiện đúng các nguyên
tắc trong quản lí cán bộ, công chức. Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam và sự thống nhất quản lí nhà nước; kết hợp giữa tiêu chuẩn chức danh, vị
trí việc làm và chỉ tiêu biên chế; bảo đảm thực hiện bình đẳng giới là những
nguyên tắc được áp dụng chung trong quá trình tuyển dụng, sử dụng, quản lí đối
với cán bộ, công chức. Ngoài ra, hoạt động quản lí phải đảm bảo nguyên tắc tập
trung dân chủ, chế độ trách nhiệm cá nhân và phân công, phân cấp rõ ràng. Việc
sử dụng, đánh giá, phân loại cán bộ, công chức phải dựa trên phẩm chất chính
trị, đạo đức và năng lực thi hành công vụ.
+ Đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, công chức
Đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức là một trong những nhiệm vụ quan trọng của quá trình quản lí cán
bộ, công chức. Cán bộ, công chức có quyền được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao
trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ. Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức phải căn cứ vào tiêu chuẩn, chức vụ, chức danh cán bộ, công chức, yêu cầu
nhiệm vụ; phải phù hợp với quy hoạch cán bộ và phù hợp với tiêu chuẩn của ngạch
công chức. Cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý cán bộ, công chức có trách
nhiệm xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng. Cơ quan, tổ chức, đơn vị
sử dụng cán bộ, công chức có trách nhiệm tạo điều kiện để cán bộ, công chức
tham gia đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức do ngân sách nhà nước cấp và các
nguồn thu khác theo quy định của pháp luật. Cán bộ, công chức tham gia đào tạo,
bồi dưỡng phải chấp hành nghiêm chỉnh quy chế đào tạo, bồi dưỡng và chịu sự
quản lí của cơ sở đào tạo, bồi dưỡng. Cán bộ, công chức tham gia đào tạo, bồi
dưỡng được hưởng nguyên lương và phụ cấp. Thời gian đào tạo, bồi dưỡng được
tính là thời gian công tác liên tục để xét nâng lương theo quy định của pháp luật.
Công chức đã được đào tạo, bồi dưỡng nếu tự ý bỏ việc, xin thôi việc, đơn
phương chấm dứt hợp đồng làm việc phải đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng theo
quy định của pháp luật.
+ Điều động, luân
chuyển, biệt phái, bổ nhiệm, đánh giá cán bộ, công chức
Ngoài trách nhiệm đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, quá trình quản lí, sử dụng cán bộ, công chức
có thể phát sinh một số các hoạt động sau:
Điều động, luân chuyển
cán bộ, công chức. Điều động là việc cán bộ, công chức được cơ quan có thẩm
quyền quyết định chuyển từ cơ quan, tổ chức, đơn vị này đến làm việc ở cơ quan,
tổ chức, đơn vị khác. Luân chuyển là việc cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý
được cử hoặc bổ nhiệm giữ một chức danh lãnh đạo, quản lý khác trong một thời
hạn nhất định để tiếp tục được đào tạo, bồi dưỡng và rèn luyện theo yêu cầu
nhiệm vụ. Căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, quy hoạch cán bộ, kế hoạch sử dụng công
chức, cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý được điều động, luân chuyển trong hệ
thống các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã
hội. Ngoài ra, việc điều động công chức phải căn cứ vào yêu cầu về phẩm chất
chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của công chức.
Công chức được điều động phải đạt yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với
vị trí việc làm mới.
Biệt phái công chức.
Biệt phái là việc công chức của cơ quan, tổ chức, đơn vị này được cử đến làm
việc tại cơ quan, tổ chức, đơn vị khác theo yêu cầu của nhiệm vụ. Thời hạn biệt
phái không quá ba (03) năm, trừ một số ngành, lĩnh vực do Chính phủ quy định.
Công chức biệt phái phải chấp hành sự phân công công tác của cơ quan, tổ chức,
đơn vị nơi được cử đến biệt phái. Hết thời gian biệt phái, cơ quan, tổ chức,
đơn vị quản lí công chức, viên chức biệt phái có trách nhiệm bố trí công việc
phù hợp với công chức. Công chức biệt phái đến miền núi, biên giới, hải đảo,
vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội
đặc biệt khó khăn được hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ theo quy định của
pháp luật. Không thực hiện biệt phái công chức nữ đang mang thai hoặc nuôi con
dưới 36 tháng tuổi.
Bổ nhiệm công chức giữ
chức vụ lãnh đạo, quản lí. Việc bổ nhiệm công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản
lí phải căn cứ vào nhu cầu, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị; tiêu chuẩn, điều
kiện của chức vụ lãnh đạo, quản lí. Thời hạn bổ nhiệm công chức giữ chức vụ
lãnh đạo, quản lý là 05 năm; khi hết thời hạn, cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm
quyền phải xem xét bổ nhiệm lại hoặc không bổ nhiệm lại. Công chức được điều
động đến cơ quan, tổ chức, đơn vị khác hoặc được bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo,
quản lý mới thì đương nhiên thôi giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý đang đảm nhiệm,
trừ trường hợp kiêm nhiệm.
Khi sử dụng cán bộ,
công chức, cơ quan sử dụng cán bộ, công chức cần phải đánh giá cán bộ, công
chức. Mục đích đánh giá cán bộ, công chức để làm rõ phẩm chất chính trị, đạo
đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được
giao. Kết quả đánh giá là căn cứ để bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, khen
thưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách đối với cán bộ, công chức. Nội dung
đánh giá cán bộ, công chức bao gồm: Chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng và pháp luật của Nhà nước; phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tác
phong và lề lối làm việc; tinh thần trách nhiệm trong công tác; kết quả thực
hiện nhiệm vụ được giao. Đối với cán bộ, việc đánh giá căn cứ vào năng lực lãnh
đạo, điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Đối với công chức, việc đánh giá
căn cứ vào năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và thái độ phục vụ nhân
dân.
Căn cứ vào kết quả đánh
giá, cán bộ, công chức được phân thành bốn loại: hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ,
hoàn thành tốt nhiệm vụ, hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực,
không hoàn thành nhiệm vụ. Cán bộ, công chức 02 năm liên tiếp hoàn thành nhiệm
vụ nhưng còn hạn chế về năng lực hoặc có 02 năm liên tiếp, trong đó 01 năm hoàn
thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực và 01 năm không hoàn thành nhiệm vụ thì cơ quan,
tổ chức có thẩm quyền bố trí công tác khác. Cán bộ, công chức 02 năm liên tiếp
không hoàn thành nhiệm vụ thì cơ quan, tổ chức có thẩm quyền miễn nhiệm, cho
thôi làm nhiệm vụ đối với cán bộ hoặc giải quyết thôi việc đối với công chức.
Cán bộ, công chức lãnh
đạo, quản lý có thể từ chức hoặc miễn nhiệm theo yêu cầu của nhiệm vụ hoặc
trong các trường hợp do không đủ sức khỏe; không đủ năng lực, uy tín; hoặc các
lý do khác. Công chức lãnh đạo, quản lý sau khi từ chức hoặc miễn nhiệm được bố
trí công tác phù hợp với chuyên môn, nghiệp vụ được đào tạo hoặc nghỉ hưu, thôi
việc.
+ Khen thưởng, kỷ luật
cán bộ, công chức
Cán bộ, công chức có
thành tích trong công vụ thì được khen thưởng theo quy định của pháp luật về
thi đua khen thưởng. Cán bộ, công chức được khen thưởng do có thành tích xuất
sắc hoặc công trạng thì được nâng lương trước thời hạn, được ưu tiên khi
xem xét bổ nhiệm chức vụ cao hơn nếu cơ quan, tổ chức, đơn vị có nhu cầu.
Cán bộ, công chức vi
phạm quy định của Luật Cán bộ, công chức và
các quy định khác của pháp luật có liên quan thì tùy theo tính chất, mức độ vi
phạm phải chịu trách nhiệm kỷ luật. Các hình thức kỷ luật áp dụng đối với cán
bộ bao gồm: khiển trách, cảnh cáo, cách chức, bãi nhiệm. Việc cách chức chỉ áp
dụng đối với cán bộ được phê chuẩn giữ chức vụ theo nhiệm kỳ. Các hình thức kỷ luật
đối với công chức bao gồm: khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức,
cách chức, buộc thôi việc. Hình thức giáng chức, cách chức chỉ áp dụng đối với
công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lí.
Cán bộ, công chức lãnh
đạo, quản lí phạm tội bị tòa án kết án và bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật thì đương nhiên thôi giữ chức vụ do bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm;
trong trường hợp cán bộ, công chức bị tòa án kết án phạt tù mà không được hưởng
án treo thì đương nhiên bị thôi việc kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực
pháp luật.
1.3.2.2. Vi phạm hành
chính và trách nhiệm hành chính
- Vi phạm hành chính
Vi phạm hành chính là
hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về
quản lí hành chính nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp
luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính. (Khoản 1 Điều 2 Luật Xử
lý vi phạm hành chính năm 2012)
Theo quy định của pháp luật,
vi phạm hành chính trước hết phải cấu thành từ những hành vi vi phạm hành
chính. Đây là các hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện xâm hại quy tắc, trật
tự trong quản lí nhà nước và bị pháp luật quy định cấm trong các văn bản về xử
phạt vi phạm hành chính cụ thể. Bên cạnh đó, các hành vi vi phạm hành chính
phải là các hành vi có lỗi. Lỗi là yếu tố cấu thành bắt buộc trong vi phạm hành
chính nói riêng và vi phạm pháp luật nói chung. Có nhiều quan điểm khác nhau về
dấu hiệu lỗi trong cấu thành vi phạm pháp luật. Có quan điểm cho rằng, lỗi chỉ
đặt ra khi chủ thể vi phạm hành chính là cá nhân. Theo quan điểm này, lỗi là
trạng thái tâm lí của cá nhân trong khi thực hiện hành vi vi phạm. Tuy nhiên
quan điểm khác lại cho rằng cần phải xác định lỗi của tổ chức thông qua lỗi của
các thành viên trong tổ chức khi thực hiện nhiệm vụ được tổ chức giao. Lỗi
trong vi phạm hành chính bao gồm: lỗi cố ý và lỗi vô ý. Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 không quy
định cụ thể các dấu hiệu của lỗi. Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý, lỗi cố ý
là trường hợp chủ thể thực hiện hành vi trong tình trạng có đầy đủ khả năng
nhận thức và điều khiển hành vi nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho
xã hội nhưng vẫn cố tình thực hiện. Lỗi vô ý là trường hợp chủ thể thực hiện hành vi có khả
năng nhận thức và điều khiển hành vi nhưng đã vô tình, thiếu thận trọng để xảy
ra hành vi nguy hiểm cho xã hội.
Như vậy, chủ thể của vi
phạm hành chính phải là cá nhân, tổ chức có năng lực chịu trách nhiệm pháp lý.
Tổ chức có năng lực chịu trách nhiệm pháp lý khi tổ chức được thành lập hợp
pháp. Do vậy, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính
do mình gây ra. Cá nhân có năng lực chịu trách nhiệm pháp lý khi cá nhân có khả
năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi và đạt đến một độ tuổi luật định.
Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm
hành chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt vi phạm hành chính
về mọi vi phạm hành chính.
- Xử lý vi phạm hành
chính
Xử lý vi phạm hành
chính là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý áp dụng các biện
pháp xử phạt hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả và các biện pháp xử lý
hành chính khác đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính
theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Khi xử lý vi phạm hành
chính, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải đảm bảo đúng nguyên tắc
xử lý vi phạm hành chính và các hình thức xử lý vi phạm hành chính theo quy
định của pháp luật.
+ Nguyên tắc và các
hình thức xử phạt vi phạm hành chính
Xử phạt vi phạm hành
chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp
khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính
theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính. Trong xử phạt vi
phạm hành chính cần phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
+ Mọi vi phạm hành
chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải bị xử lý nghiêm minh, mọi
hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của
pháp luật;
+ Việc xử phạt vi phạm
hành chính được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền,
bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật;
+ Việc xử phạt vi phạm
hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, đối tượng vi phạm
và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng;
+ Chỉ xử phạt vi phạm
hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định. Một hành vi
vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần. Nhiều người cùng thực hiện một hành
vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt về hành vi vi phạm
hành chính đó. Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính hoặc vi
phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm;
+ Người có thẩm quyền
xử phạt có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính. Cá nhân, tổ chức bị xử
phạt có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình
không vi phạm hành chính;
+ Đối với cùng một hành
vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức
phạt tiền đối với cá nhân.
Các hình thức xử phạt
vi phạm hành chính bao gồm: cảnh cáo; phạt tiền; tước quyền sử dụng giấy phép,
chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu
tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính
(sau đây gọi chung là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính); trục xuất.
Cảnh cáo là hình thức
xử phạt chính được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không
nghiêm trọng, có tình tiết giảm nhẹ và theo quy định thì bị áp dụng hình thức xử
phạt cảnh cáo hoặc đối với mọi hành vi vi phạm hành chính do người chưa thành
niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện. Cảnh cáo được quyết định bằng
văn bản.
Phạt tiền là hình thức
xử phạt chính áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính nếu không
thuộc trường hợp xử phạt cảnh cáo. Mức phạt tiền trong xử phạt hành chính đối
với cá nhân từ 50.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng, đối với tổ chức từ 100.000
đồng đến 2.000.000.000 đồng; trừ các trường hợp vi phạm trong lĩnh vực thuế, đo
lường, sở hữu trí tuệ, an toàn thực phẩm, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, chứng
khoán, hạn chế cạnh tranh sẽ được xử phạt theo quy định tại các luật tương ứng.
Tước quyền sử dụng giấy
phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn là hình thức xử phạt được áp dụng đối với
cá nhân, tổ chức vi phạm nghiêm trọng các hoạt động được ghi trong giấy phép,
chứng chỉ hành nghề. Trong thời gian bị tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ
hành nghề, cá nhân, tổ chức không được tiến hành các hoạt động ghi trong giấy
phép, chứng chỉ hành nghề.
Đình chỉ hoạt động có
thời hạn là hình thức xử phạt được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm
hành chính trong các trường hợp sau:
+ Đình chỉ một phần
hoạt động gây hậu quả nghiêm trọng hoặc có khả năng thực tế gây hậu quả nghiêm
trọng đối với tính mạng, sức khỏe con người, môi trường của cơ sở sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ mà theo quy định của pháp luật phải có giấy phép;
+ Đình chỉ một phần
hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc hoạt động khác mà
theo quy định của pháp luật không phải có giấy phép và hoạt động đó gây hậu quả
nghiêm trọng hoặc có khả năng thực tế gây hậu quả nghiêm trọng đối với tính mạng, sức khỏe con
người, môi trường và trật tự, an toàn xã hội.
Tịch thu tang vật,
phương tiện vi phạm hành chính là việc sung vào ngân sách nhà nước vật, tiền,
hàng hóa, phương tiện có liên quan trực tiếp đến vi phạm hành chính, được áp
dụng đối với vi phạm hành chính nghiêm trọng do lỗi cố ý của cá nhân, tổ chức.
Trục xuất là hình thức
xử phạt buộc người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính tại Việt Nam phải
rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Ngoài các hình thức xử
phạt vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính còn có
thể yêu cầu áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả như: Buộc khôi phục lại
tình trạng ban đầu; buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng không có
giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép; buộc thực hiện biện pháp khắc
phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh; buộc đưa ra khỏi lãnh
thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất hàng hóa, vật phẩm,
phương tiện; buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người,
vật nuôi, cây trồng và môi trường, văn hóa phẩm có nội dung độc hại; buộc cải
chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn; buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên
hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, vật phẩm; buộc thu hồi sản
phẩm, hàng hóa không bảo đảm chất lượng; buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có
được do thực hiện vi phạm hành chính hoặc buộc nộp lại số tiền bằng trị giá
tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái
quy định của pháp luật.
+ Nguyên tắc và các
hình thức xử lý vi phạm hành chính
Biện pháp xử lý hành
chính là biện pháp được áp dụng đối với cá nhân vi phạm pháp luật về an ninh,
trật tự, an toàn xã hội mà không phải là tội phạm, bao gồm biện pháp giáo dục
tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục bắt
buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Việc áp dụng các biện
pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo
dưỡng; đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; đưa vào cơ sở giáo dục phải được tiến
hành theo đúng quy định của pháp luật. Việc quyết định thời hạn áp dụng biện
pháp xử lý hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, nhân
thân người vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng. Người có thẩm
quyền áp dụng biện pháp xử lý hành chính có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành
chính. Cá nhân bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền tự mình hoặc
thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính.
+ Các biện pháp ngăn
chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính
Trong trường hợp cần
ngăn chặn kịp thời vi phạm hành chính hoặc để bảo đảm việc xử lý vi phạm hành
chính, người có thẩm quyền có thể áp dụng các biện pháp tạm giữ người; áp giải
người vi phạm; tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép,
chứng chỉ hành nghề; khám người; khám phương tiện vận tải, đồ vật; khám nơi cất
giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; quản lý người nước ngoài vi phạm
pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất; giao cho gia đình, tổ
chức quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời
gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính; truy tìm đối tượng phải
chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt
buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong trường hợp bỏ trốn.
Khi áp dụng biện pháp
ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính, người có thẩm quyền phải tuân
thủ nghiêm ngặt quy định của pháp luật. Người ra quyết định áp dụng biện pháp
ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính phải chịu trách nhiệm đối với
quyết định của mình. Việc sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ trong việc áp dụng
biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính phải được thực hiện
theo quy định của pháp luật.
1.3.3. Nội dung cơ bản
của pháp luật lưu trữ
Pháp luật lưu trữ Việt
Nam là hệ thống các quy tắc xử sự chung do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động lưu trữ.
Hiện nay, pháp luật lưu trữ bao gồm hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật
quản lý về công tác văn thư, lưu trữ như: Luật
Lưu trữ, nghị định của Chính phủ (Nghị định số 01/2013/NĐ-CP ngày 03/01/2013 quy định chi tiết
thi hành Luật Lưu trữ); Thông tư của Bộ
trưởng (Thông tư số 06/2015/TT-BNV ngày 08/12/2015
hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức củ tổ chức văn thư, lưu trữ
Bộ, cơ quan ngang Bộ; Thông tư số 16/2014/TT-BNV
ngày 20/11/2014 hướng dẫn
giao, nhận tài liệu lưu trữ vào Tài liệu lịch sử các cấp; Thông tư số 10/2014/TT-BNV ngày 01/10/2014 qui định về việc
sử dụng tài liệu tại Phòng đọc của Lưu trữ lịch sử …)…
Đối tượng áp dụng của
pháp luật lưu trữ Việt Nam áp dụng đối với cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị,
tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã
hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ
trang nhân dân và cá nhân.
Phạm vi điều chỉnh và nội
dung cơ bản của pháp luật lưu trữ bao gồm:
- Các hoạt động lưu
trữ; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động lưu trữ.
Hoạt động lưu trữ được hiểu là hoạt động thu thập, chỉnh lý, xác định giá trị,
bảo quản, thống kê, sử dụng tài liệu lưu trữ. Nội dung cụ thể của các hoạt động
lưu trữ được pháp luật quy định như sau:
+ Hoạt động thu thập
tài liệu lưu trữ.
Trong hoạt động thu
thập tài liệu lưu trữ, pháp luật lưu trữ quy định trách nhiệm của các cơ quan,
tổ chức, cá nhân trong hoạt động lập hồ sơ, quản lý hồ sơ, tài liệu tại lưu trữ
cơ quan; trong hoạt động chỉnh lý, xác định giá trị tài liệu lưu trữ và trong
hoạt động thu thập tài liệu vào lưu trữ lịch sử.
+ Hoạt động bảo quản,
thống kê tài liệu lưu trữ, hủy tài liệu hết giá trị.
Đối với hoạt động bảo
quản tài liệu lưu trữ, người đứng đầu cơ quan, tổ chức có trách nhiệm xây dựng,
bố trí kho lưu trữ, thiết bị, phương tiện cần thiết và thực hiện các biện pháp
kỹ thuật nghiệp vụ để bảo vệ, bảo quản an toàn tài liệu lưu trữ và bảo đảm việc
sử dụng tài liệu lưu trữ. Đối với tài liệu lưu trữ quý, hiếm, phải được kiểm
kê, bảo quản, lập bản sao bảo hiểm và sử dụng theo chế độ đặc biệt. Đối với
hoạt động thống kê nhà nước về lưu trữ, các cơ quan, tổ chức ở trung ương, cấp
tỉnh, cấp huyện, cấp xã có trách nhiệm thực hiện hoạt động thống kê lưu trữ
theo đúng quy định của pháp luật. Tài liệu Phông lưu trữ quốc gia Việt Nam phải
được thống kê tập trung trong hệ thống sổ sách, cơ sở dữ liệu, hồ sơ quản lý.
Đối với hoạt động hủy tài liệu hết giá trị, các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong
hoạt động lưu trữ phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật lưu trữ về
thẩm quyền, trình tự, thủ tục hủy tài liệu hết giá trị.
+ Hoạt động sử dụng tài
liệu lưu trữ
Trong hoạt động sử dụng
tài liệu lưu trữ, pháp luật quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng
tài liệu lưu trữ để phục vụ công tác, nghiên cứu khoa học, lịch sử và các nhu
cầu chính đáng khác. Việc sử dụng tài liệu lưu trữ tại lưu trữ cơ quan, lưu trữ
lịch sử phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình sử
dụng tài liệu lưu trữ, cơ quan, tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ chỉ dẫn số lưu
trữ, độ gốc của tài liệu lưu trữ và cơ quan, tổ chức quản lý tài liệu lưu trữ;
tôn trọng tính nguyên bản tài liệu khi công bố, giới thiệu, trích dẫn tài liệu
lưu trữ; không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ
quan, tổ chức, cá nhân; nộp phí sử dụng tài liệu lưu trữ theo quy định của pháp
luật; thực hiện các quy định của pháp luật, nội quy, quy chế của cơ quan, tổ
chức quản lý tài liệu lưu trữ và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Cơ quan, tổ chức có tài liệu lưu trữ có trách nhiệm chủ động giới thiệu tài
liệu lưu trữ và tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng tài liệu lưu trữ đang
trực tiếp quản lý; hằng năm rà soát, thông báo tài liệu lưu trữ thuộc Danh mục
tài liệu có đóng dấu chỉ các mức độ mật đã được giải mật.
- Hoạt động đào tạo,
bồi dưỡng nghiệp vụ lưu trữ.
Theo quy định của pháp luật,
tổ chức có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật được đào tạo, bồi dưỡng
nghiệp vụ lưu trữ.Bộ Nội vụ quy định chương trình, nội dung bồi dưỡng nghiệp vụ
lưu trữ; phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định chương trình khung đào
tạo nghiệp vụ lưu trữ.
- Hoạt động dịch vụ lưu
trữ.
Các hoạt động dịch vụ
lưu trữ bao gồm: bảo quản, chỉnh lý, tu bổ, khử trùng, khử axit, khử nấm mốc,
số hóa tài liệu lưu trữ không thuộc danh mục bí mật nhà nước; nghiên cứu, tư
vấn, ứng dụng khoa học và chuyển giao công nghệ lưu trữ. Tổ chức, cá nhân được
hoạt động dịch vụ lưu trữ khi có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.
- Hoạt động quản lí về
lưu trữ.
Thông qua pháp luật lưu
trữ, Nhà nước thực hiện hoạt động quản lí về lưu trữ. Hoạt động quản lí về lưu
trữ được thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc sau:
+ Nhà nước thống nhất
quản lý tài liệu Phông lưu trữ quốc gia Việt Nam.
+ Hoạt động lưu trữ
được thực hiện thống nhất theo quy định của pháp luật.
+ Tài liệu Phông lưu
trữ quốc gia Việt Nam được Nhà nước thống kê.
Khi thực hiện hoạt động
quản lí về lưu trữ, Nhà nước thực hiện các chính sách bảo đảm kinh phí, nguồn
nhân lực trong việc bảo vệ, bảo quản an toàn, tổ chức sử dụng có hiệu quả tài
liệu Phông lưu trữ quốc gia Việt Nam; tập trung hiện đại hóa cơ sở vật chất, kỹ
thuật và ứng dụng khoa học, công nghệ trong hoạt động lưu trữ; thừa nhận quyền
sở hữu đối với tài liệu lưu trữ; khuyến khích tổ chức, cá nhân hiến tặng, ký
gửi, bán tài liệu lưu trữ của mình cho Nhà nước, đóng góp, tài trợ cho hoạt
động lưu trữ và thực hiện hoạt động dịch vụ lưu trữ; tăng cường mở rộng hợp tác
quốc tế trong hoạt động lưu trữ. Bên cạnh đó nhà nước còn quy định các nội dung
có liên quan đến hoạt động quản lý tài liệu của cá nhân, gia đình, dòng họ.
Những tài liệu của cá nhân, gia đình, dòng họ có giá trị phục vụ hoạt động thực
tiễn, nghiên cứu khoa học, lịch sử đối với quốc gia, xã hội được đăng ký thuộc
Phông lưu trữ quốc gia Việt Nam.
2. Thực hiện pháp luật
trong Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
2.1. Khái niệm
Thực hiện pháp luật là
giai đoạn rất quan trọng trong cơ chế điều chỉnh pháp luật, gắn kết mật thiết
với cơ chế xây dựng pháp luật. Hệ thống pháp luật thống nhất, tương đối ổn
định, phù hợp với thực tiễn, có tính khả thi sẽ là những tiêu chuẩn quan trọng
giúp cho việc thực hiện pháp luật đạt hiệu quả cao trong thực tế.
Thực hiện pháp luật là
hành vi thực tế hợp pháp, có mục đích của các chủ thể pháp luật nhằm hiện thực
hóa các quy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống [1, 183]. Với
cách hiểu này, thực hiện pháp luật là hành vi pháp lý hợp pháp của các cơ quan,
tổ chức, cá nhân thông qua nhiều hình thức khác nhau để đưa pháp luật vào thực
tiễn cuộc sống.
Về bản chất, thực hiện
pháp luật là quá trình hiện thực hóa pháp luật, làm bộc lộ và phát huy những
giá trị tiềm năng của pháp luật trong thực tế. Thực hiện pháp luật được xem là
hình thức để nhà nước thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình, quản lý và
bảo vệ xã hội, còn đối với các tổ chức khác hoặc các cá nhân thì đó là việc
thực hiện các quyền, tự do hoặc các nghĩa vụ pháp lý của họ mà pháp luật đã quy
định [4, 26 - 42]. Như vậy, thực hiện pháp luật không chỉ gắn liền với việc
thực hiện quyền lực nhà nước mà còn gắn liền với việc thực hiện quyền và nghĩa
vụ của tổ chức, cá nhân. Thực hiện pháp luật là một quá trình tác động của chủ
thể thực hiện pháp luật đến các quan hệ xã hội cụ thể thông qua các quy phạm
pháp luật để đạt được mục đích của các chủ thể đó. Chủ thể của thực hiện pháp luật
không chỉ là cơ quan nhà nước có quyền lực nhà nước mà còn là các tổ chức, cá
nhân không sử dụng quyền lực nhà nước. Họ thực hiện pháp luật bằng các hình
thức khác nhau như: tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật
và áp dụng pháp luật. Các hình thức thực hiện pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau. Do vậy, không nên nghiên cứu tách rời các hình thức thực hiện pháp luật;
càng không nên cho rằng tuân thủ pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật
độc lập. Chúng ta nhìn thấy bản chất của thực hiện pháp luật là các chủ thể
thực hiện đúng các yêu cầu của pháp luật, đó chính là tuân thủ pháp luật; đồng
thời tuân thủ pháp luật không thể thiếu khi các chủ thể thi hành pháp luật, sử
dụng pháp luật hay áp dụng pháp luật. Hiệu quả của thực hiện pháp luật phụ
thuộc vào sự phù hợp giữa kết quả điều chỉnh của pháp luật với những mong muốn
mà chủ thể đặt ra khi xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật. Do
vậy, việc so sánh, đánh giá trạng thái của các quan hệ xã hội trước và sau khi
được pháp luật điều chỉnh; so sánh giữa chi phí thực tế với những chi phí dự
kiến của quá trình tổ chức thực hiện pháp luật là những nhiệm vụ bắt buộc phải
làm khi tiến hành đánh giá hiệu quả của thực hiện pháp luật.
2.2. Các hình thức thực
hiện pháp luật
2.2.1. Tuân thủ pháp luật
Tuân thủ pháp luật là
một trong những hình thức thực hiện pháp luật. Hầu hết các quan điểm đều cho
rằng tuân thủ pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể
pháp luật kiềm chế, không tiến hành những hoạt động mà pháp luật cấm [1, 183].
Tuân thủ pháp luật là việc chủ thể tự kiềm chế không thực hiện hành vi (có thể
là hành động hoặc không hành động) bị pháp luật cấm [4, 26].
Về cơ bản, hai khái
niệm nêu trên đều cho rằng tuân thủ pháp luật là việc các chủ thể không làm
những điều pháp luật cấm. Có nghĩa là hình thức tuân thủ pháp luật là hình thức thực
hiện các quy phạm pháp luật cấm đoán. Việc xem xét tính tuân thủ pháp luật của
các cơ quan, tổ chức, cá nhân là một trong những yêu cầu rất cơ bản trong quy
trình, tổ chức thực hiện pháp luật. Do vậy, hình thức tuân thủ pháp luật cần
được các chủ thể đảm bảo khi thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng
pháp luật.
2.2.2. Thi hành pháp luật
Thi hành pháp luật là
hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện
nghĩa vụ pháp lí của mình bằng hành động tích cực.
Chủ thể thi hành pháp luật
là các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân. Các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá
nhân thực hiện nghĩa vụ pháp lý được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật,
thông thường đó là các quy phạm pháp luật bắt buộc. Trong các quy phạm pháp luật
này, phần quy tắc xác định rõ hành vi mà chủ thể buộc phải thực hiện. Tuy
nhiên, không nên đồng nhất thi hành pháp luật với thi hành một hoặc một số quy
phạm pháp luật cụ thể bởi bản thân các quy phạm pháp luật tồn tại trong mối
quan hệ thống nhất với nhau. Bên cạnh đó, cần xác định rõ nhiệm vụ thi hành
pháp luật của các cơ quan nhà nước phải gắn liền với việc thực hiện quyền lực
nhà nước; đặc biệt là với ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Trong thi
hành quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, các chủ thể thực hiện ba quyền (Quốc
hội, Chính phủ, Tòa án) thực hiện các nghĩa vụ pháp lý theo quy định của pháp luật.
Điều này có nghĩa là Quốc hội, chủ thể thực hiện hoạt động lập pháp sẽ thực
hiện nghĩa vụ pháp lý theo quy định của Hiến
pháp, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và
các văn bản khác về quy chế hoạt động trong nội bộ của Quốc hội như: Quy chế
hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quy chế hoạt động của Hội đồng dân tộc
và các ủy ban của Quốc hội, Nội quy kỳ họp của Quốc hội. Phát huy dân chủ là
một nghĩa vụ pháp lý bắt buộc mà Quốc hội phải tiến hành một cách tích cực nhằm
đảm bảo những yêu cầu về tuân thủ pháp luật trong quy trình, thủ tục lập pháp.
Chính phủ với tư cách là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của
Quốc hội sẽ có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được quy định
trong Luật Tổ chức Chính phủ, thi hành các
nghĩa vụ pháp lý khi tổ chức thực hiện Hiến
pháp và pháp luật và chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội thông qua các
nghĩa vụ pháp lý được quy định tại Luật Hoạt động
giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Với tư cách là người đứng đầu
hệ thống hành chính nhà nước, Thủ tướng Chính phủ phải thực hiện nghĩa vụ lãnh
đạo việc xây dựng chính sách và tổ chức thi hành pháp luật. Như vậy, Chính phủ
không những là chủ thể phải thi hành pháp luật mà còn là chủ thể có trách nhiệm
tổ chức thi hành pháp luật trong phạm vi cả nước. Đây là một đặc trưng riêng của thi hành pháp
luật trong quyền hành pháp. Đối với việc thi hành quyền tư pháp, tòa án thực
hiện các nghĩa vụ pháp lý theo quy định của Hiến
pháp và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân
nhằm thực hiện tốt hai chức năng xét xử, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con
người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
2.2.3. Sử dụng pháp luật
Sử dụng pháp luật được
hiểu là một hình thức thực hiện pháp luật trong đó các chủ thể thực hiện quyền
được pháp luật quy định. Chủ thể của sử dụng pháp luật rất rộng bao gồm các cơ
quan, tổ chức, cá nhân. Các cơ quan nhà nước sử dụng pháp luật để thực hiện các
chức năng quản lý nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội được pháp luật
cho phép. Các tổ chức được pháp luật trao quyền có thể tham gia vào hoạt động
quản lý nhà nước. Công dân Việt Nam được Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo đảm
quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội;
trong đó có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và
kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước.
Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công
khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân.
Nhà nước thông qua pháp
luật trao quyền cho các chủ thể pháp luật. Việc sử dụng pháp luật là một hình
thức không thể thiếu trong quá trình thực hiện pháp luật. Các chủ thể pháp luật
sử dụng pháp luật có nghĩa là sử dụng quyền được pháp luật trao cho. Hiệu quả
của sử dụng pháp luật không phụ thuộc vào số lượng việc sử dụng quyền mà phụ
thuộc vào cơ chế bảo đảm quyền của các chủ thể trên thực tế.
2.2.4. Áp dụng pháp luật
Áp dụng pháp luật là
việc nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền
tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật hoặc
tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật để tạo ra các quyết định làm phát
sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể [1, 469 -
470].
Áp dụng pháp luật còn
được hiểu là một hình thức hoạt động mang tính tổ chức - quyền lực của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền hoặc cá nhân có thẩm quyền theo thủ tục, trình tự do
pháp luật qui định, nhằm cá biệt hóa quy phạm pháp luật hiện hành đối với cá
nhân, cơ quan, tổ chức cụ thể trong trường hợp cụ thể [ 3, 283].
Khác so với các hình
thức thực hiện pháp luật khác, chủ thể của áp dụng pháp luật phải là các cơ
quan, tổ chức, cá nhân có quyền lực nhà nước căn cứ quy định của pháp luật để
giải quyết các vụ việc cụ thể phát sinh trong thực thi công vụ, nhiệm vụ được
giao. Có thể nói, áp dụng pháp luật là một phương thức rất quan trọng trong việc thực
hiện chức năng điều chỉnh của pháp luật. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền đưa các quy phạm pháp luật vào áp dụng trong từng trường hợp cụ thể, tác
động đến các quan hệ xã hội cụ thể. Hiệu quả của pháp luật nói chung, hiệu quả
của các quy phạm pháp luật nói riêng phụ thuộc rất nhiều vào hiệu quả của hoạt
động áp dụng pháp luật. Thông qua áp dụng pháp luật, các chủ thể sử dụng quyền
lực nhà nước đánh giá, so sánh, xem xét kết quả thực tế mà pháp luật đã mang
lại khi tác động đến các quan hệ xã hội. Từ đó, thấy được những điểm tích cực
và hạn chế của hệ thống pháp luật để điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung. Như vậy, áp
dụng pháp luật không chỉ có ý nghĩa trong thực hiện pháp luật mà còn liên quan
chặt chẽ đến hoạt động xây dựng pháp luật. Do vậy, chúng ta không thể xem xét
các hình thức của thực hiện pháp luật một cách độc lập; cần nghiên cứu áp dụng
pháp luật, thực hiện pháp luật trong mối tương quan với hoạt động xây dựng pháp
luật và hoạt động bảo vệ pháp luật.
2.3. Thực hiện pháp luật
trong lĩnh vực lưu trữ
Thực hiện pháp luật
trong lĩnh vực lưu trữ là việc các chủ thể hoạt động trong lĩnh vực lưu trữ
tuân thủ, thi hành, sử dụng và áp dụng pháp luật lưu trữ trong thực thi công
vụ, nhiệm vụ được giao.
Hệ thống pháp luật lưu
trữ bao gồm hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy định về hoạt động lưu
trữ; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động lưu trữ
cùng các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ lưu trữ; hoạt động dịch vụ lưu
trữ và quản lý về lưu trữ.
Các chủ thể của hoạt
động lưu trữ bao gồm người đứng đầu cơ quan, tổ chức, những người làm công tác
lưu trữ và những tổ chức, cá nhân có nhu cầu trong công tác khai thác, sử dụng
tài liệu lưu trữ.
Khi thực hiện pháp luật
trong lĩnh vực lưu trữ, người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong trong phạm vi
nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm quản lý về lưu trữ, áp dụng các
biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong việc thu thập, quản lý, bảo quản và sử
dụng tài liệu lưu trữ; ban hành quy chế về công tác lưu trữ của cơ quan, tổ
chức mình.
Người làm lưu trữ ở cơ
quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị vũ trang
nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập phải có đủ các tiêu chuẩn theo quy định của
pháp luật; được đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ lưu trữ và kiến
thức cần thiết khác phù hợp với công việc; được hưởng chế độ, quyền lợi tương
ứng trong cơ quan, tổ chức và được hưởng phụ cấp ngành nghề đặc thù, chính sách
ưu đãi khác theo quy định của pháp luật.
Theo quy định của pháp luật,
chủ thể thực hiện pháp luật lưu trữ phải tuân thủ pháp luật lưu trữ, không thực
hiện các hành vi bị nghiêm cấm như: chiếm đoạt, làm hỏng, làm mất tài liệu lưu trữ; làm giả,
sửa chữa, làm sai lệch nội dung tài liệu lưu trữ; mua bán, chuyển giao, hủy
trái phép tài liệu lưu trữ; sử dụng tài liệu lưu trữ vào mục đích xâm phạm lợi
ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; sử
dụng tài liệu lưu trữ vào mục đích xâm hại lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi
ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; mang tài liệu lưu trữ ra nước ngoài
trái phép.
Thi hành và sử dụng
pháp luật lưu trữ là việc các chủ thể thực hiện nghĩa vụ pháp lý và quyền theo
quy định của pháp luật lưu trữ. Thi hành pháp luật lưu trữ trước hết là trách
nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chuyên môn thực hiện
nghĩa vụ trong các hoạt động thu thập tài liệu lưu trữ; bảo quản, thống kê tài
liệu lưu trữ và sử dụng tài liệu lưu trữ theo quy định của pháp luật lưu trữ.
Sử dụng pháp luật lưu trữ là việc các chủ thể của hoạt động lưu trữ thực hiện
quyền theo quy định của pháp luật. Hoạt động thi hành pháp luật lưu trữ thường
được áp dụng chuyên sâu đối với các chủ thể thực hiện hoạt động lưu trữ trong
hoạt động thu thập tài liệu lưu trữ và hoạt động bảo quản, thống kê tài liệu
lưu trữ. Trong hoạt động thu thập tài liệu lưu trữ, chủ thể thực hiện hoạt động
lưu trữ có trách nhiệm lập hồ sơ, quản lý hồ sơ, tài liệu lưu trữ cơ quan;
chỉnh lý, xác định giá trị tài liệu; thu thập tài liệu vào lưu trữ lịch sử.
Trong hoạt động bảo quản, thống kê tài liệu lưu trữ, người đứng đầu cơ quan, tổ
chức có trách nhiệm xây dựng, bố trí kho lưu trữ, thiết bị, phương tiện cần
thiết và thực hiện các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ để bảo vệ, bảo quản an toàn
tài liệu lưu trữ và bảo đảm việc sử dụng tài liệu lưu trữ. Trong hoạt động sử
dụng tài liệu lưu trữ, các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện pháp luật lưu
trữ dưới hai hình thức: sử dụng và thi hành pháp luật lưu trữ bởi pháp luật lưu
trữ ghi nhận rất rõ quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc
sử dụng tài liệu lưu trữ. Theo quy định của Luật
Lưu trữ, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng tài liệu lưu trữ để
phục vụ công tác, nghiên cứu khoa học, lịch sử và nhu cầu chính đáng khác. Khi
sử dụng tài liệu lưu trữ, cơ quan, tổ chức, cá nhân có các nghĩa vụ sau:
- Chỉ dẫn số lưu trữ,
độ gốc của tài liệu lưu trữ và cơ quan, tổ chức quản lý tài liệu lưu trữ; tôn
trọng tính nguyên bản tài liệu khi công bố, giới thiệu, trích dẫn tài liệu lưu
trữ;
- Không xâm phạm lợi
ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
- Nộp phí sử dụng tài
liệu lưu trữ theo quy định của pháp luật;
- Thực hiện các quy
định của pháp luật lưu trữ, nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức quản lý tài
liệu lưu trữ và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Bên cạnh đó, cơ quan,
tổ chức có tài liệu lưu trữ có trách nhiệm chủ động giới thiệu tài liệu lưu trữ
và tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng tài liệu lưu trữ đang trực tiếp
quản lý; hằng năm rà soát, thông báo tài liệu lưu trữ thuộc Danh mục tài liệu
có đóng dấu chỉ các mức độ mật đã được giải mật.
Nếu như chủ thể thi
hành và sử dụng pháp luật lưu trữ rất rộng thì chủ thể của hoạt động áp dụng
pháp luật lưu trữ phải là các cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lực nhà nước.
Trước hết đó là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng pháp luật để thực
hiện trách nhiệm quản lý về lưu trữ. Chính phủ là cơ quan thống nhất quản lý
nhà nước về lưu trữ. Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản
lý nhà nước về lưu trữ và quản lý tài liệu Phông lưu trữ Nhà nước Việt Nam. Cơ
quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện quản lý tài liệu Phông
lưu trữ Đảng Cộng sản Việt Nam. Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ,
cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền
hạn của mình thực hiện quản lý về lưu trữ. Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện
quản lý nhà nước về lưu trữ ở địa phương. Trong quá trình quản lý nhà nước về
lưu trữ, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ tổ chức cho các chủ thể của hoạt
động lưu trữ thực hiện những quy định của pháp luật hoặc tự mình căn cứ vào các
quy định của pháp luật để tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình
chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể. Một trong những hoạt động áp
dụng pháp luật lưu trữ đó là việc truy cứu trách nhiệm pháp lí đối với chủ thể
vi phạm pháp luật lưu trữ. Hiện nay, việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực lưu trữ thực hiện theo từng lĩnh vực chuyên ngành. Ví dụ đối với hoạt động
kế toán, kiểm toán độc lập, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền áp dụng
pháp luật phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng đối với hành vi hủy bỏ
tài liệu kế toán khi chưa hết thời hạn lưu trữ theo quy định; tiêu hủy tài liệu
kế toán không thành lập hội đồng tiêu hủy, không thực hiện đúng phương pháp
tiêu hủy và không lập biên bản tiêu hủy theo quy định (Điều 3 Nghị định 105/2013/NĐ-CP
ngày 16/9/2013 về xử phạt hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc
lập). Trong lĩnh vực quản lí giá, phí, lệ phí, hóa đơn, phạt 40 triệu đồng đến
60 triệu đồng đối với hành vi không lưu trữ hồ sơ thẩm định giá theo đúng quy
định của pháp luật; không tuân thủ quy định của pháp luật về bảo quản, khai
thác hồ sơ thẩm định giá (Khoản 6 Điều 18 Nghị định 109/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 quy
định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lí giá, phí, lệ phí)
Việc áp dụng pháp luật
lưu trữ không chỉ được thực hiện trong trường hợp truy cứu trách nhiệm pháp lí
đối với chủ thể vi phạm pháp luật lưu trữ mà còn được áp dụng như một biện pháp
tác động của nhà nước nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ
pháp lí đối với các chủ thể thực hiện hoạt động lưu trữ.
Hoạt động áp dụng pháp luật
lưu trữ là một hoạt động rất phức tạp, đòi hỏi chủ thể áp dụng pháp luật lưu
trữ phải có sự hiểu biết pháp luật sâu sắc, có ý thức pháp luật cao, có kinh
nghiệm nghề nghiệp, có chuẩn mực của đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp. Hoạt
động áp dụng pháp luật lưu trữ có ý nghĩa rất quan trọng bởi nó là cầu nối giữa
hoạt động xây dựng pháp luật với hoạt động thực hiện pháp luật và hoàn thiện hệ
thống pháp luật lưu trữ Việt Nam.
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật
Hà Nội: Giáo trình Lý luận về Nhà nước và pháp luật, NXB Công an nhân dân, Hà
Nội, 2015.
2. Đại học quốc gia,
Khoa Luật: Giáo trình Lý luận về Nhà nước và pháp luật, NXB Đại học quốc gia,
Hà Nội, 2015.
3. Nguyễn Văn Động:
Giáo trình Lý luận về Nhà nước và pháp luật, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2008.
4. Học viện Chính trị -
Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thực
hiện pháp luật, NXB Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2009.
5. Trường Đại học Luật
Hà Nội: Giáo trình Luật So sánh, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2015.
6. Trường Đại học Luật Hà
Nội: Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2015.
7. Trường Đại học Luật
Hà Nội: Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội,
2015.
8. Trường Đại học Luật
Hà Nội: Giáo trình Luật So sánh, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2015.
9. Từ điển Bách khoa
Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2008.
10. Khoa Luật Đại học
quốc gia: Hỏi đáp về quyền con người, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội, 2012.
11. Quốc hội Việt Nam: Hiến pháp 2013.
12. Quốc hội Việt Nam: Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014.
13. Quốc hội Việt Nam: Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015.
14. Quốc hội Việt Nam: Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.
15. Quốc hội Việt Nam: Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 2014.
16. Quốc hội Việt Nam: Luật Cán bộ, công chức năm 2008.
17. Quốc hội Việt Nam: Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
18. Quốc hội Việt Nam, Luật Lưu trữ năm 2011.
CÂU
HỎI ÔN TẬP, THẢO LUẬN
1. Bản chất, đặc trưng
của pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Điểm mới trong tổ
chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo
quy định của pháp luật hiện hành.
3. Vai trò của cán bộ,
công chức trong thực thi công vụ.
4. Phân biệt các hình
thức thực hiện pháp luật.
5. Nội dung của thực
hiện pháp luật trong lĩnh vực lưu trữ.
Chuyên
đề 3
VIÊN CHỨC VÀ VĂN HÓA CÔNG SỞ
1. Những vấn đề cơ bản
về viên chức
1.1. Khái niệm, đặc điểm,
phân loại
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm
1.1.1.1. Khái niệm: Viên chức là công dân
Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp
công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự
nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
1.1.1.2. Đặc điểm: Viên chức trong đơn vị
sự nghiệp công lập là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch viên
chức, được giao nhiệm vụ thường xuyên. Hoạt động của viên chức chủ yếu là những
hoạt động mang tính chuyên môn, nghiệp vụ, nhằm phục vụ các nhu cầu của người
dân mà không vì mục đích lợi nhuận, không gắn với thực thi công quyền, không
nhân danh quyền lực nhà nước, hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
- Viên chức phải là
công dân Việt Nam.
- Viên chức được tuyển
dụng theo vị trí việc làm.
- Viên chức làm việc
trong các đơn vị sự nghiệp
công lập.
- Thời gian làm việc
của viên chức được tính kể từ khi được tuyển dụng.
- Viên chức làm việc
theo chế độ hợp đồng làm việc và hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự
nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
Từ đặc điểm trên của
viên chức, có thể thấy viên chức khác cán bộ, công chức ở các tính chất sau:
- Lao động của viên
chức mang tính hoạt động nghề nghiệp.
- Viên chức hoạt động
trên cơ sở chuyên môn đã được đào tạo, được cấp văn bằng, chứng chỉ.
- Viên chức hoạt động
theo tiêu chuẩn chuyên môn riêng của từng ngành nghề, lĩnh vực.
- Viên chức hoạt động
trong các đơn vị sự nghiệp công lập đặt mục đích phục vụ nhân dân lên hàng đầu,
không vì mục đích lợi nhuận.
1.1.2. Phân loại
1.1.2.1. Theo vị trí
việc làm, viên chức được phân loại như sau:
+ Viên chức quản lý là
người được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý có thời hạn, chịu trách nhiệm điều
hành, tổ chức thực hiện một hoặc một số công việc trong đơn vị sự nghiệp công
lập nhưng không phải là công chức và được hưởng phụ cấp chức vụ quản lý;
+ Viên chức không giữ
chức vụ quản lý bao gồm những người chỉ thực hiện chuyên môn nghiệp vụ theo
chức danh nghề nghiệp trong đơn vị sự nghiệp công lập.
1.1.2.2. Theo chức
danh nghề nghiệp, viên chức được phân loại trong từng lĩnh vực hoạt động
nghề nghiệp với các cấp độ từ cao xuống thấp như sau:
+ Viên chức giữ chức
danh nghề nghiệp hạng I;
+ Viên chức giữ chức
danh nghề nghiệp hạng II;
+ Viên chức giữ chức
danh nghề nghiệp hạng III;
+ Viên chức giữ chức
danh nghề nghiệp hạng IV.
Phân loại viên chức
nhằm bảo đảm tính khoa học, hợp lý trong việc quản lý, sử dụng đội ngũ viên
chức. Việc phân loại viên chức góp phần trong việc xây dựng chính sách, chế độ
đãi ngộ viên chức công bằng, kịp thời và tạo động lực khuyến khích viên chức
trong công việc.
1.2. Tuyển dụng viên
chức
Tuyển dụng là việc lựa
chọn người có phẩm chất, trình độ, năng lực vào làm viên chức trong đơn vị sự
nghiệp công lập. Tuyển dụng viên chức là là hoạt động có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng phải được tiến hành trên cơ sở những nguyên tắc do pháp luật quy định.
Những nguyên tắc đó là:
- Bảo đảm công khai,
minh bạch, công bằng, khách quan và đúng pháp luật.
- Bảo đảm tính cạnh
tranh.
- Tuyển chọn đúng người
đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm.
- Đề cao trách nhiệm
của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập.
- Ưu tiên người có tài
năng, người có công với cách mạng, dân tộc thiểu số.
1.2.1. Điều kiện tuyển
dụng
1.2.1.1. Căn cứ tuyển
dụng:
Việc tuyển dụng viên
chức phải được tiến hành dựa trên các căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc
làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp
công lập.
+ Nhu cầu công việc:
Xác định nhu cầu công việc thuộc phạm vi trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị
sự nghiệp công lập. Hàng năm, ban lãnh đạo đơn vị sự nghiệp sự nghiệp công lập
phải căn cứ vào nhu cầu thực tế của đơn vị để xây dựng kế hoạch tuyển dụng
trình cấp có thẩm quyền phê chuẩn.
+ Vị trí việc làm: Vị
trí việc làm được xác định là công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề
nghiệp hoặc chức vụ quản lý tương ứng, là căn cứ xác định số lượng người làm
việc, cơ cấu viên chức để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên
chức trong đơn vị sự nghiệp công lập.
+ Tiêu chuẩn chức danh
nghề nghiệp: Chức danh nghề nghiệp là tên gọi thể hiện trình độ và năng lực
chuyên môn, nghiệp vụ của viên chức trong từng lĩnh vực nghề nghiệp. Việc quy
định hệ thống danh mục, tiêu chuẩn và mã số chức danh nghề nghiệp do Bộ Nội vụ
chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan tiến hành.
+ Quỹ tiền lương: Quỹ
tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập được hình thành từ nguồn ngân sách nhà
nước cấp và nguồn thu từ hoạt động dịch vụ công của đơn vị sự nghiệp công lập.
1.2.1.2. Điều kiện đăng
ký dự tuyển:
- Người có đủ các điều
kiện sau đây không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng,
tôn giáo được đăng ký dự tuyển viên chức:
+ Có quốc tịch Việt Nam
và cư trú tại Việt Nam;
+ Từ đủ 18 tuổi trở
lên. Đối với một số lĩnh vực hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao,
tuổi dự tuyển có thể thấp hơn theo quy định của pháp luật; đồng thời, phải có
sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật;
+ Có đơn đăng ký dự
tuyển;
+ Có lý lịch rõ ràng;
+ Có văn bằng, chứng
chỉ đào tạo, chứng chỉ hành nghề hoặc có năng khiếu kỹ năng phù hợp với vị trí
việc làm;
+ Đủ sức khỏe để thực
hiện công việc hoặc nhiệm vụ;
+ Đáp ứng các điều kiện
khác theo yêu cầu của vị trí việc làm do đơn vị sự nghiệp công lập xác
định nhưng không được trái với quy định của pháp luật.
- Những người sau đây
không được đăng ký dự tuyển viên chức:
+ Mất năng lực hành vi
dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
+ Đang bị truy cứu
trách nhiệm hình sự; đang chấp hành bản án, quyết định về hình sự của Tòa án;
đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo
dục, trường giáo dưỡng.
1.2.2. Thẩm quyền tuyển
dụng
Đối với đơn vị sự
nghiệp công lập được giao quyền tự chủ, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công
lập thực hiện việc tuyển dụng viên chức và chịu trách nhiệm về quyết định của
mình.
Đối với đơn vị sự
nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ, cơ quan có thẩm quyền quản lý đơn
vị sự nghiệp công lập thực hiện việc tuyển dụng viên chức hoặc phân cấp cho
người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện việc tuyển dụng.
Căn cứ vào kết quả
tuyển dụng, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập ký kết hợp đồng làm việc
với người trúng tuyển vào viên chức.
Chính phủ quy định chi tiết
các nội dung liên quan đến tuyển dụng viên chức.
Đối với đơn vị sự
nghiệp công lập giao quyền tự chủ quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều
9 Luật Viên chức, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập tổ chức thực
hiện việc tuyển dụng viên chức; quyết định tuyển dụng viên chức qua thi tuyển
hoặc xét tuyển. Đối với đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ
quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 9 Luật Viên chức, cơ quan,
đơn vị có thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập
tổ chức thực hiện hoặc phân cấp tổ chức thực hiện việc tuyển dụng viên chức cho
đơn vị sự nghiệp công lập thuộc quyền quản lý; quyết định hoặc ủy quyền quyết
định tuyển dụng viên chức qua thi tuyển hoặc xét tuyển.
Đối với tổ chức sự
nghiệp thuộc Chính phủ, người đứng đầu các tổ chức sự nghiệp này tổ chức hoặc
phân cấp tổ chức thực hiện việc tuyển dụng viên chức; quyết định tuyển dụng
viên chức qua thi tuyển hoặc xét tuyển.
Hàng năm, đơn vị sự
nghiệp công lập xây dựng kế hoạch tuyển dụng viên chức trình cấp có thẩm quyền
phê duyệt hoặc quyết định theo thẩm quyền để tổ chức thực hiện. Bộ Nội vụ ban
hành nội quy, quy chế thi tuyển, xét tuyển viên chức.
1.2.3. Hình thức tuyển
dụng
Tuyển dụng viên chức
được thông qua thi tuyển và xét tuyển. Nội dung và hình thức thi được quy định
tại Nghị định 29/2012/NĐ-CP tuyển dụng, sử
dụng và quản lý viên chức.
1.3. Nghĩa vụ và quyền
của viên chức
1.3.1. Nghĩa vụ của
viên chức
Nghĩa vụ của viên chức
được phân thành 3 nhóm lớn: Nhóm 1: Nghĩa vụ chung của viên chức
- Chấp hành đường lối,
chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và pháp luật của Nhà nước.
- Có nếp sống lành
mạnh, trung thực, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
- Có ý thức tổ chức kỷ luật
và trách nhiệm trong hoạt động nghề nghiệp; thực hiện đúng các quy định, nội
quy, quy chế làm việc của đơn vị sự nghiệp công lập.
- Bảo vệ bí mật nhà
nước; giữ gìn và bảo vệ của công, sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản được
giao.
- Tu dưỡng, rèn luyện
đạo đức nghề nghiệp, thực hiện quy tắc ứng xử của viên chức.
Nhóm 2: Nghĩa vụ của
viên chức trong hoạt động nghề nghiệp
- Thực hiện công việc
hoặc nhiệm vụ được giao bảo đảm yêu cầu về thời gian và chất lượng.
- Phối hợp tốt với đồng
nghiệp trong thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ.
- Chấp hành sự phân
công công tác của người có thẩm quyền.
- Thường xuyên học tập
nâng cao trình độ, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ.
- Khi phục vụ nhân dân,
viên chức phải tuân thủ các quy định sau:
+ Có thái độ lịch sự,
tôn trọng nhân dân;
+ Có tinh thần hợp tác,
tác phong khiêm tốn;
+ Không hách dịch, cửa
quyền, gây khó khăn, phiền hà đối với nhân dân;
+ Chấp hành các quy
định về đạo đức nghề nghiệp.
- Chịu trách nhiệm về
việc thực hiện hoạt động nghề nghiệp.
- Thực hiện các nghĩa
vụ khác theo quy định của pháp luật.
Đối với viên chức quản
lý có nghĩa vụ sau:
Viên chức quản lý thực
hiện các nghĩa vụ quy định tại Điều 16, Điều 17 của Luật viên
chức hiện hành và các nghĩa vụ sau:
- Chỉ đạo và tổ chức
thực hiện các nhiệm vụ của đơn vị theo đúng chức trách, thẩm quyền được giao;
- Thực hiện dân chủ,
giữ gìn sự đoàn kết, đạo đức nghề nghiệp trong đơn vị được giao quản lý, phụ
trách;
- Chịu trách nhiệm hoặc
liên đới chịu trách nhiệm về việc thực hiện hoạt động nghề
nghiệp của viên chức
thuộc quyền quản lý, phụ trách;
- Xây dựng và phát
triển nguồn nhân lực; quản lý, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất, tài chính
trong đơn vị được giao quản lý, phụ trách;
- Tổ chức thực hiện các
biện pháp phòng, chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong
đơn vị được giao quản lý, phụ trách.
Nhóm 3: Những việc viên
chức không được làm
- Trốn tránh trách
nhiệm, thoái thác công việc hoặc nhiệm vụ được giao; gây bè phái, mất đoàn kết;
tự ý bỏ việc; tham gia đình công.
- Sử dụng tài sản của
cơ quan, tổ chức, đơn vị và của nhân dân trái với quy định của pháp luật.
- Phân biệt đối xử dân
tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo dưới mọi hình thức.
- Lợi dụng hoạt động
nghề nghiệp để tuyên truyền chống lại chủ trương đường lối, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước hoặc gây phương hại đối với thuần phong, mỹ tục,
đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân và xã hội.
- Xúc phạm danh dự,
nhân phẩm, uy tín của người khác trong khi thực hiện hoạt động nghề nghiệp.
- Những việc khác viên
chức không được làm theo quy định của Luật phòng,
chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm,
chống lãng phí và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
1.3.2. Quyền của viên
chức
Để tiến hành hoạt động
nghề nghiệp, viên chức được trao phạm vi quyền hạn khá rộng. Quyền của viên
chức được được phân thành 5 nhóm lớn sau đây:
Nhóm 1: Quyền của viên
chức về hoạt động nghề nghiệp
- Được pháp luật bảo vệ
trong hoạt động nghề nghiệp.
- Được đào tạo, bồi
dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ.
- Được bảo đảm trang
bị, thiết bị và các điều kiện làm việc.
- Được cung cấp thông
tin liên quan đến công việc hoặc nhiệm vụ được giao.
- Được quyết định vấn
đề mang tính chuyên môn gắn với công việc hoặc nhiệm vụ được giao.
- Được quyền từ chối
thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ trái với quy định của pháp luật.
- Được hưởng các quyền
khác về hoạt động nghề nghiệp theo quy định của pháp luật. Nhóm 2: Quyền của
viên chức về tiền lương và các chế độ liên quan đến tiền lương
- Được trả lương tương
xứng với vị trí việc làm, chức danh nghề nghiệp, chức vụ quản lý và kết quả thực hiện công việc
hoặc nhiệm vụ được giao; được hưởng phụ cấp và chính sách ưu đãi trong trường
hợp làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc
thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc làm việc
trong ngành nghề có môi trường độc hại, nguy hiểm, lĩnh vực sự nghiệp đặc thù.
- Được hưởng tiền làm
thêm giờ, tiền làm đêm, công tác phí và chế độ khác theo quy định của pháp luật
và quy chế của đơn vị sự nghiệp công lập.
- Được hưởng tiền
thưởng, được xét nâng lương theo quy định của pháp luật và quy chế của đơn vị
sự nghiệp công lập.
Nhóm 3: Quyền của viên
chức về nghỉ ngơi
- Được nghỉ hàng năm,
nghỉ lễ, nghỉ việc riêng theo quy định của pháp luật về lao động. Do yêu cầu
công việc, viên chức không sử dụng hoặc sử dụng không hết số ngày nghỉ hàng năm
thì được thanh toán một khoản tiền cho những ngày không nghỉ.
- Viên chức làm việc ở
miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa hoặc trường hợp đặc biệt khác,
nếu có yêu cầu, được gộp số ngày nghỉ phép của 02 năm để nghỉ một lần; nếu gộp
số ngày nghỉ phép của 03 năm để nghỉ một lần thì phải được sự đồng ý của người
đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập.
- Đối với lĩnh vực sự
nghiệp đặc thù, viên chức được nghỉ việc và hưởng lương theo quy định của pháp luật.
- Được nghỉ không hưởng
lương trong trường hợp có lý do chính đáng và được sự đồng ý của người đứng đầu đơn vị sự
nghiệp công lập.
Nhóm 4: Quyền của viên
chức về hoạt động kinh doanh và làm việc ngoài thời gian quy định
- Được hoạt động nghề
nghiệp ngoài thời gian làm việc quy định trong hợp đồng làm việc, trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Được ký hợp đồng vụ,
việc với cơ quan, tổ chức, đơn vị khác mà pháp luật không cấm nhưng phải hoàn
thành nhiệm vụ được giao và có sự đồng ý của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp
công lập.
- Được góp vốn nhưng
không tham gia quản lý, điều hành công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần,
công ty hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư, trường học tư và tổ chức nghiên cứu
khoa học tư, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác.
Nhóm 5: Các quyền khác
của viên chức
Viên chức được khen
thưởng, tôn vinh, được tham gia hoạt động kinh tế xã hội; được hưởng chính sách
ưu đãi về nhà ở; được tạo điều kiện học tập hoạt động nghề nghiệp ở trong nước
và nước ngoài theo quy định của pháp luật. Trường hợp bị thương hoặc chết do
thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ được giao thì được xét hưởng chính sách như
thương binh hoặc được xét để công nhận là liệt sĩ theo quy định của pháp luật.
1.4. Đạo đức nghề
nghiệp của viên chức
Đạo đức nghề nghiệp là
những chân giá trị mà những người lao động trong nghề phải tuân theo và hướng
tới trong hoạt động hành nghề của mình. Mỗi nghề trong xã hội đều có những chân
giá trị riêng. Đạo đức nghề nghiệp được duy trì dựa trên những nỗ lực của cá
nhân, của tổ chức nghề nghiệp, nhà nước và kỳ vọng của xã hội
Như vậy, Đạo đức nghề
nghiệp là các chuẩn mực về nhận thức và hành vi phù hợp với đặc thù của từng
lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quy định.
Luật
Viên chức
nêu khái niệm đạo đức nghề nghiệp như sau:
“Đạo đức nghề nghiệp là
các chuẩn mực về nhận thức và hành vi phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực
hoạt động nghề nghiệp do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quy định” (Điều 3, Khoản 2, Luật Viên chức).
1.4.1. Các yếu tố cấu
thành đạo đức nghề nghiệp
Đạo đức nghề nghiệp
được cấu thành bởi các yếu tố sau:
- Tuân thủ quy chế, quy
trình, quy định trong quá trình viên chức thực hiện nghề nghiệp;
- Mức độ trung thực,
khách quan, công bằng khi viên chức thực hiện nghề nghiệp;
- Năng lực chuyên môn,
tính chuyên nghiệp và sự đam mê công việc của viên chức;
- Mối quan hệ giữa viên
chức với các đồng nghiệp.
1.4.2. Các yếu tố ảnh
hưởng đến đạo đức nghề nghiệp
Một là, sự tự
rèn luyện, tu dưỡng của mỗi viên chức.
Hai là, sự tác
động của nền kinh tế thị trường.
Ba là, sự tác động của
pháp luật và việc tổ chức thực hiện pháp luật.
Bốn là, sự tác
động của dư luận xã hội.
Năm là, sự tác động của
tâm lý xã hội.
Sáu là, sự tác động của
ý thức pháp luật trong xã hội.
Bảy là, sự tác động của
môi trường và điều kiện làm việc.
Tám là, sự tác
động của gia đình, nhà trường.
Chín là, sự tác động
của các tổ chức xã hội.
1.4.3. Quy định pháp luật
về đạo đức nghề nghiệp
Trên cơ sở quy định của
Luật Viên chức hiện hành, có thể thấy yêu
cầu về đạo đức nghề nghiệp của viên chức được đặt ra, đòi hỏi viên chức trong
quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn cần quán triệt:
* Đối với Tổ quốc:
Trung thành, phấn đấu vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh”.
- Tuyệt đối tin tưởng
vào lý tưởng cách mạng, đường lối của đảng Cộng sản Việt Nam, trung thành với
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; kiên quyết chống lại những hành vi xâm phạm
an ninh quốc gia, phá hoại hòa bình, độc lập của tổ quốc; tích cực và sẵn sàng
tham gia bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ
quốc.
- Tận tâm, tận lực đóng
góp công sức, trí tuệ cho công tác xây dựng ngành, lĩnh vực hoạt động ngày càng
chính quy, hiện đại, hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực cho công cuộc phát triển
bền vững đất nước.
* Đối với nhân dân: Gần
dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân, hiểu dân, phục vụ nhân dân, bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân.
- Nắm vững quan điểm vì
dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; kiên quyết đấu tranh với
mọi hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân.
- Gần gũi với nhân dân,
khi giao tiếp với công dân phải có thái độ lịch sự, nghiêm túc, khiêm tốn, tôn
trọng, lắng nghe, ngôn ngữ giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng; không được hách
dịch, cửa quyền, gây khó khăn, phiền hà cho nhân dân khi thực hiện nhiệm vụ;
công tâm, khách quan, tận tình hướng dẫn nhân dân thực hiện quy trình, thủ tục
theo quy định khi giải quyết công việc.
- Tuyên truyền, giải
thích, vận động nhân dân sống và làm việc theo đúng các quy định của pháp luật.
* Đối với công việc:
Hiểu biết, trách nhiệm, yêu ngành, yêu nghề, vượt khó để hoàn thành tốt nhiệm
vụ của một viên chức.
- Nhận thức rõ vị trí,
vai trò, ý nghĩa công việc được giao; nắm vững chuyên môn, thường xuyên cập
nhật quy định của pháp luật; không ngừng học tập nâng cao trình độ, kỹ năng
nghiệp vụ và nghiên cứu, đề xuất cải tiến, nâng cao chất lượng, hiệu quả công
việc.
- Thực hiện tốt nhiệm
vụ được giao, đảm bảo năng suất, chất lượng, hiệu quả, thời gian theo quy định;
báo cáo kịp thời với cấp có thẩm quyền về những khó khăn, vướng mắc; chịu trách
nhiệm về kết quả công việc của mình; khi mắc khuyết điểm, sai lầm phải dũng cảm
tự phê bình, dám nhận khuyết điểm và nghiêm túc sửa chữa.
- Yêu ngành, yêu nghề,
tự hào với công việc mình đang làm; tận tụy với công việc, chủ động, sáng tạo,
không ngừng cống hiến trí tuệ, tài năng; vượt qua khó khăn hoàn thành tốt công
việc được giao.
* Đối với đồng
nghiệp: Đoàn kết, chân tình, thẳng thắn, hợp tác, giúp nhau cùng tiến bộ.
- Quan tâm,
chia sẻ, giúp đỡ, chân thành, hỗ trợ, phối hợp với nhau trong công việc và cuộc
sống; tôn trọng tập thể, mình vì mọi người; chống chia rẽ, bè phái, đố kỵ, chủ
nghĩa cá nhân và cục bộ địa phương.
- Thẳng thắn tự
phê bình và phê bình, góp ý với thái độ tích cực, cầu tiến để cùng nhau rút
kinh nghiệm, sửa chữa, thực hiện công việc với chất lượng tốt hơn.
- Phục tùng, chấp hành
quyết định của cấp trên và của tổ chức.
- Viên chức lãnh đạo
quản lý không được lạm dụng chức vụ để trục lợi; nắm bắt kịp thời tâm lý, phát
huy khả năng, kinh nghiệm, tính sáng tạo, chủ động của viên chức; thực hành dân
chủ, tạo điều kiện học tập, tôn trọng và xây dựng niềm tin cho viên chức; bảo
vệ danh dự của viên chức khi bị phản ánh, khiếu nại, tố cáo không đúng sự thật.
* Đối với bản thân: Nêu
gương cần, kiệm, liêm, chính, sống và làm việc theo Hiếp pháp và pháp luật, có
ý thức, trách nhiệm cao trong công việc, cống hiến hết mình vì sự nghiệp phát
triển của ngành, lĩnh vực mà viên chức hoạt động.
- Thực hành cần, kiệm,
liêm, chính, chí công vô tư, nói đi đôi với làm; thường xuyên tự rèn luyện để
có lối sống lành mạnh, trong sáng, giản dị, khiêm tốn, biết yêu thương những
người xung quanh, thường xuyên thực hiện tự phê bình và phê bình.
- Gương mẫu chấp hành,
nội quy, quy định, kỷ cương, kỷ luật của cơ quan, đoàn thể, nơi cư trú; thực
hiện nghiêm các quy định về những điều viên chức không được làm theo quy định
tại Luật Viên chức; Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và
các quy định khác của pháp luật.
- Hướng dẫn, tuyên
truyền, vận động người thân trong gia đình chấp hành đúng chủ trương, đường
lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.
- Người đứng đầu cơ
quan, đơn vị có trách nhiệm:
+ Quán triệt, hướng
dẫn, tổ chức thực hiện Quy định này đến toàn thể viên chức thuộc thẩm quyền
quản lý, sử dụng của cơ quan, đơn vị.
+ Kiểm tra, giám sát
việc thực hiện của viên chức.
+ Phê bình, chấn chỉnh,
xử lý hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm của viên chức.
Để các quy định pháp luật
về đạo đức nghề nghiệp trở thành hoạt động thường xuyên và hiệu quả đòi hỏi đội
ngũ viên chức trong quá trình hoạt động nghề nghiệp cần nắm vững quy tắc ứng xử
trong ngành, lĩnh vực mà mình công tác.
1.5. Đánh giá viên chức
1.5.1. Mục đích đánh
giá
Mục đích của đánh giá
viên chức để làm căn cứ tiếp tục bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, đào
tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chế độ, chính sách đối với
viên chức.
1.5.2. Căn cứ đánh giá
Việc đánh giá viên chức
được thực hiện dựa trên các căn cứ sau:
- Các cam kết trong hợp
đồng làm việc đã ký kết;
- Quy định về đạo đức
nghề nghiệp, quy tắc ứng xử của viên chức.
1.5.3. Nội dung đánh
giá
Việc đánh giá viên chức
được xem xét theo các nội dung sau:
- Kết quả thực hiện
công việc hoặc nhiệm vụ theo hợp đồng làm việc đã ký kết;
- Việc thực hiện quy
định về đạo đức nghề nghiệp;
- Tinh thần trách
nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân, tinh thần hợp tác với đồng nghiệp và việc thực
hiện quy tắc ứng xử của viên chức;
- Việc thực hiện các
nghĩa vụ khác của viên chức.
Việc đánh giá viên chức
quản lý được xem xét theo các nội dung quy định tại khoản 1 Điều
41 của Luật Viên chức và các nội dung sau:
- Năng lực lãnh đạo,
quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện nhiệm vụ;
- Kết quả hoạt động của
đơn vị được giao quản lý, phụ trách.
- Việc đánh giá viên chức
được thực hiện hàng năm; khi kết thúc thời gian tập sự; trước khi ký tiếp hợp
đồng làm việc; thay đổi vị trí việc làm; xét khen thưởng, kỷ luật, bổ nhiệm, bổ
nhiệm lại, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng.
1.5.4. Trách nhiệm đánh
giá
- Người đứng đầu đơn vị
sự nghiệp công lập có trách nhiệm tổ chức việc đánh giá viên chức thuộc thẩm quyền quản lý.
- Căn cứ vào điều kiện
cụ thể, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện việc đánh giá hoặc
phân công, phân cấp việc đánh giá viên chức thuộc thẩm quyền quản lý. Người
được giao thẩm quyền đánh giá viên chức phải chịu trách nhiệm trước người đứng
đầu đơn vị sự nghiệp công lập về kết quả đánh giá.
- Người có thẩm quyền
bổ nhiệm chịu trách nhiệm đánh giá viên chức quản lý trong đơn vị sự nghiệp
công lập.
- Chính phủ quy định
chi tiết trình tự, thủ tục đánh giá viên chức.
1.5.5. Phân loại đánh
giá
Hàng năm, căn cứ vào
nội dung đánh giá, viên chức được phân loại như sau:
+ Hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ;
+ Hoàn thành tốt nhiệm
vụ;
+ Hoàn thành nhiệm vụ;
+ Không hoàn thành
nhiệm vụ.
1.6. Trách nhiệm pháp
lý của viên chức
1.6.1. Khái niệm trách
nhiệm pháp lý
Trách nhiệm pháp lý là
quan hệ pháp lý đặc biệt giữa một bên là Nhà nước (thông qua cơ quan nhà nước,
tổ chức, cá nhân có thẩm quyền) với một bên là người vi phạm. Trong đó, Nhà
nước có quyền áp dụng chế tài của quy phạm pháp luật còn người vi phạm phải
chịu những hậu quả bất lợi do mình gây ra.
1.6.2. Phân loại trách
nhiệm pháp lý
- Trách nhiệm kỷ luật
- Trách nhiệm hành
chính
- Trách nhiệm vật chất
- Trách nhiệm hình sự
2. Văn hóa công sở
2.1. Khái niệm, đặc điểm
và vai trò của văn hóa công sở
2.1.1. Khái niệm
Công sở - là nơi cán
bộ, công chức, viên chức làm việc, để thực hiện các nghĩa vụ và quyền được nhà
nước giao phó. Do vậy, công sở luôn có những quy chế, quy định riêng nhằm để
mọi người tuân thủ, thực hiện,
tạo nên sự thống nhất trong công việc, trong ý chí và hành động. Nói đến công
sở là nói đến văn minh
công sở,
là nói đến nếp sống, đến ý thức và bản lĩnh sống của cán bộ, công chức, viên
chức. Công sở là nơi tập thể cán bộ, công chức, viên chức cùng lao động, suy
nghĩ để hoàn thành chức năng, công việc được giao. Do vậy, yêu cầu quan trọng
nhất đặt ra đối với mỗi thành viên trong tập thể ấy là lòng tự trọng, ý thức tự
giác, phục tùng kỷ luật, tôn trọng lẫn nhau để sao cho mỗi cá nhân phát huy hết
được năng lực sáng tạo, tính độc lập, tự chủ trong công việc, giúp cho công
việc cơ quan đạt chất lượng cao nhất. Công sở là một bộ phận hợp thành tất yếu
của thiết chế bộ máy nhà nước. Vì vậy khái niệm về văn hóa công sở được hiểu
là:
“Văn hóa công sở là một
hệ thống các chuẩn mực, quy tắc, giá trị được hình thành trong quá trình hoạt
động của công sở, tạo nên niềm tin giá trị về thái độ của cán bộ, công chức,
viên chức làm việc trong công sở, ảnh hưởng đến cách làm việc trong công sở và
hiệu quả hoạt động của công sở”.
Xây dựng văn hóa công
sở là xây dựng một nề nếp làm việc khoa học, có kỷ cương và dân chủ, đòi hỏi
các nhà lãnh đạo, quản lý cũng như cán bộ, công chức, viên chức nói chung và
các lưu trữ viên của cơ quan nói riêng nghiêm túc thực hiện và chuyển từ bắt
buộc sang tự giác thực hiện.
2.1.2. Đặc điểm
Văn hóa công sở là tổng
hợp của hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần, là thành quả trí tuệ sáng
tạo của con người, thể hiện bản chất nhà nước và bản sắc dân tộc của mỗi quốc
gia trong mỗi giai đoạn lịch sử. Chính vì vậy văn hóa công sở có những đặc
trưng sau:
- Tính hệ thống: Văn
hóa công sở có tính tổ chức nhà nước và tổ chức xã hội;
- Tính giá trị: Văn hóa
có giá trị thẩm mỹ, bởi nó giúp mỗi người luôn vươn tới cái hay, cái đẹp. Với
giá trị đạo đức, văn hóa sẽ điều chỉnh hành vi của con người. Đặc trưng này làm
cho văn hóa công sở có tính điều chỉnh xã hội, cộng đồng;
- Tính nhân sinh: Văn
hóa do con người tạo ra vì vậy nó mang tính nhân sinh;
- Tính lịch sử: Văn hóa
công sở là sản phẩm của một quá trình, được tích lũy trong một thời gian dài,
từ thời kỳ này sang thời kỳ khác.
Từ những đặc trưng
trên, văn hóa công sở mang những bản chất cơ bản như:
- Mức độ tự quản cá
nhân là trách nhiệm, mức độ độc lập và cơ hội mà các cá nhân trong công sở đó
có được để thực hiện sự sáng tạo của mình;
- Tính chính quy là mức
độ áp dụng quy chế, điều lệ, nội quy để kiểm soát hành vi của các cá nhân trong
công sở;
- Sự hỗ trợ của cấp
trên, sự nhiệt tình quan tâm của người quản lý trong việc giúp đỡ cấp dưới của
mình;
- Sự hòa đồng là mức độ
gắn bó giữa các thành viên với công sở, mức độ gắn bó này phản ánh sự gắn bó và
thống nhất về mục tiêu và lợi ích của cá nhân với mục tiêu lợi ích của công sở;
- Hệ thống các chuẩn
mực và giá trị, nội dung của các tiêu chuẩn đánh giá, khen thưởng, kỷ luật,
hình thức và mức độ thực hiện;
- Khả năng chịu đựng
các xung đột nội bộ và xung đột với bên ngoài, là mức độ các xung đột tồn tại
trong các mối quan hệ cá nhân, các nhóm hoặc các bộ phận cũng như thái độ,
thiện ý, sự trung thực, cởi mở, …
- Khả năng chịu đựng
rủi ro, là mức độ mà các thành viên được khuyến khích sáng tạo, dám nghĩ, dám
làm và chấp nhận may rủi;
- Hình ảnh bên ngoài
của công sở, là sự trang trọng, uy nghi, lịch sự, bề thế hay thiếu trang trọng,
không lịch sự...
2.1.3. Vai trò
Những giá trị văn hóa
công sở có tác dụng điều chỉnh hành vi của con người trong cơ quan nhà nước
theo một quy chuẩn nhất định và quy chuẩn ấy luôn được nhiều người ủng hộ. Vì
vậy, với tư cách là một sản phẩm độc đáo của trình độ xã hội loài người, văn
hóa công sở có những tác động nhất định và thể hiện vai trò quan trọng của mình
trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước.
- Thứ nhất: Văn hóa là
một yếu tố góp phần vào xây dựng môi trường làm việc tích cực, ổn định, hiệu
quả, thống nhất, hợp tác
Đối với mỗi cơ quan đơn
vị, khi thực hiện công việc của mình đều hướng đến những giá trị nhất định, về mục
tiêu hoạt động. Nói đến VHCS là nói đến việc phát huy những năng lực bản chất
cán bộ nhân viên trong công sở. Hình ảnh tốt hay xấu nơi công sở đều có thể
nhận thấy qua con người, nhất là những cán bộ nhân viên đang giữ vị trí chức
danh quan trọng trong cơ quan, kể cả các lưu trữ viên. Xây dựng được một nền
văn hóa công sở sẽ góp phần xây dựng một nề nếp làm việc khoa học, có kỷ cương
dân chủ nhờ đó góp phần tạo ra sự đoàn kết cao, chống lại sự lệch lạc, quan
liêu, hách dịch, cơ hội, tạo ra được niềm tin của cán bộ công chức đối với cơ
quan, nhân dân với cán bộ hành chính, góp phần nâng cao vai trò của công sở và
hiệu quả hoạt động công sở cao hơn.
Tuy nhiên, sự ổn định
có thể là một trong những điểm hạn chế để các cơ quan tiến hành đổi mới, cải
cách hoạt động quản lý. Hoạt động văn phòng nói riêng và hoạt động của các cơ
quan nói chung không thể lúc nào cũng nhất nhất bất biến, đặc biệt trước những
biến động hiện nay. Khi môi trường xung quanh có sự biến đổi, điều này sẽ kéo
theo sự biến đổi của môi trường làm việc. Và lúc này những tư tưởng đổi mới
chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng bởi sự ổn định của mỗi công sở.
- Thứ hai: Xây dựng tác
phong làm việc chuyên nghiệp
+ Sự tự giác trong hoạt
động của cán bộ công chức trong việc tuân theo quy chế, điều lệ sẽ giúp công sở
phát triển, công sở này sẽ vượt lên khác hơn, phát triển hơn so với công sở
khác. Khi làm việc trong một công sở mà mọi người đều có tinh thần tự quản,
tính tự giác của cán bộ công chức làm việc tại công sở thì sẽ đảm bảo cho sự
hoạt động của công sở nghiêm minh, hiệu quả. Tạo ra tinh thần đoàn kết tương
trợ, tin cậy lẫn nhau; tạo ra mức độ bầu không khí tập thể cởi mở, giúp cho cán
bộ công chức trong công sở làm việc hiệu quả cao, góp phần đưa công sở phát
triển hơn nữa.
+ Ở những công sở kiểu
văn hóa vai trò được đề cao thì cần khuyến khích vai trò cá nhân trong điều
hành công việc để phát huy hết năng lực cán bộ trên cương vị đã giao phó, để họ
hăng say sản xuất nhằm đưa công sở phát triển nhanh đạt được mục tiêu của tổ
chức công sở.
+ Ở những công sở xây
dựng theo kiểu văn hóa quyền lực sẽ giúp công sở có khả năng vận động nhanh,
phản ứng kịp thời trước những biến đổi của môi trường bên ngoài, giúp công sở phát triển
tạo ra tính bền vững cho công sở, thực hiện mục tiêu của mình. Như vậy, văn hóa
công sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và hoạt động của công sở,
vì với một công sở mà vấn đề văn hóa được đề cao thì kéo theo đó là việc vận
dụng các yếu tố văn hóa trong việc thúc đẩy mọi hoạt động của công sở như có hệ
thống khuyến khích thi đua khen thưởng, tạo ra bầu không khí làm việc thoải
mái, sẽ kích thích mọi người hăng say làm việc. Xây dựng đổi mới các nền văn
hóa trong công sở, giúp công sở ngày càng phát triển bền vững, nhanh chóng,
hiệu quả cao, giúp công sở đạt được mục tiêu của cơ quan mình.
- Thứ ba: Xây dựng
thương hiệu của cơ quan tổ chức.
Chính những yếu tố của
VHCS tạo ra nét đặc trưng trong phong thái của mỗi cơ quan tổ chức, giúp phân
biệt cơ quan này với cơ quan khác. Phong thái này dễ nhận biết và là niềm tự
hào của mỗi thành viên trong cơ quan đó. Tổng hợp các yếu tố: thương hiệu, cách
giao tiếp ứng xử, gắn kết các thành viên, tạo động lực làm việc, môi trường làm
việc chuyên nghiệp. VHCS sẽ làm tăng hiệu quả hoạt động và tạo sự khác biệt cho
mỗi cơ quan tổ chức. Tóm lại, văn hóa công sở có tác động to lớn đối với đời
sống con người nói chung, tổ chức và hoạt động của công sở nói riêng. Do đó,
Nhà nước cần phải xây dựng và phát triển một nền văn hóa công sở vững mạnh.
- Thứ tư: Văn hóa công
sở là nền tảng để các nhân viên phấn đấu vì một mục đích chung.
Văn hóa suy cho cùng
luôn hướng tới cái chân - thiện - mỹ. Và một trong cái đích cuối cùng mà văn hóa
hướng tới đó là đạt được mục tiêu của tổ chức. Cách thức đạt được mục tiêu, tức
cách thức làm việc như nào, văn hóa cũng là một kênh truyền tải. Như vậy,
ngay từ khi gia nhập vào cơ quan, các nhân viên mới đã phải tìm hiểu và thâm
nhập vào những giá trị văn hóa của tổ chức. Đồng thời, họ cũng phải tìm hiểu về
mục tiêu của tổ chức, trong quá trình làm việc và cống hiến, họ cũng phải phấn
đấu vì mục đích chung đó. Văn hóa công sở chính là con đường ngắn nhất để
truyền đạt mục tiêu hay giá trị của tổ chức tới các cán bộ, nhân viên.
Tóm lại, văn hóa công
sở có tác động to lớn đối với đời sống con người nói chung, tổ chức và hoạt
động của công sở nói riêng. Do đó, Nhà nước cần phải xây dựng và phát triển một
nền văn hóa công sở vững mạnh.
2.2. Các yếu tố cấu
thành văn hóa công sở (VHCS)
2.2.1. Các yếu tố bên
ngoài
2.2.1.1. Quy định chung
của Đảng, nhà nước
Nhà nước ta đã ban hành
nhiều văn bản quy định việc xây dựng hoạt động VHCS. Một số văn bản đã được ban hành:
1. Luật Tiếp công dân được Quốc hội CHXHCNVN khóa XIII,
kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2013. Luật tiếp công dân với nội dung: Quy định
trách nhiệm tiếp công dân, quyền và nghĩa vụ của người đến khiếu nại, tố cáo,
kiến nghị, phản ánh; việc tổ chức hoạt động tiếp công dân tại trụ sở tiếp dân,
địa điểm tiếp công dân của cơ quan, tổ chức, đơn vị và điều kiện bảo đảm cho
hoạt động tiếp công dân. Trong đó quy định cụ thể việc tiếp công dân tại các cơ
quan cấp trung ương, địa phương tại các cơ quan hành chính nhà nước.
2. Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg ngày 2/8/2007 ban hành Quy chế
VHCS tại các cơ quan hành chính nhà nước. Quy chế này gồm 3 chương và 16 điều.
Một số quy định điển hình trong Quyết định 129/2007/QĐ-TTg
như sau:
- Các quy định về trụ sở
làm việc:
+ Bài trí công sở: Cơ
quan phải có biển tên được đặt tại cổng chính, ghi rõ tên gọi đầy đủ bằng tiếng
Việt và địa chỉ của cơ quan (Bộ Nội vụ hướng dẫn thống nhất cách thể hiện biển
tên cơ quan). Cơ quan có trách nhiệm bố trí khu vực để phương tiện giao thông
của cán bộ, công chức, viên chức và của người đến giao dịch, làm việc. Không
thu phí gửi phương tiện giao thông của người đến giao dịch, làm việc.
+ Phòng làm việc: Phòng
làm việc phải có biển tên ghi rõ tên đơn vị, họ và tên chức danh cán bộ, công
chức, viên chức; Việc sắp xếp bài trí phòng làm việc phải đảm bảo gọn gàng,
ngăn nắp, khoa học, hợp lý; Không lập bàn thờ, thắp hương, không đun nấu trong
phòng làm việc.
+ Quốc huy được treo
trang trọng tại phía trên cổng chính hoặc tòa nhà chính. Kích cỡ Quốc huy phải
phù hợp với không gian treo. Không treo Quốc huy quá cũ hoặc bị hư hỏng. Quốc
kỳ được treo nơi trang trọng trước công sở hoặc tòa nhà chính. Quốc kỳ phải
đúng tiêu chuẩn về kích thước, màu sắc đã được Hiến
pháp quy định. Việc treo Quốc kỳ trong các buổi lễ, đón tiếp khách nước
ngoài và lễ tang tuân theo quy định về nghi lễ nhà nước và đón tiếp khách nước
ngoài, tổ chức lễ tang.
- Các quy định về văn hóa,
giao tiếp, ứng xử của cán bộ công chức:
+ Cán bộ, công chức,
viên chức khi thi hành nhiệm vụ phải thực hiện các quy định về những việc phải
làm và những việc không được làm theo quy định của pháp luật;
+ Trong giao tiếp và
ứng xử, cán bộ, công chức, viên chức phải có thái độ lịch sự, tôn trọng. Ngôn
ngữ giao tiếp phải rõ ràng, mạch lạc; không nói tục, nói tiếng lóng, quát nạt;
+ Giao tiếp và ứng xử
với nhân dân: phải nhã nhặn, lắng nghe ý kiến, giải thích, hướng dẫn rõ ràng,
cụ thể về các quy định liên quan đến giải quyết công việc;
+ Cán bộ, công chức,
viên chức không được có thái độ hách dịch, nhũng nhiễu, gây khó khăn, phiền hà
khi thực hiện nhiệm vụ;
+ Giao tiếp và ứng xử
với đồng nghiệp phải có thái độ trung thực, thân thiện, hợp tác;
+ Khi giao tiếp qua
điện thoại, cán bộ, công chức, viên chức phải xưng tên, cơ quan, đơn vị nơi công
tác; trao đổi ngắn gọn, tập trung vào nội dung công việc; không ngắt điện thoại
đột ngột.
Ngoài ra, Chính phủ còn
ban hành một số quy định sau:
- Nghị định 64/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 về việc hướng dẫn Luật tiếp công dân 2013, có hiệu lực ngày 15/8/2014.
- Nghị định số 145/2013/NĐ-CP ngày 29/10/2013 quy định về tổ
chức ngày kỷ niệm, nghi thức trao tặng, đón nhận hình thức khen thưởng, danh
hiệu thi đua, nghi lễ đối ngoại và đón, tiếp khách nước ngoài.
2.2.1.2. Các mối quan
hệ của cơ quan
Văn hóa công sở có sự
kế thừa và tiếp thu có chọn lọc những tính văn hóa từ bên trong và bên ngoài
công sở, cơ quan hay tổ chức, từ quá khứ đến tương lai cho nên trong một chừng
mực nào đó sẽ giúp công sở tạo nên những chuẩn mực, phá tính cục bộ, sự đối lập
có tính bản thể của các công sở nói riêng. Đó là một trong những yếu tố cấu
thành nên văn hóa của mỗi công sở.
2.2.1.3. Các đối tượng
phục vụ của cơ quan
Công sở là nơi công
dân, các cơ quan hữu quan, bạn đồng nghiệp trong ngành… đến liên hệ, công tác.
Vì vậy, cán bộ, viên chức làm việc ở đây cần có những ứng xử văn minh, thanh
lịch trong giao tiếp. Đặc biệt là những cán bộ, viên chức làm công tác văn thư;
những người thư ký làm việc ở văn phòng Ủy ban nhân dân, văn phòng các Bộ
hoặc các công ty lớn thì thường xuyên phải giao tiếp với nhiều đối tượng trong
và ngoài cơ quan. Mỗi đối tượng đến giao dịch thường có những yêu cầu, mục đích
và tâm trạng khác nhau. Kết quả công việc lại không phải lúc nào cũng đúng như điều
họ muốn, dễ dẫn đến những tình trạng căng thẳng trong giao tiếp, thái độ phục
vụ cán bộ không đúng… Vì vậy, đối tượng phục vụ của cơ quan cũng là một trong
những yếu tố cấu thành nên VHCS của cơ quan đó.
Để phục vụ tốt các đối
tượng đến liên hệ công tác với cơ quan yêu cầu đầu tiên là: Mỗi cán bộ, viên
chức phải hiểu rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan,
công sở mình để thực hiện tốt phần nhiệm vụ của bản thân cũng như của cơ quan.
Thứ hai là phải có tính cởi mở, quảng giao và kỹ năng giao tiếp tốt để phục vụ
các đối tượng đến liên hệ. Thứ ba là phải có khả năng kiềm chế cảm xúc trong
giao tiếp. Thực hiện được ba yêu cầu trên thì mỗi cán bộ, viên chức sẽ tạo được
ấn tượng tốt với các đối tượng đến liên hệ công tác, mang lại hiệu quả cao
trong công việc và góp phần xây dựng văn hóa công sở cho cơ quan mình.
2.2.2. Các yếu tố bên
trong
2.2.2.1. Yếu tố con
người
Con người là nhân tố
quyết định văn hóa công sở, quyết định sự thành bại cũng như dấu ấn ghi lại của
công sở trong suốt quá trình tổ chức đó hoạt động, thông qua: Cách giao tiếp ứng
xử, việc thực hiện các nội quy, quy chế … Ví dụ: Một cán bộ văn thư có thái độ
giao tiếp tốt với các đối tượng đến liên hệ công tác, một người thư ký làm việc
ở văn phòng Ủy ban nhân dân tiếp đón người dân đến giải quyết các thủ tục hành
chính rất nhiệt tình, chu đáo, một lưu trữ viên nhiệt tình trong việc giúp cán
bộ của các phòng ban chuyên môn tìm tài liệu … sẽ tạo ấn tượng tốt và góp phần
vào việc hình thành văn hóa công sở của cơ quan.
Văn hóa công sở của cơ
quan, tổ chức phụ thuộc vào khả năng nhận thức, năng lực tổ chức, điều hành
hoạt động công sở của nhân sự giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý. Nếu người lãnh đạo
nhận thức rõ sự cần thiết, tầm quan trọng của việc xây dựng văn hóa công sở, có
sự quan tâm và nỗ lực cần thiết cho việc xây dựng và phát triển văn hóa công sở
trong cơ quan, đơn vị mình, đồng thời có năng lực tổ chức, điều hành hoạt động
công sở bảo đảm sự đoàn kết, dân chủ, rõ ràng, minh bạch và hiệu quả trong mọi
hoạt động… thì văn hóa công sở sẽ không ngừng được tăng cường và đảm bảo thực
hiện. Ngược lại, nếu người lãnh đạo quan liêu, cửa quyền, tổ chức điều hành mất
dân chủ, không được cấp dưới ủng hộ, gây mất đoàn kết trong cơ quan thì không
thể phát huy tác dụng của văn hóa công sở, làm ảnh hưởng tới kết quả thực hiện
nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị. Do đó, cần đề cao vai trò, trách nhiệm của người
đứng đầu cơ quan, đơn vị trong việc xây dựng, nâng cao văn hóa công sở trong
các cơ quan hành chính hiện nay.
Bên cạnh đó, Văn hóa nơi
công sở là nơi thể hiện đạo đức, phẩm chất, trình độ văn hóa của mỗi người của
mỗi cán bộ, công nhân viên chức trong khi thực thi nhiệm vụ, nên yếu tố con
người được coi là yếu tố quyết định đến việc hình thành, xây dựng văn hóa của
mỗi công sở.
2.2.2.2. Nội quy, quy
chế làm việc của cơ quan
Trong công sở, việc ban
hành nội quy, quy chế là nhằm cụ thể hóa những nhiệm vụ quyền hạn của các cơ
quan ban hành, chứ không phải tự định ra những nhiệm vụ quyền hạn mới, nghĩa là
phải bao gồm những quy định nhằm thực hiện chức năng nhiệm vụ quyền hạn nói
trên và nêu rõ quy tắc tổ chức hoạt động của cơ quan, tổ chức đó. Đối với người
làm cán bộ công tác văn thư lưu trữ thì nội quy, quy chế được thể hiện rõ qua
việc tổ chức sử dụng và giải quyết văn bản đi và đến kịp thời đúng địa điểm thời
gian. Cách thức xử lý đảm bảo đúng nguyên tắc, quy trình ban hành văn bản.
Vai trò của Nội quy,
quy chế đối với việc xây dựng văn hóa công sở:
- Quy định việc thực
hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, do vậy nó ảnh
hưởng trực tiếp đến việc phát triển của chính cơ quan đó.
- Nội quy, quy chế sẽ
xác định cách thức, nguyên tắc, chế độ, thủ tục hành chính, quy trình... trong
giải quyết công việc nội bộ cũng như những công việc bên ngoài cơ quan.
- Nội quy, quy chế giúp
nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc
- Quy chế giúp cụ thể hóa
quy định của pháp luật đảm bảo những qui định đó được thực hiện một cách nghiêm túc trong công
sở
- Là công cụ đảm bảo
tính dân chủ, góp phần làm giảm hoặc ngăn chặn biểu hiện của bệnh quan liêu cửa
quyền.
Yêu cầu xây dựng nội
quy, quy chế công sở trong cơ quan:
- Đầy đủ về mặt nội
dung;
- Ban hành đúng thể
thức;
- Có giá trị pháp lý;
- Có tính khả thi.
2.2.2.3. Chế độ chính
sách
Chế độ chính sách có
vai trò đối với việc xây dựng văn hóa công sở được thể hiện như sau:
- Đảm bảo tính thống nhất
trong hoạt động công sở.
- Khi ban hành các chế
độ chính sách thì các các bộ,nhân viên trong công sở phải nghiêm túc thực hiện
và chấp hành nghiêm chỉnh góp phần vào việc thực hiện mục tiêu chung.
- Hệ thống chế độ chính
sách là một trong những công cụ kiểm tra giám sát đội ngũ cán bộ, nhân viên
trong công sở nhằm điều chỉnh, định hướng các hoạt động công sở.
- Hệ thống chính sách
tạo sự công bằng, khách quan góp phần thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ
quan, tổ chức.
- Động viên, khích lệ
đội ngũ nhân sự: Bảo
đảm khen thưởng nghiêm túc, khách quan, kịp thời và công khai hóa, đúng người,
đúng thành tích…tạo điều kiện kích thích cán bộ công chức, viên chức đạt hiệu
quả công việc cao, từ đó thấy gắn bó với cơ quan, công sở.
- Xây dựng và phát
triển thương hiệu: Thể hiện qua những yếu tố: Đồng phục; cách giao tiếp, ứng
xử; môi trường làm việc; slogan …
2.2.2.4.Môi trường làm
việc
- Khi xây dựng môi
trường làm việc cần đảm bảo các nguyên tắc: kinh tế; thuận tiện, thẩm mỹ, phong
thủy …giúp người cán bộ làm công tác văn thư lưu trữ tiết kiệm thời gian, nâng
cao hiệu quả và chất lượng công việc.
2.3. Xây dựng Văn hóa công
sở
Công sở là một tổ chức
thực hiện cơ chế điều hành, kiểm soát công việc hành chính, là nơi soạn thảo
văn bản để thực hiện công vụ, đảm bảo thông tin cho hoạt động của bộ máy quản
lý nhà nước, nơi phối hợp hoạt động thực hiện một nhiệm vụ được nhà nước giao.
Công sở là nơi thường xuyên tiếp xúc với nhân dân, với các cơ quan hữu quan,
đồng cấp và cấp trên. Cơ sở hạ tầng, trang thiết bị hiện đại nơi công sở chỉ
đóng vai trò hỗ trợ trong quá trình làm việc và giao tiếp, yếu tố quan trọng
hơn cả chính là yếu tố con người. Khái niệm xây dựng văn hóa công sở được hiểu
như sau:
“Xây dựng văn hóa công
sở là xây dựng lề lối, nề nếp làm việc khoa học, có trật tự kỷ cương, tuân theo
những nội quy, quy định chung nhưng không mất đi tính dân chủ”
Trong môi trường làm
việc năng động và chuyên nghiệp như hiện nay, bên cạnh việc sáng tạo để tìm ra
phương pháp giúp làm việc nhanh hơn và đạt hiệu quả cao hơn thì việc xây dựng
giá trị riêng của bản thân thông qua việc hình thành những thói quen, lề lối
làm việc, phong cách ứng xử cùng hành vi văn minh, lịch sự chốn công sở là điều
hết sức quan trọng.
2.3.1. Yêu cầu cần
thiết để xây dựng VHCS
Nhu cầu cần thiết của
việc xây dựng và nâng cao văn hóa công sở chính là xuất phát từ chính vai trò
của văn hóa công sở trong đời sống xã hội và trong hoạt động của bộ máy hành
chính mà ở đó VHCS là một bộ phận cấu thành. Công tác văn thư lưu trữ là một
bộ phận không thể thiếu trong hoạt động văn phòng, người cán bộ văn thư lưu trữ
chính là bộ mặt của văn phòng vì vậy văn hóa đóng vai trò to lớn trong việc xây
dựng nề nếp làm việc khoa học, có kỷ cương, dân chủ. Nó đòi hỏi các thành viên
trong công sở phải quan tâm đến hiệu quả công việc chung của công sở, giúp cho
mỗi cán bộ công chức tự nhìn lại mình, đánh giá mình, chống lại những biểu hiện
thiếu văn hóa như tham ô, móc ngoặc, quan liêu, hách dịch, cửa quyền, cơ hội.
Bên cạnh đó yếu tố văn hóa còn giúp cho mỗi thành viên trong công sở phải tôn
trọng ý thức kỷ luật, danh dự của công sở, quan hệ thân ái, đoàn kết, hợp tác
vì sự nghiệp chung của cơ quan, đơn vị.
Thấy rõ được vai trò
trên của văn hóa công sở, Ngày 02/8/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết
định số 129/2007/QĐ-TTg, quy định về việc
thực hiện văn hóa công sở trong cơ quan hành chính Nhà nước. Không thể phủ nhận
những chuyển biến tích cực sau một thời gian thực hiện Quyết định này:
- Đầu tiên là những
biểu hiện thiếu văn hóa trong việc thiết lập hệ thống mục tiêu cá nhân trong
công sở. Nếu mục tiêu chung của công sở là hoàn thành một cách tốt nhất chức
năng, nhiệm vụ được giao, thì mục tiêu riêng của từng cán bộ, công chức rất
phong phú và đa dạng. Đặc biệt đối với người cán bộ làm công tác văn thư lưu
trữ cho thấy cán bộ, công chức không quan tâm đến sứ mệnh của tổ chức mình đang
phục vụ.
- Thời gian gần đây
trong công tác tổ chức và giải quyết văn bản có một bộ phận không nhỏ cán bộ,
công chức, viên chức nhà nước tỏ ra thờ ơ, vô cảm trước nguyện vọng của công
dân, tiếp và giải quyết các thủ tục hành chính cho công dân một cách thiếu
nhiệt tình. Đây là một biểu hiện kém văn hóa của những người thực thi pháp luật.
- Đã có nhiều văn bản
cấm hút thuốc, sử dụng chất có cồn trong giờ làm việc, nhưng thực tế còn tồn
tại rất nhiều hạn chế. Có cán bộ, công chức từng tuyên bố: “Thà bỏ việc chứ
không bỏ thuốc lá!” … Sử dụng chất có cồn trong giờ làm việc là một vấn đề phổ
biến hiện nay ở các công
sở. Thật ra không nhiều người muốn như vậy, nhưng việc trao đổi thông tin, quan
hệ công tác giữa các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp là nhiệm vụ thường xuyên, đi
liền với đó là quan hệ giao tiếp thông qua tách trà, ly rượu, đã tiếp khách thì
thường là phải có rượu, bia, vì “phi tửu bất thành lễ”, nếu không thì e không
phải đạo, không hiếu khách, mà đã tiếp khách thì cả chủ và khách đều phải vui
vẻ, nhiệt thành, tạo nên không gian văn hóa ẩm thực rất đa dạng và chứa đựng
nhiều cảm xúc. Nếu việc giao lưu ẩm thực ở mức độ vừa phải thì không sao, song
thực tế thường hay quá đà, đây đã làm mất thời gian, tổn hại sức khỏe và gây
lãng phí tiền bạc của tập thể, cá nhân.
- Lãng phí là một biểu
hiện thiếu văn hóa hiện nay ở một số công sở. Lãng phí thời gian làm việc: Buôn
chuyện tại công sở, làm việc riêng trong giờ hành chính hoặc trong thời gian đi
công tác. Lãng phí nguồn lực công như: Tiền điện thoại, tiền điện, vật tư văn
phòng...
- Đối với các cán bộ
văn thư thường xuyên phải giao tiếp với các đối tượng đến từ nhiều đơn vị trong
và ngoài cơ quan thì vẫn tồn tại tình trạng: Giải quyết các thủ tục hành chính
chưa nhiệt tình, hiệu quả; Thái độ giao tiếp với khách đến liên hệ công tác còn
chưa đúng mực; Chưa thực hiện đúng các quy định về chuyên môn như: lập hồ sơ
hiện hành, nộp lưu hồ sơ theo đúng thời gian quy định...
Từ những thực tế còn
tồn tại như trên, đặt ra một yêu cầu cấp thiết về việc xây dựng văn hóa công sở
cho mỗi cơ quan, đơn vị. Để xây dựng tốt văn hóa công sở yêu cầu trước hết phải
đặt ra cho chính bản thân mỗi cán bộ, viên chức (dù giữ vị trí lãnh đạo, quản
lý trong cơ quan hay chỉ là nhân viên hành chính, văn thư, lưu trữ...) thì đều
phải nâng cao tinh thần trách nhiệm, coi chính mình là một trong những yếu tố
cấu thành nên văn hóa công sở; thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của
bản thân, đảm bảo thực hiện tốt các quy định, quy chế của cơ quan, đơn vị mình.
2.3.2. Nội dung xây
dựng VHCS
2.3.2.1. Những nguyên
tắc xây dựng VHCS
- Phù hợp với truyền
thống, bản sắc văn hóa dân tộc và điều kiện kinh tế - xã hội;
- Phù hợp với
định hướng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp, hiện
đại theo chủ trương chung của nhà nước;
- Phù hợp với
các quy định của pháp luật và quy định, quy chế của mỗi cơ quan, công sở.
2.3.2.2. Mục đích xây
dựng VHCS
- Bảo đảm tính trang
nghiêm và hiệu quả hoạt động của các cơ quan;
- Xây dựng phong cách
ứng xử chuẩn mực của cán bộ, công chức, viên chức trong hoạt động công vụ,
hướng tới mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất
đạo đức tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
2.3.2.3. Nội dung xây
dựng VHCS
- Một là, xây dựng hệ
giá trị chuẩn.
Xây dựng hệ giá trị
chuẩn về “Văn hóa công sở” là yêu cầu trước tiên. Hệ thống giá trị này được thể
hiện thông qua các quy định, quy chế, các văn bản quy định khác của mỗi cơ
quan, công sở. Nó vừa là căn cứ để mỗi cán bộ, viên chức tham chiếu những hành
động, lời nói, trang phục, cách giao tiếp ứng xử trong môi trường công sở, vừa
là công cụ để các nhà quản lý kiểm tra, kiểm soát việc thực thi văn hóa công sở trong
mỗi cơ quan. Ví dụ: Mỗi cơ quan cần ban hành quy chế văn hóa công sở, quy chế
ra - vào cơ quan, quy chế thường trực; các phòng ban chuyên môn cần ban hành
quy chế, quy định riêng cho phòng ban mình: Quy định phòng đọc (dành cho thư
viện); quy định mượn tài liệu (dành cho phòng lưu trữ)...
- Hai là, xây dựng bầu
không khí làm việc.
Xây dựng và gìn giữ bầu
không khí làm việc nơi công sở là một trong những điều quan trọng hiện nay để
người cán bộ làm công tác văn thư lưu trữ không cảm thấy nhàm chán và thiếu
nhiệt huyết.
- Ba là, xây dựng phong
cách ứng xử chuẩn mực.
Căn cứ theo Quyết định
số 129/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
v/v ban hành Quy chế văn hóa công sở, yêu cầu các nhà quản lý, các nhân viên
phải thực hiện tốt những nội dung cơ bản sau để hình thành phong cách ứng xử
chuẩn mực, góp phần xây dựng văn hóa công sở:
- Trang phục: Cán bộ,
công chức, viên chức phải ăn mặc gọn gàng, lịch sự, phải đeo thẻ trong quá
trình thực hiện nhiệm vụ. Trong những buổi lễ, cuộc họp trọng thể, các cuộc
tiếp khách nước ngoài cần sử dụng lễ phục.
- Giao tiếp và ứng xử:
Cán bộ, công chức, viên chức phải có thái độ lịch sự, tôn trọng. Ngôn ngữ giao
tiếp phải rõ ràng, mạch lạc; không nói tục, nói tiếng lóng, quát nạt.
+ Giao tiếp và ứng xử
với nhân dân: Cần nhã nhặn, lắng nghe ý kiến, giải thích, hướng dẫn rõ ràng, cụ
thể về các quy định liên quan đến giải quyết công việc. Không được có thái độ
hách dịch, nhũng nhiễu, gây khó khăn, phiền hà khi thực hiện nhiệm vụ.
+ Giao tiếp và ứng xử
với đồng nghiệp: Những cán bộ văn thư - lưu trữ trong giao tiếp và ứng xử với
đồng nghiệp phải có thái độ trung thực, thân thiện, hợp tác.
+ Giao tiếp qua điện
thoại: Khi giao tiếp qua điện thoại, cán bộ, công chức, viên chức phải xưng
tên, cơ quan, đơn vị nơi công tác; trao đổi ngắn gọn, tập trung vào nội dung
công việc; không ngắt điện thoại đột ngột.
- Trong bài trí công
sở: Cơ quan phải có biển tên được đặt tại cổng chính, ghi rõ tên gọi đầy đủ
bằng tiếng Việt và địa chỉ của cơ quan. Cơ quan có trách nhiệm bố trí khu vực
để phương tiện giao thông của cán bộ, công chức, viên chức và của người đến giao
dịch, làm việc. Không thu phí gửi phương tiện giao thông của người đến giao
dịch, làm việc
- Phòng làm việc: Phòng
làm việc phải có biển tên ghi rõ tên đơn vị, họ và tên chức danh cán bộ, công
chức, viên chức; Việc sắp xếp bài trí phòng làm việc phải đảm bảo gọn gàng,
ngăn nắp, khoa học, hợp lý; Không lập bàn thờ, thắp hương, không đun nấu trong
phòng làm việc. Đặc biệt đối với các phòng ban chuyên môn đặc thù phải đáp ứng các điều kiện
cơ sở vật chất để tăng hiệu quả công việc. Ví dụ: Đối với các phòng lưu trữ tài
liệu phải đảm bảo các cơ sở vật chất tốt để tăng tuổi thọ của tài liệu.
- Bốn là tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật
và tài chính cho việc xây dựng văn hóa công sở trong các cơ quan.
Căn cứ vào tình hình
thực tế của cơ quan, cần dự kiến kinh phí và đầu tư trang bị về cơ sở vật chất
tại công sở, chẳng hạn như mô hình một cửa hiện nay đã tạo cho công sở có một
phong cách chuyên nghiệp, ngăn nắp, hiện đại, phải chú ý đến yếu tố thẩm mỹ,
tránh tư tưởng phô trương tại phòng làm việc; hay trang bị về trang phục, lễ
phục cho cán bộ, viên nhằm tạo ra thương hiệu riêng cho từng công sở;
+ Lắp đặt hệ thống
camera tự động đối với những bộ phận thường xuyên tiếp xúc với nhân dân như:
Phòng công chứng, khai và nộp thuế, tiếp nhận và giải quyết đơn thư khiếu nại,
tố cáo của công dân, bộ phận tiếp dân, bộ phận văn thư… Trên cơ sở các tiêu chí
về văn hóa công sở đã quy định như: Phải tươi cười, niềm nở khi tiếp dân, phải
hướng dẫn tận tình, trách nhiệm khi có công dân đến liên hệ công việc, trang
phục trong khi thực thi công vụ, các hành vi gây phiền hà, tiêu cực đòi hối lộ.
Kịp thời phát hiện, tiến hành lập biên bản và áp dụng các biện pháp xử lý nếu
phát hiện sai phạm.
+ Xây dựng tiêu chí và
định mức khen thưởng, kỷ luật bằng vật chất trong quá trình thực hiện văn hóa công
sở.
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Nội vụ,
Thông tư số 12/2012/TT-BNV quy định về chức
danh nghề nghiệp và thay đổi chức danh nghề nghiệp đối với viên chức.
2. Bộ Nội vụ, Thông tư
số 14/2012/TT-BNV ngày 18/12/2012 hướng dẫn
thực hiện nghị định số 41/2012/NĐ-CP ngày 08/5/2012
của Chính phủ quy định về vị trí việc làm trong các đơn vị sự nghiệp công lập.
3. Bộ Nội vụ, Thông tư
số 15/2012/TT-BNV hướng dẫn về tuyển dụng, ký
kết hợp đồng làm việc và đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng đối với viên chức.
4. Bộ Nội vụ, Thông tư 16/2012/TT-BNV ban hành quy chế thi tuyển, xét
tuyển viên chức; quy chế thăng hạng chức danh nghề nghiệp đối với viên chức và
nội quy kỳ thi tuyển, thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp đối với viên chức.
5. Bộ Nội vụ, Thông tư
số 13/2014/TT-BNV Quy định mã số và tiêu
chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành lưu trữ.
6. Bộ Nội vụ, Quyết
định số 916/QĐ-BNV năm 2016 ban hành quy tắc
ứng xử, đạo đức nghề nghiệp đối với viên chức ngành lưu trữ.
7. Chính phủ, Nghị định
số 41/2012/NĐ-CP ngày 08/5/2012 quy định về
vị trí việc làm trong đơn
vị sự nghiệp công lập.
8. Chính phủ, Nghị định
64/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 về việc hướng
dẫn Luật
tiếp công dân 2013.
9. Chính phủ, Nghị định
số 145/2013/NĐ-CP ngày 29/10/2013 quy định
về tổ chức ngày kỷ niệm, nghi thức trao tặng, đón nhận hình thức khen thưởng,
danh hiệu thi đua, nghi lễ đối ngoại và đón, tiếp khách nước ngoài.
10. Coral & Brain
Works, “Phong cách làm việc nơi công sở”, Nxb Phụ nữ, H 2010
11. Lam Điền, Đề án
nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác văn thư,
lưu trữ. http://www.congbao.hochiminhcity.gov.vn/tin-tuc- tong-hop/%C4%91e-an-nang-cao-nang-luc-%C4%91oi-ngu-can-bo-cong-chuc-vien-chuc-lam-cong-tac-van-thu-luu-tru
12. Trần Hoàng, “Văn
hóa ứng xử ở công sở”, Nxb CTQG, H 2004
13. Vũ Gia Hiền, “Văn
hóa giao tiếp trong quản lý hành chính công”, Nxb Lao động, H 2009
14. ThS. Nguyễn Tiến
Hiệp - Học viện Hành chính quốc gia, “Những yếu tố tác động đến đạo đức công vụ
ở nước ta hiện nay”, http://tcnn.vn/Plus.aspx/vi/News/125/0/1010067/0/31992/ những yếu tố tác động
đến đạo đức công vụ hiện nay.
15. Trần Nghị, Viện
Khoa học Tổ chức nhà nước, Chuyên đề “Đánh giá tình hình thực hiện phân cấp
tuyển dụng viên chức ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hiện nay” Hà
Nội, 12/2015.
16. Quốc hội, Luật Viên chức năm 2010
17. Lam Triều, Thuật
đối nhân xử thế nơi công sở, Văn hóa Thông tin, H 2004
18. Nguyễn Văn Thâm, “Tổ
chức điều hành hoạt động của các công sở”,Nxb CTQG, H 2003
19. Trần Thị Thơi, Viện
Khoa học nhà nước, Bộ Nội vụ: “Một số quan điểm và giải pháp xây dựng tiêu
chuẩn chức danh nghề nghiệp của viên chức trong bối cảnh hiện nay”.
http://isos.gov.vn/Thongtinchitiet/tabid/84/ArticleId/972/language/vi-VN/M-
t-s-quan-di-m-va-gi-i-phap-xay-d-ng-tieu-chu-n-ch-c-danh-ngh-nghi-p-c-a-vien-ch-
c-trong-b-i-c-nh-h.aspx
20. Viện nghiên cứu lập
pháp, “Chế độ hợp đồng trong Luật Viên chức”
21. Trần Quốc Vượng và
cộng sự, “Cơ sở văn hóa Việt Nam”, Nxb Giáo dục, H 2009
22. Thủ tướng Chính
phủ, Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg ngày 2/8/2007
ban hành Quy chế VHCS tại các cơ quan hành chính nhà nước.
23. Thủ tướng Chính
phủ, Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg về việc
ban hành quy chế thực hiện “một cửa” tại cơ quan hành chính ở địa phương.
CÂU
HỎI ÔN TẬP, THẢO LUẬN
1. Phân tích vị trí, vai
trò của viên chức hoạt động trong lĩnh vực lưu trữ. Liên hệ thực tiễn tại cơ
quan, đơn vị nơi anh/chị đang công tác.
2. Phân biệt trách
nhiệm pháp lý của viên chức với cán bộ, công chức.
3. Trình bày nghĩa vụ
và quyền lợi của viên chức theo quy định của pháp luật hiện hành.
4. Phân biệt tuyển dụng
giữa viên chức với công chức.
5. Phân tích thực trạng
và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của viên chức lưu trữ làm
việc tại các Bộ, ngành, địa phương.
6. Tại cơ quan anh /chị
công tác người cán bộ làm công tác văn thư lưu trữ áp dụng nội quy của văn hóa
công sở như thế nào?
7. Vai trò của văn hóa
công sở trong các cơ quan tổ chức.
8. Tìm hiểu những loại
hình văn hóa công sở. Liên hệ với thực tiễn tại cơ quan anh/chị đang công
tác
9. Tìm hiểu QĐ129/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban
hành Quy chế văn hóa công sở và việc áp dụng quy chế vào trong hoạt động công
sở tại cơ quan anh/ chị.
10. Những cách thức
nhằm xây dựng văn hóa công sở hiện nay. Liên hệ thực tế với cơ quan anh /chị
công tác.
Chuyên
đề 4
TIÊU CHUẨN CHỨC DANH LƯU TRỮ VIÊN TRUNG CẤP VÀ ĐẠO ĐỨC NGHỀ
NGHIỆP
1. Một số vấn đề cơ bản
1.1. Khái niệm chức
danh nghề nghiệp viên chức
Luật
Viên chức
và Nghị định số 29/2012/NĐ-CP về tuyển
dụng, sử dụng và quản lý viên chức đã đưa ra quy định về việc sử dụng “chức
danh nghề nghiệp” của viên chức.
“Chức danh nghề nghiệp
là tên gọi thể hiện trình độ và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của viên chức
trong từng lĩnh vực nghề nghiệp” (Điều 8, Khoản 1, Luật Viên
chức);
Mỗi chức danh nghề
nghiệp có những đặc điểm riêng theo từng chuyên ngành, lĩnh vực do một bộ, cơ
quan ngang bộ quản lý. Tùy theo mức độ phức tạp và yêu cầu của từng chuyên
ngành, viên chức giữ các hạng chức danh nghề nghiệp khác nhau.gồm 4 hạng cụ thể
như sau:
Thứ nhất, viên chức giữ chức
danh nghề nghiệp hạng I là viên chức chịu trách nhiệm tổ chức và chỉ đạo thực
hiện nhiệm vụ có độ phức tạp cao nhất trong ngành và lĩnh vực, đòi hỏi phải đáp
ứng được các yêu cầu cao nhất về năng lực, trình độ và kinh nghiệm công tác
chuyên môn, có khả năng tổng hợp cao và giải quyết được những vấn đề phức tạp
trong quản lý, dày dạn kinh nghiệm, là những chuyên gia đầu ngành của khu vực
dịch vụ công.
Thứ hai, viên chức giữ chức
danh nghề nghiệp hạng II là viên chức chịu trách nhiệm thực hiện hoặc chủ trì tổ
chức thực hiện nhiệm vụ có độ phức tạp cao trong ngành và lĩnh vực chuyên môn,
biết kết hợp giữa kiến thức, trí tuệ, kinh nghiệm công tác, có khả năng phân
tích tổng hợp đáp ứng được các yêu cầu của vị trí chủ chốt trong đơn vị sự
nghiệp công lập.
Thứ ba, viên chức giữ chức
danh nghề nghiệp hạng III là viên chức chịu trách nhiệm thực hiện hoặc chủ trì
tổ chức thực hiện nhiệm vụ ở mức độ cơ bản, thành thạo các nghiệp vụ đáp ứng
được yêu cầu về năng lực và trình độ công tác chuyên môn tùy theo ngành nghề, lĩnh
vực cụ thể.
Thứ tư, viên chức giữ chức
danh nghề nghiệp hạng IV là viên chức chịu trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ một
số bước cụ thể trong quy trình tổ chức công việc hoặc một quy trình tổ chức
công việc cụ thể trong ngành, lĩnh vực đáp ứng các yêu cầu tối thiểu về năng
lực và trình độ trong công tác chuyên môn, nghiệp vụ.
1.2. Phân hạng chức
danh nghề nghiệp viên chức ngành lưu trữ
Ngày 31 tháng 10 năm 2014,
Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư số 13/2014/TT-BNV quy định mã số và tiêu
chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành Lưu trữ. Thông tư này có
hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 12 năm 2014. Theo Thông tư này, chức danh nghề
nghiệp viên chức chuyên ngành lưu trữ được phân thành 3 hạng: Lưu trữ viên
chính (hạng II, mã số: V.01.02.01), Lưu trữ viên (hạng III, mã số: V.01.02.02),
Lưu trữ viên trung cấp (hạng IV, mã số: V.01.02.03).
1.2.1.Lưu trữ viên
chính (hạng II)
Lưu trữ viên chính
(hạng II) có nhiệm vụ chủ trì việc biên soạn, xây dựng các chế độ, quy định, kế
hoạch, tiêu chuẩn trong công tác lưu trữ; Chủ trì tổ chức việc sưu tầm, thu
thập, bổ sung tài liệu có giá trị vào lưu trữ lịch sử, chỉnh lý, xác định giá
trị, bảo quản và phục vụ khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ, xây dựng hệ thống
công cụ tra cứu theo quy định;
Lưu trữ viên chính phải
đáp ứng tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng, bao gồm: Tốt nghiệp đại học
chuyên ngành văn thư, lưu trữ trở lên; nếu tốt nghiệp đại học chuyên ngành khác
thì phải có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp chuyên ngành lưu
trữ; Có chứng chỉ ngoại ngữ trình độ bậc 3; Có chứng chỉ tin học với trình độ
đạt chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cơ bản.
1.2.2.Lưu trữ viên
(hạng III)
Lưu trữ viên phải đáp
ứng tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng gồm: Tốt nghiệp từ cao đẳng
chuyên ngành văn thư, lưu trữ trở lên; nếu tốt nghiệp đại học chuyên ngành khác
thì phải có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ chuyên ngành lưu
trữ; Có chứng chỉ ngoại ngữ trình độ bậc 2; Có chứng chỉ tin học với trình độ
đạt chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cơ bản.
Đối với viên chức dự
thi hoặc xét thăng hạng lưu trữ viên thì phải tham gia nghiên cứu ít nhất 1
(một) đề tài, đề án, công trình khoa học cấp cơ sở trở lên được cấp có thẩm
quyền nghiệm thu và đánh giá đạt yêu cầu;
Viên chức thăng hạng từ
chức danh lưu trữ viên trung cấp (hạng IV) lên chức danh lưu trữ viên (hạng
III) phải có thời gian công tác giữ chức danh lưu trữ viên trung cấp (hạng IV)
tối thiểu từ đủ 3 (ba) năm trở lên.
1.2.3.Lưu trữ viên
trung cấp (hạng IV)
Nhiệm vụ của Lưu trữ
viên trung cấp bao gồm:
a) Tham gia xây dựng chương
trình, kế hoạch về công tác lưu trữ của cơ quan, tổ chức: Tại các cơ quan, một
số văn bản liên quan đến công tác văn thư, lưu trữ bao gồm: Quy chế văn thư,
lưu trữ cơ quan; Quy chế làm việc của cơ quan, Quyết định ban hành danh mục hồ sơ, tài liệu,
Kế hoạch xác định giá trị tài liệu của cơ quan, Kế hoạch số hóa tài liệu lưu...
b) Thực hiện các nhiệm
vụ phân loại, chỉnh lý, lập hồ sơ, hệ thống hóa, sắp xếp tài liệu trên cơ sở
những văn bản hướng dẫn nghiệp vụ hiện hành: Đây là các nhiệm vụ cơ bản trong
quá trình thực hiện nhiệm vụ mà lưu trữ viên hạng IV có thể chủ động thực hiện
hoặc theo sự hướng dẫn của lưu trữ viên hoặc lưu trữ viên chính.
c) Thực hiện việc tu
bổ, phục chế, bảo hiểm tài liệu lưu trữ theo hướng dẫn: Lưu trữ viên hạng IV có
thể tham gia xử lý đối với trường hợp tài liệu bị hư hỏng, cần phải tu bổ, phục
chế hoặc lập bản sao bảo hiểm cho tài liệu nhằm mục đích sử dụng lâu dài, đảm
bảo an toàn đối với thông tin tài liệu.
d) Tham gia xây dựng
các loại công cụ tra tìm khác của tài liệu theo thực tế nhiệm vụ của cơ quan,
tổ chức;
đ) Thực hiện thống kê
tài liệu lưu trữ theo quy trình nghiệp vụ và theo quy định của pháp luật hiện
hành: Việc thống kê được thực hiện định kỳ hoặc đột xuất theo yêu cầu của cơ
quan có thẩm quyền.
e) Thực hiện các nhiệm
vụ khác do thủ trưởng cơ quan, đơn vị giao.
2. Tiêu chuẩn chức danh
nghề nghiệp Lưu trữ viên trung cấp
2.1. Tiêu chuẩn về
trình độ đào tạo, bồi dưỡng
Lưu trữ viên trung cấp
là người đã tốt nghiệp trung cấp chuyên ngành văn thư, lưu trữ; Có chứng chỉ
ngoại ngữ trình độ bậc 1; Có chứng chỉ tin học với trình độ đạt chuẩn kỹ năng
sử dụng công nghệ thông tin cơ bản.
Như vậy, so với các
hạng lưu trữ viên khác, Lưu trữ viên trung cấp chỉ cần đạt trình độ tốt nghiệp
trung cấp chuyên ngành văn thư, lưu trữ tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành.
2.2. Tiêu chuẩn về năng
lực chuyên môn, nghiệp vụ của lưu trữ viên trung cấp
Tiêu chuẩn về năng lực
chuyên môn, nghiệp vụ của lưu trữ viên trung cấp bao gồm:
a) Nắm được các chủ
trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác
lưu trữ;
b) Nắm được kiến thức
và kỹ năng cơ bản về hoạt động lưu trữ;
c) Nắm được vị trí,
chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và mối quan hệ của cơ quan, đơn vị trong hệ
thống tổ chức bộ máy nhà nước;
d) Có năng lực thực
hiện được các quy trình, thủ tục nghiệp vụ lưu trữ theo quy định;
đ) Nắm được và có năng
lực thực hiện tốt các nguyên tắc bảo vệ tài liệu lưu trữ, quy phạm kỹ thuật
nhằm đảm bảo an toàn, bảo mật cho kho lưu trữ, tài liệu lưu trữ và trang thiết
bị bảo quản, sử dụng tài liệu.
3. Đạo đức nghề nghiệp
của Lưu trữ viên trung cấp
3.1. Quan niệm về đạo
đức nghề nghiệp
Đạo đức thuộc hình thái
ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc nhằm điều chỉnh và đánh giá
cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau, với xã hội, với tự nhiên
trong hiện tại hoặc quá khứ cũng như tương lai chúng được thực hiện bởi niềm
tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội. Xét một cách tổng
quát, đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được xã hội thừa nhận, quy định
hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội.
Trong xã hội có bao
nhiêu nghề thì có bấy nhiêu thứ đạo đức nghề nghiệp. Đạo đức nghề nghiệp là đạo
đức xã hội được thể hiện một cách đặc thù, cụ thể trong các hoạt động nghề
nghiệp.
Luật
Viên chức
nêu khái niệm đạo đức nghề nghiệp như sau:
“Đạo đức nghề nghiệp là
các chuẩn mực về nhận thức và hành vi phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực
hoạt động nghề nghiệp do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quy định” (Điều 3, Khoản 2, Luật Viên chức).
3.2. Bộ tiêu chuẩn đạo
đức dành cho lưu trữ viên do Hội đồng Lưu trữ Quốc tế ban hành
Năm 1996, tổ chức Hội
đồng Lưu trữ Quốc tế đã ban hành Bộ tiêu chuẩn đạo đức dành cho viên chức ngành
lưu trữ với 10 nội dung nhằm xác lập các tiêu chuẩn cao trong hoạt động nghề
nghiệp lưu trữ, cụ thể:
1. Các lưu trữ viên nên
bảo vệ sự toàn vẹn của tài liệu lưu trữ và trên cơ sở đó đảm bảo rằng các tài
liệu vẫn tiếp tục là bằng chứng đáng tin cậy của quá khứ.
Nhiệm vụ căn bản của
các lưu trữ viên là duy trì tính toàn vẹn của các tài liệu lưu trữ trong việc
giữ gìn và bảo quản chúng. Để hoàn thành nhiệm vụ này, họ phải lưu tâm đến
quyền và lợi ích hợp pháp, nhưng đôi khi mâu thuẫn, của người sử dụng lao động,
chủ sở hữu, các đối tượng của dữ liệu và người sử dụng dữ liệu, quá khứ, hiện
tại và tương lai. Tính khách quan và công bằng của các lưu trữ viên là thước đo
của sự chuyên nghiệp của họ. Họ nên chống lại áp lực từ bất cứ nguồn nào nhằm
ngụy tạo bằng chứng để che giấu hoặc bóp méo sự thật.
2. Các lưu trữ viên nên
xác định giá trị, lựa chọn và bảo quản các tài liệu lưu trữ trong bối cảnh lịch
sử, pháp lý và hành chính của nó, từ đó vẫn giữ nguyên tắc xuất xứ, bảo quản và
hiểu rõ các mối quan hệ ban đầu của tài liệu.
Các lưu trữ viên phải
hành động phù hợp với các nguyên tắc và thông lệ được chấp nhận chung. Các lưu
trữ viên phải thực hiện các nhiệm vụ và chức năng của mình phù hợp với các
nguyên tắc lưu trữ, liên quan đến việc tạo ra, bảo quản và bố trí các hồ sơ,
bao gồm cả hồ sơ điện tử và đa phương tiện, việc sưu tầm và thu thập các hồ sơ
lưu trữ cho việc lưu trữ, bảo vệ, bảo quản và bảo tồn các tài liệu lưu trữ phải
được tiến hành cẩn thận, và việc chỉnh lý, công bố và sử dụng có hiệu quả các
tài liệu lưu trữ đó. Các lưu trữ viên nên xác định giá trị các tài liệu lưu trữ
một cách công bằng, đưa ra các phán quyết của họ dựa trên cơ sở kiến thức thấu
đáo về các yêu cầu hành chính của tổ chức của mình và các chính sách thu thập
tài liệu. Họ nên chỉnh lý và mô tả các tài liệu đã được lựa chọn để giữ lại bảo
quản phù hợp với các nguyên tắc lưu trữ (cụ thể là nguyên tắc về nguồn gốc và
nguyên tắc về trật tự ban đầu) và các tiêu chuẩn được chấp nhận, một cách nhanh
chóng trong điều kiện nguồn lực cho phép.
3. Các lưu trữ viên
phải bảo vệ tính xác thực của các tài liệu trong quá trình lưu trữ, bảo quản và
sử dụng.
Các lưu trữ viên phải
đảm bảo rằng giá trị tài liệu lưu trữ, bao gồm các tài liệu điện tử hoặc đa
phương tiện không bị suy giảm trong công tác lưu trữ: xác định giá trị, chỉnh
lý, và bảo quản và sử dụng. Bất kỳ mẫu nào nên được thực hiện theo phương pháp
và tiêu chí đã được thiết lập một cách cẩn thận. Việc thay thế bản gốc với các
định dạng khác nên được thực hiện phù hợp với giá trị pháp luật, giá trị nội
tại và thông tin của tài liệu. Trong trường hợp văn bản hạn chế đã tạm thời bị
xóa từ một tập tin, phải công khai thông tin cho người sử dụng được biết.
4. Các lưu trữ viên
phải đảm bảo khả năng tiếp cận liên tục và tính dễ hiểu của tài liệu lưu trữ.
Các lưu trữ viên nên
chọn các tài liệu để lưu giữ hoặc để hủy chủ yếu nhằm lưu lại các bằng chứng
thiết yếu về hoạt động của người hoặc của tổ chức đã sản xuất và tích lũy ra
các tài liệu đó mà còn xem xét thay đổi nhu cầu nghiên cứu. Các lưu trữ viên
nên phải nhận thức rằng việc thu thập các tài liệu có nguồn gốc không rõ ràng,
nhưng thú vị, có thể khuyến khích một cuộc giao dịch bất hợp pháp. Họ nên hợp
tác với các lưu trữ viên khác và các cơ quan thực thi pháp luật tham gia vào
việc bắt giữ và truy tố những người bị nghi ngờ ăn cắp các tài liệu lưu trữ.
5. Các lưu trữ viên nên
ghi lại, và nhờ đó có thể chứng minh các hành động của họ trên các tài liệu lưu
trữ.
Các lưu trữ viên cần
tiến hành hoạt động lưu trữ hồ sơ tốt trong suốt vòng đời của tài liệu và hợp
tác với người tạo hồ sơ trong việc xử lý các định dạng mới và thực tiễn quản lý
thông tin mới. Họ cần quan tâm tới không chỉ việc thu thập các tài liệu hiện
có, mà còn cần đảm bảo rằng hệ thống thông tin hiện hành và hệ thống lưu trữ
thống nhất với nhau từ các thủ tục đầu tiên cho đến việc bảo quản các tài liệu
có giá trị. Các lưu trữ viên tiến hành đàm phán với các cán bộ chuyển nhượng
hoặc chủ sở hữu tài liệu cần đưa
ra các quyết định công bằng dựa trên việc xem xét đầy đủ - khi áp dụng - những
yếu tố sau đây: quyền chuyển nhượng, tặng, hoặc bán; việc sắp xếp và các lợi
ích tài chính; các kế hoạch để giải quyết; bản quyền và điều kiện tiếp cận.
6. Các lưu trữ viên nên
thúc đẩy việc tiếp cận tài liệu lưu trữ một cách rộng rãi nhất có thể và cung
cấp một dịch vụ công bằng cho tất cả người dùng.
Các lưu trữ viên nên
tạo ra cả công cụ hỗ trợ tìm kiếm nói chung và nói riêng phù hợp cho tất cả tài
liệu lưu trữ mà họ đang bảo quản. Họ nên tư vấn một cách công bằng cho tất cả
mọi người, và sử dụng các nguồn lực sẵn có để cung cấp một loạt các dịch vụ công
bằng. Các lưu trữ viên nên trả lời một cách lịch sự và với một tinh thần giúp
đỡ tất cả các yêu cầu hợp lý về các tài liệu lưu trữ của họ, và khuyến khích
việc sử dụng các tài liệu này đến mức tối đa có thể, phù hợp với chính sách của
tổ chức, việc bảo quản các tài liệu lưu trữ, các cân nhắc về mặt pháp lý, các
quyền cá nhân, và các thỏa thuận tài trợ. Họ nên giải thích các hạn chế thích
đáng cho người dùng tiềm năng, và áp dụng chúng một cách công bằng. Các lưu trữ
viên không nên khuyến khích các hạn chế bất hợp lý với việc tiếp cận và sử dụng
tài liệu nhưng có thể gợi ý hoặc chấp nhận các hạn chế về giới hạn thời gian
được chỉ rõ như một điều kiện để thu thập tài liệu. Họ nên quan sát một cách
trung thực và áp dụng một cách khách quan tất cả các thỏa thuận thực hiện tại
thời điểm thu thập, nhưng, vì lợi ích của sự tự do hóa truy cập, và nên đàm
phán lại các điều kiện phù hợp với những thay đổi của hoàn cảnh.
7. Các lưu trữ viên nên
tôn trọng quyền truy cập và quyền riêng tư, và hành động trong phạm vi ranh
giới của pháp luật có liên quan.
Các lưu trữ viên nên
chú ý rằng bí mật tập thể và cá nhân cũng như an ninh quốc gia được bảo vệ mà
không làm hủy bỏ thông tin, đặc biệt là trong trường hợp các tài liệu điện tử
mà việc cập nhật và tẩy xóa đã trở thành thông lệ phổ biến. Họ phải tôn trọng
sự riêng tư của các cá nhân là người đã tạo ra hoặc là chủ thể của các tài
liệu, đặc biệt là những người không có tiếng nói trong việc sử dụng hoặc bố trí
các tài liệu.
8. Các lưu trữ viên nên
sử dụng sự tin tưởng đặc biệt dành cho mình vì lợi ích chung và tránh sử dụng
vị trí của họ để làm lợi một cách không công bằng cho mình hoặc cho người khác.
Các lưu trữ viên phải
kiềm chế các hoạt động mà có thể phương hại đến tính toàn vẹn, khách quan và công
bằng trong nghề nghiệp của họ. Họ không được hưởng lợi về tài chính hoặc về mặt
cá nhân gây thiệt hại cho tổ chức, người dùng và đồng nghiệp. Các lưu trữ viên
không nên sưu tầm tài liệu gốc hoặc tham gia vào bất kỳ giao dịch tài liệu nhân
danh chính họ. Họ nên tránh các hoạt động mà có thể tạo ra trong tâm trí công
chúng sự xuất hiện xung đột về lợi ích. Các lưu trữ viên có thể sử dụng tài
liệu của tổ chức họ cho việc nghiên cứu cá nhân và công bố, miễn là việc nghiên
cứu đó được thực hiện dựa trên các điều khoản giống như các công việc khác mà
sử dụng cùng tài liệu. Họ không nên tiết lộ hoặc sử dụng thông tin thu thập
được trong quá trình làm việc với các tài liệu mà việc tiếp cận bị hạn chế. Họ
không nên cho phép các nghiên cứu cá nhân và các lợi ích công bố can thiệp vào
việc thực hiện đúng các nhiệm vụ chuyên môn hoặc hành chính mà họ được thuê để
làm việc đó. Các lưu trữ viên không nên cho phép người ngoài nghề can thiệp vào
công việc và nghĩa vụ của họ.
9. Các lưu trữ viên nên
theo đuổi sở trường chuyên môn bằng cách cập nhật một cách hệ thống và liên tục
kiến thức về lưu trữ của họ, và chia sẻ các kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm
của họ.
Các lưu trữ viên nên nỗ
lực để phát triển sự hiểu biết và sự thành thạo về chuyên môn, để đóng góp cho
khối kiến thức chuyên môn, và để đảm bảo rằng những người mà việc đào tạo hoặc
các hoạt động mà họ giám sát được trang bị để thực hiện nhiệm vụ của họ một
cách có hiệu quả.
10. Các lưu trữ viên
nên thúc đẩy việc bảo quản và sử dụng di sản tư liệu thế giới, thông qua việc
hợp tác với các thành viên trong và ngoài ngành nghề của họ.
Các lưu trữ viên nên
tìm cách tăng cường hợp tác và tránh xung đột với đồng nghiệp chuyên môn của họ
và để giải quyết những khó khăn bằng cách khuyến khích sự tuân thủ các tiêu
chuẩn lưu trữ và đạo đức. Các lưu trữ viên nên hợp tác với các thành viên của
các ngành nghề liên quan trên cơ sở tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau.
3.3. Quy tắc ứng xử,
đạo đức nghề nghiệp đối với Lưu trữ viên trung cấp tại Việt Nam
Trên cơ sở nghiên cứu
Bộ tiêu chuẩn đạo đức dành cho lưu trữ viên do Hội đồng Lưu trữ Quốc tế ban
hành, căn cứ Luật Lưu trữ và Luật Viên chức, ngày 20 tháng 4 năm 2016, Bộ
Nội vụ đã ban hành Quyết định số 916/QĐ-BNV
về việc Ban hành Quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp đối với viên chức ngành
Lưu trữ. Quy tắc này gồm 4 chương và 14 Điều, áp dụng đối với viên chức thực
hiện công tác lưu trữ trong các đơn vị sự nghiệp công lập. Các cơ quan, tổ chức
của Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện áp
dụng các quy định tại Quy tắc này để quản lý, đánh giá viên chức thực hiện công
tác lưu trữ.
Mục đích của Bộ quy
tắc: Nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm của viên chức ngành Lưu trữ trong thi
hành nhiệm vụ, quan hệ xã hội, công tác phòng, chống tham nhũng và thực hành tiết
kiệm, chống lãng phí; Nâng cao tinh thần trách nhiệm trong bảo vệ, bảo quản an
toàn và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ của cơ quan, đơn vị và của nhân dân; Là căn cứ
để cơ quan, đơn vị đánh giá phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của viên
chức, xử lý trách nhiệm khi viên chức vi phạm trong thực hiện nhiệm vụ và trong
quan hệ xã hội.
Đặc biệt, Bộ quy tắc
này giới thiệu cho các thành viên mới vào nghề về những chuẩn mực đạo đức, nhắc
nhở các lưu trữ viên lâu năm về trách nhiệm nghề nghiệp của họ và tạo dựng niềm
tin trong nhân dân vào nghề nghiệp của họ.
Các quy định về đạo đức
nghề nghiệp của lưu trữ viên trung cấp trong quá trình thực hiện nhiệm vụ bao
gồm:
3.3.1. Có đạo đức, nhân
cách và lối sống lành mạnh, trong sáng; theo quan điểm cần, kiệm, liêm,
chính, chí công vô tư;
Những khái niệm như
trung, hiếu, nhân, nghĩa, cần, kiệm, liêm, chính đã có trong Nho giáo nhưng đã
được kế thừa, phát huy nâng lên một tầm cao mới. Tại tác phẩm “Cần, kiệm,
liêm, chính”, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đó là bốn đức tính không thể thiếu,
như trời có bốn mùa, đất có bốn phương. Bốn đức tính này trở thành nền tảng cơ
bản để trở thành một con người có đạo đức, cơ bản đến mức, “thiếu một đức thì
không thành người”. Đây là những đức tính mà bản thân mỗi viên chức lấy đó để điều
chỉnh, soi rọi, thực hiện trong mọi hoạt động.
3.3.2. Trung thực,
khách quan trong quá trình thực hiện công việc;
Trung thực là đức tính,
phẩm giá cao quý của con người, là sự đối lập với lừa đảo, dối trá. Tính trung
thực của con người trong đời sống quyết định sự đúng đắn, khách quan trong các
hành vi xử sự của con người. Trong quá trình thực hiện công việc, lưu trữ viên
phải đảm bảo sự thẳng thắn, trung thực, không cho phép sự thiên vị, xung đột
lợi ích hoặc bất cứ ảnh hưởng không hợp lý nào chi phối các hoạt động chuyên
môn, nghiệp vụ.
3.3.3. Tâm huyết với
nghề, có trách nhiệm với công việc;
Đối với các cơ quan, tổ
chức, công tác văn thư, lưu trữ cũng có vai trò đặc biệt quan trọng. Tuy mỗi cơ
quan, tổ chức có chức năng, nhiệm vụ riêng nhưng đều có một đặc điểm chung là
trong quá trình hoạt động đều sản sinh những giấy tờ liên quan và những văn
bản, tài liệu có giá trị đều được lưu giữ lại để tra cứu, sử dụng khi cần
thiết. Bởi đây là những bản gốc, bản chính, là căn cứ xác nhận sự việc đã xảy
ra và có giá trị pháp lý rất cao. Việc soạn thảo, ban hành văn bản đã quan
trọng, việc lưu trữ, bảo quản an toàn và phát huy giá trị của tài liệu lưu trữ
còn quan trọng hơn nhiều. Do đó, khi các cơ quan, tổ chức được thành lập, công
tác văn thư, lưu trữ sẽ tất yếu được hình thành vì đó là “huyết mạch” trọng
hoạt động của mỗi cơ quan, tổ chức. Công tác văn thư, lưu trữ nhằm đảm bảo
thông tin bằng văn bản phục vụ kịp thời cho việc lãnh đạo, quản lý điều hành
công việc, cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, ảnh hưởng trực tiếp tới việc
giải quyết công việc hằng ngày, tới chất lượng và hiệu quả hoạt động của mỗi cơ
quan, tổ chức.
Khi hiểu thực sự về vai
trò của công tác lưu trữ đối với sự phát triển của xã hội, lưu trữ viên dần
hình thành lòng yêu nghề. Lòng yêu nghề là tình cảm say mê và thái độ sẵn sàng
đi tới cùng với nghề mà mình lựa chọn. Chính nhờ lòng yêu nghề này mà các lưu
trữ viên mới có thể hoàn thành tốt công việc của mình, giải quyết các công việc
một cách thành thạo chuyên nghiệp (Thạo nghề) và đầy trách nhiệm (Có trách
nhiệm với nghề).
3.3.4. Đoàn kết, khiêm
tốn, hợp tác chặt chẽ với đồng nghiệp trong quá trình thực hiện nhiệm vụ;
Khi thực hiện hoạt động
nghề nghiệp, viên chức hình thành nhiều mối quan hệ với cơ quan, đồng nghiệp.
Quan hệ này được pháp luật điều chỉnh, tùy thuộc vào chức vụ, chức danh do viên
chức đảm nhiệm, đồng thời từ đó cũng hình thành nên tình cảm, thái độ của họ
với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Người viên chức biết
thiết lập quan hệ với đồng nghiệp trong công việc, biết chia sẻ kinh nghiệm,
hợp tác với đồng nghiệp, không chỉ biết hoàn thành nghĩa vụ của mình mà phải
biết giúp đỡ đồng nghiệp hoàn thành nhiệm vụ, có tinh thần, thái độ cầu thị,
biết giúp nhau cùng phát triển, hoàn thiện để hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Nếu trong một tập thể mà các thành viên có thành kiến với nhau, dè dặt, đối phó
với nhau, kèn cựa lẫn nhau thì “nó làm cho trống đánh xuôi kèn thổi ngược, nó
làm cho công tác bị tê liệt, hư hỏng”. Tuy nhiên, thân ái, hợp tác ở đây không
phải là bao che khuyết điểm cho đồng nghiệp mà để giúp đỡ nhau cùng tiến bộ và
kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn những hành vi vi phạm kỷ luật trong thực hiện
nhiệm vụ và trong cuộc sống.
Đối với cấp dưới, viên
chức lãnh đạo cần hướng dẫn, dẫn dắt cấp dưới hoàn thành nhiệm vụ, tôn trọng ý
kiến cấp dưới, biết tạo điều kiện cho cấp dưới phát triển trong chức nghiệp.
Đối với cấp trên, nhân viên phải tôn trọng người lãnh đạo quản lý, chấp hành
mọi quyết định hợp pháp của người
lãnh đạo, quản lý, hoàn thành mọi nhiệm vụ và chịu trách nhiệm trước cấp trên.
3.3.5. Học tập thường
xuyên nhằm nâng cao trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp, kỹ
năng giao tiếp, ứng xử;
Trong hoạt động nghề
nghiệp, viên chức có quyền và nghĩa thường xuyên học tập nâng cao trình độ, kỹ
năng chuyên môn, nghiệp vụ. Tinh thần cầu tiến bộ, học tập không ngừng là một
yêu cầu đối với mỗi viên chức.
3.3.6. Chủ động nghiên
cứu, áp dụng các thành tựu khoa học và công nghệ, sáng kiến vào công tác văn
thư, lưu trữ.
Xã hội ngày càng phát
triển, nhu cầu về thông tin ngày càng cao. Để thực hiện tốt nhiệm vụ bảo quản
và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ, lưu trữ viên cần không ngừng nghiên cứu,
sáng tạo, ứng dụng khoa học kỹ thuật trong tiến trình phát triển, hội nhập,
cùng với lưu trữ các nước tiên tiến trên thế giới.
3.3.7. Giữ gìn bí mật
thông tin tài liệu theo đúng quy định của pháp luật và quy định của cơ quan, tổ
chức, đơn vị.
Thông đạt số 1C-VP ngày
03/01/1946 của Chủ tịch Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về
việc gìn giữ công văn tài liệu đã chỉ rõ “tài liệu lưu trữ có giá trị đặc biệt
về phương diện kiến thiết quốc gia” và đánh giá “tài liệu lưu trữ là tài sản quý
báu, có tác dụng rất lớn trong việc nghiên cứu tình hình, tổng kết kinh nghiệm,
định hướng chương trình kế hoạch công tác và phương châm chính sách về mọi mặt
chính trị, kinh tế, văn hóa, cũng như khoa học kỹ thuật. Do đó, việc lưu trữ
công văn, tài liệu là một công tác hết sức quan trọng”. Người yêu cầu các Bộ
trưởng, ban “chỉ thị cho nhân viên các sở phải giữ gìn công văn, tài liệu và
cấm không được hủy bỏ các công văn, tài liệu ấy”, “Hồ sơ hoặc công văn không
cần dùng sau này sẽ phải gửi về những Sở lưu trữ công văn thuộc Bộ Quốc gia
giáo dục để tàng trữ”.
Trong hoạt động của bất
kỳ cơ quan, tổ chức nào phải luôn luôn thực hiện bảo vệ bí mật nhà nước để bảo
vệ những tin về vụ, việc, tài liệu, vật, địa điểm, thời gian, lời nói có nội
dung quan trọng thuộc lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh
tế, khoa học, công nghệ, các lĩnh vực khác không công bố hoặc chưa công bố và
nếu bị tiết lộ thì gây nguy hại cho cơ quan, tổ chức nói riêng và cho Nhà nước
nói chung. Sản phẩm hình thành trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức chủ yếu
là văn bản, tài liệu, do đó phần lớn các nội dung thuộc bí mật nhà nước đều
được văn bản hóa, được phản ánh cụ thể trong các văn bản, tài liệu. Do đó,
những bí mật về nội dung, thông tin trong văn bản thuộc danh mục bí mật nhà
nước nếu được bảo vệ tốt, sẽ là yếu tố quyết định trong việc thực hiện nhiệm vụ
bảo vệ bí mật nhà nước.
Các nội dung công việc
liên quan đến văn bản, tài liệu như: soạn thảo, ban hành văn bản, vận chuyển,
giao nhận, quản lý, bảo quản, sử dụng văn bản, tài liệu… lại chính là các nội
dung công việc chủ yếu của công tác văn thư, lưu trữ. Nếu công tác văn thư, lưu
trữ được quan tâm, thực hiện đúng quy định sẽ góp phần bảo được bí mật nhà nước
có trong văn bản, tài liệu; ngược lại, nếu các quy định của công tác văn thư,
lưu trữ không được thực hiện đúng thì có thể dẫn đến lộ, lọt, mất thông tin bí
mật nhà nước có trong văn bản, tài liệu của cơ quan, tổ chức. Từ đó cho thấy
viên chức lưu trữ cần tuân thủ nghiêm các quy định của pháp luật về văn thư,
lưu trữ nhằm bảo vệ an toàn các
nội dung bí mật nhà nước chứa đựng trong văn bản, tài liệu.
3.3.8.Thực hiện thường
xuyên, nghiêm túc việc tự phê bình và phê bình.
Song song với việc hình
thành những giá trị phẩm chất, những thói quen hành vi đạo đức liên quan trực
tiếp tới công việc thuộc lĩnh vực nghề nghiệp của mình, cũng như cán bộ, công
chức các cơ quan Nhà nước khác, lưu trữ viên muốn có đạo đức nghề nghiệp trong
sáng phải luôn phấn đấu tự hoàn thiện mình về mọi mặt, trong đó cần là phải
thường xuyên và tự giác trong việc rèn luyện và tu dưỡng đạo đức, lối sống của
mỗi người, đặc biệt là đẩy mạnh tinh thần tự phê bình và phê bình, đấu tranh
với các hiện tượng sai trái.
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
1. Đào Duy Anh: Hán
Việt từ điển, NXB Văn hóa - Thông tin, trang 207.
2. Nguyễn Đăng Dung:
Nhà nước và trách nhiệm nhà nước, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2006.
3. Thông tư số 13/2014/TT-BNV ngày 31 tháng 10 năm 2014 của
Bộ Nội vụ quy định mã số và tiêu
chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành Lưu trữ.
4. Tô Tử Hạ, Trần Anh
Tuấn, Nguyễn Thị Kim Thảo: Đạo đức trong nền công vụ, NXB Lao động - Xã hội, Hà
Nội, 2003.
5. Phạm Hồng Thái: Pháp
luật về công vụ và đạo đức công vụ, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2013.
6. Hồ Đức Việt, Phạm
Hồng Tung: Chủ tịch Hồ Chí Minh với bài học lịch sử và kinh nghiệm trọng dụng
nhân tài, Hội thảo khoa học Công tác nhân tài ở Việt Nam - Một số vấn đề lý
luận và thực tiễn, Hà Nội, 2011.
CÂU
HỎI ÔN TẬP, THẢO LUẬN
1. Phân biệt
các hạng chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành lưu trữ ?
2. Nhận xét về
sự tương đồng trong các tiêu chuẩn về đạo đức nghề nghiệp do Hội đồng Lưu trữ
quốc tế ban hành so với các tiêu chuẩn về đạo đức nghề nghiệp lưu trữ đang được
áp dụng tại Việt Nam?
3. Tiêu chuẩn
về đạo đức nghề nghiệp đối với Lưu trữ viên trung cấp (hạng IV) là gì ? Theo anh/chị, để đạt
được những tiêu chuẩn đó, lưu trữ viên cần làm gì ?
Chuyên
đề 5
THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
1. Những vấn đề cơ bản
về thủ tục hành chính
1.1. Khái niệm
Thủ tục là những việc
cụ thể cần phải làm theo một trật tự quy định, để tiến hành một công việc có
tính chất chính thức (từ điển Tiếng Việt, Trung tâm Từ điển học, NXB Đà
Nẵng, 2009)
Hoạt động nhà nước cần
phải tuân theo pháp luật, trong đó có những quy định về trình tự, cách thức sử
dụng thẩm quyền của từng cơ quan để giải quyết công việc theo chức năng nhiệm
vụ được giao. Khoa học pháp lý gọi đó là những quy phạm thủ tục. Quy phạm này
quy định về các loại thủ tục: thủ tục lập pháp, thủ tục tố tụng tư pháp và thủ
tục hành chính. Như vậy, xét trong thể chế của nền hành chính, thủ tục hành
chính là một bộ phận cấu thành tất yếu của thể chế hành chính nói chung. Đây là
một loại quy phạm phản ảnh trình tự thực hiện thẩm quyền trong hoạt động hành chính
nhà nước.
Thủ tục hành chính được
điều chỉnh bởi quy phạm hành chính. Nó là cơ sở pháp lý cho các cơ quan nhà
nước thực hiện chức năng của mình nhằm bảo đảm cho các quy phạm vật chất của luật
hành chính được thực hiện có hiệu lực và hiệu quả. Theo ý nghĩa đó, thủ tục
hành chính tạo điều kiện bảo đảm cho pháp chế được giữ vững, mở rộng dân chủ,
công khai trong quản lý nhà nước theo một quy trình được xác định cụ thể.
Xét trong nội bộ của bộ
máy hành chính nhà nước, thủ tục hành chính trước hết là do các cơ quan nhà
nước xây dựng và công bố để thực hiện chức năng quản lý của nền hành chính nhà
nước và đòi hỏi các cơ quan hành chính nhà nước có trách nhiệm thực thi các thủ
tục đó. Trong khoa học pháp lý, thuật ngữ “thủ tục” thường được sử dụng ở khía
cạnh là trình tự thực hiện quy phạm của luật vật chất (nội dung), là phương
tiện đưa luật vật chất vào đời sống xã hội.
Nếu xét theo quan hệ điều
hành và căn cứ vào tính chất của chủ thể thực hiện thủ tục, có thể xem thủ tục
hành chính là trình tự về thời gian, không gian và là cách thức giải quyết công
việc của cơ quan hành chính nhà nước trong mối quan hệ với các cơ quan, tổ chức
và cá nhân công dân. Nó được đặt ra để các cơ quan nhà nước có thể thực hiện
mọi hoạt động cần thiết của mình, trong đó bao gồm cả trình tự thành lập các
công sở, trình tự bổ nhiệm, bãi nhiệm, điều động viên chức, trình tự lập quy,
áp dụng quy phạm để bảo đảm các quyền chủ thể và xử lý vi phạm, trình tự điều
hành, tổ chức các hoạt động tác nghiệp hành chính. Đây là một kiểu quan hệ có tính
biện chứng với nhiều tác động qua lại.
Theo một số văn bản quy
phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính như: Đề án 30 ( Đề án đơn giản
hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007-2010,
ban hành kèm theo Quyết định số 30/QĐ-TTg ngày 10 tháng 01 năm 2007);
Nghị định số 63/2010/NĐ-CP, ngày 08 tháng 6
năm 2010 về kiểm soát thủ tục hành chính, thì “Thủ tục hành chính là trình tự,
cách thức thực hiện và hồ sơ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định đề giải
quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức”
Tuy nhiên, do phạm vi
của những văn bản này chỉ áp dụng đối với thủ tục hành chính giữa các cơ quan
hành chính nhà nước với cá nhân, tổ chức có liên quan đến đời sống xã hội của
nhân dân và liên quan đến hoạt động kinh doanh, vì vậy, cách định nghĩa về thủ
tục hành chính như trên là chưa khái quát hết các vấn đề của thủ tục hành
chính.
Như vậy, có thể đưa ra
một khái niệm về thủ tục hành chính như sau: “thủ tục hành chính là toàn bộ quy
tắc, thể thức để giải quyết một công việc cụ thể giữa các cơ quan nhà nước với
nhau và với tổ chức, cá nhân, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, buộc
cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân phải tuân theo khi giải quyết công việc”
1.2. Đặc điểm
Nhìn một cách tổng thể,
thủ tục hành chính có những đặc điểm chính sau đây:
Thứ nhất, Thủ tục hành chính là
quy phạm có tính thủ tục để đưa pháp luật vào đời sống thực tế
Căn cứ vào tính chất
của những quan hệ được điều chỉnh ta có hai loại quy phạm pháp luật hành chính:
quy phạm nội dung, là quy phạm quy định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia
quan hệ quản lý hành chính nhà nước; quy phạm thủ tục, là quy phạm quy định
trình tự thủ tục mà các bên phải tuân theo trong khi thực hiện quyền và nghĩa
vụ của mình.
Là quy phạm thủ tục, thủ
tục hành chính có chức năng làm cho các quy phạm nội dung của luật pháp được
thực hiện thuận lợi. Thiếu thủ tục hành chính việc thực thi luật pháp sẽ gặp
khó khăn, thậm chí không có khả năng đi vào đời sống thực tế. Ví dụ: Nhà nước
muốn thu thuế thì cần có thủ tục để người dân thực hiện việc nộp thuế. Còn muốn
quản lý an toàn giao thông thì cần có thủ tục để hướng dẫn người dân tham gia
giao thông tuân theo, v.v.
Hoạt động quản lý chủ
yếu là hoạt động áp dụng pháp luật mà ở đó, hành vi áp dụng pháp luật liên quan
chủ yếu đến việc xác định tình trạng thực tế của vụ việc, lựa chọn quy phạm
pháp luật tương ứng và ra quyết định về vụ việc đó. Các hành vi áp dụng pháp luật
này được tiến hành theo những thủ tục hành chính nhất định. Như vậy
nếu thiếu các thủ tục cần thiết thì quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia trọng hoạt
động quản lý sẽ không được đảm bảo thực hiện. Thủ tục hành chính là một nhân tố
bảo đảm cho sự hoạt động chặt chẽ, thuận lợi và đúng chức năng quản lý của cơ
quan nhà nước, vì nó là chuẩn mực hành vi cho công dân và công chức nhà nước để
họ tuân theo và thực hiện nghĩa vụ của mình đối với nhà nước. Dựa vào các thủ
tục hành chính các công việc hành chính sẽ được xử lý và đạt được những hiệu
quả pháp luật đúng như dự định.
Thứ hai, thủ tục hành chính là
trình tự thực hiện thẩm quyền trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước.
Xét trong quá trình
giải quyết công việc của các cơ quan hành chính nhà nước thì thủ tục hành chính
là cách thức, trình tự mà các cơ quan hành chính nhà nước áp dụng để giải quyết
các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật. Trình tự này có thể từ dưới lên, từ
cấp trên xuống mà cũng có những trình tự thực hiện song hành.
Nói như vậy có nghĩa là
thủ tục hành chính được phân biệt với thủ tục lập pháp và thủ tục tố tụng pháp.
Thủ tục lập pháp là trình tự, cách thức xây dựng Hiến pháp và ban hành luật thuộc thẩm quyền
của cơ quan lập pháp; thủ tục tố tụng tư pháp thuộc thẩm quyền của cơ quan tư
pháp liên quan đến những hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, định tội.
Thứ ba, thủ tục hành chính do
cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, buộc cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá
nhân phải tuân theo khi thực thi nhiệm vụ. Đây có thể coi là đặc điểm cơ bản để
phân biệt thủ tục hành chính với các thủ tục khác của đời sống xã hội. Các thủ
tục khác như thủ tục cưới xin, ma chay… có thể được thực hiện không giống nhau,
tùy thuộc vào văn hóa của mỗi địa phương, dân tộc. Nhưng thủ tục hành chính
phải được thực hiện một cách thống nhất, bắt buộc theo quy định của cơ quan có
thẩm quyền.
Theo quy định của pháp luật
hiện hành, chủ thể có thẩm quyền quy định thủ tục hành chính được giới hạn
trong phạm vi cụ thể, gồm: Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội; Chính phủ; Thủ
tướng chính phủ.
Thứ tư, thủ tục hành chính rất
đa dạng và phức tạp. Tính đa dạng phức tạp được biểu hiện trên các phương diện sau:
Một là, sự đa dạng và phức tạp
về nội dung của thủ tục hành chính
Hoạt động quản lý hành
chính nhà nước có đối tượng, phạm vi quản lý rộng và phức tạp (quản lý mọi
ngành, lĩnh vực của đời sống xã hội). Hầu hết các hoạt động quản lý hành chính
nhà nước đều được thực hiện thông qua thủ tục hành chính. Thủ tục hành chính
quy định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia mối quan hệ hành chính, trong
đó bao gồm cả công việc của Nhà nước và công dân.
Hai là, sự đa dạng của chủ thể
thực hiện thủ tục hành chính
Nếu như thẩm quyền xây
dựng thủ tục hành chính được giới hạn cho một số chủ thể nhất định thì thẩm
quyền thực hiện thủ tục hành chính lại do nhiều cơ quan và công chức nhà nước
đảm nhiệm. Những cơ quan này có cơ cấu tổ chức từ Trung ương đến cơ sở với đội
ngũ đông đảo cán bộ, công chức tham gia hoạt động giải quyết thủ tục hành chính
với năng lực không giống nhau.
Ba là, thủ tục hành chính để
giải quyết công việc giữa các cơ quan nhà nước với nhau, với tổ chức và công
dân. Do vậy, đối tượng công việc cần thực hiện các thủ tục hành chính để giải
quyết công việc thường không giống nhau mà rất phức tạp. Có việc cần phải thực
hiện nhanh gọn, qua ít khâu, ít cấp. Nhưng cũng có nhiều trường hợp đòi hỏi
phải rất thận trọng, phải qua nhiều khâu và cần có nhiều loại giấy tờ, xác minh
tỉ mỉ để đảm bảo cho công việc được giải quyết chính xác.
Hiện nay nền hành chính
nhà nước đang chuyển từ hành chính cai quản (hành chính đơn thuần) sang hành
chính phục vụ, làm dịch vụ công; đồng thời nền kinh tế cũng đang chuyển từ cơ
chế quản lý kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà
nước, cho nên hoạt động quản lý hành chính ngày càng đa dạng về nội dung và
phong phú, uyển chuyển về hình thức, biện pháp. Ngoài ra, đối tượng quản lý của
nó là xã hội dân sự cũng muôn hình muôn vẻ, không chỉ trong phạm vi nội bộ công
dân nước ta mà còn liên quan đến các yếu tố nước ngoài. Từ đó thủ tục hành
chính phải được xây dựng như thế nào cho phù hợp.
Thứ năm, thủ tục hành chính có
sự linh hoạt theo yêu cầu triển khai pháp luật vào đời sống
So với các quy phạm nội
dung của luật hành chính, thủ tục hành chính có tính năng động hơn, đòi hỏi
phải thay đổi nhanh hơn để thích ứng và phù hợp với nhu cầu thực tế của đời
sống xã hội. Đây chính là yếu tố cần nhận thức đúng đắn giúp cho các nhà ban
hành các quy định thủ tục hành chính ban hành các quy định phù hợp với thực tế
khách quan và tiến trình phát triển kinh tế xã hội.
Thủ tục hành chính do
cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt ra để giải quyết công việc. Trên một chừng
mực đáng kể, nó lệ thuộc vào nhận thức chủ quan của chính người xây dựng nên.
Nếu nhận thức đó phù hợp với thực tế khách quan đòi hỏi thì thủ tục hành chính
sẽ mang lại tiến bộ, thiết thực phục vụ cho cuộc sống. Nhưng nếu nhận thức
không phù hợp với yêu cầu khách quan đòi hỏi thì sẽ xuất hiện những thủ tục
hành chính lạc hậu. Khi áp dụng vào quá trình điều hành của bộ máy nhà nước,
chúng sẽ gây khó khăn cho sự phát triển của đời sống xã hội.
1.3. Ý nghĩa của thủ
tục hành chính trong quản lý nhà nước
Có thể thấy ý nghĩa của
thủ tục hành chính trên những nét chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, Thủ tục hành chính bảo
đảm cho các quy phạm nội dung của pháp luật được thực hiện
Quản lý hành chính nhà
nước là hoạt động là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật
Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người do các
cơ quan trong bộ máy hành chính nhà nước từ Trung ương đến cơ sở tiến hành để
thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước nhằm duy trì và phát triển
cao các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật, thỏa mãn các nhu cầu hợp pháp
của con người. Phạm vi và đối tượng tác động của hành chính nhà nước là rất
rộng và đa dạng, vì vậy trong quá trình hoạt động, cần có hệ thống pháp luật đồng
bộ cũng như những công cụ hỗ trợ khác.
Thủ tục hành chính là
các quy phạm thủ tục của luật hành chính quy định cách thức tiến hành các hoạt
động quản lý hành chính nên chúng tạo ra cơ sở và điều kiện cần thiết để các cơ
quan quản lý nhà nước giải quyết các công việc của người dân theo luật định,
đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức và công dân.
Hệ thống thủ tục hành
chính giúp cho các cơ quan hành chính tiến hành giao tiếp với công dân, tổ chức
một cách thuận lợi, và cũng là cơ sở để công dân, tổ chức thực hiện đúng quyền
và nghĩa vụ của mình đối với các cơ quan nhà nước.
Thứ hai, thủ tục hành chính đảm
bảo cho hoạt động quản lý hành chính nhà nước được thống nhất
Hoạt động quản lý hành
chính nhà nước diễn ra trên phạm vi cả nước, đối tượng thực hiện thủ tục hành
chính rất đa dạng và phức tạp, tuy nhiên, có nhiều đối tượng cùng thực hiện một
loại thủ tục giống nhau. Vì vậy, việc xây dựng và thực hiện thủ tục hành chính
theo đúng quy định sẽ đảm bảo được tính thống nhất của hoạt động quản lý hành
chính trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân, tổ chức cũng như đảm
bảo sự bình đẳng và khách quan trong hoạt động hành chính.
Thứ ba, thủ tục hành chính đảm
bảo tính pháp lý của hoạt động quản lý hành chính nhà nước.
Với tư cách là công cụ của
công quyền, hành chính nhà nước ở nước ta có tính cưỡng bức của Nhà nước. Nhưng
hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước phải tuân thủ pháp luật. Hệ thống
pháp luật đòi hỏi không phải mọi cơ quan nhà nước, mọi tổ chức trong xã hội,
mọi công chức và công dân phải tuân thủ mà chính bản thân các cơ quan hành
chính nhà nước cũng phải nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của pháp luật.
Không có một cơ quan hành nhà nước nào có thể hoạt động ngoài quy định của pháp
luật. Đảm bảo tính pháp quyền của nền hành chính tức là bảo đảm được tính chính
quy, hiện đại của một bộ máy hành chính có kỷ luật, kỷ cương.
Pháp luật luôn phải
được chấp hành nghiêm chỉnh, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Nếu các
cơ quan, tổ chức, cá nhân có những sai phạm trong hoạt động quản lý gây thiệt
hại tới lợi ích hợp pháp của người công dân thì phải chịu trách nhiệm trước
pháp luật và phải bồi thường cho công dân.
Thứ tư, vì thủ tục hành chính
cũng là một bộ phận của pháp luật về hành chính nên việc xây dựng và thực hiện
tốt các thủ tục hành chính sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với quá trình xây dựng và
triển khai luật pháp. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi ở nước ta đang
tiếp tục công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước và xây dựng Nhà nước pháp
quyền Việt Nam, thì thủ tục hành chính lại càng có vai trò quan trọng. Đảng và
Nhà nước ta đang đề ra nhiều biện pháp nhằm cải cách thủ tục hành chính để thủ
tục không cản đường mà trái lại sẽ góp phần tích cực mở đường cho kinh tế phát
triển nhanh hơn. Từ đó, làm cho tiến trình hành chính phù hợp với tiến trình
đổi mới kinh tế. Có thể khẳng định rằng nếu không nhanh chóng cải cách thủ tục
hành chính thì dù hệ thống pháp luật của chúng ta có được bổ sung và hoàn thiện
đến đâu, vai trò của Nhà nước vẫn không thể nâng cao theo kịp yêu cầu của tình
hình mới.
Thứ năm, thủ tục hành chính biểu
hiện trình độ văn hóa, văn hóa giao tiếp, văn hóa điều hành, mức độ văn minh
của nền hành chính
Thủ tục hành chính là
sự cụ thể hóa pháp luật, giúp cho các cơ quan, công chức nhà nước và công dân
có cơ sở pháp lý để thực hiện công việc của mình đúng pháp luật. Thủ tục hành
chính liên quan đến quyền lợi của công dân. Do vậy, khi được xây dựng hợp lý và
vận dụng tốt vào đời sống nó sẽ tạo ra mối quan hệ tốt giữa nhà nước và nhân
dân.
Nhìn một cách tổng quát,
thủ tục hành chính có ý nghĩa như một chiếc cầu nối quan trọng giữa cơ quan nhà
nước với dân và các tổ chức khác. Chiếc cầu này có thể tạo ra khả năng làm bền chặt
các mối quan hệ, làm cho Nhà nước ta thực sự là Nhà nước của dân, do dân, vì
dân. Nhưng nếu xây dựng thiếu tính khoa học, áp dụng tùy tiện vào đời sống thì
chính thủ tục hành chính sẽ làm xa cách dân với Nhà nước.
1.4. Thẩm quyền ban
hành thủ tục hành chính nhà nước
Thủ tục hành chính phải
được xây dựng phù hợp với pháp chế xã hội chủ nghĩa, phù hợp với luật pháp hiện
hành của Nhà nước. Theo đó, chỉ những cơ quan nhà nước có thẩm quyền do pháp luật
quy định mới được ban hành thủ tục hành chính.
Theo quy định của Nghị
định số: 63/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 6 năm
2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính:
Thủ tục hành chính phải
được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ ban hành hoặc trình
Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành; do Thủ tướng Chính phủ, Bộ
trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương ban hành.
Tuy nhiên, theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015,
trong những hành vi bị nghiêm cấm có nghiêm cấm quy định thủ tục hành chính
trong thông tư của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, quyết định của UBND
tỉnh.
Vì vậy, hiện nay, thẩm
quyền quy định thủ tục hành chính chỉ bao gồm: Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc
hội, Chính phủ, Thủ tướng chính phủ.
1.5. Phân loại thủ tục
hành chính nhà nước
Thực tế cho thấy, số
lượng thủ tục hành chính rất đa dạng, phức tạp. Vì vậy, thủ tục hành chính cần
được phân loại một cách khoa học theo một số tiêu chí nhất định. Lợi ích của
cách phân loại này là giúp cho người quản lý xác định được tính đặc thù của
lĩnh vực mình phụ trách, từ đó đề ra những yêu cầu xây dựng cho lĩnh vực này
những thủ tục cần thiết thích hợp, nhằm quản lý tốt những nhiệm vụ, mục tiêu
của quản lý nhà nước.
Dưới đây là một số đặc
trưng thông dụng có thể giúp cho việc phân loại các thủ tục hành chính khi
nghiên cứu chúng trong thực tế.
1.5.1. Phân loại dựa
trên quan hệ công tác của cơ quan hành chính nhà nước
Dựa trên quan hệ công
tác của cơ quan hành chính nhà nước có quan hệ giữa các cơ quan hành chính nhà
nước với nhau và quan hệ công tác giữa cơ quan hành chính nhà nước với bên
ngoài (cá nhân và tổ chức). Theo tiêu chí này, thủ tục hành chính được phân
thành hai loại:
- Thủ tục hành chính
nội bộ: là các thủ tục liên quan đến quan hệ trong quá trình thực hiện các công
việc nội bộ của các cơ quan trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước và
trong bộ máy nhà nước nói chung
- Thủ tục hành chính
với bên ngoài: là thủ tục thực hiện thẩm quyền tiến hành giải quyết các công
việc liên quan đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý của công dân, tổ
chức. Thủ tục liên hệ có thể tiếp tục được chia thành các nhóm:
+ Thủ tục cho phép, cấp
phép (cấp phép kinh doanh, xây dựng…)
+ Thủ tục cấp đăng ký
(khai sinh, kết hôn,…)
+ Thủ tục ngăn chặn,
phòng ngừa: kiểm tra tạm trú, tạm vắng…
+ Thủ tục công chứng,
chứng thực
Cách phân loại này giúp
xác định rõ các chủ thể, đối tượng tham gia vào thủ tục hành chính, từ đó
quy định cách ứng xử phù hợp.
Phân loại theo cách này
có ý nghĩa trong giai đoạn hiện nay, khi các cơ quan hành chính nhà nước đang
chú trọng xây dựng mối quan hệ tốt với cá nhân, tổ chức bên ngoài.
1.5.2. Phân loại theo
lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước
Đây là cách phân loại
hiện đang được áp dụng tại Cơ sở dữ liệu Quốc gia về thủ tục hành chính,
trong đó, thủ tục hành chính được phân thành 24 nhóm:
- Thủ tục hành chính
trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn
- Thủ tục hành chính
trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo
- Thủ tục hành chính
trong lĩnh vực xây dựng
- Thủ tục hành chính
trong lĩnh vực tài nguyên môi trường
- Thủ tục hành chính
trong lĩnh vực khoa học và công nghệ
- Thủ tục hành chính trong
lĩnh vực ngoại giao
- Thủ tục hành chính
trong lĩnh vực y tế
- Thủ tục hành chính
trong lĩnh vực công thương
- Thủ tục hành chính
trong lĩnh vực thông tin và truyền thông
- Thủ tục hành chính
trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch
- Thủ tục hành chính
trong lĩnh vực lao động - thương binh và xã hội
- Thủ tục hành chính
thuộc ngành nội vụ
- Thủ tục hành chính
trong lĩnh vực giao thông vận tải
- Thủ tục hành chính
trong lĩnh vực tài chính
- Thủ tục hành chính
trong lĩnh vực thanh tra
- Thủ tục hành chính
trong lĩnh vực tư pháp
- Thủ tục hành chính
trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư
- Thủ tục hành chính
trong lĩnh vực dân tộc
- Thủ tục hành chính
trong lĩnh vực ngân hàng
- Thủ tục hành chính
thuộc ngành công an
- Thủ tục hành chính
trong lĩnh vực quốc phòng
- Thủ tục hành chính
trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội
- Thủ tục hành chính
trong lĩnh vực ngân hàng chính sách
- Thủ tục hành chính
trong lĩnh vực ngân hàng phát triển
Sự phân loại này giúp
cho người quản lý xác định được tính đặc thù của lĩnh vực mà mình phụ trách. Từ
đó đề ra yêu cầu xây dựng cho lĩnh vực này những thủ tục hành chính cần thiết,
thích hợp, nhằm quản lý tốt các nhiệm vụ đặt ra theo mục tiêu do Nhà nước quy
định.
Phân loại theo cách này
giúp các cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực một cách thống nhất trên phạm vi toàn
quốc; các cơ quan, công chức thực hiện TTHC theo đúng chuyên môn, nghiệp vụ của
ngành, lĩnh vực mình quản lý.
Đối với người dân và
doanh nghiệp, phân loại theo cách này còn giúp cá nhân, tổ chức biết được chính
xác cơ quan có thẩm quyền giải quyết TTHC, tạo thuận lợi cho người dân, doanh
nghiệp khi thực hiện thủ tục hành chính.
1.5.3. Phân loại theo
phân cấp quản lý hành chính nhà nước
Phân loại theo tiêu chí
này có thủ tục hành chính ở Trung ương và thủ tục hành chính ở địa phương:
- Thủ tục hành chính ở
Trung ương: Cơ quan có thẩm quyền giải quyết là những cơ quan cấp trung ương.
Nội dung là những vấn đề quan trọng của quốc gia hoặc có liên quan đến nhiều
địa phương
- Thủ tục hành chính ở
địa phương: Thủ tục hành chính được thực hiện ở cấp tỉnh; Thủ tục hành chính
được thực hiện ở cấp huyện; Thủ tục hành chính được thực hiện ở cấp xã
Phân loại theo cách này
nhằm xác định rõ thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính, từ đó xác định sự
thống nhất trong các thủ tục hành chính ở trung ương và sự thích ứng trong các
thủ tục hành chính ở địa phương
2. Xây dựng, thực hiện
và kiểm tra thủ tục hành chính
2.1. Xây dựng thủ tục
hành chính
2.1.1. Khái niệm
Xây dựng thủ tục hành
chính là nghiên cứu để đề ra những cách thức giải quyết công việc nhằm giải
quyết các quy định nội dung của luật pháp và đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thực
tế.
2.1.2. Nguyên tắc xây
dựng thủ tục hành chính
Việc xây dựng các thủ
tục hành chính phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản do Hiến pháp quy định. Sau đây là một số nguyên
tắc chủ yếu cần được áp dụng thống nhất.
- Nguyên tắc đơn giản,
dễ hiểu, thực hiện thuận lợi
Thủ tục hành chính phải
được xây dựng trên cơ sở quan tâm đầy đủ đến nguyện vọng và sự thuận tiện cho
nhân dân. Cần nhanh chóng loại bỏ những thủ tục rườm rà, phức tạp quá mức cần
thiết, bởi lẽ chúng làm cho người thực hiện cũng như người tham gia khó hiểu,
khó thực hiện, khó chấp hành, và cũng chính những loại thủ tục như thế là mảnh
đất màu mỡ cho bệnh quan liêu, cửa quyền phát triển. Thủ tục đơn giản sẽ cho
phép tiết kiệm sức lực, tiền của của nhân dân trong việc thực hiện nghĩa vụ
của mình, đồng thời, cũng hạn chế việc lợi dụng chức quyền vi phạm tự do của
công dân.
Theo nguyên tắc này,
các thủ tục hành chính khi ban hành cần có sự giải thích cụ thể, rõ ràng. Phải
chỉ rõ không những nội dung của thủ tục mà cả về phạm vi áp dụng nó. Cần tránh
tình trạng thủ tục hành chính sau khi ban hành không có điều kiện để thực thi
do đối tượng không hiểu được thủ tục một cách rõ ràng hoặc do các yêu cầu đặt
ra không phù hợp với thực tế. Cần đảm bảo rằng mọi thủ tục hành chính để được
công khai cho mọi người biết để tuân thủ. Việc công khai như vậy còn có ý nghĩa
là để kiểm tra được tính nghiêm túc của cơ quan nhà nước khi giải quyết các
công việc có liên quan đến tổ chức, công dân.
- Nguyên tắc có tính hệ
thống, phù hợp với mục tiêu quản lý hành chính nhà nước.
Thực hiện được nguyên
tắc này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện nguyên tắc đơn giản,
dễ hiểu, thuận lợi cho việc thực hiện. Nghĩa là, thủ tục hành chính của một
lĩnh vực không được mâu thuẫn với nhau và với các lĩnh vực liên quan và phù hợp với mục
tiêu quản lý hành chính nhà nước. Đây là một nguyên tắc rất quan trọng vì nếu
mâu thuẫn nhau thì khi thực hiện sẽ tạo ra một sự hỗn loạn trong công việc mà
không thể kiểm soát được.
- Nguyên tắc bảo đảm
quyền bình đẳng của các đối tượng thực hiện thủ tục hành chính.
Giữa chủ thể tham gia
và chủ thể thực hiện thủ tục hành chính bình đẳng với nhau trước pháp luật. Cụ
thể là:
+ Đối với chủ thể tham
gia, là cá nhân, tổ chức có yêu cầu giải quyết công việc phải đảm bảo thực hiện
đúng và đầy đủ các thủ tục do pháp luật quy định, phải đảm bảo có đủ giấy tờ
cần thiết có giá trị pháp lý mà pháp luật quy định.
+ Đối với chủ thể thực
hiện thủ tục hành chính, phải giải quyết yêu cầu, đòi hỏi của công dân, tổ chức
khi đề nghị của họ có đủ điều kiện luật định.
- Nguyên tắc phù hợp
với thực tế khách quan, tiết kiệm thời gian và chi phí của cá nhân, tổ chức và
cơ quan hành chính nhà nước
Việc xây dựng thủ tục
hành chính phải dựa trên cơ sở nhận thức đầy đủ những yêu cầu khách quan của
tiến trình phát triển xã hội. Với tinh thần đổi mới toàn diện đất nước, trong
công cuộc xây dựng một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ
chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa một
nên kinh tế mở, đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, việc xây dựng
hệ thống thủ tục hành chính sao cho tạo điều kiện tốt cho các hoạt động của nền
kinh tế đó phát triển đúng hướng, đồng thời ngăn ngừa, hạn chế và khắc phục
được các mặt tiêu cực của nó là một yêu cầu bức xúc, một nhiệm vụ quan trọng
trong công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước.
Như vậy, thủ tục hành
chính phải được xây dựng sao cho phù hợp với tình hình thực tế để tạo điều kiện
cho các hoạt động quản lý kinh tế, quản lý xã hội được thực thi hữu hiệu.
Cùng với việc xây dựng
các thủ tục mới, chúng ta cũng cần kịp thời sửa đổi, bãi bỏ những thủ tục xét
thấy lỗi thời để tạo điều kiện tốt cho các hoạt động của nền kinh tế thị trường
phát triển đúng hướng.
- Nguyên tắc tuân thủ
pháp luật, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, đồng bộ, hiệu quả của
các quy định về thủ tục hành chính.
Thủ tục hành chính phải
được xây dựng phù hợp pháp luật hiện hành của nhà nước, có tính hệ thống, nhằm
tạo được một công cụ quản lý hữu hiệu cho bộ máy nhà nước.
Theo nguyên tắc này,
chỉ có những cơ quan nhà nước có thẩm quyền do luật định mới được ban hành
thủ tục hành chính.
Việc xây dựng các thủ
tục trái với nguyên tắc này sẽ dẫn đến việc phá vỡ tính hệ thống của các thủ
tục hành chính, làm rối loạn kỷ cương xã hội, tạo điều kiện cho nạn tham nhũng
phát triển và gây ra những hậu quả khôn lường khác. Vì vậy, nguyên tắc này đòi
hỏi các cơ quan và cá nhân có thẩm quyền khi ban hành các thủ tục hành chính
phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
2.1.3. Quy trình xây
dựng thủ tục hành chính
Giai đoạn 1. Xây dựng dự thảo quy
định về thủ tục hành chính
Thủ tục hành chính phải
được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ,
Thủ tướng Chính phủ ban hành.
Giai đoạn 2. Lấy ý kiến đối với quy
định về thủ tục hành chính trong dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật
Trước khi gửi thẩm
định, cơ quan được giao chủ trì soạn thảo phải gửi lấy ý kiến cơ quan, đơn vị kiểm
soát thủ tục hành chính theo quy định: Bộ Tư pháp cho ý kiến về thủ tục hành
chính quy định trong dự án văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ trình Quốc
hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm
quyền ban hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành
Giai đoạn 3. Đánh giá tác động của
thủ tục hành chính
Cơ quan được phân công
chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính
phải tổ chức đánh giá tác động của quy định về thủ tục hành chính theo các tiêu
chí sau đây:
a) Sự cần thiết của thủ
tục hành chính;
b) Tính hợp lý của thủ
tục hành chính;
c) Tính hợp pháp của
thủ tục hành chính;
d) Các chi phí tuân thủ
thủ tục hành chính.
Giai đoạn 4. Thẩm định quy định về
thủ tục hành chính
Cơ quan thẩm định văn
bản quy phạm pháp luật có trách nhiệm thẩm định và bổ sung trong Báo cáo thẩm
định phần kết quả thẩm định về thủ tục hành chính quy định trong dự án, dự thảo
văn bản quy phạm pháp luật theo quy định về trách nhiệm thẩm định của pháp luật
về ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Trường hợp cần thiết,
cơ quan thẩm định văn bản quy phạm pháp luật mời cơ quan, đơn vị kiểm soát thủ
tục hành chính cùng cấp tham gia để thẩm định nội dung thủ tục hành chính quy
định trong dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.
Giai đoạn 5. Công bố thủ tục hành
chính
Để giải quyết công việc
cho cá nhân, tổ chức, thủ tục hành chính phải được công bố dưới hình thức quyết
định theo quy định sau đây:
- Bộ trưởng, Thủ trưởng
cơ quan ngang Bộ công bố thủ tục hành chính được quy định trong văn bản quy
phạm pháp luật về ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ, cơ
quan ngang Bộ;
- Chủ tịch Ủy ban nhân
dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương công bố thủ tục hành chính thuộc thẩm
quyền giải quyết của các cấp chính quyền trên địa bàn tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương.
- Người đứng đầu cơ
quan, đơn vị được cơ quan nhà nước cấp trên giao nhiệm vụ hoặc ủy quyền ban
hành văn bản hướng dẫn thực hiện thủ tục giải quyết công việc cho cá nhân, tổ
chức công bố thủ tục thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, đơn vị.
2.2. Thực hiện thủ tục
hành chính
2.2.1. Khái niệm
Thực hiện thủ tục hành
chính là việc triển khai trên thực tế các quy định về thủ tục hành chính đã
được các cơ quan có thẩm quyền ban hành, công bố.
2.2.2. Nguyên tắc thực
hiện thủ tục hành chính
- Nguyên tắc công khai,
minh bạch các thủ tục hành chính đang được thực hiện
Thủ tục hành chính phải
được công khai hóa để nhân dân biết và được tiến hành công khai theo luật định,
trừ trường hợp pháp luật quy định phải bí mật theo quy định chung hoặc theo đề
nghị của các bên tham gia thủ tục.
Tại địa điểm tiếp nhận
hồ sơ, giấy tờ, đơn thư và giải quyết công việc của dân phải niêm yết công khai
các quy định, thủ tục giải quyết từng loại công việc. Nếu có quy định về phí,
lệ phí thì cũng phải được niêm yết công khai.
Thủ tục hành chính phải
minh bạch, rõ ràng. Đây là một nguyên tắc quan trọng vì sự thiếu minh bạch của
hệ thống thủ tục hành chính trong việc giải quyết các nhu cầu, đề nghị của công
dân, tổ chức gây nhiều khó khăn cho công dân, tổ chức khi đến cơ quan quản lý
nhà nước để xin giải quyết một vấn đề nào đó.
Công khai, minh bạch
các thủ tục hành chính cũng là sự biểu hiện cao nhất của nền dân chủ xã hội chủ
nghĩa, đảm bảo cho hệ thống pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh.
- Nguyên tắc chính xác,
khách quan, công bằng trong thực hiện thủ tục hành chính.
Tính chính xác, khách
quan khi thực hiện thủ tục hành chính thể hiện ở việc cơ quan tiến hành thủ tục
hành chính phải có đủ tài liệu, chứng cứ khi xem xét giải quyết công việc, đảm
bảo đúng các yêu cầu của thủ tục nhằm giải quyết một cách đúng đắn nhất
các công việc của nhà nước, các kiến nghị, yêu cầu hợp pháp của cá nhân, tổ
chức. Khi giải quyết thủ tục hành chính phải bảo đảm khách quan, không vụ lợi.
Để thực hiện nguyên tắc này, các cơ quan có quyền và nghĩa vụ sau:
Thứ nhất, các cơ quan nhà nước
phải có quyền được yêu cầu cung cấp thông tin, và các cơ quan, tổ chức và cá
nhân phải có nghĩa vụ cung cấp một cách chính xác, đầy đủ các thông tin khi được yêu cầu.
Ngoài ra các cơ quan nhà nước phải có một chế độ công vụ rõ ràng và khoa học,
có sự phân công trách nhiệm rõ ràng, rành mạch
Thứ hai, các cơ quan cần có đủ
cán bộ có trình độ nghiệp vụ để thực thi công vụ, có phẩm chất đạo đức tốt,
trình độ chuyên môn và có trách nhiệm cao với công việc được giao và đảm bảo
được trang bị những phương tiện vật chất phù hợp, cần thiết phục vụ cho việc
bảo quản, xử lý, lưu trữ và tìm kiếm thông tin như hệ thống sổ sách, các thiết
bị CNTT…
- Nguyên tắc bảo đảm
tính liên thông, kịp thời, chính xác, không gây phiền hà trong thực hiện thủ
tục hành chính
Để thực hiện nguyên tắc
này thì thủ tục hành chính cần được thực hiện đơn giản, tiết kiệm. Trước hết,
các thủ tục hành chính cần giảm bớt các cấp, các cửa, các giai đoạn, tăng quyền
đồng thời với trách nhiệm của các cơ quan thực hiện thủ tục. Theo đó giảm bớt
mức tối thiểu và trong nhiều thủ tục bỏ hẳn các loại phí, lệ phí đối với công
dân và tổ chức. Theo nguyên tắc này, việc thực hiện thủ tục hành chính sẽ đáp
ứng nhanh chóng yêu cầu của nhân dân, song cũng phải tăng cường hiệu quả quản
lý Nhà nước.
- Nguyên tắc bảo đảm
quyền được phản ánh, kiến nghị của các cá nhân, tổ chức đối với các thủ
tục hành chính.
Đây là yêu cầu đối với
các cơ quan nhà nước phải quan tâm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân,
tổ chức khi đề nghị của họ có đủ điều kiện do luật định và các bên hữu quan để
đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia được thực hiện đầy đủ:
“Người yêu cầu giải
quyết công việc có quyền khiếu nại, tố cáo với thủ trưởng phụ trách trực tiếp,
với thủ trưởng cơ quan cấp trên hoặc kiện trước tòa án những việc làm sai trái,
gây phiền hà của công chức nhà nước như không đúng thủ tục, có thái độ cửa
quyền, sách nhiễu khi giải quyết công việc. Người đứng đầu tổ chức được giao
nhiệm vụ giải quyết công việc và cá nhân công chức trực tiếp giải quyết công
việc nếu vi phạm đều bị xử lý kỷ luật kịp thời, nghiêm minh” (Nghị quyết của
Chính phủ số 38-CP ngày 04-05-1994).
- Nguyên tắc thẩm quyền
và đề cao trách nhiệm của cán bộ, công chức trong giải quyết công việc cho cá
nhân, tổ chức
Nguyên tắc này thể hiện
rõ nhất trong thủ tục hành chính. Theo đó, chỉ có cơ quan nhà nước, công chức
nhà nước có thẩm quyền do pháp luật quy định mới được thực hiện các thủ tục
hành chính nhất định và phải thực hiện đúng trình tự với những phương tiện,
biện pháp và hình thức được pháp luật cho phép. Chính các cơ quan nhà nước đề
ra các thủ tục để giải quyết công việc trên nguyên tắc phù hợp với chức năng quản lý được
giao và theo thẩm quyền do pháp luật quy định, do đó cũng có nghĩa vụ thực hiện
các thủ tục được ban hành.
Những công việc đã có
đủ hồ sơ, thủ tục, thì cơ quan có thẩm quyền phải giải quyết kịp thời theo quy
định của pháp luật, không được trì hoãn dưới bất kỳ hình thức nào, kể cả trường
hợp không giải quyết được cũng phải nói rõ lý do để dân biết. Nếu hồ sơ thủ tục
chưa đầy đủ, thì phải hướng dẫn cụ thể để đương sự không phải đi lại nhiều lần.
Những công việc liên quan đến nhiều bộ phận trong cơ quan thì thủ trưởng cơ
quan phải để ra quy chế phối hợp giải quyết trong nội bộ cơ quan để công dân,
tổ chức có yêu cầu làm đầu mối tiếp xúc, nhận hồ sơ và giải quyết công việc
Nguyên tắc thẩm quyền
còn liên quan đến nguyên tắc trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền: Các
quyết định ban hành không đúng thủ tục phải bị đình chỉ, sửa đổi hoặc bãi bỏ và
cơ quan, người ban hành quyết định đó có thể bị truy cứu trách nhiệm.
2.2.3. Quy trình thực
hiện thủ tục hành chính
Giai đoạn 1. Công khai thủ tục hành
chính
Thông tin về thủ tục
hành chính đã được người có thẩm quyền công bố theo quy định phải được công
khai đầy đủ, thường xuyên, rõ ràng, đúng địa chỉ, dễ tiếp cận, dễ khai thác, sử
dụng và phải được đăng tải trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính.
Giai đoạn 2. Giải quyết thủ tục hành
chính
Giải quyết thủ tục hành
chính là tổng thể các hành động diễn ra theo trình tự thời gian; vì vậy, có
thể chia thành các giai đoạn.
Đối với thủ tục giải
quyết các vụ việc cá biệt - cụ thể, tức là việc giải quyết quyền, tự do, nghĩa
vụ pháp lý của thể nhân, pháp nhân trong quản lý hành chính nhà nước (ví dụ:
cấp phép, đăng ký, xử phạt hành chính, giải quyết khiếu nại, tố cáo) đều có
những nét chung và được quy định bởi các thủ tục thực hiện trong phạm vi hoạt
động của các cơ quan hành chính nhà nước và do các cơ quan hành chính nước thực
hiện.
Giai đoạn 3. Tiếp nhận phản ánh,
kiến nghị về thủ tục hành chính trong quá trình thực hiện
Mọi cá nhân, tổ chức có
quyền phản ánh, kiến nghị về thủ tục hành chính và việc thực hiện thủ tục hành
chính. Việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về thủ tục hành chính được
thực hiện theo quy định tại pháp luật về tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị
của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính.
Cơ quan thực hiện thủ
tục hành chính phải công khai địa chỉ cơ quan; địa chỉ thư tín; số điện thoại
chuyên dùng; địa chỉ trang thông tin điện tử, địa chỉ email; bố trí cán bộ,
công chức hoặc bộ phận thực hiện tiếp nhận phản ánh, kiến nghị trên trang thông
tin điện tử và thực tế tại phòng/ bộ phận kiểm soát thủ tục hành chính.
2.3. Kiểm tra thủ tục
hành chính
2.3.1. Khái niệm
Để đảm bảo việc xây
dựng và thực hiện thủ tục hành chính theo đúng nguyên tắc và đáp ứng nhu cầu
của người dân, doanh nghiệp, cần có sự kiểm tra thường xuyên (định kì hoặc đột
xuất) tại các bộ, ngành, địa phương. Hoạt động kiểm tra được thực hiện như sau:
1) tự kiểm tra của các cơ quan, đơn vị; 2) Tổ chức các đoàn kiểm tra để tiến
hành kiểm tra thực hiện tại các cơ quan, đơn vị.
Kiểm tra thủ tục hành
chính là việc xem xét, đánh giá, theo dõi nhằm bảo đảm tính khả thi của quy
định về thủ tục hành chính, đáp ứng yêu cầu công khai, minh bạch trong quá
trình tổ chức thực hiện thủ tục hành chính.
2.3.2. Yêu cầu kiểm tra
thủ tục hành chính
- Kiểm tra thủ tục hành
chính phải bảo đảm thực hiện có hiệu quả mục tiêu cải cách thủ tục hành chính,
cải cách hành chính; bảo đảm điều phối, huy động sự tham gia tích cực, rộng rãi
của tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân vào quá trình kiểm soát thủ tục hành
chính.
- Kịp thời phát hiện để
loại bỏ hoặc chỉnh sửa thủ tục hành chính không phù hợp, phức tạp, phiền hà; bổ
sung thủ tục hành chính cần thiết, đáp ứng nhu cầu thực tế; bảo đảm quy định
thủ tục hành chính đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện, tiết kiệm thời gian, chi
phí, công sức của đối tượng và cơ quan thực hiện thủ tục hành chính.
- Kiểm tra thủ tục hành
chính phải được thực hiện ngay khi dự thảo quy định về thủ tục hành chính và
được tiến hành thường xuyên, liên tục trong quá trình tổ chức thực hiện thủ tục
hành chính.
2.3.3. Quy trình kiểm
tra thủ tục hành chính
Giai đoạn 1. Xây dựng và thông báo
kế hoạch kiểm tra
Kế hoạch kiểm tra bao
gồm các nội dung chủ yếu sau đây:
a) Mục đích, yêu cầu và
phạm vi kiểm tra;
b) Nội dung và cách
thức kiểm tra;
c) Thành phần Đoàn kiểm
tra;
d) Thành phần tham gia
trong quá trình thực hiện việc kiểm tra;
đ) Thời gian tiến hành
kiểm tra;
e) Danh sách các tổ
chức, cá nhân được kiểm tra;
g) Trách nhiệm của tổ
chức, cá nhân được kiểm tra; trách nhiệm của cơ quan, đơn vị kiểm tra; trách
nhiệm của cơ quan, đơn vị phối hợp kiểm tra.
h) Kinh phí
thực hiện.
Giai đoạn 2. Thành lập Đoàn kiểm tra
Căn cứ vào kế hoạch đã
được phê duyệt hoặc theo yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền, cơ quan, đơn
vị kiểm soát thủ tục hành chính xây dựng quyết định thành lập Đoàn kiểm tra,
trình Cơ quan, người có thẩm quyền quyết định thành lập Đoàn kiểm tra. Quyết
định thành lập Đoàn kiểm tra bao gồm các nội dung sau:
a) Thành phần Đoàn kiểm
tra (Trưởng đoàn, Phó Trưởng đoàn, Thư ký đoàn và các thành viên);
b) Nhiệm vụ, quyền hạn
của Đoàn kiểm tra;
c) Tổ chức, cá nhân
được kiểm tra;
d) Thời gian kiểm tra;
đ) Kinh phí thực hiện
kiểm tra.
Giai đoạn 3. Chuẩn bị thực hiện kiểm
tra
Trước khi tiến hành
kiểm tra, Đoàn kiểm tra thực hiện các công việc sau:
- Liên hệ với tổ chức,
cá nhân được kiểm tra để thu thập và tổng hợp thông tin, hồ sơ, tài liệu về
tình hình hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính của tổ chức, cá nhân được kiểm
tra có liên quan đến nội dung kiểm tra.
- Thông báo cho tổ
chức, cá nhân được kiểm tra về chương trình, thời gian kiểm tra trước khi tiến
hành kiểm tra.
- Chuẩn bị kinh phí
thực hiện kiểm tra.
Giai đoạn 4. Tiến hành kiểm tra
- Đoàn kiểm tra tiến
hành kiểm tra, xác minh các thông tin, tài liệu; kết quả thực hiện nhiệm vụ
kiểm soát thủ tục hành chính để làm cơ sở kết luận các nội dung kiểm tra. Đoàn
kiểm tra có trách nhiệm ghi biên bản và ký xác nhận thông qua biên bản kiểm tra
ngay sau khi kết thúc buổi kiểm tra.
- Ngay sau khi kết thúc
đợt kiểm tra, Thư ký đoàn dự thảo kết luận kiểm tra trên cơ sở các biên bản
kiểm tra, trình Trưởng đoàn xem xét, thông qua;
- Tại buổi họp thông
báo dự thảo kết luận của Đoàn kiểm tra, tổ chức, cá nhân được kiểm tra có ý
kiến tiếp thu, giải trình cụ thể đối với các nội dung kiểm tra nêu tại dự thảo
kết luận.
Giai đoạn 5. Thông báo kết luận kiểm
tra
Sau khi kết thúc đợt
kiểm tra, cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra có trách nhiệm ký, gửi thông
báo kết luận kiểm tra tới tổ chức, cá nhân có liên quan.
Kết luận kiểm tra phải
nêu rõ kết quả đạt được; tồn tại, hạn chế; nguyên nhân; đề xuất, kiến nghị của
Đoàn kiểm tra trong việc thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính của tổ chức, cá
nhân được kiểm tra.
3. Nghĩa vụ của cơ
quan, tổ chức trong thực hiện thủ tục hành chính
3.1. Có quy định rõ
ràng về chế độ hoạt động công vụ, nhiệm vụ:
Thủ tục hành chính liên
quan đến thể chế quản lý, tổ chức bộ máy, chế độ công vụ, quy chế làm việc và
phối hợp giữa các cơ quan hành chính nhà nước.Thể chế quản lý đó bao gồm các
văn bản quy phạm pháp luật quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, về cơ
cấu tổ chức bộ máy, về quyền lợi và nghĩa vụ của đội ngũ cán bộ công chức, quy
định về chức danh, tiêu chuẩn công chức, quy định về các hình thức kỷ luật nếu
như cơ quan và cán bộ công chức làm sai.
Muốn các cơ quan hành
chính nhà nước, các cán bộ, công chức có thẩm quyền giải quyết tốt các thủ tục
hành chính thì nhà nước cần phải xây dựng được hệ thống thể chế có quy định rõ
ràng, cụ thể về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của hệ thống cơ quan hành chính
nhà nước, về chế độ hoạt động công vụ của cán bộ, công chức, về quy chế làm
việc và sự phối hợp giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhau.
3.2. Công khai hóa các
thủ tục hành chính:
Công khai hóa thủ tục
hành chính là việc cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền thông qua các hình
thức, biện pháp, cách thức nhằm công khai các thủ tục hành chính cho công dân,
tổ chức được biết.
Việc công khai các thủ
tục hành chính nhằm các mục đích sau:
Một là, chống được hiện tượng
quan liêu, tham nhũng của cơ quan hành chính nhà nước và cán bộ, công chức.
Hai là, nhờ công khai các thủ
tục hành chính giúp cho cơ quan hành chính hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn, thẩm quyền.
Ba là, công khai thủ tục hành
chính giảm bớt chi phí và thời gian đi lại của công dân, tổ chức cũng như cơ
quan hành chính nhà nước.
Bốn là, công khai thủ tục hành
chính giải quyết tốt mối quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với công dân
và tổ chức.
- Các hình thức công
khai:
+ Công khai bắt buộc
trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính.
+ Niêm yết tại trụ sở
cơ quan, đơn vị trực tiếp giải quyết thủ tục hành chính.
+ Đăng tải trên cổng
thông tin điện tử của Chính phủ hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan ban
hành văn bản có quy định về thủ tục hành chính và cơ quan thực hiện thủ tục
hành chính.
+ Thông báo trên các
phương tiện thông tin đại chúng.
Công khai thủ tục hành
chính là nhiệm vụ của các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền. Các cơ
quan hành chính nhà nước không được tùy tiện thay đổi, bổ sung một cách thiếu
căn cứ thủ tục đã công bố. Nếu có nhu cầu thay đổi thì cần tiếp tục công khai
những bổ sung đó.
Bằng việc công khai,
minh bạch các quy định thủ tục hành chính, hệ thống các cấp chính quyền từ
Trung ương xuống địa phương sẽ tạo cơ sở để người dân thực hiện đúng, đủ quy
trình và giám sát việc thực hiện đó có hiệu quả hay không. Điều này cũng có
nghĩa là tăng tính tương tác giữa người dân và hệ thống chính quyền các cấp
trong quá trình triển khai thủ tục hành chính.
3.3. Rà soát thủ tục
hành chính:
Rà soát các thủ tục
hành chính là nhiệm vụ mà các cơ quan hành chính nhà nước phải làm thường
xuyên, liên tục và nhằm các mục đích sau:
- Rà soát các thủ tục
hành chính và quy định có liên quan nhằm kịp thời phát hiện những thủ tục hành
chính (TTHC), quy định không cần thiết, không phù hợp, không đảm bảo tính hợp
pháp; các TTHC còn rườm rà, phức tạp, những TTHC còn mâu thuẫn, chồng chéo,
không phân định rõ cơ quan, đơn vị thực hiện, gây khó khăn, cản trở cho hoạt
động sản xuất, kinh doanh của tổ chức kinh tế và đời sống của người dân.
- Trên cơ sở kết quả rà
soát, kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi
bỏ những TTHC, quy định không phù hợp, không cần thiết, không đảm bảo nguyên
tắc về quy định và thực hiện TTHC; Kiến nghị đơn giản hóa TTHC nhằm cắt giảm
chi phí tuân thủ TTHC cho cá nhân, tổ chức trong việc thực hiện TTHC.
- Rà soát thủ tục hành
chính góp phần xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiệu quả và hiện đại và
nâng cao chất lượng hệ thống các quy định hành chính.
- Rà soát TTHC có hiệu
quả là hoạt động mang lại lợi ích trực tiếp cho các cá nhân, tổ chức nhưng đồng
thời không để sơ hở trong công tác quản lý nhà nước, góp phần tháo gỡ những khó
khăn, vướng mắc trong quá trình thực thi công vụ của cán bộ, công chức, giảm
phiền hà cho công dân, tổ chức.
- Thông qua việc rà
soát TTHC giúp cho cơ quan hành chính nhà nước có thể sửa đổi, bổ sung những
thủ tục hành chính mới, loại bỏ những thủ tục hành chính đã lỗi thời, lạc hậu,
cắt bỏ những hồ sơ giấy tờ không cần thiết.
3.4. Chấp hành đúng quy
trình thực hiện thủ tục hành chính
Quy trình thực hiện thủ
tục hành chính là trình tự, cách thức thực hiện thủ tục hành chính mà cơ quan
hành chính nhà nước có thẩm quyền giải quyết liên quan đến công dân và tổ chức.
Các cơ quan hành chính
nhà nước có thẩm quyền, đội ngũ cán bộ, công chức trực tiếp giải quyết thủ tục
hành chính cho công dân và tổ chức phải có nghĩa vụ và trách nhiệm thực hiện
đúng, đầy đủ quy trình trong thực hiện thủ tục hành chính. Thứ nhất là, khi
giải quyết các thủ tục hành chính các cơ quan phải căn cứ vào thẩm quyền; thứ hai là, phải
dựa vào các quy định của pháp luật; thứ ba là, phải căn cứ vào tài liệu, hồ sơ
giấy tờ; thứ tư là, phải giải quyết theo trình tự, thủ tục theo các bước tiến
hành đã quy định; thứ năm là, phải giải quyết đúng thời hạn thủ tục hành chính
quy định.
3.5. Xây dựng đội ngũ
cán bộ, công chức, viên chức có năng lực và đạo đức công vụ, đạo đức
nghề nghiệp trong thực hiện thủ tục hành chính
Các cơ quan hành chính
nhà nước có thẩm quyền có nghĩa vụ xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức,
viên chức đủ về số lượng, chất lượng đáp ứng được các yêu cầu quan trọng sau:
- Về trình độ nghiệp
vụ: Phải được được đào tạo bài bản về chuyên môn lĩnh vực công tác và bố trí
công việc phù hợp chuyên môn;
- Về kết quả thực thi
công vụ: Vận dụng đúng các quy định của pháp luật giải quyết tốt, có hiệu quả
các công việc liên quan đến công dân và tổ chức.
- Về tinh thần và thái
độ phục vụ nhân dân: Phải coi công dân, tổ chức là đối tượng mình hướng tới để
phục vụ, hướng đến sự hài lòng của công dân tổ chức là căn cứ, là lý do, là
mục tiêu mà các cơ quan hành chính, cán bộ, công chức, viên chức tiếp tục tồn
tại, vận động và phát triển.
- Về đạo đức công vụ:
Cán bộ, công chức, viên chức trong quá trình thực thi công vụ phải có đạo đức
công vụ, không có biểu hiện quan liêu, tham nhũng, hách dịch, cửa quyền, vòi
vĩnh phải tạo điều kiện tốt nhất cho công dân tổ chức thực hiện quyền và nghĩa
vụ của mình.
- Có sự phân công trách
nhiệm rõ ràng và sự hợp tác chặt chẽ trong quá trình giải quyết các thủ tục
hành chính:
+ Quy định rõ ràng
trách nhiệm của cơ quan, công chức trong việc thực hiện thủ tục hành chính;
+ Quy định phương thức
phối hợp giữa các bộ phận trong cơ quan;
+ Quy định phương thức
phối hợp giữa các cơ quan nhà nước.
4. Cải cách thủ tục
hành chính
4.1. Quan hệ giữa cải
cách thủ tục hành chính và cải cách hành chính nhà nước
Quan điểm, mục tiêu,
nhiệm vụ của cải cách hành chính ở nước ta đã được đề cập trong các văn kiện
Hội nghị Trung ương 8 khóa VII, Hội nghị Trung ương 3 và 7 khóa VIII, trong các
nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, IX và X. Hội nghị Trung ương 8
khóa VII xác định cải cách nền hành chính là nhiệm vụ trọng tâm của việc xây
dựng và hoàn thiện nhà nước đã đề ra mục tiêu: xây dựng một nền hành chính
trong sạch, có đủ năng lực, sử dụng đúng quyền lực và từng bước hiện đại hóa để
quản lý có hiệu lực, hiệu quả công việc của nhà nước, thúc đẩy xã hội phát triển lành
mạnh, đúng hướng, phục vụ đắc lực đời sống nhân dân, xây dựng nếp sống và làm
việc theo pháp luật trong xã hội.
Nghị quyết số 38/CP ngày 4 tháng 5 năm 1994 về cải cách một
bước thủ tục hành chính mà mục tiêu quan trọng là hướng đến việc giải quyết tốt
hơn các công việc của công dân, tổ chức đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp. Yêu
cầu của Nghị quyết là “nhằm tạo bước chuyển căn bản trong quan hệ và thủ tục
giải quyết công việc giữa các cơ quan nhà nước với nhau, giữa cơ quan nhà nước
với tổ chức xã hội và giữa cơ quan nhà nước với công dân”.
Trên lộ trình thực hiện
Nghị quyết số 38/CP, cơ chế một cửa đã được
thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh và sau đó là tại nhiều địa phương khác. Chương
trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 ban hành kèm
theo Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17
tháng 9 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ. Nội dung của chương trình tổng thể
cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 bao gồm:
1. Cải cách thể chế;
2. Cải cách tổ chức bộ
máy hành chính;
3. Đổi mới, nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức;
4. Cải cách tài chính
công.
Như vậy, trong giai
đoạn này, cải cách thủ tục hành chính là một bộ phận nằm trong nội dung cải
cách thể chế trong tổng thể chương trình cải cách hành chính nhà nước.
Nghị quyết số 30c/NQ-CP, ngày 08/11/2011 của Chính phủ: Ban hành Chương trình tổng
thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020. Chương trình tổng thể
cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 tập trung vào 6 nội dung cơ
bản sau:
1. Cải cách thể chế;
2. Cải cách thủ tục
hành chính;
3. Cải cách tổ chức bộ
máy hành chính nhà nước;
4. Xây dựng và nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức;
5. Cải cách tài chính
công;
6. Hiện đại hóa hành
chính.
Như vậy, trong giai
đoạn này, cải cách thủ tục hành chính không nằm trong nội dung cải cách thể chế
nữa mà được tách thành một trong sáu nội dung lớn trong chương trình cải cách
hành chính nhà nước. Vì vậy, cải cách thủ tục hành chính là một bộ phận cấu
thành nội dung cải cách hành chính nhà nước. Cải cách thủ tục hành chính thành
công, có hiệu lực và hiệu quả sẽ góp phần không nhỏ vào quá trình cải cách hành
chính nhà nước nói chung.
Trong chương trình tổng
thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 và giai đoạn 2011 - 2020, Chính phủ chọn
cải cách thủ tục hành chính là nhiệm vụ trọng tâm của cải cách hành chính bởi
các lý do sau đây:
Thứ nhất, cải cách thủ tục hành
chính là một nội dung của cải cách hành chính, nhưng là nội dung phản ánh rõ
nhất mối quan hệ giữa nhà nước và công dân, đồng thời là nội dung có nhiều bức
xúc nhất của người dân, doanh nghiệp, cũng như có nhiều yêu cầu đổi mới trong
quá trình hội nhập kinh tế.
Thứ hai, trong điều kiện nguồn
lực còn nhiều khó khăn nên chưa thể cùng một lúc thực hiện được nhiều nội dung
cải cách như: cải cách tài chính công, cải cách tiền lương, cải cách tổ chức bộ
máy… thì việc lựa chọn khâu cải cách thủ tục hành chính sẽ mang lại hiệu quả
thiết thực nhất.
Thứ ba, thông qua cải cách thủ
tục hành chính, chúng ta có thể xác định căn bản các công việc của cơ quan nhà
nước với người dân, doanh nghiệp; qua đó chúng ta có thể xây dựng bộ máy phù
hợp và từ đó có thể lựa chọn đội ngũ cán bộ, công chức hợp lý, đáp ứng được yêu
cầu công việc.
Thứ tư, cải cách thủ tục hành
chính là tiền đề để thực hiện các nội dung cải cách khác như: nâng cao chất
lượng thể chế; nâng cao trình độ, thay đổi thói quen, cách làm, nếp nghĩ của
cán bộ, công chức; phân công, phân cấp thực hiện nhiệm vụ giải quyết công việc
của người dân, doanh nghiệp của bộ máy hành chính; thực hiện chính phủ điện tử,
…
Thứ năm, cải cách thủ tục hành
chính có tác động to lớn đối với việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Thông qua việc cải cách thủ tục hành chính sẽ gỡ bỏ những rào cản về thủ tục
hành chính đối với môi trường kinh doanh và đời sống của người dân, giúp cắt
giảm chi phí và rủi ro của người dân và doanh nghiệp trong việc thực hiện thủ
tục hành chính.
Thứ sáu, việc đơn giản hóa thủ
tục hành chính sẽ góp phần nâng cao hình ảnh của Việt Nam nói chung và các bộ,
ngành, địa phương nói riêng trước cộng đồng trong nước và quốc tế, nâng cao vị
trí xếp hạng của Việt Nam cũng như của các địa phương về tính minh bạch, môi
trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh. Đây là những giá trị vô hình nhưng có
tác động to lớn đến việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cụ thể là có
ảnh hưởng tích cực đến việc đầu tư trong và ngoài nước, xuất nhập khẩu, việc
làm, an sinh xã hội…
4.2. Nội dung cải cách
thủ tục hành chính nhà nước
Thời gian qua, Chính
phủ đã có nhiều biện pháp cụ thể để đẩy nhanh tiến trình cải cách thủ tục hành
chính như: thành lập Tổ liên ngành giải quyết vướng mắc cho doanh nghiệp; quy
định việc tiếp nhận, xử lý các vướng mắc của cá nhân, tổ chức về thủ tục hành
chính; áp dụng cơ chế một cửa, một cửa liên thông, áp dụng hệ thống quản lý chất
lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000; đẩy
mạnh tin học hóa một số dịch vụ hành chính công... Hiện nay, nhìn tổng thể nền
hành chính, đã có những chuyển biến tích cực, từng bước tạo thuận lợi cho người
dân và doanh nghiệp góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.
Tuy nhiên, vẫn còn
những thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp, thiếu công khai, minh bạch và còn
là rào cản đối với sản xuất, kinh doanh, tạo kẽ hở cho nhũng nhiễu, tiêu cực.
Để cụ thể hóa nội dung
cải cách hành chính nhà nước nói chung và cải cách thủ tục hành chính nói
riêng, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 3oC/NQ-CP,
ngày 08/11/2011 của Chính
phủ: Ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011
- 2020. Đặc biệt Quyết định số 225/QĐ-TTg,
ngày 04/02/2016 của Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2016 -
2020, cụ thể như sau:
- Tổ chức thực hiện có
hiệu quả Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
năm 2015; thực hiện kiểm soát chặt chẽ việc quy định thủ tục hành chính
ngay từ khâu dự thảo; thực hiện nghiêm túc trách nhiệm người đứng đầu trong
công tác cải cách thủ tục hành chính theo đúng Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 10 tháng 6 năm 2015 của Thủ tướng
Chính phủ.
- Đẩy mạnh đơn giản hóa
thủ tục hành chính, cắt giảm chi phí tuân thủ thủ tục hành chính trên tất cả
các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội; ưu tiên các thủ tục hành chính phục vụ
hội nhập kinh tế quốc tế, thủ tục hành chính trên một số lĩnh vực trọng tâm:
Đầu tư; đất đai; xây dựng; sở hữu nhà ở; thuế; hải quan; xuất khẩu; nhập khẩu;
y tế; tiếp cận điện năng; quản lý thị trường, bảo đảm điều kiện thuận lợi cho
sự phát triển của các thành phần kinh tế trong môi trường kinh doanh thông
thoáng, bình đẳng, góp phần giải phóng nguồn lực xã hội, nâng cao năng lực cạnh
tranh quốc gia. Mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp về giải quyết thủ
tục hành chính đạt trên 80% vào năm 2020.
- Tăng cường xây dựng
và hoàn thiện các hình thức công khai, minh bạch tất cả các thủ tục hành chính;
chú trọng việc công bố thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý hoặc thẩm quyền
giải quyết của các bộ, ngành, địa phương; công khai thủ tục hành, chính trên cơ
sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính và trên trang thông tin điện tử; niêm
yết thủ tục hành chính tại trụ sở cơ quan, đơn vị nơi trực tiếp giải quyết thủ
tục hành chính.
- Triển khai thiết lập
và đưa vào vận hành Hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về
quy định hành chính và tình hình, kết quả giải quyết thủ tục hành chính tại các
cấp chính quyền.
- Xây dựng Đề án đơn
giản hóa chế độ báo cáo trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước;
nghiên cứu, nhân rộng mô hình hay, cách làm mới trong thực hiện cải cách thủ
tục hành chính trên phạm vi toàn quốc.
- Tiếp tục tổ chức thực
hiện có kết quả Đề án Tổng thể đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công
dân và các cơ sở dữ liệu liên quan đến quản lý dân cư giai đoạn 2013 - 2020.
- Tập trung cải cách
thủ tục hành chính trong nội bộ các cơ quan nhà nước, tổ chức sự nghiệp công
lập, dịch vụ công và các thủ tục hành chính liên thông giữa các cơ quan hành
chính nhà nước các cấp; triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả cơ chế một cửa,
cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.
Những việc làm trên
nhằm đạt mục tiêu: xóa bỏ về cơ bản các thủ tục hành chính mang tính quan liêu,
rườm rà, gây phiền hà cho doanh nghiệp và nhân dân; hoàn thiện các thủ tục hành
chính mới theo hướng công khai, đơn giản và thuận tiện cho đối tượng phục vụ.
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ tư pháp, Thông
tư số 07/2014/TT-BTP ngày 24/02/2014 hướng
dẫn việc đánh giá tác động của thủ tục hành chính và rà soát, đánh giá thủ tục
hành chính.
2. Chính phủ,
Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010
về kiểm soát thủ tục hành chính;
3. Chính phủ,
Nghị định số 48/2013/NĐ-CP ngày 14/5/2013 sửa
đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành
chính;
4. Chính phủ,
Nghị quyết 38/NQ-CP ngày 04/5/1994 về cải
cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc cho công dân và
tổ chức
5. Chính phủ, Nghị quyết số 3oC/NQ-CP ngày 08
tháng 11 năm 2011 ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước
giai đoạn 2011 - 2020.
6. Chính phủ,
Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 12/03/2015 về
những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh,
nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2015-2016;
7. Học viện
Hành chính Quốc gia, Giáo trình Thủ tục hành chính (dùng cho đào tạo Đại học
hành chính), Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 2009;
8. Đoàn Trọng
Truyến. Hành chính học đại cương. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997;
9. Vũ Huy Từ. Hành
chính học và cải cách hành chính. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998;
10. Thủ tướng
Chính phủ, Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn
2001-2010 ban hành kèm theo Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg
ngày 17 tháng 9 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ.
11. Thủ tướng
Chính phủ, Quyết định số 30/QĐ-TTg ngày 10
tháng 01 năm 2007 phê duyệt Đề án Đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh
vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007 - 2010.
12. Thủ tướng
Chính phủ, Quyết định số: 09/2015/QĐ-TTg,
ngày 25 tháng 03 năm 2015 Ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một
cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
13. Sổ tay
hướng dẫn nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính.
14. Website: http://csdl.thutuchanhchinh.vn/;
http://thutuchanhchinh.vn/;
CÂU
HỎI ÔN TẬP, THẢO LUẬN
1. Phân tích
khái niệm và đặc điểm của TTHC nhà nước.
2. Trình bày
các cách phân loại thủ tục hành chính nhà nước.
3. Trình bày
quy trình xây dựng TTHC nhà nước
4. Phân tích
các nguyên tắc xây dựng thủ tục hành chính nhà nước. Liên hệ thực tế.
5. Trình bày
quy trình thực hiện TTHC nhà nước
6. Phân tích
các nguyên tắc thực hiện thủ tục hành chính nhà nước. Liên hệ thực tế.
7. Trình bày
quy trình kiểm tra TTHC nhà nước
8. Phân tích
nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức trong thực hiện thủ tục hành chính
9. Phân tích
các nội dung cải cách thủ tục hành chính nhà nước.
Chuyên
đề 6: Chuyên đề báo cáo
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC
TRONG CÔNG TÁC LƯU TRỮ
Nội dung báo
cáo tùy thuộc vào vị trí việc làm của học viên. Những gợi ý sau đây chỉ nhằm hỗ
trợ cho quá trình xây dựng và trình bày báo cáo.
1. Một số vấn
đề lí luận chung về hiệu quả hoạt động của cơ quan, tổ chức
1.1. Khái niệm
- Nêu được các
khái niệm công cụ như: Công tác lưu trữ, hiệu quả hoạt động của cơ quan, tổ
chức trong công tác lưu trữ.
- Trình bày
quan điểm cá nhân đối với khái niệm lựa chọn để làm luận cứ khoa học cho quá
trình triển khai thực hiện chuyên đề.
1.2. Nêu các
tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của cơ quan, tổ chức
1.2.1. Nêu được
các tiêu chí chung để giá hiệu quả của cơ quan, tổ chức trong hoạt động lưu
trữ;
1.2.2. Xác định
các tiêu chí đặc thù để đánh giá hiệu quả của một cơ quan, tổ chức cụ thể trong
hoạt động lưu trữ trên cơ sở phân tích thực trạng của cơ quan, tổ chức đó.
1.3. Nêu các
nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của cơ quan, tổ chức trong công tác
Lưu trữ
1.3.1. Các nhân
tố chung
1.3.2. Các nhân
tố đặc thù của cơ quan, tổ chức
2. Thực tiễn
hoạt động của cơ quan, tổ chức trong công tác lưu trữ
2.1. Trình bày
những kết quả của cơ quan, tổ chức trong các hoạt động lưu trữ như:
+ Hoạt động thu
thập tài liệu lưu trữ;
+ Hoạt động
chỉnh lý, xác định giá trị tài liệu lưu trữ;
+ Hoạt động bảo
quản, thống kê, sử dụng tài liệu lưu trữ…
2.2. Đánh giá
ưu và nhược điểm của cơ quan, tổ chức trong công tác lưu trữ
2.2.1. Ưu điểm
2.2.2. Nhược điểm
2.3. Nêu các
nguyên nhân/ lí do của những vấn đề gắn với thực trạng hoạt động lưu trữ của cơ
quan, tổ chức đó
2.3.1. Nguyên
nhân khách quan (các vấn đề liên quan đến cơ chế, chính sách, pháp luật…)
2.3.2 Nguyên
nhân chủ quan (từ phía chủ thể quản lí và đối tượng thực hiện hoạt động lưu
trữ…)
3. Giải pháp
nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan, tổ chức trong công tác lưu trữ
Trên cơ sở thực
trạng, những hạn chế, bất cập và nguyên nhân đã được trình bày tại phần 2,
người viết có thể đề xuất các giải pháp theo quan điểm cá nhân ở hai góc độ
tiếp cận:
3.1. Nhóm giải
pháp chung
3.1.1. Hoàn
thiện các qui định của pháp luật lưu trữ;
3.1.2. Nâng cao
hiệu quả hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền quản lí nhà nước trong lĩnh
vực lưu trữ;
3.1.3. Nâng cao
hiệu quả hoạt động của các chủ thể trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ lưu trữ;
3.1.4. Nâng cao
hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm trong lĩnh vực lưu trữ;
3.1.5. Các giải
pháp khác.
3.2. Nhóm giải
pháp cụ thể
Trên cơ sở các
nhóm giải pháp chung, người viết đề xuất các giải pháp cụ thể phù hợp với thẩm
quyền, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức trong phạm vi các vấn đề được
đề xuất tại mục 3.2.
* Yêu cầu đối
với việc đề xuất các giải pháp: các giải pháp được nêu phải đảm bảo tính thực
tiễn, khoa học, tính hiện đại.
* Yêu cầu chung
với chuyên đề: Đảm bảo tính chính xác về thông tin, tính trung thực về nguồn và
nội dung tài liệu trích dẫn; tính khoa học và tính thực tiễn về nội dung.
Phần
2
KIẾN
THỨC, KỸ NĂNG NGHỀ NGHIỆP
Chuyên
đề 7
KỸ NĂNG SOẠN THẢO VĂN BẢN HÀNH CHÍNH
1. Khái niệm,
đặc điểm văn bản hành chính và các yêu cầu về soạn thảo văn bản hành chính
1.1. Khái niệm,
đặc điểm văn bản hành chính
Văn bản hành
chính là loại văn bản quản lí không mang tính quy phạm pháp luật được dùng để
quy định, quyết định, phản ánh, thông báo tình hình trao đổi công việc và xử lý
các vấn đề cụ thể khác của hoạt động quản lí.
Đặc điểm
- Văn bản hành
chính do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ban hành;
- Nội dung văn
bản hành chính chứa quyết định quản lí cá biệt (quy tắc xử sự riêng) hoặc thông
tin quản lí thông thường;
- Văn bản hành
chính không có tính cưỡng chế (trừ các văn bản cá biệt). Văn bản hành chính có
hiệu lực trong phạm vi thường hẹp hơn và thời gian thường ngắn hơn so với văn
bản quy phạm pháp luật và đối tượng thi hành chỉ bao gồm một hoặc một số đối
tượng cụ thể, nhất định.
Văn bản hành
chính được chia thành hai loại là văn bản hành chính cá biệt và văn bản hành
chính thông thường.
+ Văn bản hành
chính cá biệt do cơ quan hoặc cá nhân có thẩm quyền ban hành theo thẩm quyền,
trình tự, thủ tục nhất định trên cơ sở áp dụng pháp luật để giải quyết những
công việc có tính chất cụ thể, cá biệt. Nội dung văn bản hành chính cá biệt
chứa quy tắc xử sự riêng (quy tắc xử sự cá biệt, cụ thể).
+ Văn bản hành
chính thông thường được sử dụng để ghi chép, truyền đạt và phản ánh các thông
tin trong hoạt động quản lí.
1.2. Các yêu
cầu về soạn thảo văn bản
Để văn bản đạt
chất lượng cao, nâng cao giá trị sử dụng của văn bản, trong quá trình soạn thảo
cần đảm bảo thực hiện các yêu cầu về soạn thảo văn bản.
1.2.1. Yêu cầu
về hình thức
- Văn bản phải
được lựa chọn hình thức phù hợp và trình bày đúng thể thức:
+ Hình thức văn
bản được hiểu là thể loại văn bản, mang tính hoàn chỉnh và thống nhất giữa mặt
biểu hiện bên ngoài với nội dung hàm chứa của mỗi văn bản. Căn cứ vào nội dung
mà chọn hình thức cho phù hợp để đạt được mục đích ban hành văn bản (Ví dụ:
trường hợp nào sử dụng tờ trình, công văn…). Bên cạnh đó, cơ quan, tổ chức chỉ
được ban hành những hình thức văn bản phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, thẩm
quyền.
+ Thể thức văn
bản là phần biểu hiện bên ngoài của văn bản. Cùng với nội dung hàm chứa chúng
sẽ tạo nên hình thức - thể loại văn bản hoàn chỉnh. Thể thức văn bản là các
thành phần cần phải có và cách thức trình bày các thành phần đó do các cơ quan
có thẩm quyền quy định. Văn bản phải được trình bày đúng thể thức theo quy định
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đây là một yêu cầu mang tính bắt buộc đối
với văn bản quản lí nhà nước.
- Bố cục văn
bản phải phù hợp
Bố cục văn bản
là sự phân nhóm các ý và sắp xếp chúng trong văn bản theo một trật tự logic nào
đó, nhằm nêu bật được mục đích cần thể hiện trong văn bản. Việc phân nhóm, sắp
xếp các ý và các nhóm trong văn bản phải dựa trên những cơ sở hợp lí, không thể
sắp xếp một cách tùy tiện. Việc ngắt đoạn và thể hiện rõ ràng từng vấn đề trong
văn bản cũng tạo nên một thể thống nhất về nội dung, đảm bảo yêu cầu về hình
thức văn bản.
Trong một văn
bản cần triển khai những sự việc có quan hệ mật thiết với nhau. Như vậy, vừa
tránh được tình trạng trùng lặp, chồng chéo trong các quy định, sự tản mạn, vụn
vặt của pháp luật và các mệnh lệnh, vừa cho cơ quan ban hành không phải ban
hành nhiều văn bản để giải quyết một công việc nhất định. Nội dung các mệnh lệnh
và các ý tưởng phải rõ ràng, không làm cho người đọc hiểu theo nhiều cách khác
nhau.
Tùy theo từng
loại văn bản mà người soạn thảo trình bày bố cục cho phù hợp. Thông thường, các
văn bản có bố cục 3 phần: mở đầu, nội dung và kết thúc. Tuy nhiên, có một số
văn bản được soạn thảo không có phần mở đầu và phần kết thúc nhưng vẫn đảm bảo mục
đích của văn bản.
+ Phần mở đầu: Phần mở đầu của
văn bản thường nêu mục đích, lí do ban hành, trong đó nêu những cơ sở pháp lí,
cơ sở thực tiễn của việc ban hành văn bản đó.
+ Phần nội
dung: Tùy
theo thể loại và nội dung mà văn bản có thể có các phần căn cứ pháp lí để ban
hành. Văn bản có thể được bố cục thành chương, mục, điều, khoản, điểm hoặc được
chia thành các phần, mục từ lớn đến nhỏ theo một trình tự nhất định:
Nghị quyết (cá
biệt): Điều, khoản, điểm hoặc khoản, điểm;
Quyết định (cá
biệt): Điều, khoản, điểm;
Quy chế kèm
theo Quyết định có bố cục: chương, mục, điều, khoản, điểm;
Chỉ thị (cá
biệt): khoản, điểm;
Các văn bản
hành chính khác: phần, mục, khoản, điểm hoặc theo khoản, điểm.
Đối với các văn
bản có bố cục theo phần, chương, mục, điều thì các phần, chương, mục điều phải
có tiêu đề.
+ Phần kết
luận: Trong
văn bản dưới dạng điều khoản, phần kết luận thường nêu điều khoản thi hành và
hiệu lực của văn bản. Các văn bản hành chính khác phần kết luận thường trình
bày mong muốn hoặc yêu cầu thực hiện.
1.2.2. Yêu cầu
về nội dung
- Văn bản ban
hành phải đúng thẩm quyền và hợp pháp
Trong nhà nước
pháp quyền, các cơ quan nhà nước chỉ được làm những việc pháp luật cho phép
theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền. Theo đó, văn bản ban hành của các cơ quan
nhà nước, bao gồm cả văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hành chính đều phải
đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, đúng thẩm quyền.
Thẩm quyền ban
hành văn bản quản lí nhà nước được xem xét trên cả hai phương diện: thẩm quyền
ban hành về hình thức văn bản và thẩm quyền ban hành về nội dung văn bản.
Thẩm quyền ban
hành về hình thức văn bản có nghĩa là cơ quan, tổ chức chỉ được ban hành những
thể loại văn bản được luật pháp quy định. Ví dụ, ngoài Quốc hội, không cơ quan
nào được ban hành Hiến pháp, Luật.
Thẩm quyền về
nội dung có nghĩa là chủ thể quản lí chỉ được phép ban hành văn bản để giải
quyết những vấn đề, sự việc mà theo pháp luật chủ thể đó có thẩm quyền giải
quyết.
Nội dung văn
bản ban hành không được trái với Hiến pháp,
pháp luật hiện hành và các quy định của cấp trên. Mục đích chính là để đảm bảo
kỷ cương phép nước; làm cho mọi chủ trương chính sách, luật pháp của nhà nước
được thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất, đồng thời nâng cao tinh thần trách
nhiệm, ý thức tổ chức và kỷ luật của cơ quan ban hành văn bản, ngăn ngừa tình
trạng mỗi ngành, mỗi cấp, mỗi cơ quan tùy tiện đặt ra những quy định, chế độ
riêng của mình mà không dựa trên cơ sở pháp luật của nhà nước.
Tính hợp pháp
được hiểu là văn bản được ban hành phải đúng thẩm quyền; được ban hành trên cơ
sở các căn cứ xác thực. Nội dung văn bản ban hành không được mâu thuẫn, trái
với quy định của Hiến pháp, pháp luật hiện
hành và phù hợp với nội dung văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên.
- Nội dung văn
bản phải đảm bảo các yêu cầu về tính mục đích, tính khoa học và tính khả thi
Văn bản đạt
được mục đích cần xác định rõ: văn bản này có thực sự cần thiết phải ban hành
hay không? Văn bản ban hành để làm gì? Nhằm giải quyết vấn đề gì?
Giới hạn vấn đề
đến đâu? Lời giải của các câu hỏi trên sẽ là định hướng cơ bản cho người thảo,
người tham gia góp ý kiến và người duyệt, kí văn bản trong quá trình soạn thảo.
Một văn bản có
tính khoa học phải đảm bảo có đủ lượng thông tin pháp lí và thông tin thực tế
cần thiết. Các thông tin này phải được xử lý và đảm bảo chính xác, đầy đủ sự
kiện và số liệu; phải có sự nhất quán, logic về chủ đề, không có sự mâu thuẫn,
chồng chéo giữa các ý; kết cấu hợp lý, chặt chẽ; nội dung của văn bản phải là
một bộ phận cấu thành hữu cơ của hệ thống văn bản quản lí nhà nước nói chung.
Tính khả thi
trong văn bản là một yêu cầu quan trọng đối với văn bản, đảm bảo cho văn bản có
thể triển khai được và đem lại hiệu quả quản lí.
Văn bản ban
hành phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế, với quy luật phát triển của sự vật,
hiện tượng có liên quan, phải giải quyết hài hòa giữa lợi ích của nhà nước và
lợi ích của nhân dân. Ngược lại, nếu văn bản ban hành mang tính chủ quan, duy ý
chí hay vì lợi ích một phía thì tính khả thi và hiệu quả mang lại của văn bản
đó sẽ bị hạn chế, thậm chí có thể làm tổn thất đến lợi ích của Nhà nước hoặc
gây khó khăn và thiệt hại cho quần chúng nhân dân.
1.2.3. Yêu cầu
về ngôn ngữ
Ngôn ngữ trong
văn bản quản lý nhà nước là ngôn ngữ viết, nên hiệu quả truyền đạt thông tin
chủ yếu phụ thuộc vào việc lựa chọn các từ ngữ, thuật ngữ và cách hành văn của
người soạn thảo. Thực tế cho thấy, nếu lựa chọn từ ngữ và văn phong không thích
hợp cho từng loại văn bản sẽ làm hạn chế việc truyền đạt và tiếp nhận thông tin
qua văn bản, dẫn đến không đạt được mục đích của việc ban hành văn bản.
Tùy theo thể
loại, phạm vi và đối tượng tác động của văn bản mà người soạn thảo sử dụng ngôn
ngữ và cách hành văn sao cho phù hợp để đạt được mục đích của chủ thể ban hành.
Ngôn ngữ sử dụng phải chính xác, phổ thông, diễn đạt phải đơn giản, dễ hiểu,
phù hợp với trình độ dân trí, sao cho mọi đối tượng có liên quan đến việc chấp
hành và thi hành văn bản đều có thể hiểu nội dung văn bản đúng đắn và thống
nhất.
Ngắn gọn là một
yêu cầu được đặt ra đối với việc soạn thảo văn bản quản lí nhà nước nói chung.
Văn bản viết ngắn gọn sẽ giúp cho người giải quyết rút ngắn được thời gian đọc,
tạo thuận lợi cho việc nắm hiểu nội dung văn bản và giải quyết văn bản đó.
Ngoài ra, còn góp phần tiết kiệm văn phòng phẩm và công sức của cán bộ làm công
tác in ấn.
Về cơ bản, việc
sử dụng ngôn ngữ nên tuân theo những yêu cầu sau đây:
- Yêu cầu về từ
ngữ:
+ Từ ngữ sử
dụng trong văn bản thường có sự quy định chặt chẽ, phổ thông, dễ hiểu và tuân
thủ tính thứ bậc trong nền hành chính.
+ Từ ngữ phải
trung tính về màu sắc tu từ; tần số sử dụng các phương tiện khuôn mẫu (khuôn
sáo hành chính), các thuật ngữ hành chính rất cao.
+ Không sử dụng
những từ ngữ diễn đạt khái niệm chung chung, mơ hồ, đa nghĩa, mang tính hình
ảnh biểu tượng; không dùng từ thuộc phong cách khẩu ngữ, phong cách văn chương
nghệ thuật; tránh sử dụng từ cổ, thận trọng với việc dùng từ mới; không dùng từ
địa phương, tiếng lóng, từ tục tĩu vì chúng làm mất đi tính trang trọng, thể
chế, pháp quy nghiêm túc của văn bản. Cần sử dụng đúng các thuật ngữ chuyên
ngành.
- Yêu cầu về
câu:
+ Câu phải có
đủ thành phần nòng cốt của câu (chủ ngữ, vị ngữ, vế của câu ghép);
+ Câu phải phản
ánh đúng hiện thực khách quan và có các vế câu hợp logic ngữ nghĩa;
+ Nghĩa của câu
phải phù hợp với chủ đề chung và chủ đề bộ phận của văn bản. Đó là cơ sở để tạo
tính trọn vẹn về nội dung của văn bản.
+ Cần điền dấu
câu cho phù hợp với chính tả tiếng Việt và nội dung của câu. Không dùng dấu
chấm hỏi (?), dấu chấm than (!), tức không dùng hình thức của câu nghi vấn và
câu cảm thán.
1.3. Công dụng
của các loại văn bản hành chính
Theo quy định
tại Khoản 2 điều 1 Nghị định 09/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 2 năm
2010 của Chính phủ về việc bổ sung một số điều của nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 08/4/2004 của Chính phủ về
công tác văn thư, hệ thống văn bản hành chính gồm:
1) Nghị quyết
(cá biệt)
Nghị quyết cá
biệt là loại văn bản dùng để quyết định chủ trương, chính sách của cơ quan, tổ
chức hoặc thông qua các dự án, kế hoạch; phê duyệt, cụ thể hóa các phương án
hoạt động; thông qua ý kiến, kết luận tại các kỳ họp quan trọng của cơ quan, tổ
chức.
2) Quyết định
(cá biệt)
Quyết định cá
biệt là loại văn bản dùng để quy định các vấn đề về chế độ, chính sách, tổ chức
bộ máy, nhân sự và giải quyết những vấn đề khác dưới hình thức áp dụng các văn
bản quy phạm pháp luật. Việc áp dụng này chỉ được thực hiện một lần cho một cá
nhân, một sự việc hay một vấn đề cụ thể.
3) Chỉ thị
Chỉ thị cá biệt
là loại văn bản dùng để chỉ đạo thực hiện hoặc giải quyết những công việc mang
tính chất cá biệt của cơ quan, tổ chức.
4) Quy chế
Quy chế là hình
thức văn bản mà các cơ quan nhà nước có thẩm quyền dùng để đặt ra các quy định
về nghĩa vụ pháp lí cho từng đối tượng trong một lĩnh vực nhất định.
5) Quy định
Quy định là
hình thức văn bản dùng để quy định các nguyên tắc, tiêu chuẩn, chế độ, phương
pháp tiến hành đối với một lĩnh vực công tác nhất định để thực hiện trong cơ
quan hoặc trong các cơ quan cùng hệ thống.
6) Thông cáo
Thông cáo là
văn bản dùng để công bố một quyết định hoặc một sự kiện quan trọng về đối nội
hoặc đối ngoại của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
Thông cáo được
phổ biến rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng. Trong đó có những
thông cáo nhất là thông cáo phản ánh về hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà
nước còn nhằm mục đích thông tin cho cả thế giới biết. Loại văn bản này thuộc
thẩm quyền của một số cơ quan từ cấp Bộ trở lên, các cơ quan thường hay sử dụng
là Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Bộ Ngoại giao.
7) Thông báo
Thông báo là
hình thức văn bản dùng để truyền đạt, phổ biến, báo tin cho các cơ quan, cán
bộ, công chức, quần chúng nhân dân về tình hình công tác, quyết định về quản lí
hoặc các vấn đề, sự việc có liên quan để thực hiện hay để biết.
8) Hướng dẫn
Hướng dẫn là
hình thức văn bản được ban hành để giải thích, hướng dẫn cụ thể việc tổ chức
thực hiện văn bản của cơ quan cấp trên.
9) Chương trình
Chương trình là
hình thức văn bản dùng để trình bày toàn bộ dự kiến những hoạt động theo một
trình tự nhất định và trong một thời gian nhất định để đạt được mục tiêu, nhiệm
vụ đề ra.
10) Kế hoạch
Kế hoạch là
hình thức văn bản dùng để xác định phương hướng, nhiệm vụ, chỉ tiêu, biện pháp
tiến hành một lĩnh vực, một nhiệm vụ công tác của nhà nước nói chung hoặc của
từng ngành, cơ quan đơn vị, địa phương nói riêng. Kế hoạch thường được xây dựng
cho từng thời gian nhất định theo niên hạn dài hạn, trung hạn, ngắn hạn.
11) Phương án
Phương án là
hình thức văn bản dùng để trình bày dự kiến về cách thức, trình tự tiến hành
công việc trong điều kiện và hoàn cảnh nào đó.
12) Đề án
Đề án là văn
bản dùng để trình bày về một dự kiến, kế hoạch, giải pháp thực hiện một nhiệm
vụ công tác hoặc một công việc nào đó.
13) Dự án
Dự án là loại
văn bản dùng để trình bày các hoạt động được sắp xếp một cách khoa học nhằm đạt
được một kết quả cụ thể trong phạm vi, ngân sách và thời gian nhất định.
14) Báo cáo
Báo cáo là loại
văn bản dùng để phản ánh tình hình lên cấp trên hoặc với tập thể về các vấn đề,
sự việc có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của mình, sơ kết, tổng kết công
tác.
15) Biên bản
Biên bản là văn
bản ghi chép tại chỗ về một sự việc đang diễn ra hoặc đã xảy ra có chữ kí xác
nhận của những người có liên quan hoặc người làm chứng.
Khác với các
hình thức văn bản khác, biên bản không có hiệu lực thi hành mà chủ yếu dùng làm
chứng cứ chứng minh cho các sự kiện, hiện tượng đã xảy ra trong thực tế, đóng
vai trò cung cấp thông tin để làm cơ sở cho việc ra quyết định hoặc cho các
nhận định và kết luận khác của người, cơ quan có thẩm quyền.
16) Tờ trình
Tờ trình là văn
bản của cấp dưới gửi lên cấp trên hoặc cấp có thẩm quyền trình bày về một chủ
trương, chính sách, chế độ, đề án công tác, dự thảo văn bản, các tiêu chuẩn
định mức hoặc sửa đổi, bổ sung chế độ, chính sách...và đề nghị cấp trên hoặc
cấp có thẩm quyền phê duyệt.
17) Hợp đồng
Hợp đồng là
hình thức văn bản thể hiện sự thỏa thuận giữa hai bên trong việc xác lập quan
hệ pháp lí về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên.
18) Công văn
Công văn là
hình thức văn bản không có tên loại được dùng để giao tiếp chính thức với các
cơ quan và với quần chúng nhân dân vào các mục đích khác nhau như đề nghị, trả
lời, phản ánh tình hình, hướng dẫn, đôn đốc kiểm tra công việc.
19) Công điện
Công điện là
hình thức văn bản dùng để thông tin hoặc truyền đạt lệnh, quyết định của cơ
quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền trong trường hợp cần kíp:
Trường hợp sử
dụng công điện để truyền đạt quyết định mới, hoặc sửa đổi, đình chỉ thi hành
một quyết định thì sau khi gửi công điện cơ quan gửi phải làm văn bản chính
thức gửi cho cơ quan có trách nhiệm thi hành.
20) Bản ghi nhớ
Bản ghi nhớ là
loại văn bản dùng để ghi lại những nội dung đã thỏa thuận trên tinh thần hợp
tác và hữu nghị, thường được sử dụng trong lĩnh vực ngoại giao.
21) Bản cam kết
Bản cam kết là
loại văn bản dùng để làm chứng cứ cho việc cam kết thực hiện công việc một cách
tự nguyện, không phải bị ép buộc.
22) Bản thỏa
thuận
Bản thỏa thuận
là loại văn bản dùng để mô tả đầy đủ các hoạt động và các tiêu chuẩn mà hai bên
đã thống nhất thực hiện trong công việc.
23) Giấy chứng
nhận
Giấy chứng nhận
là hình thức văn bản cấp cho cá nhân, cơ quan đơn vị hoặc một tập thể xác nhận
một vấn đề, một sự việc nào đó là có thực.
24) Giấy ủy
quyền
Giấy ủy quyền
là hình thức văn bản dùng để ghi nhận sự thỏa thỏa thuận giữa người có quyền
(hoặc người đại diện theo pháp luật) và người được ủy quyền. Theo đó người được
ủy quyền thực hiện quyền hoặc nghĩa vụ thay cho người có quyền (hoặc người đại
diện theo pháp luật).
25) Giấy mời
Giấy mời là
loại văn bản dùng để mời đại diện cơ quan khác hoặc cá nhân tham dự một công
việc nào đó hoặc tới cơ quan để giải quyết một vấn đề có liên quan.
26) Giấy giới
thiệu
Giấy giới thiệu
là hình thức văn bản cấp cho cán bộ, công chức, viên chức cơ quan khi đi liên
hệ, giao dịch với cơ quan khác để thực hiện nhiệm vụ được giao hoặc giải quyết
công việc riêng.
27) Giấy nghỉ
phép
Giấy nghỉ phép
là văn bản dùng để cấp cho cá nhân trong cơ quan, tổ chức được nghỉ phép theo
quy định của pháp luật hoặc theo quy định của các cơ quan, tổ chức.
28) Giấy đi
đường
Giấy đi đường
là loại văn bản dùng để cấp cho cán bộ viên chức được cử đi công tác, dùng làm
căn cứ để thanh toán tiền tàu xe và các khoản chi phí khác trong thời gian đi
công tác. Bởi vậy khi đến cơ quan nào thì người được cấp giấy phải xin chữ kí
và đóng dấu xác nhận của cơ quan đó về ngày, giờ đến và ngày giờ đi. Loại văn
bản này không thể dùng để liên hệ công tác thay cho giấy giới thiệu.
29) Giấy biên
nhận hồ sơ
Giấy biên nhận
hồ sơ là loại văn bản dùng để xác nhận số lượng và loại hồ sơ, giấy tờ do cơ
quan hoặc cá nhân khác gửi đến.
30) Phiếu gửi
Phiếu gửi là
hình thức văn bản kèm theo văn bản đi (công văn đi). Người nhận văn bản có
nhiệm vụ kí xác nhận vào phiếu gửi và gửi trả lại cho cơ quan gửi. Đây là bằng
chứng cho việc gửi văn bản đi.
31) Phiếu
chuyển
Phiếu chuyển là
loại văn bản dùng để chuyển hồ sơ, tài liệu của cơ quan, tổ chức đơn vị, cá
nhân đến bộ phận khác để tiếp tục giải quyết.
32) Thư công
Thư công là
loại văn bản mà các cơ quan, tổ chức dùng để thực hiện các giao tiếp xã hội
như: thư chúc mừng, thư chia buồn, thư cảm ơn.
2. Quy trình
soạn thảo và ban hành văn bản hành chính
2.1. Khái niệm
Quy trình soạn
thảo văn bản là trình tự các công việc cần tiến hành trong quá trình soạn thảo
một văn bản để ban hành.
2.2. Quy trình
soạn thảo văn bản
Nội dung quy
trình soạn thảo và ban hành văn bản hành chính có những bước chung như sau:
Bước 1: Chuẩn
bị soạn thảo
Đây là bước
quan trọng để giúp cho việc soạn thảo văn bản được thuận lợi và chất lượng gồm
các nội dung sau đây:
- Phân công
soạn thảo
Căn cứ tính
chất, nội dung của văn bản cần soạn thảo, người đứng đầu cơ quan, tổ chức giao
cho đơn vị hoặc cá nhân soạn thảo hoặc chủ trì soạn thảo.
Đơn vị hoặc cá
nhân soạn thảo hoặc chủ trì soạn thảo:
+ Xác định mục
đích, tính chất, nội dung của vấn đề cần ra văn bản;
+ Xác định tên
loại và trích yếu nội dung của văn bản;
- Thu thập
thông tin, phân tích, lựa chọn các thông tin;
- Xây dựng đề
cương
Xây dựng đề
cương văn bản là phác thảo bố cục nội dung, các ý lớn nhỏ trong văn bản nhằm
giúp cho việc soạn thảo văn bản thuận lợi. Đề cương được trình bày sơ lược hoặc
chi tiết về dự định những điểm cốt yếu trong nội dung và bố cục của văn bản.
Những văn bản có nội dung quan trọng có thể tổ chức hội thảo thông qua đề
cương.
Bước 2: Xây
dựng dự thảo văn bản phù hợp với hình thức, thể thức văn bản theo quy định của
nhà nước
- Viết bản
thảo:
Trên cơ sở đề
cương đã xây dựng, cá nhân hoặc đơn vị chủ trì tiến hành soạn thảo văn bản phù
hợp với hình thức, thể thức, nội dung của văn bản đã xác định.
Sau khi soạn
thảo xong phải kiểm tra về chính tả, kỹ thuật trình bày, mục đích đạt được của
văn bản.
- Xin ý kiến
góp ý cho bản thảo:
Văn bản có tính
chất quan trọng, nội dung phức tạp thì có thể đề xuất với người đứng đầu cơ
quan, tổ chức việc tham khảo ý kiến của các cơ quan, tổ chức hoặc đơn vị, cá
nhân có liên quan; nghiên cứu tiếp thu ý kiến để hoàn chỉnh bản thảo.
- Tổng hợp ý
kiến góp ý (nếu có) và hoàn chỉnh dự thảo.
Bước 3: Duyệt
văn bản
- Lãnh đạo phụ
trách trực tiếp (trưởng hoặc phó) duyệt nội dung bản thảo.
- Chánh Văn
phòng (cơ quan có Văn phòng) hoặc trưởng/phó phòng hành chính duyệt thể thức và
thủ tục pháp lí.
- Lãnh đạo cơ
quan (thủ trưởng hoặc phó thủ trưởng phụ trách lĩnh vực) duyệt và kí ban hành.
Đối với những
văn bản thuộc thẩm quyền của tập thể mà việc thông qua phải do tập thể thảo
luận và quyết định theo đa số thì việc thông qua do tập thể quyết định.
Bước 4: Kiểm tra
thể thức, ghi số; ghi ngày, tháng, năm; đóng dấu và làm các thủ tục phát hành
- Hoàn chỉnh dự
thảo lần cuối, đánh máy (hoặc in), soát lại văn bản và trình kí chính thức.
- Sau khi có
chữ kí của người có thẩm quyền, cán bộ văn thư hoàn thiện thể thức và làm các
thủ tục ban hành:
+ Văn thư ghi
số, ngày, tháng, năm ban hành văn bản;
+ Nhân bản theo
số lượng nơi gửi, nơi nhận;
+ Đóng dấu cơ
quan;
+ Làm các thủ
tục ban hành;
+ Lưu văn bản
theo quy định hiện hành (01 bản gốc lưu tại văn thư, 01 bản chính lưu tại đơn
vị soạn thảo).
Việc đưa ra các
bước trên chỉ là tương đối, phụ thuộc vào tính chất công việc của cơ quan, tổ
chức; nội dung của văn bản quan trọng, phức tạp hay đơn giản để phân ra các
bước thích hợp, làm sao công việc được nhanh chóng, tránh quá nhiều tầng nấc
làm chậm việc nhưng nhất thiết phải đảm bảo tính chặt chẽ để việc soạn thảo và
ban hành văn bản đạt chất lượng và hiệu quả cao.
3. Thể thức văn
bản
3.1. Khái niệm,
ý nghĩa và tác dụng của thể thức văn bản
3.1.1. Khái
niệm
Thể thức văn
bản là các thành phần cần phải có và cách thức trình bày các thành phần đó đối
với một thể loại văn bản nhất định do các cơ quan có thẩm quyền quy định.
3.1.2. Ý nghĩa
và tác dụng của thể thức văn bản
Thể thức văn
bản quản lí nhà nước được quy định thống nhất sẽ có ý nghĩa và tác dụng dưới
đây:
- Đảm bảo tính
kỷ cương và sự thống nhất trong việc soạn thảo và ban hành văn bản;
- Đảm bảo tính
chân thực và hiệu lực pháp lí của văn bản;
- Thể hiện
quyền uy và tinh thần trách nhiệm của cơ quan ban hành văn bản và người kí văn
bản;
- Nâng cao hiệu
suất soạn thảo, chất lượng soạn thảo và tính thẩm mỹ của văn bản ban hành;
- Tạo thuận lợi
cho việc xử lý văn bản.
3.1.3. Văn bản
quy phạm pháp luật quy định về thể thức và cách trình bày các thành phần thể
thức văn bản hành chính
Về thể thức văn
bản quản lí nhà nước nói chung được quy định tại các văn bản:
- Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 08 tháng 4 năm 2004 của
Chính phủ về công tác văn thư
- Nghị định số 09/2010/NĐ-CP ngày 08/02/2010 của Chính phủ sửa
đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2004/NĐ-CP
ngày 08 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ về công tác văn thư.
Đối với thể thức
văn bản hành chính được quy định tại Thông tư số 01/2011/TT-BNV
ngày 19/01/2011của Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày
văn bản hành chính;
Thể thức và kỹ
thuật trình bày văn bản hành chính của các cơ quan, đơn vị trong Quân đội thực
hiện theo Thông tư số 92/2012/TT-BQP ngày 26
tháng 7 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
4. Kỹ thuật
soạn thảo một số văn bản hành chính thông dụng
4.1. Soạn thảo
quyết định (cá biệt)
Quyết định là
loại văn bản mà các cơ quan dùng để quy định, quyết định chủ trương, chính
sách, chế độ, thể lệ, biện pháp công tác, các vấn đề về tổ chức - nhân sự và
các vấn đề khác thuộc chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan, tổ chức.
4.1.1. Các loại
quyết định
Theo tiêu chí
hiệu lực pháp lí, quyết định chia làm 2 loại là quyết định quy phạm pháp luật
và quyết định cá biệt.
4.1.2. Phương
pháp soạn thảo
4.1.2.1. Về thể
thức
Quyết định cá
biệt phải trình bày theo quy định tại Thông tư số 01/2011/TT- BNV ngày 19/01/2011 của Bộ trưởng
Bộ Nội vụ hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính.
4.1.2.2. Bố cục
nội dung
Quyết định có
bố cục nội dung gồm hai phần: phần mở đầu và nội dung chính.
- Phần mở đầu (phần
căn cứ ban hành):
Phần mở đầu còn
gọi là phần căn cứ ban hành quyết định. Phần này nêu các căn cứ pháp lí và căn
cứ thực tế để khẳng định tính hợp pháp và tính khả thi của văn bản.
Căn cứ pháp lí
gồm:
+ Căn cứ pháp
lí khẳng định thẩm quyền của cơ quan ban hành quyết định (còn gọi là căn cứ
giao quyền). Cần đưa vào căn cứ này văn bản quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan hoặc phân cấp quản lí;
+ Căn cứ pháp
lí làm cơ sở cho việc quy định, quyết định các vấn đề mà nội dung quyết định đề
cập.
Căn cứ thực tế
gồm:
+ Căn cứ là các
thông tin phản ánh về thực tế (nhu cầu, yêu cầu công tác, năng lực cán bộ…)
hoặc các văn bản phản ánh về thực tế (biên bản, kế hoạch…);
+ Căn cứ là đề
nghị của cơ quan, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền tham mưu, giúp việc và phụ
trách về vấn đề văn bản đề cập.
- Phần nội dung
chính (Các điều khoản):
Thông thường
một quyết định cá biệt có từ 2 đến 5 điều tùy theo nội dung của quyết định. Nội
dung thường trình bày theo trật tự sau:
+ Tại Điều 1
trình bày chủ đề chính của văn bản (được nêu trong phần trích yếu nội dung của
quyết định). Trong đó cần nêu được quyết định về vấn đề gì? Quyết định như thế
nào?
+ Tại Điều 2 và
các Điều tiếp theo cần trình bày những nội dung nhằm cụ thể hóa Điều 1. Đó là
các nội dung về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, quyền lợi, nghĩa vụ, trách
nhiệm... của cơ quan, cá nhân nói đến ở Điều 1.
+ Điều cuối
cùng của quyết định (Điều khoản thi hành) quy định về trách nhiệm thi hành
quyết định, trong đó xác định rõ những đối tượng chịu trách nhiệm thi hành (cơ
quan, tổ chức, cá nhân). Ngoài ra, có thể quy định về hiệu lực của quyết định
và điều khoản chuyển tiếp nếu cần.
4.1.3. Mẫu
quyết định
Mẫu
quyết định (cá biệt) xem các mẫu tại Thông tư số 01/2011/TT-BNV ngày 19/01/2011 của Bộ trưởng
Bộ Nội vụ hướng dẫn về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính.
4.2. Soạn thảo
một số văn bản hành chính thông thường
4.2.1. Soạn
thảo kế hoạch
Kế hoạch là
hình thức văn bản dùng để xác định phương hướng, nhiệm vụ, chỉ tiêu, biện pháp
tiến hành một lĩnh vực, một nhiệm vụ công tác của nhà nước nói chung hoặc của
từng ngành, cơ quan, đơn vị, địa phương nói riêng.
4.2.1.1. Các
loại kế hoạch
Kế hoạch thường
được xây dựng cho từng thời gian nhất định theo niên hạn 5 năm (kế hoạch dài
hạn), 2-3 năm (kế hoạch trung hạn), 1 năm (kế hoạch ngắn hạn).
Kế hoạch ngắn
hạn được xây dựng trên cơ sở kế hoạch dài hạn hoặc trung hạn, nhằm cụ thể hóa việc
thực hiện nhiệm vụ, chỉ tiêu của kế hoạch dài hạn hoặc kế hoạch trung hạn trong
từng thời gian nhất định. Đối với kế hoạch năm (ngắn hạn) cũng có thể được cụ
thể hóa bằng kế hoạch tháng, kế hoạch quý hoặc kế hoạch 6 tháng.
Theo nguyên
tắc, kế hoạch mỗi khi đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, thì bắt buộc các cơ
quan, đơn vị hữu quan triển khai thực hiện và hoàn thành đúng thời hạn. Kế
hoạch đề ra (hoặc được giao) có được hoàn thành tốt và đúng thời hạn hay không
là căn cứ chủ yếu để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao của một cơ
quan, đơn vị.
4.2.1.2. Yêu
cầu chung về soạn thảo kế hoạch
Một bản kế hoạch
ban hành phải bảo đảm các yêu cầu sau:
- Trình bày các
thành phần thể thức theo quy định hiện hành;
- Nội dung kế
hoạch phải ngắn gọn, đủ ý, cụ thể, rõ ràng, dễ hiểu và có tính khả thi để tạo
thuận lợi cho việc nghiên cứu, thực hiện. Trong trường hợp cần thiết có thể kèm
theo các văn bản như: Bản phân công nhiệm vụ; Lịch trình làm việc; Dự trù kinh
phí v.v.
4.2.1.3. Phương
pháp soạn thảo
- Về thể thức
Kế hoạch phải
trình bày theo quy định của Thông tư số 01/2011/TT-BNV
ngày 19/01/2011 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình
bày văn bản hành chính.
- Về bố cục nội
dung
Kế hoạch được
chia làm ba phần gồm phần mở đầu, phần nội dung chính và phần kết thúc.
+ Phần mở đầu: xác định mục
đích, yêu cầu của bản kế hoạch.
Căn cứ vào yêu
cầu của thực tiễn; vào chức năng, nhiệm vụ được giao hay kế hoạch công tác đã
hoạch định (kế hoạch năm) hoặc chủ trương của Đảng, Nhà nước để xác định mục
đích của kế hoạch;
Đặt ra các yêu
cầu nhằm đảm bảo thực hiện tốt kế hoạch.
+ Phần nội dung
chính: Xác
định và sắp xếp những công việc cần làm theo trật tự logic (theo từng nhóm công
việc hoặc theo từng công việc cụ thể); Xác định thành phần/ đối tượng tham gia
và thời gian, địa điểm, điều kiện, biện pháp thực hiện công việc.
+ Phần kết thúc
(Phần tổ chức thực hiện): Phân công rõ ràng, cụ thể trách nhiệm của từng
cơ quan, đơn vị, cá nhân trong việc thực hiện kế hoạch;
Quy định về sự
phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị, cá nhân và quy định về chế độ báo cáo, phản
hồi nếu cần.
4.2.1.4. Mẫu kế
hoạch
Mẫu kế hoạch
thực hiện theo mẫu 1.4 của Thông tư số 01/2011/TT-BNV.
4.2.2. Soạn
thảo công văn
Công văn hành
chính là loại văn bản không có tên gọi cụ thể, được dùng phổ biến trong các cơ
quan vào nhiều mục đích khác nhau, như để chỉ đạo, đôn đốc, nhắc nhở thực hiện
các nhiệm vụ công tác, thông báo, phản ánh tình hình, hướng dẫn thực hiện văn
bản của cấp trên hoặc của cơ quan mình, trả lời đề nghị của các cơ quan, đơn vị
hoặc cá nhân, nêu các kiến nghị với cơ quan cấp trên…
4.2.2.1. Các
loại công văn
Ứng với từng mục
đích khác nhau, trong hoạt động thực tiễn đã hình thành nên nhiều loại công văn
khác nhau như công văn trả lời, công văn đề nghị, công văn đôn đốc, nhắc nhở,
công văn mời họp…Tuy nhiên, đó là cách gọi mang tính quy ước.
Do được sử dụng
với nhiều mục đích khác nhau nên công văn được sử dụng rất phổ biến và chiếm tỷ
lệ khá lớn trong số lượng văn bản được ban hành của các cơ quan, tổ chức.
4.2.2.2. Yêu
cầu chung về soạn thảo công văn
Một công văn
hành chính ban hành phải bảo đảm các yêu cầu sau:
- Trình bày các
thành phần thể thức theo quy định hiện hành;
- Mỗi công văn
nói chung chỉ nên đề cập đến một vấn đề với nội dung ngắn gọn, đủ ý, rõ ràng,
dễ hiểu để tạo thuận lợi cho việc nghiên cứu, giải quyết;
- Ngôn ngữ sử
dụng phải đúng mực, thể hiện được phép lịch sự trong giao tiếp, không dùng lời
lẽ mang tính chất riêng tư, nhất là trong xưng hô.
4.2.2.3. Phương
pháp soạn thảo
- Thể thức: Công
văn phải trình bày theo quy định tại Thông tư số 01/2011/TT-BNV
ngày 19/01/2011 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình
bày văn bản hành chính.
- Bố cục nội
dung:
Công văn có bố
cục gồm ba phần: phần mở đầu, phần nội dung chính và phần kết thúc.
Do công văn
được sử dụng với nhiều mục đích và được dùng để gửi cho nhiều đối tượng khác
nhau nên phương pháp soạn thảo công văn cũng phải vận dụng một cách linh hoạt tùy
theo mục đích ban hành và đối tượng nhận văn bản.
* Phần mở
đầu: Cần trình bày mục đích, lí do hoặc cơ sở để ban hành công văn. Khi vận
dụng vào thực tiễn soạn thảo, tùy theo mục đích ban hành, phần mở đầu của mỗi
công văn lại được trình bày khác nhau.
+ Công văn trao
đổi: Trình bày mục đích, lí do trao đổi (trình bày thực trạng hoặc thuận lợi,
khó khăn trong thực hiện công việc để làm cơ sở trao đổi).
+ Công văn trả
lời: Trình bày mục đích, lí do trả lời (nhắc lại sự việc hoặc văn bản đã nhận
được và những căn cứ, cơ sở trả lời).
+ Công văn đôn
đốc, nhắc nhở: Trình bày mục đích, lí do đôn đốc, nhắc nhở (nêu tóm tắt nhiệm
vụ đã giao hoặc chỉ đạo cấp dưới; những ưu điểm và khuyết điểm trong việc thực
hiện nhiệm vụ, đặc biệt nhấn mạnh những khuyết điểm cần khắc phục).
+ Công văn mời
họp, mời dự hội nghị: Trình bày mục đích, lí do tổ chức hội nghị, lí do mời.
* Phần nội
dung chính: Phần nội dung chính của công văn là phần quan trọng nhất để thể
hiện mục đích ban hành văn bản. Tùy theo mục đích ban hành mà nội dung công văn
có sự khác nhau về nội dung, ngôn ngữ diễn đạt.
Khi soạn thảo phần
này cần căn cứ vào mục đích, tính chất của từng loại công văn; căn cứ vào đối
tượng nhận văn bản và những yêu cầu, mức độ cụ thể để trình bày.
+ Nếu là công
văn trao đổi, đề nghị thì nội dung phải hợp lí, xác đáng, có tính khả thi. Lời
lẽ thể hiện phải khiêm tốn và cầu thị, không được mang tính áp đặt, lập luận
phải chặt chẽ, logic. Cụ thể, nội dung công văn cần làm rõ được vấn đề trao
đổi, đề nghị, thành phần, đối tượng liên quan (cơ quan, tổ chức, cá nhân), thời
gian, địa điểm, biện pháp tổ chức thực hiện và những lưu ý (nếu có) về vấn đề
đó.
+ Công văn trả
lời thì nội dung phải rõ ràng, mạch lạc, sử dụng các luận cứ để nội dung trả
lời có sức thuyết phục; trường hợp từ chối phải lịch sự, nhã nhặn. Trường hợp
chưa đủ thông tin chính xác để trả lời, cần giải thích rõ lý do và hẹn thời
gian trả lời.
+ Công văn đôn
đốc, nhắc nhở phải nêu rõ các nhiệm vụ giao cho cấp dưới, các biện pháp thực
hiện, thời gian thực hiện và trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức.
+ Công văn mời
họp phải nêu được tóm tắt nội dung chính (nếu cần); thành phần tham dự; thời
gian, địa điểm, yêu cầu, đề nghị về tài liệu, phương tiện, kinh phí… (nếu có).
+ Công văn hướng
dẫn thì nội dung phải cụ thể, dễ hiểu và mạch lạc để đối tượng dễ thực hiện.
Khi trình bày
nội dung công văn, nếu nội dung có nhiều ý thì phân thành các tiểu mục để trình
bày. Những nội dung đơn giản thì mỗi ý trình bày bằng một đoạn văn.
* Phần kết thúc:
Cần trình bày ngắn gọn để xác định trách nhiệm thực hiện hoặc yêu cầu, đề nghị
chế độ thông tin báo cáo, yêu cầu quán triệt và thực hiện, đề nghị giúp đỡ hay
lời cảm ơn xã giao.
4.2.2.4. Mẫu
công văn
Mẫu chung công
văn thực hiện theo mẫu 1.5 của Thông tư số 01/2011/TT-BNV.
4.2.3. Soạn
thảo tờ trình
Tờ trình là văn
bản hành chính thông thường có tên loại dùng để trình bày với cấp trên hoặc cơ
quan có thẩm quyền về một chủ trương, chính sách, chế độ, đề án công tác, dự
thảo văn bản, xử lý văn bản, các tiêu chuẩn, định mức kỹ thuật… và đề nghị phê
duyệt.
4.2.3.1. Yêu
cầu chung về soạn thảo tờ trình
- Nội dung của
các đề nghị phải có mục đích rõ ràng, cụ thể và hợp lí:
Cần xác định
đúng mục đích và giới hạn của tờ trình: tờ trình soạn thảo và ban hành nhằm
trình bày sự việc, vấn đề gì? Giới hạn và mức độ đến đâu? Trọng tâm cần trình
bày là vấn đề nào?
Không nên trình
nhiều vấn đề khác nhau hoặc vấn đề quá lớn (phạm vi rộng) hay vấn đề không nhất
thiết phải làm tờ trình.
- Nội dung
trình bày phải thuyết phục:
+ Có đầy đủ các
luận chứng, luận cứ để người đọc thấy được sự cấp thiết của vấn đề trình bày,
đề nghị giải quyết.
+ Có sự phân
tích, so sánh để chỉ rõ những ưu điểm, lợi ích, hiệu quả nếu tờ trình được phê
duyệt.
- Ngôn ngữ tờ
trình phải khách quan, nghiêm túc, lập luận chặt chẽ, logic; lời lẽ đúng mực
theo phong cách ngôn ngữ hành chính công vụ.
4.2.3.2. Phương
pháp soạn thảo
- Thể thức: Tờ trình
phải trình bày theo quy định tại Thông tư số 01/2011/TT-BNV
ngày 19/01/2011 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình
bày văn bản hành chính.
- Bố cục nội
dung
Nội dung tờ
trình gồm ba phần, được viết theo dạng văn xuôi hành chính nghị luận.
* Phần mở đầu: Trình bày mục
đích, lí do đưa ra vấn đề trình duyệt (Trong đó cần trình bày ngắn gọn thực
trạng, nhận định tình hình làm cơ sở cho việc đề xuất nhằm giúp người duyệt
thấy được tính cấp thiết của vấn đề trình duyệt).
* Phần nội dung
chính:
+ Trình bày nội
dung vấn đề trình (Trình bày về vấn đề gì, cơ sở pháp lý để thực hiện, vấn đề
đó liên quan đến cơ quan, tổ chức nào, do ai thực hiện, thực hiện ở đâu, thực
hiện khi nào, tổ chức thực hiện như thế nào). Đối với những nội dung đơn giản
có thể trình bày trực tiếp trong tờ trình, đối với những nội dung phức tạp chỉ
cần trình bày một cách tóm tắt nội dung chính còn những nội dung cụ thể và chi tiết
có thể được trình bày tại các văn bản kèm theo (Đề án, kế hoạch, sơ đồ, biểu
mẫu, dự toán …).
+ Phân tích ý
nghĩa, lợi ích, hiệu quả của vấn đề trình duyệt.
+ Có thể dự
kiến những khó khăn, những phản ứng có thể phát sinh từ việc thực hiện đề xuất
và dự kiến biện pháp khắc phục, tiến độ thực hiện.
* Phần kết
thúc:
+ Bày tỏ mong
muốn tờ trình được phê duyệt.
+ Có thể đề
nghị sự hồi đáp, cho ý kiến chỉ đạo, lời cảm ơn xã giao.
4.2.3.3. Mẫu tờ
trình
Mẫu tờ trình
thực hiện theo mẫu 1.4 của Thông tư số 01/2011/TT-BNV.
4.2.4. Soạn
thảo thông báo
Thông báo là
văn bản hành chính thông thường có tên loại dùng để thông tin về các hoạt động
của cơ quan, tổ chức như: Thông báo về văn bản mới; Thông báo về nhiệm vụ được giao;
Thông báo về sự kiện, sự việc, hoạt động đang thực hiện hoặc dự kiến xảy ra;
Thông báo về kết luận của cấp có thẩm quyền…
4.2.4.1. Phương
pháp soạn thảo
- Thể thức: Thông
báo phải trình bày theo quy định tại Thông tư số 01/2011/TT-BNV
ngày 19/01/2011 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình
bày văn bản hành chính.
- Bố cục nội
dung
Nội dung thông
báo thường gồm ba phần, được viết theo dạng văn xuôi hành chính nghị luận. Ngôn
ngữ của thông báo không yêu cầu lập luận hay bộc lộ tình cảm như ở một số văn
bản hành chính khác.
* Phần mở đầu: Không cần trình
bày lí do mà có thể giới thiệu trực tiếp vấn đề cần thông báo.
* Phần nội
dung:
+ Đối với thông
báo về văn bản mới, truyền đạt chủ trương, chính sách, quyết định, chỉ thị...
cần nhắc lại tên văn bản cần truyền đạt, tóm tắt nội dung cơ bản của văn bản đó
và yêu cầu quán triệt, triển khai thực hiện.
+ Đối với thông
báo về nhiệm vụ được giao cần nêu rõ ràng, ngắn gọn, đầy đủ nhiệm vụ, những yêu
cầu, quán triệt khi thực hiện nhiệm vụ và các biện pháp cần áp dụng để triển
khai thực hiện.
+ Đối với thông
báo về sự kiện, sự việc, hoạt động đang thực hiện hoặc dự kiến xảy ra cần nêu
rõ nội dung, thành phần, thời gian, địa điểm, biện pháp tổ chức thực hiện, kết
quả sự kiện, sự việc, hoạt động và những lưu ý nếu có.
+ Đối với thông
báo về kết luận của cấp có thẩm quyền phải nêu thời gian, địa điểm họp; thành phần
tham dự, người chủ trì; tóm tắt nội dung họp và các quyết định, nghị quyết, kết
luận của cuộc họp.
* Phần kết
thúc: Nhấn
mạnh nội dung chính, trọng tâm cần lưu ý người đọc hoặc một nội dung có tính
chất xã giao nếu cần.
4.2.4.2. Mẫu
thông báo
Mẫu thông báo
thực hiện theo mẫu 1.4 của Thông tư số 01/2011/TT-BNV.
4.2.5. Ghi biên
bản
Biên bản là văn
bản hành chính dùng để ghi chép lại những sự việc đã hoặc đang xảy ra do những
người chứng kiến thực hiện.
4.2.5.1. Các
loại biên bản
Biên bản có
nhiều thể loại khác nhau như biên bản hội nghị, cuộc họp; biên bản sự việc;
biên bản xử lý; biên bản bàn giao; biên bản nghiệm thu…
4.2.5.2. Yêu
cầu chung về ghi biên bản
- Ghi chép và
mô tả chính xác, trung thực, đầy đủ các số liệu, diễn biến các sự kiện, vụ việc
đã hoặc đang xảy ra. Không suy diễn, bình luận và thêm bớt theo ý chủ quan.
- Không ghi
chép, diễn giải lan man mà đi vào trọng tâm, tập trung vào chủ đề.
- Về thủ tục
phải chặt chẽ:
Nếu có tang
vật, chứng cứ phải ghi vào và gửi kèm theo biên bản.
Biên bản làm
xong phải được những người có mặt nhất trí thông qua, nếu có sai sót thì phải
bổ sung, sửa chữa lại và phải xác nhận vào biên bản. Việc thông qua và nhất trí
với biên bản phải được ghi vào trong văn bản.
Biên bản phải
có ít nhất hai chữ kí và phải lập thành từ hai bản trở lên.
4.2.5.3. Phương
pháp ghi biên bản
Phương pháp ghi
chi tiết, cụ thể: áp dụng đối với biên bản ghi những cuộc họp quan trọng,
khám xét, khám nghiệm, hỏi cung, bàn giao công tác, bàn giao tài sản… Có những
trường hợp phải ghi nguyên văn lời phát biểu của những người tham dự cuộc họp,
lời khai của những đối tượng bị thẩm vấn, lời kết luận của những người phụ
trách kiểm tra, thanh tra hoặc khám nghiệm.
Phương pháp ghi
tóm tắt, khái quát: áp dụng cho những biên bản ghi những cuộc họp
đã có chương trình, báo cáo thành văn.
Phương pháp ghi
tổng hợp: là
phương pháp ghi biên bản kết hợp từ cả hai phương pháp trên.
Bố cục nội dung
chung của biên bản gồm:
- Phần mở đầu:
+ Thời gian và
địa điểm lập biên bản;
+ Thành phần
tham dự.
- Phần nội dung
chính:
+ Ghi diễn biến
sự kiện (nội dung chính) từ khi bắt đầu đến khi kết thúc.
- Phần kết
thúc:
+ Ghi tóm tắt
kết luận hoặc lời phát biểu bế mạc của chủ tọa nếu là biên bản hội nghị, nhận
xét kết luận nếu là biên bản kiểm tra, thanh tra.
+ Ghi thời gian
kết thúc biên bản.
+ Thông qua và
kí xác nhận vào biên bản.
Bố cục nội dung
một số loại biên bản thường gặp:
* Biên bản về
một vụ việc xảy ra
- Ghi thời gian
và địa điểm lập biên bản
- Thành phần
tham gia lập biên bản: gồm những ai, đại diện cho cơ quan, tổ chức nào, họ tên,
địa chỉ của nhân chứng.
- Những cứ liệu
liên quan đến vụ việc: đặc điểm nơi xảy ra vụ việc, diễn biến vụ việc xảy ra,
lời khai của các nhân chứng.
- Kết luận bước
đầu của những người tham gia lập biên bản: nguyên nhân xảy ra vụ việc, lỗi
thuộc về ai, ai là người chịu trách nhiệm chính.
- Đọc lại biên
bản cho đương sự và những người có mặt cùng nghe để thông qua.
- Kí xác nhận.
* Biên bản bàn
giao công việc
- Viện dẫn tên
văn bản của thủ trưởng hay cấp trên với mục đích làm căn cứ cho việc bàn giao
công việc.
- Thời gian,
địa điểm tiến hành bàn giao; thành phần tham gia bàn giao.
- Nội dung bàn giao
chính.
- Những công việc khác
liên quan.
- Đọc lại biên bản cho
các bên bàn giao cùng nghe để thông qua.
- Ghi số lượng biên bản
được lập để gửi cho các cấp có liên quan. Các bên kí nhận và trình lên cấp trên
xác nhận việc bàn giao.
* Biên bản hội nghị
(cuộc họp)
- Phần mở đầu
+ Lí do, mục đích tiến
hành hội nghị, nội dung chính của hội nghị;
+ Thời gian, địa điểm,
thành phần tham dự (Chủ tọa hoặc đoàn chủ tịch, thư kí của hội nghị, số người
tham dự, họ tên, chức danh đại biểu tham dự hội nghị, đại diện cơ quan đoàn thể
nào. Nếu có danh sách thì ghi có danh sách kèm theo).
- Phần ghi diễn biến
hội nghị
+ Phần khai mạc: ghi rõ
hội nghị do ai khai mạc;
+ Phần báo cáo: Ghi
tên, chức vụ người trình bày báo cáo; nếu có báo cáo thành văn thì chỉ cần ghi:
xem báo cáo kèm theo, nếu không có báo cáo thành văn thì ghi tóm tắt nội dung
báo cáo.
+ Phần thảo luận: Ghi
những vấn đề mà chủ tịch (người chủ trì) hội nghị nêu ra thảo luận; các đề tài
tham luận, các ý kiến phát biểu.
+ Phần quyết nghị: Đây
là phần quan trọng cần ghi thật đầy đủ và chính xác tất cả các ý kiến của tất
cả các đại biểu xoay quanh vấn đề đưa ra quyết nghị, hình thức biểu quyết, ghi
số phiếu tán thành, không tán thành, phiếu trắng.
- Phần kết thúc:
+ Ý kiến phát biểu của
đại biểu cấp trên, của khách tới dự, tóm tắt ý kiến phê bình, đóng góp của đại
biểu về tổ chức hội nghị.
+ Nhận xét kết quả hội
nghị.
+ Thông qua biên bản
trước hội nghị. Trong những trường hợp cần thiết, theo đề nghị của các đại
biểu, của người dự hội nghị (hoặc có những vấn đề phức tạp) thư kí phải đọc lại
từng phần hoặc toàn bộ biên bản để hội nghị thông qua.
Chủ tọa, thư kí kí vào
biên bản.
4.2.5.4. Mẫu biên bản
Mẫu biên bản thực hiện
theo mẫu 1.12 Thông tư số 01/2011/TT-BNV.
4.2.6. Soạn thảo báo
cáo
Báo cáo là một hình
thức văn bản dùng để phản ánh, tường trình với cấp trên hay tập thể về kết quả
công tác của cơ quan, tổ chức trong một thời gian xác định và về các vấn đề, sự
việc có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức. Báo cáo được
chia thành nhiều loại: báo cáo tổng kết, báo cáo sơ kết, báo cáo chuyên đề, báo
cáo định kỳ, báo cáo đột xuất…
4.2.6.1. Yêu cầu chung
về soạn thảo báo cáo
- Một là, đảm bảo tính
khách quan, trung thực:
Các số liệu, sự việc,
sự kiện phải được phản ánh một cách chính xác, đúng với thực tiễn khách quan,
không được xuyên tạc sự thật hoặc hư cấu sự việc; khi đánh giá và nhận xét phải
đầy đủ, toàn diện, không được áp đặt những suy nghĩ chủ quan. Thông tin đưa vào
báo cáo phải có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng và được xử lý khoa học, chính xác.
Khi cần có thể dùng các biểu mẫu, bảng biểu, sơ đồ kèm theo để chứng minh.
- Hai là, nội dung phải
có trọng tâm, trọng điểm:
Tùy theo mục đích, yêu
cầu của từng loại báo cáo để xác định nội dung vấn đề, sự việc trọng tâm, trọng
điểm cần đưa vào báo cáo. Cần đưa vào nội dung báo cáo những thông tin về các
mặt hoạt động chính, các vấn đề, sự việc chủ yếu đã hoặc đang thực hiện; tránh
đưa các nội dung dài dòng, dàn trải, vụn vặt, không liên quan đến chủ đề; các
nhận xét phải có trọng tâm và xác đáng.
- Ba là, ngắn
gọn, logic:
Nội dung phản ánh
phải đầy đủ thông tin, phân tích phải ngắn gọn. Nội dung giữa các ý, các phần, mục,
tiểu mục phải có sự logic với nhau để thể hiện được chủ đề chính. Các nội dung
phải liên kết chặt chẽ, không được trùng lặp, mâu thuẫn.
4.2.6.2. Phương
pháp soạn thảo
- Về thể thức
Báo cáo phải
trình bày theo quy định tại Thông tư số 01/2011/TT-BNV
ngày
19/01/2011
của Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành
chính.
- Về bố cục nội
dung
Tùy theo mục
đích, tính chất và nội dung báo cáo để lựa chọn kết cấu bố cục nội dung báo cáo
phù hợp:
* Đối với các
loại báo cáo sơ kết, báo cáo định kỳ trong thời gian ngắn (tháng, quý) thì nội dung
thường bố cục gồm các phần chủ yếu sau:
- Phần nội dung
kết quả thực hiện các nhiệm vụ, công tác, các lĩnh vực hoạt động:
+ Trình bày
những kết quả, những nhiệm vụ, lĩnh vực hoạt động, những mặt hoạt động đã hoặc
đang thực hiện; đánh giá những ưu điểm, hạn chế trong quá trình thực hiện. Mỗi
nội dung phản ánh được chia thành từng mục, khoản, điểm.
+ Khi viết về
mỗi nội dung cần có sự tổng hợp, phân tích, so sánh với chỉ tiêu kế hoạch được
giao, so sánh với cùng kỳ thời gian trước để đánh giá tiến độ và kết quả thực
hiện.
+ Khi đưa ra
các số liệu phải có sự tổng hợp, xử lý chính xác.
- Phần phương
hướng, nhiệm vụ: Cần trình bày những nhiệm vụ trọng tâm, chủ yếu cần tiếp
tục thực hiện trong thời gian tới để tiếp tục phát huy ưu điểm, khắc phục hạn
chế nhằm hoàn thành nhiệm vụ, chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Trong đó có thể nêu ra
các phương hướng, nhiệm vụ chung và phương hướng, nhiệm vụ, chỉ tiêu cụ thể.
* Đối với các
báo cáo tổng kết thì bố cục phải có các phần:
- Phần đặc điểm
tình hình: Trình
bày khái quát những nhiệm vụ được giao, nhiệm vụ đang thực hiện (hoặc đánh giá
khái quát những đặc điểm chung, đặc điểm riêng về các vấn đề, sự việc phản
ánh); Trình bày những thuận lợi và khó khăn cơ bản đối với việc thực hiện nhiệm
vụ.
- Phần nội dung
kết quả thực hiện các nhiệm vụ, công tác, các lĩnh vực hoạt động:
Trình bày nội
dung kết quả thực hiện các nhiệm vụ công tác, các lĩnh vực hoạt động.
Phương pháp
trình bày phần này như phần kết quả thực hiện các nhiệm vụ, công tác, các lĩnh
vực hoạt động của báo cáo sơ kết, báo cáo định kỳ nêu trên nhưng các thông tin
phải mang tính khái quát, tổng hợp toàn bộ vấn đề, sự việc. Đồng thời trình bày
đánh giá chung về ưu - nhược điểm trong thực hiện các nhiệm vụ, từ đó chỉ ra
nguyên nhân và bài học kinh nghiệm.
- Phần phương
hướng nhiệm vụ: Dựa trên những chỉ tiêu, kế hoạch được giao và những chủ
trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, đồng thời dựa trên những kết quả thực
hiện và những đánh giá chung trình bày ở phần trước để đưa ra các phương hướng,
nhiệm vụ trong thời gian tới.
Phần này cần
đưa ra các phương hướng, nhiệm vụ chung và phương hướng, nhiệm vụ, chỉ tiêu cụ
thể theo từng mặt hoạt động, nhiệm vụ công tác. Ngoài ra phải đưa ra các biện
pháp thực hiện.
- Phần kết
luận: Đánh
giá khái quát nội dung báo cáo; đề xuất kiến nghị với cấp trên hoặc cơ quan có
thẩm quyền; có thể đưa ra những nhận định về triển vọng tình hình thực hiện các
nhiệm vụ trong thời gian tới.
4.2.6.3. Mẫu
báo cáo
Mẫu báo cáo
thực hiện theo mẫu 1.4 của Thông tư số 01/2011/TT-BNV.
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
1. Triệu Văn
Cường, Nguyễn Cảnh Đương (Chủ biên), Lê Văn In, Nguyễn Mạnh Cường (2014). Văn
bản QLNN - Những vấn đề về lý luận và kỹ thuật soạn thảo. NXBCTQG, Hà Nội.
2. Học viện
Hành chính (2009). Giáo trình Kỹ thuật xây dựng và ban hành văn bản, NXB Khoa
học và Kỹ thuật, Hà Nội.
3. Hiến pháp Việt Nam năm 2013.
4. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.
5. Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 08/4/2004 của Chính phủ về
công tác văn thư.
6. Nghị định số 09/2010/NĐ-CP ngày 08/02/2010 của Chính phủ
sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2004/NĐ-CP
ngày 08/4/2004 của Chính phủ về công tác văn thư.
7. Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy
định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật
ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
8. Pháp lệnh số 01/2012/UBTVQH13 ngày 22/3/2012 Hợp
nhất văn bản quy phạm pháp luật.
9. PGS. Vương Đình
Quyền (2011). Lí luận và phương pháp công tác văn thư (tái bản lần thứ hai, có
bổ sung và sửa chữa), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
10. Thông tư số 01/2011/TT-BNV ngày 19/01/2011 của Bộ trưởng
Bộ Nội vụ hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính.
11. Thông tư số 13/2014/TT-BNV ngày 31/10/2014 của Bộ trưởng
Bộ Nội vụ quy định mã số và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên
ngành Lưu trữ.
CÂU
HỎI ÔN TẬP, THẢO LUẬN
1. Tại sao Lưu
trữ viên trung cấp cần nắm được kĩ năng soạn thảo văn bản hành chính?
2. Phân tích
các yêu cầu soạn thảo văn bản.
3. Trình bày
công dụng của các loại văn bản hành chính.
4. Trình bày
khái niệm quy trình soạn thảo văn bản và phân tích nội dung quy trình soạn thảo
văn bản hành chính.
5. Phân tích
khái niệm thể thức văn bản quản lí nhà nước.
6. Nghiên cứu
các quy định hiện hành và trình bày các thành phần thể thức văn bản hành chính
theo đúng quy định.
7. Soạn thảo
một số văn bản hành chính (quyết định; kế hoạch, công văn, tờ trình, thông báo,
biên bản, báo cáo) theo dữ liệu giảng viên cung cấp phù hợp với lưu trữ viên
trung cấp./.
Chuyên
đề 8
NGHIỆP VỤ LẬP HỒ SƠ VÀ NỘP LƯU HỒ SƠ, TÀI LIỆU VÀO LƯU TRỮ
CƠ QUAN
1. Những vấn đề
chung về hồ sơ và lập hồ sơ
1.1. Khái niệm
1.1.1. Hồ sơ
Luật Lưu trữ năm 2011, thuật ngữ hồ sơ được
giải thích như sau: “Hồ sơ là một tập tài liệu có liên quan với nhau về một
vấn đề, một sự việc, một đối tượng cụ thể hoặc có đặc điểm chung, hình thành
trong quá trình theo dõi, giải quyết công việc thuộc phạm vi chức năng, nhiệm
vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân”
1.1.2.Tài liệu:
Theo Luật Lưu trữ 2011 “Tài liệu là vật mang tin
được hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Tài liệu bao
gồm văn bản, dự án, bản vẽ thiết kế, bản đồ, công trình nghiên cứu, sổ sách,
biểu thống kê; âm bản, dương bản phim, ảnh, vi phim; băng, đĩa ghi âm, ghi
hình; tài liệu điện tử; bản thảo tác phẩm văn học, nghệ thuật; sổ công tác,
nhật ký, hồi ký, bút tích, tài liệu viết tay; tranh vẽ hoặc in; ấn phẩm và các
vật mang tin khác.
1.1.3. Lập hồ
sơ
Luật Lưu trữ năm 2011 giải thích thuật ngữ
lập hồ sơ như sau: “Lập hồ sơ là việc tập hợp, sắp xếp tài liệu hình thành
trong quá trình theo dõi, giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, cá nhân
thành hồ sơ theo những nguyên tắc và phương pháp nhất định”
Như vậy, hồ sơ
không tự nhiên hình thành. Lập hồ sơ là một quá trình, bao gồm các công việc
tập hợp, sắp xếp tài liệu hình thành trong quá trình theo dõi, giải quyết công
việc thành hồ sơ theo những nguyên tắc và phương pháp nhất định. Mỗi hồ sơ có
thể là một hoặc nhiều tập, mỗi tập là một đơn vị bảo quản.
1.1.4. Danh mục
hồ sơ
Danh mục hồ sơ
là bảng kê hệ thống các hồ sơ dự kiến hình thành trong quá trình hoạt động của
cơ quan, tổ chức trong một năm kèm theo ký hiệu, đơn vị (hoặc người) lập và
thời hạn bảo quản của mỗi hồ sơ.
1.1.5. Mục lục
văn bản, tài liệu trong hồ sơ
Là bảng kê
những văn bản, tài liệu có trong hồ sơ. Mục lục văn bản, tài liệu được lập khi
kết thúc hồ sơ. Mục lục văn bản, tài liệu dùng cố định trật tự các văn bản, tài
liệu có trong hồ sơ, giúp cho việc quản lý và tra tìm văn bản
1.1.6. Mục lục
hồ sơ nộp lưu
Theo PGS.TS
Dương Văn Khảm trong Từ điển giải thích Nghiệp vụ văn thư lưu trữ Việt Nam,
mục lục hồ sơ nộp lưu là “bảng thống kê những hồ sơ có giá trị lịch sử của một
cơ quan, tổ chức là nguồn nộp lưu được lập ra sau khi xác định giá trị, phân
loại tài liệu”
1.2. Tầm quan
trọng của việc lập hồ sơ
- Đối với từng
cán bộ, công chức trong quá trình giải quyết công việc cần lập đầy đủ các hồ sơ
để có căn cứ khoa học khi đề xuất ý kiến và giải quyết công việc, nâng cao hiệu
suất và chất lượng công tác.
Hồ sơ chính là căn
cứ pháp lý giúp cho việc giải quyết công việc thuận lợi, đúng chế độ
chính sách, qui định của nhà nước. Trong cơ quan, đơn vị sau khi giải quyết
xong công việc văn bản tài liệu được lập thành hồ sơ, được phân loại, sắp xếp
theo một trật tự khoa học, vấn đề nào để riêng theo vấn đề đó giúp cho việc tra
tìm tài liệu được nhanh chóng, đầy đủ, nghiên cứu vấn đề được hoàn chỉnh, làm
căn cứ chính xác để giải quyết công việc kịp thời, hiệu quả, rút ngắn thời
gian, tiết kiệm kinh phí và công sức…
- Đối với cơ
quan, đơn vị nếu làm tốt việc lập hồ sơ sẽ quản lý được công việc của cơ quan,
đơn vị, quản lý chặt chẽ tài liệu, giữ gìn bí mật.
Mọi vấn đề mật
đều được văn bản hóa. Sau khi giải quyết công việc, văn bản được lập thành hồ
sơ và có chế độ quản lý chặt chẽ, đúng qui định sẽ góp phần bảo mật thông tin
trong văn bản tài liệu. Vì thế, bí mật của Đảng, Nhà nước của cơ quan, đơn vị
không bị tiết lộ.
- Lập hồ sơ tốt
tạo điều kiện thuận lợi cho công tác lưu trữ, phục vụ tốt cho công tác nghiên
cứu trước mắt và lâu dài.
Lập hồ sơ tốt bước
đầu xác định giá trị, phân loại tài liệu trên cơ sở đó lựa chọn những hồ sơ có
giá trị để nộp vào lưu trữ cơ quan. Nếu hồ sơ được lập tốt ở giai đoạn văn thư
tránh được tình trạng nộp lưu tài liệu bó, gói vào lưu trữ, tạo thuận lợi cho
cán bộ lưu trữ tiến hành các nội dung nghiệp vụ lưu trữ nhằm phục vụ tốt cho
công tác khai thác, nghiên cứu.
1.3. Yêu cầu
1.3.1. Hồ sơ
được lập phải phản ánh đúng chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị; đúng công
việc mà cá nhân chủ trì giải quyết
Văn bản, tài
liệu hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan, đơn vị gồm nhiều loại:
loại do cơ quan, đơn vị sản sinh ra, loại do cấp trên gửi xuống, cấp dưới gửi
lên, ngang cấp gửi đến. Mục đích mỗi loại cũng khác nhau: loại để thi hành,
giải quyết; có loại để chỉ đạo, hướng dẫn; có loại để báo cáo hoặc để biết, để
tham khảo. Vì vậy, cần phải lựa chọn những loại tài liệu phản ánh đúng chức
năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị để lập hồ sơ nhằm phục vụ cho công tác trước
mắt và công tác nghiên cứu lâu dài về sau.
Những loại
không phản ánh chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, loại gửi đến để biết
thì không cần lập hồ sơ.
Yêu cầu này
nhằm nâng cao chất lượng lập hồ sơ, tránh tình trạng trùng lặp thông tin văn
bản ở hồ sơ của các đơn vị có chức năng, nhiệm vụ khác nhau.
1.3.2. Văn bản,
tài liệu trong mỗi hồ sơ phải đầy đủ, hoàn chỉnh, có giá trị pháp lý
Khi lập hồ sơ
cần phải thu thập đầy đủ văn bản, tài liệu về một vấn đề, một sự việc, một con
người cụ thể. Điều đó giúp cho việc tra cứu vấn đề trọn vẹn, có hệ thống, đề
xuất ý kiến giải quyết công việc có căn cứ xác đáng.
Muốn cho hồ sơ
lập ra có giá trị nghiên cứu và có thể dùng làm bằng chứng pháp lý thì đòi hỏi
các văn bản trong hồ sơ phải đúng thể thức văn bản do cơ quan có thẩm quyền qui
định. Một văn bản không có con dấu, không có chữ ký sẽ không có giá trị pháp
lý. Vì vậy, khi lựa chọn văn bản, tài liệu đưa vào hồ sơ cần phải chọn bản gốc,
bản chính hoặc bản sao hợp pháp. Thực hiện yêu cầu này sẽ nâng cao chất lượng
của hồ sơ được lập, là cơ sở pháp lý cho việc khai thác và sử dụng hồ sơ; là
nguồn sử liệu đáng tin cậy cho việc nghiên cứu trước mắt cũng như lâu dài.
1.3.3. Văn bản,
tài liệu trong mỗi hồ sơ có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và phản ánh đúng
trình tự diễn biến của vấn đề, sự việc hoặc trình tự giải quyết công việc
Mỗi văn bản,
tài liệu hình thành trong hoạt động của cơ quan, tổ chức đều có mối liên hệ mật
thiết với nhau. Mối liên hệ này mang tính khách quan, không phụ thuộc ý muốn
chủ quan của con người, phản ánh vấn đề, sự việc như tự thân nó tồn tại trong
cuộc sống, không có sự sắp xếp, tráo đổi, giúp người sử dụng và nghiên cứu vấn
đề một cách trọn vẹn, có hệ thống.
Ví dụ:
- Lập hồ sơ về
một hội nghị bao gồm: Văn bản chỉ đạo, kế hoạch tổ chức hội nghị, giấy mời hoặc
công văn triệu tập, danh sách đại biểu, chương trình hội nghị, diễn văn khai
mạc, ý kiến phát biểu chỉ đạo của cấp trên, tài liệu hội nghị (Báo cáo chính,
báo cáo tham luận hoặc các văn bản cần phổ biến), kết luận /diễn văn bế mạc hội
nghị, nghị quyết hội nghị, biên bản hội nghị, thông báo kết quả hội nghị, tài
liệu ghi âm, ghi hình về hội nghị…
Yêu cầu này chỉ
áp dụng với hồ sơ có liên quan với nhau về một vấn đề, một sự việc, không áp
dụng cho các hồ sơ liên quan với nhau bởi các đặc điểm chung.
2. Trách nhiệm
của cán bộ, công chức, viên chức đối với việc lập hồ sơ
2.1. Trách
nhiệm của Thủ trưởng cơ quan
Người đứng đầu
cơ quan, tổ chức có trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn việc lập hồ sơ và
nộp lưu hồ sơ, tài liệu vào Lưu trữ cơ quan.
2.2. Trách
nhiệm của Chánh Văn phòng hoặc Trưởng phòng Hành chính
- Tổ chức thực
hiện việc lập hồ sơ và nộp lưu hồ sơ; tài liệu vào lưu trữ tại cơ quan, tổ chức
minh. Cụ thể:
+ Chỉ đạo việc
xây dựng và trình người đứng đầu ban hành Danh mục hồ sơ của cơ quan, tổ chức;
+ Chỉ đạo việc
hướng dẫn, kiểm tra việc lập hồ sơ và nộp lưu hồ sơ, tài liệu vào Lưu trữ cơ
quan.
- Tham mưu cho
người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong việc chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn việc
lập hồ sơ và nộp lưu hồ sơ, tài liệu vào lưu trữ đối với các cơ quan, tổ chức
cấp dưới.
2.3. Trách
nhiệm của Lãnh đạo đơn vị
Người đứng đầu
đơn vị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc lập hồ sơ,
bảo quản và nộp lưu hồ sơ, tài liệu của đơn vị vào Lưu trữ cơ quan. Cụ thể:
- Phân công
trách nhiệm cho các cá nhân trong đơn vị lập hồ sơ về những việc mà đơn vị được
giao chủ trì giải quyết.
- Tổ chức tiếp
nhận hồ sơ của cá nhân sau khi công việc giải quyết xong và quản lý hồ sơ của
đơn vị khi chưa đến hạn nộp lưu vào Lưu trữ cơ quan.
- Tổ chức lựa
chọn và nộp lưu hồ sơ, tài liệu có giá trị vào Lưu trữ cơ quan theo đúng thời
hạn quy định.
2.4. Trách
nhiệm của công chức, viên chức
- Trong quá
trình theo dõi, giải quyết công việc, mỗi cá nhân phải lập hồ sơ về công việc
đó và nộp lưu hồ sơ, tài liệu vào Lưu trữ cơ quan theo hướng dẫn tại Thông tư
này.
Ngoài việc lập
hồ sơ công việc, cần lập hồ sơ nguyên tắc làm căn cứ giải quyết công việc hằng
ngày.
- Trường hợp
đơn vị, cá nhân có nhu cầu giữ lại hồ sơ, tài liệu đã đến hạn nộp lưu để phục
vụ công việc thì phải được người đứng đầu cơ quan, tổ chức đồng ý và phải lập
Danh mục hồ sơ, tài liệu giữ lại gửi cho Lưu trữ cơ quan. Thời hạn giữ lại hồ
sơ, tài liệu của đơn vị, cá nhân không quá hai năm, kể từ ngày đến hạn nộp lưu.
- Trường hợp
nghỉ hưu, thôi việc hay chuyển công tác khác thì phải bàn giao hồ sơ, tài liệu
cho đơn vị hay người kế nhiệm. Hồ sơ, tài liệu bàn giao phải được thống kê và
lập biên bản giao nhận.
2.5. Trách
nhiệm của văn thư cơ quan
- Xây dựng Danh
mục hồ sơ của cơ quan, tổ chức.
- Đầu năm, Văn
thư sao gửi Danh mục hồ sơ cho các đơn vị, cán bộ, công chức, viên chức làm căn
cứ lập hồ sơ. Trên cơ sở Danh mục hồ sơ, Văn thư chuẩn bị bìa hồ sơ giao cho
đơn vị hoặc cá nhân có trách nhiệm lập hồ sơ.
- Phối hợp với
Lưu trữ cơ quan hướng dẫn nghiệp vụ, đôn đốc, kiểm tra việc lập hồ sơ trong cơ
quan.
3. Lập Danh mục
hồ sơ
3.1. Tầm quan
trọng của danh mục hồ sơ
- Quản lý các
hoạt động của cơ quan, tổ chức và cá nhân thông qua hệ thống hồ sơ.
- Giúp cho cơ
quan, tổ chức chủ động trong việc tổ chức lập hồ sơ và quản lý hồ sơ, tài liệu
trong giai đoạn văn thư được chặt chẽ và khoa học.
- Là căn cứ để
kiểm tra, đôn đốc việc lập hồ sơ tại các đơn vị, cá nhân; góp phần nâng cao ý
thức và trách nhiệm của mỗi cá nhân trong cơ quan, tổ chức đối với việc lập hồ
sơ và chuẩn bị nộp lưu hồ sơ, tài liệu vào Lưu trữ cơ quan.
- Là căn cứ để
lựa chọn tài liệu có giá trị để lưu trữ và phục vụ sử dụng.
3.2. Căn cứ lập
Danh mục hồ sơ
Các căn cứ chủ
yếu để lập Danh mục hồ sơ bao gồm:
- Các văn bản
quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của cơ quan, tổ chức
và các đơn vị trong cơ quan tổ chức;
- Quy chế làm
việc của cơ quan, tổ chức; Quy chế công tác văn thư, lưu trữ của cơ quan, tổ
chức;
- Kế hoạch,
nhiệm vụ công tác hàng năm của cơ quan, tổ chức, của các đơn vị và của mỗi cá
nhân;
- Danh mục hồ
sơ của những năm trước;
- Bảng thời hạn
bảo quản tài liệu và Mục lục hồ sơ của cơ quan, tổ chức (nếu có).
3.3. Nội dung
lập Danh mục hồ sơ
3.3.1. Xây dựng
khung đề mục của Danh mục hồ sơ
- Khung đề mục
của Danh mục hồ sơ được xây dựng theo cơ cấu tổ chức hoặc theo lĩnh vực hoạt
động của cơ quan, tổ chức. Căn cứ tình hình thực tế của mỗi cơ quan, tổ chức để
chọn khung đề mục Danh mục hồ sơ cho phù hợp, bảo đảm việc lập hồ sơ được đầy
đủ, chính xác và thuận tiện. Những cơ quan, tổ chức có cơ cấu tổ chức ổn định,
chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị được phân định rõ ràng thì áp dụng khung đề mục
Danh mục hồ sơ theo cơ cấu tổ chức. Những cơ quan, tổ chức có cơ cấu tổ chức
phức tạp, không ổn định, không rõ ràng thì xây dựng khung đề mục Danh mục hồ sơ
theo lĩnh vực hoạt động.
- Nếu theo cơ
cấu tổ chức thì lấy tên các đơn vị trong cơ quan, tổ chức; theo lĩnh vực hoạt
động thì lấy tên các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của cơ quan, tổ chức làm đề mục
lớn (các phần) của Danh mục hồ sơ.
Ví dụ: Danh mục
hồ sơ của Bộ Nội vụ bao gồm:
I. Văn phòng Bộ
II. Vụ Tổ chức
cán bộ
III.Vụ hợp tác
quốc tế
IV.Vụ pháp
chế….
- Trong từng đề
mục lớn bao gồm các đề mục nhỏ là các vấn đề thuộc chức năng nhiệm vụ của đơn
vị - đối với khung đề mục theo cơ cấu tổ chức; hoặc là các vấn đề trong phạm vi
một lĩnh vực hoạt động - đối với khung đề mục theo lĩnh vực hoạt động.
- Trong mỗi đề mục
nhỏ, các hồ sơ được sắp xếp theo trình tự từ chung đến riêng, từ tổng hợp đến
cụ thể, có kết hợp với vị trí và tầm quan trọng của hồ sơ.
Mẫu Danh mục hồ sơ
|
TÊN CƠ QUAN,
TỔ CHỨC CẤP TRÊN
TÊN
CƠ QUAN, TỔ CHỨC
-------
|
CỘNG HÒA XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
DANH
MỤC HỒ SƠ CỦA... (Tên cơ quan, tổ chức)
Năm...
(Ban
hành kèm theo Quyết định số…ngày…tháng…năm…của…)
|
Số và ký hiệu HS
|
Tên đề mục và tiêu đề hồ sơ
|
Thời
hạn bảo
quản
|
Đơn
vị/ người
lập hồ sơ
|
Ghi
chú
|
|
(2)
|
(3)
|
(4)
|
(5)
|
(6)
|
|
|
I.TÊN
ĐỀ MỤC LƠN
|
|
|
|
|
|
1.
Tên đề mục nhỏ
|
|
|
|
|
|
-
Tiêu đề hồ sơ
|
|
|
|
Bản danh mục hồ sơ này
có.... hồ sơ, bao gồm:
-...... hồ sơ bảo quản
vĩnh viễn;
-....... hồ sơ bảo quản có thời hạn.
|
|
QUYỀN HẠN,
CHỨC VỤ CỦA NGƯỜI KÝ
(Chữ
ký, dấu)
Họ và
tên
|
Hướng dẫn cách
ghi:
Cột 1: Ghi số
và ký hiệu của hồ sơ (theo hướng dẫn tại Điểm d Khoản 3 Điều 13 của Thông tư
này)
Cột 2: Ghi số
thứ tự và tên đề mục lớn, đề mục nhỏ; tiêu đề hồ sơ (theo hướng dẫn tại Điểm d Khoản
3 Điều 13 của Thông tư này).
Cột 3: Ghi thời
hạn bảo quản của hồ sơ: vĩnh viễn hoặc thời hạn bằng số năm cụ thể;
Cột 4: Ghi tên
đơn vị hoặc cá nhân chịu trách nhiệm lập hồ sơ;
Cột 5: Ghi
những thông tin đặc biệt về thời hạn bảo quản, về người lập hồ sơ, hồ sơ chuyển
từ năm trước sang, hồ sơ loại mật v.v....
(1) Ghi tổng số
hồ sơ có trong Danh mục.
(2) Ghi số
lượng hồ sơ bảo quản vĩnh viễn, số lượng hồ sơ bảo quản có thời hạn trong Danh mục.
3.3.2. Xác định
những hồ sơ cần lập, dự kiến tiêu đề hồ sơ và đơn vị hoặc người lập
- Xác định
những hồ sơ cần lập trong năm, đơn vị hoặc cá nhân chịu trách nhiệm lập hồ sơ
dựa trên các căn cứ lập Danh mục hồ sơ, đặc biệt là chương trình kế hoạch và
nhiệm vụ công tác năm của cơ quan, tổ chức và của các đơn vị, nhiệm vụ và công
việc cụ thể của từng cá nhân trong đơn vị.
- Tiêu đề hồ sơ
cần ngắn gọn, rõ ràng nhưng phải khái quát được nội dung của các văn bản, tài
liệu sẽ hình thành trong quá trình theo dõi, giải quyết công việc.
Sau đây là một
số mẫu tiêu đề hồ sơ tiêu biểu
Tên loại văn
bản - nội dung - thời gian - tác giả: áp dụng đối với các hồ
sơ là chương trình, kế hoạch, báo cáo công tác thường kỳ của cơ quan, tổ chức.
Ví dụ: Chương
trình kế hoạch, báo cáo công tác năm 2017 của Bộ Tài chính
Tên loại văn
bản - tác giả - nội dung - thời gian: áp dụng đối với các hồ sơ là chương
trình, kế hoạch, báo cáo chuyên đề.
Ví dụ: Chương
trình, kế hoạch, báo cáo của Bộ Nội vụ về thực hiện cải cách hành chính công
năm 2017.
Tập lưu (quyết
định, chỉ thị, công văn v.v...) - thời gian - tác giả: áp dụng đối với các
hồ sơ là tập lưu văn bản đi của cơ quan.
Ví dụ: Tập lưu
Thông tư quý I năm 2017 của Bộ Thông tin và Truyền thông.
Hồ sơ hội nghị
(hội thảo) - nội dung - tác giả (cơ quan tổ chức hoặc cơ quan chủ trì) - địa điểm
- thời gian:
áp dụng đối với hồ sơ hội nghị, hội thảo.
Ví dụ: Hồ sơ
Hội nghị tổng kết công tác năm 2016 của Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt
Nam.
Hồ sơ - vấn đề
- địa điểm - thời gian: áp dụng đối với loại hồ sơ việc.
Ví dụ: Hồ sơ về
Liên hoan Truyền hình toàn quốc do Đài THVN tổ chức tại TP. Hạ Long từ 10-16/01/2005.
Hồ sơ - tên
người:
áp dụng đối với hồ sơ nhân sự
Ví dụ: Hồ sơ
của sinh viên Nguyễn Bảo Trang
3.3.3. Dự kiến
thời hạn bảo quản của hồ sơ
Thời hạn bảo
quản của hồ sơ được ghi theo Bảng thời hạn bảo quản tài liệu hình thành phổ
biến trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức; Bảng thời hạn bảo quản tài liệu
chuyên ngành và Bảng thời hạn bảo quản tài liệu của cơ quan, tổ chức (nếu có).
Ví dụ: Thời hạn
bảo quản hồ sơ của ngành tài chính thực hiện theo quy định tại Thông tư số 155/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính
“Quy định về thời hạn bảo quản hồ sơ, tài liệu hình thành phổ biến trong hoạt
động của ngành tài chính”
3.3.4. Đánh số,
ký hiệu các đề mục và hồ sơ
- Các đề mục
lớn được đánh số liên tục bằng chữ số La Mã.
- Các đề mục
nhỏ (nếu có) trong từng đề mục lớn được đánh số riêng bảng chữ số Ả-rập.
- Số, ký hiệu
của hồ sơ bao gồm số thứ tự được đánh bằng chữ số Ả rập và ký hiệu (bằng các
chữ viết tắt) của đề mục lớn. Chữ viết tắt của các đề mục lớn trong Danh mục hồ
sơ do cơ quan, tổ chức quy định nhưng cần ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ.
Việc đánh số hồ
sơ có thể áp dụng một trong hai cách sau:
+ Số của hồ sơ
được đánh liên tục trong toàn Danh mục, bắt đầu từ số 01.
+ Số của hồ sơ
được đánh liên tục trong phạm vi từng đề mục lớn, bắt đầu từ số 01.
4. Lập hồ sơ
4.1. Mở hồ sơ
Mở hồ sơ là
việc lấy một tờ bìa hồ sơ và ghi những thông tin ban đầu về hồ sơ, như: ký hiệu
hồ sơ, tiêu đề hồ sơ, năm mở hồ sơ. Bìa hồ sơ được thiết kế và in theo Tiêu
chuẩn quốc gia TCVN 9251:2012 Bìa hồ sơ lưu
trữ.
Mỗi cá nhân khi
giải quyết công việc được giao có trách nhiệm mở hồ sơ về công việc đó.
Đối với cơ quan
có DMHS:
Đầu năm, những
cán bộ công chức được giao lập hồ sơ, căn cứ vào danh mục xem mình phải lập
những hồ sơ nào rồi ghi những thông tin về hồ sơ đó lên bìa hồ sơ.
Nếu trong quá
trình theo dõi giải quyết công việc phát sinh những công việc mới cần giải
quyết mà đầu năm chưa mở thì người theo dõi, giải quyết lấy tờ bìa ghi tên hồ
sơ đó và bổ sung hồ sơ vào Danh mục hồ sơ.
Đối với cơ quan
chưa có DMHS
Dựa vào chức
năng, nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch công tác của cơ quan, đơn vị, dựa vào công
việc được giao theo dõi phụ trách để tiến hành mở hồ sơ
4.2. Thu thập,
cập nhật văn bản, tài liệu vào hồ sơ
Mỗi cá nhân có
trách nhiệm thu thập, cập nhật tất cả văn bản, tài liệu hình thành trong quá
trình theo dõi, giải quyết công việc vào hồ sơ tương ứng đã mở, kể cả tài liệu
phim, ảnh, ghi âm.
Cần thu thập
kịp thời những văn bản, tài liệu như bài phát biểu của lãnh đạo, tham luận của
các đại biểu tại hội nghị, hội thảo… bảo đảm sự toàn vẹn, đầy đủ của hồ sơ,
tránh bị thất lạc.
Ví dụ:
+ Cán bộ phụ
trách công tác tuyển sinh của trường đại học thì phải thu thập tất cả văn bản,
tài liệu về tuyển sinh để lập hồ sơ như chỉ tiêu tuyển sinh, kế hoạch tuyển
sinh, kết quả tuyển sinh…
+ Cán bộ phụ
trách hội nghị phải thu thập tất cả các văn bản, tài liệu liên quan đến hội
nghị kể cả các tài liệu là các bài báo, bài phát biểu, tham luận, phim, ảnh,
ghi âm…
4.3. Kết thúc
hồ sơ
4.3.1.Khi công
việc giải quyết xong thì hồ sơ được kết thúc, người lập hồ sơ có trách nhiệm:
- Kiểm tra mức
độ đầy đủ của văn bản, tài liệu có trong hồ sơ, nếu thiếu cần bổ sung cho đủ.
- Xem xét loại
ra khỏi hồ sơ: Bản trùng, bản nháp, bản thảo nếu đã có bản chính (trừ bản thảo
về vấn đề quan trọng có ghi ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo cơ quan hoặc ý kiến góp
ý của các cơ quan hữu quan hoặc bản thảo mà người lập hồ sơ thấy cần thiết phải
giữ lại); bản chụp văn bản, tài liệu tham khảo xét thấy không cần phải lưu giữ.
- Xem xét lại
thời hạn bảo quản của hồ sơ (đối chiếu với Danh mục hồ sơ và thực tế tài liệu
trong, hồ sơ).
- Hoàn thiện,
chỉnh sửa tiêu đề hồ sơ cho phù hợp với nội dung tài liệu trong hồ sơ (nếu\
cần).
Nếu hết năm mà
công việc chưa giải quyết xong, thì chưa thực hiện việc kết thúc hồ sơ, hồ sơ
đó được bổ sung vào Danh mục hồ sơ năm sau.
4.3.2. Phân
chia đơn vị bảo quản và sắp xếp văn bản, tài liệu trong hồ sơ
4.3.2.1. Phân
chia đơn vị bảo quản
Nếu hồ sơ dày
quá 3 cm thì tách thành các đơn vị bảo quản. Tuy nhiên, để thuận tiện cho việc
quản lý và sử dụng, không nên tách dưới 01 cm. Mỗi đơn vị bảo quản trong hồ sơ
có đặc điểm chung, đủ yếu tố cấu thành như một hồ sơ độc lập.
4.3.2.2. Sắp
xếp văn bản, tài liệu trong hồ sơ
a. Sắp xếp theo thời
gian ban hành
Thời gian là ngày tháng
năm của văn bản, tài liệu. Văn bản, tài liệu nào có ngày tháng năm sớm thì sắp
xếp lên trước; văn bản, tài liệu nào có ngày tháng năm muộn thì xếp sau. Cách
sắp xếp này thường áp dụng để sắp xếp các hồ sơ vấn đề, vụ việc mà mỗi vấn đề,
vụ, việc là một đơn vị bảo quản, hoặc áp dụng để sắp xếp các hồ sơ nguyên tắc.
b. Sắp xếp theo số văn
bản
Căn cứ vào số thứ tự
của mỗi văn bản để sắp xếp văn bản tài liệu có số nhỏ xếp trước số lớn xếp sau.
Cách sắp xếp này thường áp dụng để xếp các tập lưu văn bản theo tên gọi ở Văn
thư cơ quan.
c. Sắp xếp theo quá
trình giải quyết công việc
Quá trình giải quyết
công việc là đi từ phát sinh, phát triển đến kết thúc vấn đề. Những văn bản,
tài liệu đề xuất, đặt vấn đề xếp trước, đến những văn bản, tài liệu giải quyết
vấn đề và cuối cùng là văn bản, tài liệu kết thúc vấn đề, vụ việc (ví dụ: sắp
xếp một hồ sơ về thành lập một cơ quan, một đơn vị...).
d. Sắp xếp theo vần chữ
cái
Trong một hồ sơ (đơn vị
bảo quản), có nhiều tên địa phương hoặc tên người thì xếp theo vần chữ cái A,
B, C. Ví dụ: Tỉnh: Bắc Cạn, Bắc Giang, Ninh Bình...
Quyết định tặng bằng
khen của Chủ tịch UBND tỉnh cho cá nhân thì xếp Nguyễn Văn A, Lê Văn C...
Cách sắp xếp này thường
áp dụng để xếp các tập báo cáo của nhiều địa phương; các tập quyết định nhân sự
như nâng lương, khen thưởng, kỷ luật...
* Một số điểm cần chú ý
khi sắp xếp văn bản, tài liệu trong hồ sơ:
Các bản kế hoạch, báo
cáo công tác thì xếp vào năm mà nội dung kế hoạch hoặc báo cáo nói tới.
Ví dụ:
Kế hoạch công tác năm
2017 được ký ban hành từ cuối năm 2016 nhưng phải sắp xếp vào năm 2017.
Báo cáo tổng kết năm
2016 nhưng ban hành vào đầu năm 2017 phải sắp xếp vào năm 2016.
Các bản kế hoạch công
tác nhiều năm thì sắp xếp vào năm đầu mà kế hoạch đó nói tới. Các bản báo cáo nhiều năm thì xếp
vào năm cuối mà báo cáo nói tới.
Ví dụ:
Kế hoạch 2 năm 2016-
2017 sắp xếp vào năm 2016.
Báo cáo 5 năm
2011 - 2016 thì sắp xếp vào năm 2016.
Trường hợp
trong hồ sơ có tài liệu phim, ảnh thì bỏ vào bì; tài liệu băng, đĩa ghi âm, ghi
hình thì bỏ vào hộp và sắp xếp vào cuối hồ sơ.
4.3.2.3. Biên mục
hồ sơ
Trước khi biên mục
hồ sơ cần phải kiểm tra lại lần cuối các văn bản, tài liệu trong hồ sơ, nếu còn
thiếu thì thu thập, bổ sung cho đầy đủ. Kiểm tra lại cách sắp xếp bảo đảm trật
tự khoa học.
a. Đánh số tờ:
+ Mục đích của
việc đánh số tờ là để cố định thứ tự các văn bản, tài liệu trong hồ sơ (một hồ
sơ gồm nhiều đơn vị bảo quản thì đánh số riêng cho từng đơn vị bảo quản), tránh
việc bị thất lạc tài liệu giúp cho việc quản lý và tra tìm thuận lợi.
+ Yêu cầu việc
đánh số tờ phải rõ ràng, chính xác.
+ Phương pháp
đánh số tờ: mỗi văn bản, tài liệu trong đơn vị bảo quản dù lớn hay nhỏ đều đánh
một số vào góc phải, phía trên tờ văn bản bằng chữ số Ả Rập, bằng bút chì đen,
mềm (loại 2B, 4B), không được đánh bằng bút mực, bút bi, có thể dùng máy dập số
để đánh số tờ.
Chú ý khi đánh
số tờ:
+ Nếu một tờ
khổ to gấp đôi đóng ở giữa thì coi như 2 tờ và đánh số 2 số. Một tờ to thì gấp
bằng khổ giấy bình thường và đánh một số.
+ Nếu có ảnh
thì đánh ở mặt sau ảnh và cho ảnh vào phong bì và đánh số ở ngoài bì.
+ Nếu một tờ
giấy có dán nhiều ảnh hay bài báo thì coi như một tờ và đánh một số.
+ Trường hợp đánh
số sót hoặc đánh số trùng ( số trùng thêm chữ cái a, b, c (ví dụ 15, 15a, 15b,
15c...) ghi rõ vào chứng từ kết thúc.
b. Ghi mục lục
văn bản
+ Mục lục văn
bản là bản thống kê các văn bản, tài liệu trong đơn vị bảo quản để thuận tiện
cho việc quản lý và tra tìm nghiên cứu.
+ Tờ mục lục có
thể in hoặc đánh máy trên khổ giấy A4 (210mm x 297mm), được xếp lên đầu hồ sơ.
|
Số
TT
|
Số
ký hiệu
văn bản
|
Ngày
tháng
văn bản
|
Tác
giả văn
bản
|
Tên
loại và trích yếu nội dung văn bản
|
Tờ
số
|
Ghi
chú
|
|
(1)
|
(2)
|
(3)
|
(4)
|
(5)
|
(6)
|
(7)
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Hướng dẫn cách ghi các
cột:
Cột 1: Ghi số thứ tự
các văn bản, tài liệu trong đơn vị bảo quản.
Cột 2: Ghi số
ký hiệu của văn bản.
Cột 3: Ghi
ngày, tháng, năm của văn bản, tài liệu
Cột 4: Ghi tác
giả ban hành văn bản (không ghi tên cơ quan chủ quản).
Cột 5: Ghi tên
loại và trích yếu nội dung văn bản.Nếu không có thì đọc và tóm tắt nội dung để
ghi.
Cột 6: Ghi tờ
số (văn bản đó bắt đầu từ tờ số mấy).
Cột 7: Ghi chú
những điều cần thiết: thiếu dấu, thiếu chữ ký, dự thảo, có bút tích, mật...
c. Viết chứng
từ kết thúc
+ Chứng từ kết
thúc là bản nhận xét về số lượng, chất lượng và trạng thái vật lý của văn bản,
tài liệu trong đơn vị bảo quản, tránh mất mát, đánh tráo, giả mạo, đồng thời
theo dõi được trạng thái vật lý của văn bản, tài liệu để có biện pháp bảo quản,
xử lý kịp thời...
+ Chứng từ kết
thúc được in sẵn vào tai cạnh của bìa hồ sơ theo mẫu thống nhất:
MẪU
CHỨNG TỪ KẾT THÚC
|
Đơn vị bảo
quản này gồm có..........(1)................... tờ
Viết bằng
chữ:...........................................................
Được đánh số
từ số ………….…. đến số………….……..
Số
trùng…..………………(2)…………………………….
Số khuyết
…………………(3)……………………………
Mục lục văn
bản gồm.........(3)................................ tờ
(Viết bằng
chữ…………………………………………….)
Đặc điểm tài
liệu trong hồ sơ……(4)....…….......................
............................................................................................
Ngày.......
tháng.......năm....(5)..
Người
lập hồ sơ
|
PHẦN
BỔ SUNG (6)
……………..………………………………………..
……………………….…………………
+ Hướng dẫn cách
ghi chứng từ kết thúc:
(1) Ghi số
lượng tờ trong đơn vị bảo quản: Ghi bằng số Ả rập;
(2) Ghi những
số đánh trùng trong hồ sơ/đơn vị bảo quản;
(3) Ghi những
số khuyết trong hồ sơ/ đơn vị bảo quản;
(4) Ghi các đặc
điểm của tài liệu như tình trạng vật lý của tài liệu, mức độ mật, bút tích…;
(5) Ghi thời gian lập
hồ sơ
(6) Ghi thông tin bổ
sung thêm văn bản (nếu có)
d. Viết bìa hồ sơ:
+ Bìa hồ sơ được thiết
kế và in mẫu thống nhất theo Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN
9251:2012
Bìa hồ sơ lưu trữ.
MẪU
BÌA HỒ SƠ
|
___________(1) ___________
_________ (2) _________
_________ (3) _________
Mã hồ sơ:…(4)…….
HỒ SƠ
_________ (5) _________
__________________
__________________
__________________
Từ
ngày…… đến ngày………(6)
Gồm:
………. tờ (7)
|
Phông
số:……(8)
Mục lục số:
…(9)
Hồ sơ số:……(10)
|
Thời hạn bảo
quản:.(11)..
|
|
+ Hướng dẫn
cách viết bìa hồ sơ:
(1) Ghi tên lưu
trữ lịch sử mà tài liệu phải nộp vào.
(2) Ghi tên cơ
quan, tổ chức.
(3) Tên đơn vị
có hồ sơ.
(4) Mã hồ sơ:
Ghi số, ký hiệu hồ sơ.
(5) Ghi tiêu đề
hồ sơ.
(6) Ghi số
lượng tờ: ghi chính xác số lượng tờ văn bản, tài liệu có trong hồ sơ/đơn vị bảo
quản
(7,9,10) Phông
số; mục lục số; hồ sơ số: do cán bộ lưu trữ ghi.
(11) Thời hạn
bảo quản: ghi thời hạn bảo quản trong hồ sơ.
+ Chữ viết trên
bìa phải đẹp mắt, rõ ràng dễ đọc, các thành phần ghi trên bìa phải đầy đủ,
chính xác, phải viết bằng mực màu đen, khó phai, viết đúng kiểu chữ dáng
nghiêng có nét thanh, nét đậm.
5. Nộp lưu hồ
sơ, tài liệu vào lưu trữ cơ quan
5.1. Thời hạn
nộp lưu
Thời hạn nộp
lưu hồ sơ, tài liệu từ các đơn vị, cá nhân vào Lưu trữ cơ quan được quy định
trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày công việc kết thúc; đối với hồ sơ, tài liệu
xây dựng cơ bản thì trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày công trình được quyết
toán.
5.2.Thành phần
hồ sơ, tài liệu nộp lưu
Thành phần hồ
sơ, tài liệu nộp lưu vào Lưu trữ cơ quan gồm toàn bộ hồ sơ, tài liệu được xác
định thời hạn bảo quản từ 05 năm trở lên, trừ những loại hồ sơ, tài liệu sau:
- Các hồ sơ
nguyên tắc được dùng làm căn cứ để theo dõi, giải quyết công việc thuộc trách
nhiệm của mỗi cá nhân, được cá nhân giữ và có thể tự loại hủy khi văn bản hết
hiệu lực thi hành.
- Hồ sơ về
những công việc chưa giải quyết xong.
- Hồ sơ phối
hợp giải quyết công việc (trường hợp trùng với hồ sơ của đơn vị chủ trì).
- Các văn bản, tài
liệu gửi để biết, để tham khảo.
5.3. Thủ tục
nộp lưu
Khi nộp lưu tài
liệu phải lập hai bản “Mục lục hồ sơ, tài liệu
nộp lưu”
và hai bản “Biên bản giao nhận hồ sơ, tài liệu”. Đơn vị, cá
nhân giao nộp tài liệu và Lưu trữ cơ quan giữ mỗi loại một bản.
MẪU
MỤC LỤC HỒ SƠ, TÀI LIỆU NỘP LƯU
TÊN ĐƠN VỊ (nộp lưu tài liệu)
MỤC
LỤC HỒ SƠ, TÀI LIỆU NỘP LƯU
Năm...
|
Hộp/ cặp số
|
Số,
ký hiệu
HS
|
Tiêu
đề hồ sơ
|
Thời
gian
BĐ-KT
|
Thời
hạn bảo
quản
|
Số
tờ
|
Ghi chú
|
|
(1)
|
(2)
|
(3)
|
(4)
|
(5)
|
(6)
|
(7)
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Mục lục này gồm:.... hồ sơ
(ĐVBQ).
Viết bằng chữ...............
hồ sơ (ĐVBQ).
Trong đó có:
-....... hồ sơ
(ĐVBQ) bảo quản vĩnh viễn;
-........ hồ sơ
(ĐVBQ) bảo quản có thời hạn.
|
|
........,
ngày.... tháng.... năm 20...
Người lập
(Ký và ghi rõ họ tên, chức vụ/chức danh)
|
+ Hướng dẫn
cách ghi các cột:
Cột 1: Ghi số
thứ tự của hộp hoặc cặp tài liệu giao nộp.
Cột 2: Ghi số
và ký hiệu của hồ sơ như trên bìa hồ sơ.
Cột 3: Ghi tiêu
đề hồ sơ như trên bìa hồ sơ.
Cột 4: Ghi thời
gian sớm nhất và muộn nhất của văn bản, tài liệu trong hồ sơ.
Cột 5: Ghi thời
hạn bảo quản của hồ sơ như trên bìa hồ sơ.
Cột 6: Ghi tổng
số tờ tài liệu có trong hồ sơ.
Cột 7: Ghi
những thông tin cần chú ý về nội dung và hình thức của văn bản có trong hồ sơ./.
MẪU
BIÊN BẢN GIAO NHẬN TÀI LIỆU
|
TÊN CƠ QUAN, TỔ
CHỨC CẤP TRÊN
TÊN CƠ QUAN, TỔ CHỨC
-------
|
CỘNG HÒA XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
|
………, ngày … tháng ….
năm 200...
|
BIÊN
BẢN
Về
việc giao nhận tài liệu
- Căn cứ Thông tư số 07/2012/TT-BNV
ngày 22/12/2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn quản lý văn bản và lập hồ sơ và nộp lưu
hồ sơ vào lưu trữ cơ quan.;
- Căn cứ: Danh mục hồ
sơ năm … Kế hoạch thu thập tài liệu…
Chúng tôi gồm:
BÊN GIAO: (Tên đơn vị
giao nộp tài liệu), đại diện là:
- Ông (bà):...................................................……....................................
Chức vụ công
tác/chức danh:....................................……………............
BÊN NHẬN: (Lưu trữ cơ
quan), đại diện là:
- Ông (bà):.......……................................................................................
Chức vụ công
tác/chức danh:.......................................……......................
Thống nhất lập
biên bản giao nhận tài liệu …………
với những nội
dung cụ thể như sau:
1. Tên khối tài
liệu giao nộp:....................................................…......
2. Thời gian của tài
liệu:............................................................................
3. Số lượng tài liệu:
- Tổng số hộp (cặp):...................................................................................
- Tổng số hồ sơ (đơn vị
bảo quản): ….. Quy ra mét giá:.............. mét
4. Tình trạng tài liệu
giao nộp:……..
5. Mục lục hồ sơ tài
liệu kèm theo:
.....................................................................…………………….……....
Biên bản này được lập
thành hai bản; Bên giao (Đơn vị, cá nhân) giữ một bản; Bên nhân (Lưu trữ cơ
quan) giữ một bản./.
|
ĐẠI DIỆN BÊN
GIAO
(Ký tên và ghi rõ họ tên)
|
ĐẠI DIỆN BÊN
NHẬN
(Ký tên và ghi rõ họ tên)
|
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Nội vụ,
Thông tư số 07/2012/TT-BNV ngày 22 tháng 12
năm 2012 hướng dẫn quản lý văn bản và lập hồ sơ và nộp lưu hồ sơ vào lưu trữ
cơ quan;
2. Bộ Nội vụ,
Văn bản hợp nhất số 01/VBHN-BNV ngày 25 tháng
02 năm 2014 Nghị định công tác văn thư.
4. Cục Lưu trữ
nhà nước, Từ điển “Lưu trữ Việt Nam” H.1992.
5. Cục văn thư
và Lưu trữ nhà nước, Hướng dẫn số 822/HD-VTLTNN
ngày 26 tháng 8 năm 2015 “ Hướng dẫn quản lý văn bản đi, văn bản đến và lập
hồ sơ trong môi trường mạng”.
6. Dương Văn
Khảm, Từ điển tra cứu Nghiệp vụ Quản trị văn phòng-Văn thư-Lưu trữ Việt Nam,
Nxb Thông tin và Truyền thông, H.2015
7. Vương Đình
Quyền. Lý luận và phương pháp công tác văn thư.Nxb.Chính trị Quốc gia. H. 2007
8.Quốc hội, Luật Lưu trữ 2011
9. Trường Đại
học Nội vụ Hà Nội, Giáo trình công tác văn thư, NXB Lao động, Hà Nội
2017.
CÂU
HỎI ÔN TẬP, THẢO LUẬN
1. Bằng ví dụ
minh họa, phân tích khái niệm hồ sơ, lập hồ sơ.
2. Phân tích
vai trò của việc lập hồ sơ trong hoạt động của cơ quan, tổ chức?
3. Trình bày
các bước trong quy trình lập hồ sơ theo quy định hiện hành.
4. Trách nhiệm
của Lưu trữ viên trung cấp đối với việc lập hồ sơ và giao nộp hồ sơ, tài liệu
vào lưu trữ cơ quan.
5. Tìm hiểu
thực trạng công tác xây dựng Danh mục hồ sơ và Lập hồ sơ tại cơ quan anh/chị
đang công tác.
Chuyên
đề 9
NGHIỆP VỤ THU THẬP VÀ XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ TÀI LIỆU
1. Thu thập tài
liệu
1.1. Khái niệm,
mục đích, ý nghĩa thu thập tài liệu
1.1.1. Khái
niệm
Trong Từ điển
Lưu trữ Việt Nam, năm 1992 ghi: thu thập tài liệu là quá trình thực hiện các
biện pháp bổ sung tài liệu vào lưu trữ thông qua việc xác định giá trị tài
liệu. Thu thập tài liệu được tiến hành theo hai bước: một là, thu thập tài liệu
vào Lưu trữ cơ quan; hai là, thu thập tài liệu vào Lưu trữ lịch sử.
Luật Lưu trữ 2011 ghi: Thu thập tài liệu là quá trình xác
định nguồn tài liệu, lựa chọn, giao nhận tài liệu có giá trị để chuyển vào Lưu
trữ cơ quan, Lưu trữ lịch sử.
1.1.2. Mục
đích, ý nghĩa thu thập tài liệu
Việc thu thập
tài liệu có vai trò quan trọng nhằm bổ sung vào kho những tài liệu có giá trị
lịch sử, thực tiễn để bảo quản nhằm phục vụ cho các nhu cầu nghiên cứu, sử dụng
của độc giả.
Trong thực tế,
tài liệu được sản sinh ra ngày càng nhiều theo chức năng nhiệm vụ của các cơ
quan, tổ chức. Tuy nhiên, nếu không thực hiện tốt công tác thu thập tài liệu sẽ
dẫn đến tình trạng tài liệu bị phân tán, xé lẻ. Nhiều tài liệu quý giá bị mất
mát hoặc xuống cấp, không được tập trung quản lý, bảo quản theo quy định của
nhà nước. Chính vì thế, thu thập bổ sung tài liệu là một nhiệm vụ thường xuyên
và tất yếu của các lưu trữ cơ quan và lưu trữ lịch sử. Việc thu thập tài liệu
lưu trữ vào kho tốt sẽ làm hoàn chỉnh và phong phú thêm thành phần phông lưu
trữ cơ quan nói riêng và Phông lưu trữ quốc gia Việt Nam nói chung.
1.2. Thu thập
tài liệu vào lưu trữ cơ quan
1.2.1. Khái
niệm lưu trữ cơ quan:
Theo Luật lưu trữ: Lưu trữ cơ quan là tổ chức thực
hiện hoạt động lưu trữ đối với tài liệu lưu trữ của cơ quan, tổ chức.
1.2.2. Nguồn,
thành phần tài liệu cần thu thập vào lưu trữ cơ quan
1.2.2.1. Nguồn
tài liệu thu thập vào lưu trữ cơ quan
Đối với lưu trữ
cơ quan thì nguồn thu thập bổ sung tài liệu chủ yếu là các loại tài liệu sản
sinh trong quá trình hoạt động theo chức năng nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan
đó (các đơn vị, bộ phận không đủ điều kiện thành lập phông lưu trữ độc lập).
Đây là nguồn tài liệu quan trọng nhất và thường xuyên nhất của kho lưu trữ cơ quan.
Những đơn vị, tổ chức thực hiện các chức năng chủ yếu của cơ quan là nguồn tài
liệu bổ sung chính vào lưu trữ cơ quan.
Ngoài ra, tài
liệu cũ còn để lại ở các đơn vị và cá nhân trong cơ quan cũng thuộc nguồn nộp
lưu vào lưu trữ cơ quan. Thực tế ở nhiều cơ quan, đơn vị chưa quan tâm đúng mức
đến việc thu thập bổ sung tài liệu vào lưu trữ cơ quan, cho nên nhiều tài liệu
có giá trị tồn đọng ở các đơn vị công chức nhất là những tài liệu chính quyền
cũ. Để giải quyết vấn đề này, lưu trữ cơ quan phải tiến hành thu thập, bổ sung
tài liệu cũ, không để mất mát thất lạc tài liệu, không để tài liệu của Nhà nước
lọt vào tay tư nhân.
1.2.2.2. Thành phần
tài liệu thu thập vào lưu trữ cơ quan
Toàn bộ hồ sơ,
tài liệu có giá trị bảo quản từ 5 năm trở lên, hình thành trong quá trình hoạt
động của các đơn vị, bộ phận thuộc cơ quan nhưng đã giải quyết xong công việc
và được lập thành hồ sơ; tài liệu là bản gốc, bản chính hoặc bản sao hợp pháp;
tài liệu được thể hiện trên mọi vật liệu như tài liệu giấy, tài liệu phim, ảnh,
ghi âm, ghi hình, tài liệu điện tử và các vật liệu khác.
1.2.3. Thời hạn
thu thập tài liệu vào lưu trữ cơ quan
Điều
11- Luật lưu trữ quy định về thời hạn giao nộp hồ sơ, tài liệu vào Lưu trữ
cơ quan:
- Trong thời
hạn 01 năm, kể từ ngày công việc kết thúc;
- Trong thời
hạn 03 tháng, kể từ ngày công trình được quyết toán đối với hồ sơ, tài liệu xây
dựng cơ bản.
- Trường hợp
đơn vị, cá nhân có nhu cầu giữ lại hồ sơ, tài liệu đã đến hạn nộp lưu để phục
vụ công việc thì phải được người đứng đầu cơ quan, tổ chức đồng ý và phải lập
danh mục hồ sơ, tài liệu giữ lại gửi cho Lưu trữ cơ quan.
Thời gian giữ
lại hồ sơ, tài liệu của đơn vị, cá nhân không quá 02 năm, kể từ ngày đến hạn
nộp lưu.
1.2.4. Trách
nhiệm của lưu trữ cơ quan trong công tác thu thập tài liệu
Trách nhiệm của
Lưu trữ cơ quan trong công tác thu thập tài liệu được quy định tại điều 10 - Luật lưu trữ ban hành năm 2011:
- Giúp người
đứng đầu cơ quan, tổ chức hướng dẫn việc lập hồ sơ và nộp lưu hồ sơ, tài liệu;
- Thu thập,
chỉnh lý, xác định giá trị tài liệu, thống kê, bảo quản và tổ chức sử dụng tài
liệu lưu trữ;
- Giao nộp tài
liệu lưu trữ có giá trị bảo quản vĩnh viễn thuộc danh mục tài liệu nộp lưu vào
Lưu trữ lịch sử; tổ chức hủy tài liệu hết giá trị theo quyết định của người
đứng đầu cơ quan, tổ chức.
Lưu trữ cơ quan
là nguồn nộp lưu vào lưu trữ lịch sử chỉ bảo quản tài liệu có giá trị thực tiễn
trong một thời gian nhất định, sau đó giao nộp những tài liệu có giá trị lịch
sử vào lưu trữ vào lưu trữ lịch sử.
Việc lựa chọn
tài liệu có giá trị lịch sử bổ sung vào lưu trữ thực hiện theo sự hướng dẫn của
Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước và các Trung tâm Lưu trữ quốc gia.
Tài liệu được
thu thập bổ sung vào lưu trữ lịch sử phải được lập hồ sơ chính xác, thống kê
thành mục lục hồ sơ và có biên bản bàn giao hồ sơ giữa lưu trữ cơ quan và lưu
trữ lịch sử.
1.3. Thu thập
tài liệu vào lưu trữ lịch sử
1.3.1. Khái
niệm lưu trữ lịch sử
Theo Luật lưu trữ: Lưu trữ lịch sử là cơ quan thực
hiện hoạt động lưu trữ đối với tài liệu có giá trị bảo quản vĩnh viễn được tiếp
nhận từ lưu trữ cơ quan và từ các nguồn khác.
1.3.2. Nguồn,
thành phần tài liệu cần thu thập vào lưu trữ lịch sử
1.3.2.1. Nguồn
thu thập tài liệu vào lưu trữ lịch sử
Tài liệu hình
thành trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức là nguồn thu thập quan trọng
nhất và có số lượng lớn để bổ sung vào Lưu trữ lịch sử.
Điều
20, Luật lưu trữ 2011 quy định việc thu thập, tiếp nhận tài liệu vào
Lưu trữ lịch sử như sau:
Lưu trữ lịch sử
của Đảng Cộng sản Việt Nam thu thập tài liệu thuộc Phông lưu trữ Đảng Cộng sản
Việt Nam theo quy định của pháp luật và quy định của cơ quan có thẩm quyền của
Đảng Cộng sản Việt Nam.
Lưu trữ lịch sử
của Nhà nước thu thập tài liệu thuộc Phông lưu trữ Nhà nước Việt Nam theo quy
định sau đây:
Lưu trữ lịch sử
ở Trung ương thu thập, tiếp nhận tài liệu lưu trữ hình thành trong quá trình
hoạt động của cơ quan, tổ chức Trung ương của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; cơ quan, tổ chức cấp bộ, liên khu,
khu, đặc khu của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; các cơ quan, tổ chức Trung
ương của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và các tổ chức
Trung ương khác thuộc chính quyền cách mạng từ năm 1975 về trước; các doanh
nghiệp nhà nước do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập và các tổ chức kinh
tế khác theo quy định của pháp luật; các cơ quan, tổ chức của các chế độ xã hội
tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam từ năm 1975 về trước;
Lưu trữ lịch sử
ở cấp tỉnh thu thập, tiếp nhận tài liệu lưu trữ hình thành trong quá trình hoạt
động của các cơ quan, tổ chức ở cấp tỉnh, cấp huyện và đơn vị hành chính - kinh
tế đặc biệt.
Theo Thông tư số
17/2014/TT-BNV của Bộ Nội vụ ban hành ngày 20/11/2014
Hướng dẫn xác định cơ quan tổ chức thuộc nguồn nộp lưu tài liệu vào Lưu trữ
lịch sử các cấp (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 02 năm 2015) áp dụng đối với các
Trung tâm Lưu trữ quốc gia, Lưu trữ lịch sử cấp tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương.
Điều
3
của Thông tư xác định các cơ quan, tổ chức sau đây thuộc nguồn nộp lưu tài liệu
vào các Trung tâm lưu trữ quốc gia:
1. Quốc hội và
các cơ quan của Quốc hội;
2. Các Bộ, cơ
quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
3. Văn phòng
Chủ tịch nước;
4. Tòa án Nhân
dân tối cao;
5. Viện kiểm
sát Nhân dân tối cao;
6. Các tổ chức
thuộc và trực thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ có chức năng quản lý nhà nước về
ngành, lĩnh vực chuyên môn (Tổng cục, Cục, Ban, Ủy ban);
7. Các đơn vị
sự nghiệp công lập thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ do Thủ
tướng Chính phủ, Bộ Trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quyết định thành lập;
8. Tập đoàn
kinh tế nhà nước, Tổng công ty nhà nước do Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang Bộ quyết định thành lập;
9. Cơ quan
Trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ
chức xã hội - nghề nghiệp hoạt động bằng ngân sách nhà nước.
Điều
4
của Thông tư cũng xác định các cơ quan, tổ chức thuộc nguồn nộp lưu tài liệu
vào Lưu trữ lịch sử cấp tỉnh gồm có:
1. Các cơ quan,
tổ chức tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:
a. Văn phòng
Đoàn Đại biểu Quốc Hội và Hội đồng nhân dân;
b. Ủy ban Nhân
dân;
c. Các cơ quan
chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân;
d. Tòa án nhân
dân;
e. Viện kiểm
sát nhân dân;
f. Công an,
Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy, Bộ chỉ huy quân sự, Bộ chỉ huy Bộ đội Biên
phòng;
g. Các tổ chức
trực thuộc cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có chức năng quản
lý nhà nước;
h. Các đơn vị
sự nghiệp công lập thuộc Ủy ban nhân dân;
i. Cơ quan, tổ
chức của Trung ương, các đơn vị thành viên của các tập đoàn kinh tế nhà nước,
các Tổng công ty nhà nước được tổ chức hoạt động theo ngành dọc ở cấp tỉnh;
k. Doanh nghiệp
nhà nước do Chủ tịch Ủy ban nhân dân Tỉnh quyết định thành lập;
l. Các tổ chức
chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề
nghiệp cấp tỉnh hoạt động bằng ngân sách nhà nước.
2. Các cơ quan,
tổ chức quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
a. Hội đồng
nhân dân;
b. Ủy ban nhân dân;
c. Tòa án nhân dân;
d. Viện kiểm sát nhân
dân;
e. Công an huyện, Ban
chỉ huy quân sự;
f. Cơ quan, tổ chức của
Trung ương được tổ chức theo ngành dọc ở cấp huyện.
Đối với nguồn tài liệu
có xuất xứ cá nhân, Lưu trữ lịch sử sưu tầm tài liệu lưu trữ của cá nhân trên
cơ sở thỏa thuận: do tài liệu của cá nhân được hình thành trong quá trình sống,
hoạt động và thuộc sở hữu của chính cá nhân. Tuy nhiên, tài liệu hình thành
trong hoạt động của các nhà khoa học, nhà văn, nghệ sĩ, nhà hoạt động chính
trị, xã hội xuất sắc của đất nước có ý nghĩa nhiều mặt, do vậy việc thu thập
tài liệu của họ là cần thiết nhằm làm phong phú về nội dung, mở rộng về thành phần
Phông lưu trữ quốc gia Việt Nam.
Công tác thu thập tài
liệu cá nhân vào các kho lưu trữ lịch sử phức tạp hơn so với tài liệu thuộc sở
hữu của nhà nước. Tài liệu cá nhân phần lớn do cá nhân sở hữu như tài liệu của
các nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, nghệ sĩ nhiếp ảnh, nhà khoa học... Do đó nhà
nước không bắt buộc về mặt hành chính phải thu thập đối với loại tài liệu này.
Nhưng nếu được thu thập vào các Lưu trữ lịch sử những tài liệu này sẽ được
nhiều đối tượng khai thác để phát huy giá trị tiềm năng của chúng.
1.3.2.2. Thành phần tài
liệu thu thập vào lưu trữ lịch sử
Theo qui định của Nhà
nước, thành phần tài liệu được thu thập vào lưu trữ lịch sử bao gồm toàn bộ các
hồ sơ tài liệu có giá trị lịch sử được lựa chọn từ các cơ quan, tổ chức thuộc
nguồn nộp lưu; các hồ sơ tài liệu này phải được lập hồ sơ chính xác, thống kê
thành mục lục và có biên bản bàn giao hồ sơ giữa Lưu trữ cơ quan với Lưu trữ
lịch sử. Tài liệu bổ sung vào Lưu trữ lịch sử phải có xuất xứ rõ ràng, được thể
hiện trên mọi vật liệu và là bản gốc, bản chính hoặc bản sao hợp pháp. Những
tài liệu này sẽ được lưu trữ vĩnh viễn trong các Lưu trữ lịch sử để phục vụ cho
việc nghiên cứu lịch sử của toàn xã hội.
1.3.3. Thời hạn nộp lưu
tài liệu vào Lưu trữ lịch sử
- Trong thời hạn 10
năm, kể từ năm công việc kết thúc, cơ quan, tổ chức thuộc danh mục cơ quan, tổ
chức thuộc nguồn nộp lưu tài liệu có trách nhiệm nộp lưu tài liệu có giá trị
bảo quản vĩnh viễn vào Lưu trữ lịch sử;
- Thời hạn nộp lưu tài
liệu lưu trữ của các ngành công an, quốc phòng, ngoại giao (Điều
14- Nghị định số 01/2013/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 03/01/2013: Quy định chi
tiết thi hành một số điều của Luật lưu trữ)
+ Tài liệu lưu trữ có
giá trị bảo quản vĩnh viễn của các ngành công an, quốc phòng, ngoại giao phải
nộp lưu vào lưu trữ lịch sử trong thời hạn 30 năm, kể từ năm công việc kết
thúc, trừ tài liệu lưu trữ chưa được giải mật hoặc tài liệu lưu trữ cần thiết
cho hoạt động nghiệp vụ hàng ngày.
+ Bộ Công an, Bộ Quốc
phòng, Bộ Ngoại giao có trách nhiệm quy định thời hạn bảo quản tài liệu của
ngành sau khi có ý kiến thống nhất của Bộ Nội vụ; thống nhất đầu mối tổ chức
việc lựa chọn tài liệu lưu trữ có giá trị bảo quản vĩnh viễn đã đến hạn nộp lưu
và giao nộp vào Lưu trữ lịch sử có thẩm quyền theo quy định của Luật lưu trữ.
- Thời hạn nộp lưu tài
liệu lưu trữ chuyên môn nghiệp vụ của ngành khác: (Điều 15-
Nghị định số 01/2013/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 03/01/2013: Quy định chi tiết
thi hành một số điều của Luật lưu trữ)
+ Tài liệu chuyên môn
nghiệp vụ có giá trị bảo quản vĩnh viễn của các ngành, lĩnh vực khác phải nộp
lưu vào lưu trữ lịch sử trong thời hạn 30 năm, kể từ năm công việc kết thúc,
trừ tài liệu lưu trữ cần thiết cho hoạt động nghiệp vụ hàng ngày của cơ quan,
tổ chức.
+ Cơ quan quản lý
ngành, lĩnh vực có trách nhiệm quy định thời hạn bảo quản tài liệu chuyên môn
nghiệp vụ sau khi có ý kiến thống nhất của Bộ Nội vụ; tổ chức việc lựa chọn tài
liệu lưu trữ có giá trị bảo quản vĩnh viễn đã đến hạn nộp lưu và giao nộp vào
Lưu trữ lịch sử có thẩm quyền theo quy định của Luật
lưu trữ.
1.3.4. Trách nhiệm của
lưu trữ lịch sử trong việc thu thập tài liệu
- Trình cơ quan có thẩm
quyền về lưu trữ cùng cấp ban hành danh mục cơ quan, tổ chức thuộc nguồn nộp
lưu tài liệu và phê duyệt danh mục tài liệu nộp lưu vào Lưu trữ lịch sử;
- Hướng dẫn các cơ
quan, tổ chức thuộc nguồn nộp lưu tài liệu chuẩn bị tài liệu nộp lưu;
- Thu thập, chỉnh lý,
xác định giá trị, thống kê, bảo quản và tổ chức sử dụng tài liệu lưu trữ.
Lưu ý: Việc thu thập
tài liệu được tiến hành trên cơ sở hồ sơ hoặc đơn vị bảo quản được thống kê
thành mục lục hồ sơ, tài liệu nộp lưu.
2. Xác định giá trị tài
liệu giá trị tài liệu
2.1. Khái niệm, mục
đích, ý nghĩa của việc xác định giá trị tài liệu
2.1.1.Khái niệm
Xác định giá trị tài
liệu là việc nghiên cứu tài liệu trên cơ sở các tiêu chuẩn giá trị của chúng
nhằm mục đích xác định thời hạn bảo quản tài liệu và lựa chọn chúng để bảo quản
trong các lưu trữ thuộc Phông lưu trữ quốc gia Việt Nam.
Luật
lưu trữ 2011
nêu rõ: Xác định giá trị tài liệu là việc đánh giá giá trị tài liệu theo những
nguyên tắc, phương pháp, tiêu chuẩn theo quy định của cơ quan có thẩm quyền để
xác định những tài liệu có giá trị lưu trữ, thời hạn bảo quản và tài liệu hết
giá trị.
2.1.2.Mục đích, ý nghĩa
- Giúp cho việc quản lý
tài liệu lưu trữ được chặt chẽ.
- Tạo điều kiện để bổ
sung tài liệu có giá trị vào các phông lưu trữ, tối ưu hóa thành phần Phông lưu
trữ quốc gia Việt Nam, nâng cao hiệu quả phục vụ khai thác, sử dụng tài liệu
lưu trữ.
- Góp phần tiết kiệm
diện tích kho tàng và phương tiện bảo quản tài liệu (khắc phục tình trạng
tài liệu tích đống trong các cơ quan).
- Việc xác định giá trị
tài liệu tốt sẽ khắc phục tình trạng tiêu hủy tài liệu một cách tùy tiện.
2.2. Các nguyên tắc xác
định giá trị tài liệu
2.2.1. Nguyên tắc chính
trị
Đây là nguyên tắc
phương pháp luận đầu tiên của quá trình xác định giá trị tài liệu. Theo nguyên
tắc này, khi nghiên cứu để xác định giá trị của các văn kiện và quyết định tài
liệu này hay tài liệu khác để bảo quản hoặc tiêu hủy, chúng ta phải có lập
trường chính trị rõ ràng. Chúng ta đấu tranh một cách tích cực, có ý thức, có
định hướng để khẳng định quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động,
giữ vững độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải của quốc gia, thông
qua việc bảo vệ và sử dụng tài liệu lưu trữ của đất nước.
2.2.2. Nguyên tắc lịch
sử
Đây là nguyên tắc
phương pháp luận thứ hai của công tác xác định giá trị tài liệu. Là một hiện
tượng lịch sử, được sản sinh ra trong quá trình phát triển của xã hội loài
người, tài liệu lưu trữ luôn luôn mang dấu ấn của thời đại mà trong đó chúng đã
xuất hiện và tồn tại. Do vậy, khi xác định giá trị các tài liệu đó chúng ta cần
phải chú ý đến các điều kiện lịch sử, thời gian, địa điểm mà ở đó chúng được
sản sinh ra. Quan điểm lịch sử đòi hỏi người nghiên cứu khi xem xét giá trị của
tài liệu lưu trữ với nhận thức hiện đại của mình, phải nắm vững các nguyên tắc,
phương pháp ghi tin được dùng trong thời kỳ mà tài liệu lưu trữ xuất hiện.
Chẳng hạn, thuộc thành phần tài liệu Phông lưu trữ quốc gia của nước ta có những
tài liệu được ghi bằng chữ Hán,
chữ Nôm, chữ Anh, chữ Pháp... Lại có cả những tài liệu đồ họa theo lối xưa như
các tập bản đồ cổ. Có bản đã sao đi sao lại nhiều lần không còn bản chính, chỉ
còn bản sao thuộc các thế hệ sau. Khi xác định giá trị của những tài liệu như
vậy, rõ ràng cán bộ lưu trữ phải nghiên cứu các nguyên tắc và tính đặc thù lịch
sử của chúng. Phải biết lần theo những dấu ấn của những sự thay đổi để hiểu
được sự kiện ban đầu do tài liệu mô tả, phân biệt nó với sự kiện được dựng lại
qua thời gian mà ta nhìn thấy trong tài liệu. Tài liệu càng gần với hiện thực
thì giá trị của nó càng cao.
2.2.3. Nguyên tắc toàn
diện và tổng hợp
Tài liệu lưu trữ không
những chỉ là sản phẩm của giai cấp, của lịch sử mà chúng còn là sản phẩm tổng
hợp của nhiều mối quan hệ vốn có trong hiện thực. Giá trị của tài liệu phải
được xem xét một cách toàn diện, theo nhiều mối liên hệ khác nhau. V.I Lênin đã
từng chỉ rõ: “Để hiểu được sự vật cần phải nắm lấy và nghiên cứu tất cả các
mặt, các mối liên hệ và các mặt “trung gian” của nó. Chúng ta không bao giờ có
thể đạt được điều đó một cách hoàn toàn, nhưng yêu cầu của tính toàn diện sẽ
giúp chúng ta tránh khỏi những sai lầm và sự cứng nhắc”. Theo nguyên tắc này,
khi xác định giá trị của tài liệu lưu trữ, chúng ta có thể phát hiện được những
mặt khác nhau trong ý nghĩa của chúng tránh được những kết luận phiến diện.
Chẳng hạn, khi xác định giá trị tài liệu của các phông lưu trữ do chính quyền
cũ để lại, chúng ta có thể thấy nhiều tài liệu với những ý nghĩa thuộc nhiều
mặt rất khác nhau. Các bản thiết kế các tòa nhà, ga đường sắt, cầu, đường…là
những tài liệu có ý nghĩa về phương diện kinh tế. Trong khi đó các sổ sách địa
bạ thời Phong kiến còn lưu giữ được khá nhiều loại (trên 700 tập) chủ yếu có
giá trị về phương diện nghiên cứu lịch sử. Có những tài liệu có ý nghĩa chính
trị to lớn trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất
nước trong thời kỳ hiện nay và cả sau này như tài liệu về quần đảo Hoàng Sa,
Trường Sa. Có những tài liệu có ý nghĩa về mặt ngôn ngữ, về vật liệu ghi tin và
phương pháp ghi tin như: Mộc bản Triều Nguyễn, Kinh Phật viết trên lá Buông ở
An Giang…Vì vậy, xác định giá trị tài liệu một cách toàn diện là rất cần thiết.
2.3. Các phương pháp
xác định giá trị tài liệu
2.3.1. Phương pháp hệ thống
Phương pháp hệ thống là
một phương pháp có vai trò rất quan trọng trong nhận thức khoa học.
Tài liệu lưu trữ là
những đối tượng được hình thành một cách có hệ thống, đặc biệt là những tài
liệu do hoạt động quản lý sản sinh ra. Có thể xem hệ thống tài liệu văn kiện là
tập hợp những tài liệu có liên quan và ảnh hưởng lẫn nhau hình thành trong quá
trình hoạt động của mỗi cơ quan theo những tiêu chuẩn pháp lý nhất định. Những tài
liệu của cùng một hệ thống có mối liên hệ với nhau do chức năng của các cơ quan
hình thành nên chúng quy định. Các hệ thống văn kiện nói chung đều là những hệ
thống động, nghĩa là chúng hoạt động trong những giới hạn biến đổi, chịu tác
động mạnh mẽ của những điều kiện không gian, thời gian và những điều kiện khác
từ ngoài hệ thống tác động vào.
Về cơ bản, giá trị của
các tài liệu chỉ bộc lộ rõ khi chúng được xét trong một hệ thống nhất định. Vì
các tài liệu cùng một hệ thống luôn có mối liên hệ với nhau theo một quy luật
nhất định, nên khi áp dụng phương pháp phân tích hệ thống chúng ta có thể thấy
một tài liệu có ý nghĩa gì trong hệ thống mà nó đang hoạt động. Từ đó đi đến
quyết định việc giữ lại hay loại hủy. Phương pháp hệ thống đặc biệt có vai trò
quan trọng trong việc nghiên cứu vấn đề lựa chọn các tài liệu có thông tin lặp
lại để tổ chức bảo quản trong các lưu trữ. Chúng ta đều biết sự lặp lại thông
tin trong các tài liệu và các hệ thống tài liệu khác nhau là một điều tất yếu
trong hoạt động quản lý. Điều này đòi hỏi khi đưa vào bảo quản trong các lưu
trữ các tài liệu phải được lựa chọn để tránh việc gia tăng khối lượng tài liệu
không hợp lý. Để thực hiện được yêu cầu đó, chúng ta phải xem xét tính trùng
lặp thông tin bắt buộc và không bắt buộc giữa các hệ thống tài liệu, xác định
nguyên nhân của chúng và chỉ rõ tài liệu đó thuộc hệ thống nào cần phải bảo
quản để nghiên cứu lâu dài, hệ thống nào không cần giữ lại.
2.3.2. Phương pháp phân
tích chức năng
Có thể hiểu phương pháp
phân tích chức năng là phương pháp xác định giá trị các văn kiện hình thành
trong các cơ quan, đoàn thể, xí nghiệp dựa vào kết quả xem xét chức năng của
các cơ quan đã sản sinh ra tài liệu đó và chức năng của chính mỗi loại tài liệu
trong hoạt động của từng cơ quan nhất định. Trong hệ thống bộ máy nhà nước các
cơ quan đều có những chức năng riêng của mình. Nhìn chung, các cơ quan đầu não
của bộ máy quản lý nhà nước như Chính phủ, các bộ, các cơ quan ngang bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ là những cơ quan có chức năng quan trọng nhất. Hoạt động
của các cơ quan này có ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của các cơ quan khác.
Chúng sản sinh ra những tài liệu có nhiều ý nghĩa quan trọng. Đó là nguồn tài
liệu chủ yếu để bổ sung vào phông lưu trữ quốc gia. Ngược lại, những cơ quan có
chức năng hẹp, chỉ mang tính chất dịch vụ…thì tài liệu sản sinh ra chỉ có ý
nghĩa tạm thời và ít được chú ý lựa chọn. Tuy nhiên, không phải mọi tài liệu
được sản sinh ra trong các cơ quan có chức năng quan trọng đều được lựa chọn
đưa vào lưu trữ mà cần phải căn cứ vào nhu cầu của thực tế lịch sử, theo đòi
hỏi của nhiệm vụ chính trị trong từng giai đoạn nhất định.
2.3.3. Phương pháp
thông tin
Thực tiễn đã chứng minh
rằng, giá trị của các tài liệu chính là giá trị của các thông tin mà nó có thể
mang lại cho người nghiên cứu. Chính vì vậy, khi xác định giá trị tài liệu cần
phải xét theo quan điểm của lý thuyết thông tin, cụ thể là cần phải xem xét các
tài liệu đó có cung cấp được cho quá trình quản lý xã hội, cho nghiên cứu xã
hội những thông tin chính xác, đầy đủ và mới mẻ hay không. Giá trị của thông
tin luôn luôn gắn liền với mục đích của việc sử dụng chúng cũng như lệ thuộc
vào độ tin cậy của nó. Khối lượng thông tin càng lớn thì nhiệm vụ lựa chọn các
thông tin có độ tin cậy cao càng trở nên phức tạp, nhưng là nhiệm vụ rất cần
thiết. Vận dụng lý thuyết thông tin để tránh đưa vào kho lưu trữ những thông
tin lặp lại, thông tin đã bị lỗi thời, lạc hậu, thông tin không còn giá trị về
mọi phương diện mà trong một thời gian nhất định nó đã từng có ý nghĩa quan
trọng. Cần phải có sự phân tích cụ thể khi gặp phải những tài liệu như thế để
tránh tiêu hủy những tài liệu có thông tin cần thiết, nhưng cũng tránh được
tình trạng ôm đồm, giữ lại nhiều tài liệu không có ý nghĩa gì khi sử dụng các
thông tin mà chúng phản ánh.
2.3.4. Phương pháp phân
tích sử liệu học
Sử liệu học, như nhiều
nhà chuyên môn trên thế giới đã xác nhận là một bộ môn khoa học có nhiệm vụ
khởi thảo những vấn đề lý luận, phương pháp nghiên cứu về sử dụng các nguồn sử
liệu bằng chữ viết. Sử liệu học cũng có nhiệm vụ xác định phạm vi, vị trí, ý
nghĩa của các nguồn sử liệu và những yêu cầu, biện pháp cụ thể của quá trình
phân tích sử liệu học các nguồn tư liệu dùng trong nghiên cứu lịch sử. Có thể
thấy rằng, muốn lựa chọn tài liệu để bảo quản thì đánh giá tài liệu cũng giống
như nghiên cứu sử liệu học phải xác định cơ sở khách quan của giá trị tài liệu.
Các nhà nghiên cứu ở cả hai lĩnh vực đều phải làm sáng tỏ những yếu tố cơ bản
tạo nên giá trị của tài liệu để sử dụng chúng hợp lý. Do đặc điểm này mà các
nhà lưu trữ học cần phải nắm được các phương pháp lựa chọn thông tin của sử
liệu học, các phương pháp phân tích văn bản, phương pháp so sánh, đối chiếu và
một số phương pháp khác do sử liệu học nêu ra.
Tài liệu lưu trữ là một
nguồn sử liệu quan trọng. Đó cũng là một sản phẩm của lịch sử phản ánh hoạt
động của con người trong quá trình nhận thức và cải tạo thế giới khách quan. Vì
vậy, việc đánh giá và lựa chọn các tài liệu để đưa vào bảo quản trong các lưu
trữ cần phải chú ý đến các đặc điểm cơ bản tạo nên giá trị của tài liệu. Đánh
giá tài liệu lưu trữ theo phương pháp Sử liệu học là nhằm làm cho loại sử liệu
này nói lên tiếng nói thực sự của mình trong nghiên cứu lịch sử.
2.4. Các tiêu chuẩn xác
định giá trị tài liệu
2.4.1. Tiêu chuẩn ý
nghĩa nội dung tài liệu
Đây là tiêu chuẩn quan
trọng nhất và được áp dụng phổ biến trong công tác xác định giá trị tài liệu.
Nội dung tài liệu là những thông tin chứa đựng trong tài liệu. Có thể nói, nội
dung là linh hồn của văn kiện, giá trị các mặt của tài liệu chủ yếu do nội dung
quyết định.
Những tài liệu được lựa
chọn để bổ sung cho Phông lưu trữ quốc gia gồm: Tài liệu phản ánh lịch sử dựng
nước, giữ nước của dân tộc; lịch sử phong trào công nhân, lịch sử Đảng; tài
liệu về chủ trương, chính sách, phương hướng, chiến lược, các kế hoạch của nhà
nước; tài liệu về quá trình tổ chức thực hiện và kết quả đạt được (báo cáo)...
Khi xác định vai trò
nội dung của tài liệu, cần phải đặt tài liệu trong mối liên hệ với chức năng,
nhiệm vụ của đơn vị hình thành phông (những tài liệu phản ánh các mặt hoạt động
chủ yếu của đơn vị hình thành phông như tài liệu chỉ đạo, tổ chức bộ máy, chỉ
tiêu kế hoạch, báo cáo tổng kết là có giá trị cao). Nhiều tài liệu có nội dung
quan trọng, nhưng đối với phông đó nó không phản ánh trực tiếp những hoạt động
chủ yếu của đơn vị hình thành phông nên giá trị sẽ thấp hơn.
Ý nghĩa nội dung của
tài liệu không thể xét một cách riêng rẽ mà phải đặt chúng vào nhóm tài liệu
chung.
Trong thực tế, có những
tài liệu thông tin đơn giản, ngắn gọn nhưng thông tin đó lại đề cập đến thời
gian, địa điểm, tác giả của tài liệu khác rất có giá trị, cần giữ lại để bảo quản.
Ý nghĩa nội dung của
tài liệu không chỉ phụ thuộc vào nội dung của các thông tin chứa trong tài liệu
mà còn phụ thuộc vào ý nghĩa của nó trong hoạt động thực tiễn của từng cơ quan
nhất định. Khi áp dụng tiêu chuẩn này phải chú ý cả 2 phương diện trên (thông
tin tài liệu và yêu cầu thực tiễn).
2.4.2. Tiêu chuẩn tác
giả tài liệu
Tác giả là cơ quan hoặc
cá nhân lập ra tài liệu.
Khi xác định giá trị
tài liệu phải xét đến vai trò và ý nghĩa của cơ quan hoặc cá nhân lập ra tài
liệu.
Trong một phông lưu trữ
thường có các tác giả sau: cơ quan cấp trên, cơ quan hình thành phông, cơ quan
hữu quan, cơ quan, đơn vị trực thuộc.
Đối với phông lưu trữ
quốc gia, tài liệu của các tác giả là những cơ quan đầu ngành, các dự án trọng điểm
thì có ý nghĩa quan trọng hơn.
Đối với phông lưu trữ
cơ quan, tài liệu do chính cơ quan sản sinh ra, nó phản ánh chức năng, nhiệm vụ
chủ yếu của đơn vị hình thành phông thì sẽ có ý nghĩa quan trọng.
Đối với tài liệu cấp
trên gửi xuống cơ quan: tài liệu chỉ đạo trực tiếp hoạt động của cơ quan thì có
ý nghĩa quan trọng. Những văn bản của cấp trên gửi xuống để biết, chỉ giữ lại
trong một thời gian ngắn sau đó tiến hành tiêu hủy theo quy định.
Tài liệu của cơ quan
cấp dưới gửi lên: nếu để báo cáo, cần giữ lại, nếu để trao đổi thì chỉ lưu trữ trong
một thời gian ngắn.
Đối với những nhân vật
kiệt xuất trong lịch sử, toàn bộ tài liệu hình thành trong cuộc đời, sự nghiệp
của nhân vật đó sẽ được giữ lại.
Ví dụ: Phông lưu trữ Hồ
Chủ tịch, Phông lưu trữ Tổng Bí thư Lê Duẩn...
2.4.3. Tiêu chuẩn ý
nghĩa cơ quan, đơn vị hình thành phông
Cơ quan, đơn vị hình
thành phông là những cơ quan, cá nhân trong quá trình hoạt động của mình đã sản
sinh ra phông tài liệu.
Tiêu chuẩn tác giả khác
tiêu chuẩn ý nghĩa cơ quan, đơn vị hình thành phông.
Đôi khi tác giả của tài
liệu không phải là cơ quan hình thành phông.
Theo tiêu chuẩn này,
những cơ quan có vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước, những cá nhân kiệt
xuất, tiêu biểu thì tài liệu của những cơ quan, cá nhân đó được xem là nguồn bổ
sung quan trọng nhất cho phông lưu trữ quốc gia.
Những cơ quan có vị trí
ít quan trọng trong bộ máy nhà nước thì tài liệu sản sinh ra sẽ được bảo quản
tại kho lưu trữ của cơ quan nhằm phục vụ cho hoạt động hàng ngày cũng như phục
vụ việc nghiên cứu lịch sử của cơ quan.
2.4.4. Tiêu chuẩn sự
trùng lặp thông tin trong tài liệu
Sự trùng lặp thông tin
là sự lặp lại nội dung thông tin của tài liệu này trong tài liệu khác. Do nhu
cầu giải quyết công việc, do sự phát triển của các phương tiện sao in ngày càng
hiện đại và do nhu cầu sử dụng thông tin nên sự lặp lại thông tin của tài liệu
diễn ra phổ biến trong hoạt động của cơ quan dưới các dạng:
- Loại trùng lặp mang
tính hình thức do sao in, trích lục các loại tài liệu tạo nên. Do nhu cầu quản
lý và giải quyết công việc nên các văn bản được lập thành nhiều bản chính hoặc
sao thành nhiều bản bằng các hình thức sao như sao y bản chính, sao lục, trích
lục hoặc photocopy. Trong trường hợp này những thông tin trùng lặp gọi là tài
liệu trùng thừa.
- Loại xuất hiện do
việc tổng hợp các thông tin từ các loại tài liệu đã có thể lập thành một tài
liệu mới do yêu cầu công việc đòi hỏi. Trong trường hợp này những thông tin
trùng lặp gọi là tài liệu có thông tin bao hàm trong tài liệu khác.
Ví dụ: Báo cáo tổng kết
là tổng hợp các thông tin từ các báo cáo sơ kết, báo cáo quý.
- Loại xuất hiện mang
tính lặp lại thông tin nhưng đã có sự kế thừa và phát triển từ tài liệu cũ.
Trường hợp này có ở những văn bản cần phải soạn thảo và nghiên cứu nhiều lần.
Mỗi lần soạn thảo sau đều có sự kế thừa và phát triển những nội dung từ trước.
Trường hợp này gọi là những “dị bản”.
Ví dụ: Trong quá trình
soạn thảo Quy chế hoạt động của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội sẽ có nhiều bản dự
thảo khác nhau.
Trong khối tài liệu
hình thành từ các cơ quan, tổ chức, có nhiều loại tài liệu có sự lặp lại thông
tin một phần hoặc toàn bộ. Vì vậy, việc vận dụng tiêu chuẩn sự lặp lại thông
tin trong tài liệu là cần thiết để loại bỏ những tài liệu có thông tin không
chính xác, những tài liệu có thông tin pháp lý bị bao hàm, những tài liệu trùng
thừa.
+ Đối với loại trùng
lặp thông tin thứ nhất (tài liệu trùng thừa)
Nếu một văn bản có cả
bản chính và bản sao thì giữ lại bản chính có đầy đủ thể thức, có hình thức rõ
ràng và tình trạng vật lý tốt. Nếu thiếu bản chính chỉ còn bản sao (sao y bản
chính, sao lục) thì giữ lại bản sao đó và coi nó có giá trị ngang bằng bản chính.
Những tài liệu trùng lặp ở dạng sao chụp cả dấu (tài liệu photocopy) thì không
có giá trị pháp lý.
Trong trường hợp những
tài liệu có ý nghĩa chính trị, khoa học và các ý nghĩa quan trọng khác cần được
sử dụng rộng rãi thì có thể giữ thêm bản sao để phục vụ khai thác còn bản chính
để bảo hiểm. Nếu giữa bản chính và bản sao có sự sai lệch thì cần phải tìm
nguyên nhân của sự sai lệch đó, khi cần thiết có thể giữ lại bản đó để kiểm
tra.
Ngoài ra, nếu một phông
lưu trữ có nhiều bản trùng hoặc trùng lặp nội dung giữa hồ sơ này với hồ sơ
khác, thậm chí trùng giữa các phông tài liệu thì cần căn cứ vào chức năng nhiệm
vụ của từng cơ quan, đơn vị đã hình thành tài liệu đó và phạm vi thu thập tài liệu
để lựa chọn tài liệu bảo quản một cách hợp lý.
Ví dụ: Trung tâm Lưu
trữ quốc gia III có một số hồ sơ tài liệu của Phông Bộ Kế hoạch và Đầu tư trùng
với một số hồ sơ tài liệu của Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông Vận tải... khi các cơ
quan đó có chung một đối tượng thực hiện là dự án công trình cấp quốc gia. Xét
trong phạm vi một kho lưu trữ thì một tài liệu trùng ở các phông khác nhau
chúng có giá trị riêng biệt khác nhau. Vì vậy không thể loại tài liệu trùng như
quan niệm trong một phông lưu trữ.
+ Đối với loại trùng
lặp thông tin thứ hai (tài liệu có thông tin bao hàm trong tài liệu khác):
Việc lựa chọn tài liệu
có thông tin lặp lại trong các văn bản tổng hợp thường phức tạp hơn nhiều so
với loại trên. Về nguyên tắc những tài liệu có thông tin tổng hợp (thông tin
bao hàm) bao giờ cũng có giá trị hơn những tài liệu có thông tin bị tổng hợp
(bị bao hàm).
Ví dụ:
- Tài liệu về kế hoạch,
báo cáo công tác quy hoạch, kế hoạch, thống kê dài hạn, hàng năm: Thời hạn bảo
quản là vĩnh viễn.
- Tài liệu về kế hoạch,
báo cáo công tác quy hoạch, kế hoạch, thống kê 6 tháng, 9 tháng: Thời hạn bảo
quản là 20 năm.
- Tài liệu về kế hoạch,
báo cáo công tác quy hoạch, kế hoạch, thống kê quý, tháng: Thời hạn bảo quản là
5 năm
Tuy nhiên đối với những
tài liệu tổng hợp chưa phản ánh hết nội dung những tài liệu rời lẻ (tài liệu bị
bao hàm) thì cần giữ lại những tài liệu rời lẻ để phản ánh và làm sáng tỏ những
chi tiết và những sắc thái riêng biệt. Trường hợp này xảy ra đối với tài liệu
của nhiều ngành.
+ Đối với loại trùng
lặp thông tin thứ ba là những dị bản:
Nếu những tài liệu có
giá trị thì có thể giữ các bản đó nhưng với thời hạn bảo quản khác nhau. Đối
với bản thảo bản gốc cuối cùng là cơ sở để hình thành bản chính thường có thời
hạn bảo quản cao nhất trùng với bản chính.
Ví dụ: Bản dự thảo lần
cuối cùng của Quy chế hoạt động của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội là bản được
duyệt thì được bảo quản cùng thời hạn bảo quản như bản gốc, bản chính.
Như vậy, đối với mỗi
dạng thông tin lặp lại đòi hỏi phải xử lý một cách linh hoạt để quyết định chính
xác thời hạn bảo quản của nó.
2.4.5. Tiêu chuẩn thời
gian, địa điểm hình thành tài liệu
Về thời gian của tài
liệu: Thời gian được ghi chép trên tài liệu là một căn cứ để xem xét giá trị
của tài liệu. Thời gian được phản ánh trên tài liệu thông thường có hai loại:
thời gian sản sinh ra tài liệu và thời gian nói đến trong nội dung tài liệu.
Vận dụng tiêu chuẩn này trong xác định giá trị tài liệu cần chú ý đến những
thời kỳ đặc biệt, những giai đoạn lịch sử của Đảng và của dân tộc, của cơ quan,
địa phương.
Liên quan đến thời gian
của tài liệu là việc quy định mốc cấm trong việc tiêu hủy tài liệu ở nước ta.
Theo Quyết định số 168/HĐBT ngày 26/12/1981
của Hội đồng Bộ trưởng quy định những hồ sơ, tài liệu lưu trữ sản sinh từ năm
1954 trở về trước đều không được tiêu hủy. Bởi vì những tài liệu phản ánh lịch
sử của dân tộc từ năm
1954 về trước hiện giữ lại Được là rất ít.
Địa điểm sản sinh tài
liệu: Địa điểm sản sinh ra tài liệu là nơi lập ra tài liệu. Vận dụng tiêu chuẩn
này cần chú ý những tài liệu liên quan đến các địa điểm từng xảy ra những sự
kiện lịch sử quan trọng hoặc những địa điểm có quan hệ lớn đến đời sống chính
trị, xã hội của đất nước, của địa phương đó.
2.4.6. Tiêu chuẩn mức
độ hoàn chỉnh và chất lượng của phông lưu trữ
Mức độ hoàn chỉnh của
phông được hiểu là hồ sơ, tài liệu của một phông phải đầy đủ kể từ khi bắt đầu
đến khi kết thúc hoạt động của cơ quan.
Chất lượng của phông
lưu trữ được hiểu là hồ sơ, tài liệu trong phông phải phản ánh đầy đủ những mặt
hoạt động của đơn vị, cá nhân hình thành phông, đồng thời những hồ sơ, tài liệu
đó phải đầy đủ các yếu tố pháp lý.
Vận dụng tiêu chuẩn này
trong quá trình xác định giá trị tài liệu, nếu gặp những phông mà tài liệu của
chúng bị mất mát thất lạc nhiều, khối lượng tài liệu còn lại ít thì những tài
liệu có giá trị thấp vẫn cần được giữ lại để bảo quản trong phông.
2.4.7. Tiêu chuẩn hiệu
lực pháp lý của tài liệu
Hiệu lực pháp lý của
tài liệu được thể hiện trên hai mặt: thể thức văn bản và nội dung văn bản.
Về thể thức, khi lựa
chọn tài liệu để bảo quản phải giữ lại các tài liệu có đầy đủ thể thức theo qui
định. Tuy nhiên, trong từng hoàn cảnh lịch sử khác nhau, cũng phải có sự xem
xét toàn diện vận dụng tiêu chuẩn này trong khi xác định giá trị tài liệu.
Về nội dung văn bản:
Tài liệu có giá trị pháp lý phải có nội dung không sai phạm về luật pháp của
nhà nước.
2.4.8. Tiêu chuẩn ngôn
ngữ, kỹ thuật chế tác và đặc điểm bên ngoài tài liệu
Tài liệu lưu trữ ở các
nước và ở nước ta hình thành do nhiều vật liệu và phương pháp chế tác khác
nhau: khắc trên gỗ, trên đá, trên đồng, trên lá cọ, viết trên lụa… Ngôn ngữ
trên tài liệu lưu trữ ở nước ta còn có chữ Hán, chữ Nôm, chữ nước ngoài và cả
những chữ viết của đồng bào dân tộc ít người. Giá trị của tài liệu trong nhiều
trường hợp được thể hiện qua ngôn ngữ, kỹ thuật chế tác, bút tích và qua một số
đặc điểm bên ngoài, đặc biệt là đối với tài liệu cổ.
Tóm lại, các tiêu chuẩn
xác định giá trị tài liệu cần được vận dụng một cách tổng hợp và cần dựa trên
cơ sở thực tế của từng lúc, từng nơi để lựa chọn tài liệu một cách khoa học,
tránh máy móc, mà phải có quan điểm toàn diện, tổng hợp và lịch sử.
2.5. Tổ chức công tác
xác định giá trị tài liệu
2.5.1. Các giai đoạn
xác định giá trị tài liệu
2.5.1.1. Xác định giá
trị tài liệu trong giai đoạn văn thư
Giai đoạn văn thư là
giai đoạn tài liệu được hình thành trong quá trình giải quyết công việc. Khi
công việc chưa kết thúc, tài liệu đó đang có giá trị hiện hành và được sử dụng
để giải quyết những công việc trước khi giao nộp vào Lưu trữ cơ quan để bảo
quản.
Việc xác định giá trị tài
liệu ở giai đoạn văn thư được đặt ra ngay từ khi lập danh mục hồ sơ cho các cơ
quan và chủ yếu trong việc lựa chọn tài liệu để lập hồ sơ. Lập danh mục hồ sơ
là xác định trước những hồ sơ cần được lập và xác định trước thời hạn bảo quản
của những hồ sơ đó để lựa chọn những tài liệu nào cần lập hồ sơ và giao nộp vào
Lưu trữ cơ quan, những loại hồ sơ tài liệu nào không cần nộp vào Lưu trữ cơ
quan.
Xác định giá trị tài
liệu trong văn thư, chủ yếu nhất là để tài liệu khi đã kết thúc công việc phải
được lập thành hồ sơ, lựa chọn đủ tài liệu có giá trị đưa vào hồ sơ, loại những
văn bản không thuộc hồ sơ ra khỏi hồ sơ; ghi thời hạn bảo quản cho hồ sơ theo
Danh mục hồ sơ có ghi thời hạn bảo quản. Nếu không có Danh mục hồ sơ, thì xin ý
kiến lãnh đạo và Văn phòng xem hồ sơ đã được lập cần khai thác giá trị hiện
hành của nó bao nhiêu năm để ghi được thời hạn bảo quản. Sau đó, lập danh mục
hoàn chỉnh những hồ sơ đã được lập để giao nộp vào Lưu trữ cơ quan khi đến hạn
nộp lưu.
Tài liệu được hình
thành ở giai đoạn văn thư vừa là phương tiện vừa là công cụ hoạt động của cơ
quan. Sau khi công việc kết thúc, tài liệu của mỗi sự việc được xếp vào từng tờ
bìa hồ sơ. Hồ sơ đó được giữ lại một năm tại nơi lập sau khi kế hoạch công tác
năm của cơ quan đã kết thúc và các công việc được giải quyết trong năm đã sắp
xếp việc nào ra việc ấy thì viên chức chuyên môn phải lựa chọn những văn bản có
giá trị để lưu lại trong hồ sơ, bổ sung những văn bản còn thiếu và loại ra
những giấy tờ không có giá trị như tài liệu trùng thừa, tư liệu tham khảo khác.
Những hồ sơ đó được để
lại đơn vị công tác trong thời hạn một năm, hết thời hạn một năm các hồ sơ có
giá trị phải nộp vào Lưu trữ cơ quan.
Như vậy, việc xác định
giá trị tài liệu ở giai đoạn văn thư ngay từ đầu đã lựa chọn sơ bộ những tài
liệu có giá trị và loại ra những tài liệu hết giá trị hoặc không có giá trị để tiêu
hủy. Xác định giá trị tài liệu ở giai đoạn này chính xác sẽ tạo điều kiện thuận
lợi cho việc chuẩn bị những tài liệu của cơ quan ở giai đoạn văn thư trước khi
nộp vào Lưu trữ cơ quan. Đồng thời tạo điều kiện tốt cho các giai đoạn xác định
giá trị tài liệu về sau.
2.5.1.2. Xác định giá
trị tài liệu trong Lưu trữ cơ quan
Xác định giá trị tài
liệu trong Lưu trữ cơ quan chủ yếu là kiểm tra lại việc lập hồ sơ, ghi thời hạn
bảo quản được các đơn vị giao nộp vào. Lập Mục lục hồ sơ lưu trữ đối với những
hồ sơ có giá trị lịch sử để giao nộp vào Lưu trữ lịch sử khi đến hạn nộp lưu.
Lập danh mục những hồ sơ bảo quản có thời hạn, không, hoặc chưa được xác định
là có giá trị lịch sử để bảo quản riêng tại Lưu trữ cơ quan. Hằng năm, xác định
lại những hồ sơ có thời hạn bảo quản lâu dài khi hết thời hạn bảo quản để nếu
có giá trị lịch sử thì bổ sung vào Mục lục hồ sơ lưu trữ, nếu không, thì cùng
với hồ sơ, tài liệu bảo quản tạm thời đã kết thúc thời hạn bảo quản, làm thủ
tục tiêu hủy theo quy định.
Sau khi tiếp nhận tài
liệu nộp lưu ở giai đoạn văn thư, Lưu trữ cơ quan có nhiệm vụ kiểm tra lại giá
trị các hồ sơ đã nhận. Tại đây, có thể điều chỉnh lại thời hạn bảo quản đúng
với giá trị của nó trên cơ sở toàn bộ tài liệu thuộc phạm vi quản lý sẽ được
đánh giá một cách tổng hợp.
Công tác xác định giá
trị tài liệu ở giai đoạn này có thể được tiến hành độc lập hoặc kết hợp trong
các nghiệp vụ khác như: thống kê, phân loại và đặc biệt là trong chỉnh lý tài
liệu. Tài liệu bảo quản ở lưu trữ cơ quan chủ yếu có giá trị thực tiễn, phục vụ
việc tra tìm thường xuyên của cán bộ viên chức trong cơ quan. Những tài liệu
hết giá trị, tài liệu trùng lặp thông tin sẽ được loại ra và làm các thủ tục để
tiêu hủy.
Công tác xác định giá
trị tài liệu ở giai đoạn Lưu trữ cơ quan rất quan trọng vì nó tạo điều kiện
thuận lợi để bổ sung vào Lưu trữ lịch sử và tối ưu hóa thành phần phông lưu
trữ.
2.5.1.3. Xác định giá
trị tài liệu trong Lưu trữ lịch sử
Lưu trữ lịch sử là hệ
thống các kho, trung tâm lưu trữ như các Trung tâm lưu trữ quốc gia, Lưu trữ
lịch sử ở tỉnh, có nhiệm vụ thu thập và bảo quản tài liệu lưu trữ có giá trị
lịch sử.
Xác định giá trị tài
liệu tại lưu trữ lịch sử là tối ưu hóa thành phần các phông TLLT tại Lưu trữ lịch
sử. Đồng bộ hóa mức độ giá trị TLLT mới thu vào từ các nguồn nộp lưu theo quy
định nội vụ của Lưu trữ lịch sử để định hướng chế độ ưu tiên quản lý, bảo vệ
hoặc lập Phông bảo hiểm TLLT, ví dụ lựa chọn xếp loại giá trị A,B,C…
Việc xác định giá trị
tài liệu ở Lưu trữ lịch sử là giai đoạn xác định giá trị tài liệu cuối cùng nên
đòi hỏi phải hết sức thận trọng. Tài liệu được thu thập vào lưu trữ lịch sử là
những tài liệu có giá trị lịch sử (giá trị bảo quản vĩnh viễn) của các cơ quan,
tổ chức thuộc nguồn nộp lưu theo quy định.
Nhiệm vụ của các Lưu
trữ lịch sử là lựa chọn và kiểm tra các hồ sơ tiếp nhận từ lưu trữ cơ quan
thuộc nguồn nộp lưu. Tại đây, các hồ sơ sẽ được xem xét giá trị lần cuối cùng
để quyết định bảo quản cố định. Khi kiểm tra, có thể điều chỉnh lại thời hạn
bảo quản đã được đánh giá ở giai đoạn trước không chính xác hoặc loại bỏ những
hồ sơ, tài liệu bị trùng lặp giữa các phông hay tài liệu đã thực sự hết giá trị
để tiêu hủy. Việc xác định giá trị tài liệu ở giai đoạn này cũng được tiến hành
đồng thời với công tác thống kê, kiểm tra, chỉnh lý tài liệu lưu trữ.
Như vậy, việc xác định
giá trị tài liệu được tiến hành ở ba giai đoạn là: giai đoạn văn thư, giai đoạn
Lưu trữ cơ quan, giai đoạn Lưu trữ lịch sử. Mỗi giai đoạn có những đặc thù
riêng và có mối quan hệ chặt chẽ qua lại. Giai đoạn trước là tiền đề cho giai
đoạn sau và giai đoạn sau là kết quả cuối cùng của việc tối ưu hóa thành phần
tài liệu Phông lưu trữ quốc gia Việt Nam.
2.5.2. Hội đồng xác
định giá trị tài liệu
2.5.2.1. Khái niệm
Hội đồng xác định giá
trị tài liệu là một tổ chức tư vấn ở các cơ quan, được thành lập bởi văn bản
của thủ trưởng cơ quan mỗi khi xác định giá trị tài liệu.
2.5.2.2 Nhiệm vụ của
Hội đồng xác định giá trị tài liệu
Tư vấn cho thủ trưởng
cơ quan tổ chức về việc quy định:
- Mục lục hồ sơ, tài
liệu giữ lại để bảo quản;
- Danh mục tài liệu hết
giá trị
2.5.2.3. Thành phần của
Hội đồng xác định giá trị tài liệu
Hội đồng xác định giá
trị tài liệu do người đứng đầu cơ quan, tổ chức quyết định thành lập. Thành phần
của Hội đồng bao gồm:
- Cấp phó giúp việc về
chuyên môn của người đứng đầu cơ quan, tổ chức: Chủ tịch Hội đồng;
- Người làm lưu trữ ở
cơ quan, tổ chức: Ủy viên (thư ký Hội đồng);
- Đại diện lãnh đạo đơn
vị có tài liệu: Ủy viên;
- Người am hiểu về lĩnh
vực có tài liệu cần xác định giá trị: Ủy viên.
2.5.2.4. Lề lối làm
việc của Hội đồng xác định giá trị tài liệu
Hội đồng xác định giá
trị tài liệu thảo luận tập thể, kết luận theo đa số; các ý kiến khác nhau phải
được ghi vào biên bản cuộc họp để trình người đứng đầu cơ quan, tổ chức.
Trên cơ sở đề nghị của
Hội đồng xác định giá trị tài liệu, người đứng đầu cơ quan, tổ chức quyết định
thời hạn bảo quản tài liệu, lựa chọn tài liệu để giao nộp vào Lưu trữ cơ quan,
lựa chọn tài liệu lưu trữ của Lưu trữ cơ quan để giao nộp vào Lưu trữ lịch sử,
hủy tài liệu hết giá trị theo quy định.
2.5.3. Hội đồng thẩm
tra xác định giá trị tài liệu
Hội đồng này có nhiệm
vụ thẩm tra, phê duyệt kết quả xác định giá trị tài liệu của cơ quan có tài
liệu.
Việc thẩm tra tài liệu
hết giá trị trước khi tiêu hủy được quy định như sau:
- Cục Văn thư và Lưu
trữ Nhà nước thẩm tra tài liệu của các Trung tâm Lưu trữ quốc gia, của các cơ
quan tổ chức thuộc nguồn nộp lưu vào các Trung tâm Lưu trữ quốc gia;
- Chi cục Văn thư-Lưu
trữ tỉnh thẩm tra tài liệu của các cơ quan, tổ chức thuộc nguồn nộp vào Lưu trữ
lịch sử tỉnh (trong đó có cả cấp huyện)
- Lưu trữ cấp huyện
thẩm tra tài liệu của các cơ quan, tổ chức cấp xã;
- Lưu trữ của các cơ
quan, tổ chức cấp trên thẩm tra tài liệu của các đơn vị trực thuộc không thuộc
nguồn nộp vào Lưu trữ lịch sử.
2.5.4. Quy trình tiêu
hủy tài liệu hết giá trị
- Thành lập Hội đồng
xác định giá trị tài liệu;
- Lập danh mục tài liệu
hết giá trị; tờ trình và bản thuyết minh tài liệu hết giá trị;
- Tiến hành họp và lập
biên bản họp Hội đồng xác định giá trị tài liệu; Biên bản họp Hội đồng thẩm
tra xác định giá trị tài liệu;
- Trình văn bản đề nghị
thẩm định, xin ý kiến của cơ quan, tổ chức có tài liệu hết giá trị;
- Văn bản thẩm định,
cho ý kiến của cơ quan có thẩm quyền;
- Thủ trưởng cơ quan có
tài liệu ban hành Quyết định hủy tài liệu hết giá trị;
- Tổ chức bàn giao và
lập biên bản bàn giao tài liệu hủy;
- Tổ chức tiêu hủy và
lập biên bản hủy tài liệu hết giá trị;
- Lập và lưu hồ sơ tiêu
hủy tài liệu hết giá trị.
Khi tiến hành tiêu hủy
tài liệu hết giá trị phải đảm bảo hủy hết thông tin trong tài liệu bằng cách
đưa đến các cơ sở tái chế làm nguyên liệu giấy hoặc cắt nhỏ, đóng bao trong điều
kiện chưa đưa được đến nhà máy giấy. Đó là phương pháp tốt nhất vừa tiết kiệm
nguyên liệu, vừa bảo vệ bí mật của tài liệu. Việc đóng gói, vận chuyển và tiêu
hủy tài liệu hết giá trị phải được lập thành biên bản có sự chứng kiến của đại
diện lưu trữ cơ quan, bảo vệ cơ quan. Nghiêm cấm mọi hình thức đưa tài liệu
tiêu hủy sử dụng vào những mục đích khác như bán tài liệu cho tư thương...
2.5.5. Lập và lưu hồ sơ
hủy tài liệu hết giá trị
Các văn bản trong hồ sơ
tiêu hủy tài liệu hết giá trị gồm có:
- Quyết định thành lập
Hội đồng;
- Danh mục tài liệu hết
giá trị; tờ trình và bản thuyết minh tài liệu hết giá trị;
- Biên bản họp Hội đồng
xác định giá trị tài liệu; Biên bản họp Hội đồng thẩm tra xác định giá trị tài
liệu;
- Văn bản đề nghị thẩm
định, xin ý kiến của cơ quan, tổ chức có tài liệu hết giá trị;
- Văn bản thẩm định,
cho ý kiến của cơ quan có thẩm quyền;
- Quyết định hủy tài
liệu hết giá trị;
- Biên bản bàn giao tài
liệu hủy;
- Biên bản hủy tài liệu
hết giá trị.
Hồ sơ hủy tài liệu hết
giá trị phải được bảo quản tại cơ quan, tổ chức có tài liệu bị hủy ít nhất 20
năm, kể từ ngày hủy tài liệu.
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Nội vụ,
Thông tư số 46/2005/TT-BNV ngày 27 tháng 4
năm 2005 hướng dẫn quản lý tài liệu khi chia, tách, sáp nhập cơ quan, tổ chức,
đơn vị hành chính và tổ chức lại, chuyển đổi hình thức sở hữu doanh nghiệp nhà
nước.
2. Bộ Nội vụ,
Thông tư số 16/2014/TT-BNV ngày 20 tháng 11
năm 2014 hướng dẫn giao, nhận tài liệu lưu trữ vào Lưu trữ lịch sử các cấp.
3. Bộ Nội vụ,
Thông tư số 17/2014/TT-BNV ngày 20 tháng 11
năm 2014 hướng dẫn xác định cơ quan, tổ chức thuộc nguồn nộp lưu tài liệu vào
Lưu trữ lịch sử các cấp.
4. Chính phủ,
Nghị định số 01/2013/NĐ-CP ngày 03 tháng 01
năm 2013 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật lưu trữ.
5. Cục Lưu trữ
Nhà nước, Quyết định số 13/QĐ-LTNN ngày 23
tháng 02 năm 2001 về việc ban hành Quy định về thẩm quyền quản lý và sưu tầm,
thu thập tài liệu của các Trung tâm lưu trữ quốc gia.
6. Cục Văn thư
và Lưu trữ Nhà nước, Quyết định 115/QĐ-VTLTNN
ngày 25 tháng 5 năm 2009 về việc ban hành Danh mục số 1 các cơ quan, tổ chức
thuộc nguồn nộp lưu tài liệu vào Trung tâm lưu trữ quốc gia II.
7. Cục Văn thư
và Lưu trữ Nhà nước, Quyết định 116/QĐ-VTLTNN
ngày 25 tháng 5 năm 2009 về việc ban hành Danh mục số 1 các cơ quan, tổ chức
thuộc nguồn nộp lưu tài liệu vào Trung tâm lưu trữ quốc gia III.
8. Cục Văn thư
và Lưu trữ Nhà nước, Quyết định số 26/QĐ-VTLTNN ngày 04 tháng 02 năm 2010 về
việc ban hành Danh mục các sự kiện cần sưu tầm vào Trung tâm lưu trữ quốc gia
III.
9. Cục Văn thư
và Lưu trữ Nhà nước, Quy chế số 278/QC-VTLTNN ngày 16 tháng 4 năm 2010 về việc
sưu tầm tài liệu lưu trữ;
10. Dương Văn
Khảm (2015), Từ điển tra cứu Nghiệp vụ Quản trị văn phòng-Văn thư-Lưu trữ Việt
Nam, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông.
11. Quốc hội, Luật lưu trữ - 2011/QH13.
12. Trường Đại
học Nội vụ Hà Nội, Giáo trình lý luận và phương pháp công tác lưu trữ,
NXB Lao động, Hà Nội 2017.
CÂU
HỎI ÔN TẬP, THẢO LUẬN
1. Hãy vẽ sơ đồ
cơ cấu tổ chức và xác định nguồn, thành phần tài liệu nộp lưu cho một lưu trữ
cơ quan cụ thể.
2. Trình bày
nhiệm vụ cụ thể của Lưu trữ cơ quan và Lưu trữ lịch sử trong việc thu thập tài
liệu vào lưu trữ.
3. Phân tích
vai trò của xác định giá trị tài liệu.
4. Việc vận
dụng các tiêu chuẩn có ý nghĩa như thế nào đối với việc lựa chọn tài liệu?
5. Trình bày
các loại công cụ xác định giá trị tài liệu. Theo anh (chị) để xây dựng bảng
thời hạn bảo quản tài liệu của 1 cơ quan cần căn cứ vào những yếu tố nào?
6. Soạn thảo
quyết định thành lập Hội đồng xác định giá trị tài liệu cho một cơ quan, tổ
chức cụ thể.
Chuyên
đề 10
NGHIỆP VỤ CHỈNH LÝ TÀI LIỆU
1. Khái niệm, mục
đích, ý nghĩa, yêu cầu và nguyên tắc chỉnh lý tài liệu
1.1. Khái niệm
chỉnh lý tài liệu
Chỉnh lý tài
liệu là việc phân loại, xác định giá trị, sắp xếp, thống kê, lập công cụ tra
cứu tài liệu hình thành trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân. (Điều 2- Luật lưu trữ số 01/2011/QH13)
1.2. Mục đích
- Tổ chức sắp
xếp hồ sơ, tài liệu của phông hoặc khối tài liệu đưa ra chỉnh lý một cách khoa
học tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý, bảo quản và khai thác, sử
dụng tài liệu;
- Loại ra những
tài liệu hết giá trị để tiêu hủy, qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng
kho tàng và trang thiết bị, phương tiện bảo quản.
1.3.Yêu cầu
- Phân loại và
lập thành hồ sơ hoàn chỉnh;
- Xác định thời
hạn bảo quản cho hồ sơ, tài liệu đối với lưu trữ hiện hành; xác định tài liệu
cần bảo quản vĩnh viễn và tài liệu hết giá trị cần loại ra để tiêu hủy đối với
lưu trữ lịch sử;
- Hệ thống hóa hồ
sơ, tài liệu;
- Lập các công
cụ tra cứu: mục lục hồ sơ, tài liệu; cơ sở dữ liệu và công cụ tra cứu khác phục
vụ cho việc quản lý, tra cứu sử dụng;
- Lập danh mục
tài liệu hết giá trị loại ra để tiêu hủy.
1.4. Nguyên tắc
chỉnh lý
- Không phân
tán phông lưu trữ. Tài liệu của từng đơn vị hình thành phông phải được chỉnh lý
và sắp xếp riêng biệt;
- Khi phân
loại, lập hồ sơ (chỉnh sửa hoàn thiện, phục hồi hoặc lập mới hồ sơ), phải tôn
trọng sự hình thành tài liệu theo trình tự theo dõi, giải quyết công việc.
- Tài liệu sau
khi chỉnh lý phải phản ánh được các hoạt động của cơ quan, tổ chức hình thành
tài liệu; sự liên hệ lôgíc và lịch sử của tài liệu.
2. Quy trình
chỉnh lý tài liệu
2.1. Chuẩn bị
chỉnh lý
2.1.1. Giao
nhận tài liệu
Việc giao nhận
tài liệu phải được lập thành biên bản (Phụ lục 1).
2.1.2. Vệ sinh
sơ bộ và vận chuyển tài liệu về địa điểm chỉnh lý
2.1.3. Khảo sát
tài liệu
2.1.3.1. Mục
đích, yêu cầu
- Mục đích của
việc khảo sát tài liệu là nhằm thu thập thông tin cần thiết về tình hình của
phông hoặc khối tài liệu đưa ra chỉnh lý, làm cơ sở cho việc biên soạn các văn
bản hướng dẫn chỉnh lý; lập kế hoạch và tiến hành sưu tầm, thu thập những tài
liệu chủ yếu còn thiếu để bổ sung cho phông và thực hiện chỉnh lý tài liệu đạt
yêu cầu nghiệp vụ đặt ra.
- Yêu cầu khảo
sát tài liệu là phải xác định rõ những vấn đề sau:
+ Tên phông;
giới hạn thời gian: thời gian sớm nhất và muộn nhất của tài liệu trong phông hoặc
khối tài liệu đưa ra chỉnh lý;
+ Khối lượng
tài liệu đưa ra chỉnh lý: số mét giá; số cặp, gói tài liệu và số lượng hồ sơ,
đơn vị bảo quản (đối với tài liệu đã được lập hồ sơ sơ bộ);
+ Thành phần
tài liệu: tài liệu hành chính bao gồm những loại văn bản, giấy tờ chủ yếu gì;
ngoài ra, trong phông hoặc khối tài liệu đưa ra chỉnh lý còn có những loại tài
liệu gì (tài liệu kỹ thuật, phim ảnh ghi âm...); …
+ Nội dung của
tài liệu: tài liệu của những đơn vị hay thuộc về những mặt hoạt động nào; những
lĩnh vực, vấn đề chủ yếu và sự kiện quan trọng trong hoạt động của cơ quan, đơn
vị hình thành phông được phản ánh trong tài liệu;
+ Tình trạng
của phông hoặc khối tài liệu đưa ra chỉnh lý:
Mức độ thiếu đủ
của phông hoặc khối tài liệu;
Mức độ xử lý về
nghiệp vụ: phân loại lập hồ sơ, xác định giá trị…;
Tình trạng vật
lý của phông hoặc khối tài liệu;
+ Tình trạng
công cụ thống kê, tra cứu.
2.1.3.2. Trình
tự tiến hành:
Bước 1: Nghiên cứu biên
bản, mục lục hồ sơ, tài liệu giao nộp từ đơn vị, cá nhân vào lưu trữ để nắm được
thông tin ban đầu về tài liệu.
Bước 2: Trực tiếp xem
xét khối tài liệu. Nếu có nhiều người cùng tham gia thì phân công mỗi người
khảo sát một phần.
Bước 3: Tập hợp thông
tin và viết báo cáo kết quả khảo sát theo Đề cương biên soạn đính kèm (Phụ
lục 2).
2.1.4. Thu thập
và bổ sung tài liệu (Nếu thiếu)
2.1.5. Nghiên
cứu, biên soạn các văn bản hướng dẫn chỉnh lý và lập kế hoạch chỉnh lý
2.1.5.1. Biên
soạn bản lịch sử đơn vị hình thành phông và lịch sử phông
Lịch sử đơn vị
hình thành phông là bản tóm tắt lịch sử về tổ chức và hoạt động của đơn vị
hình thành phông hoặc khối tài liệu.
Lịch sử phông là bản tóm tắt
tình hình, đặc điểm của phông tài liệu.
- Bản lịch sử
đơn vị hình thành phông và lịch sử phông phải được biên soạn chi tiết, đầy đủ
khi tổ chức chỉnh lý lần đầu; những lần chỉnh lý sau chỉ cần bổ sung thông tin
về sự thay đổi trong tổ chức và hoạt động của đơn vị hình thành phông và về
khối tài liệu đưa ra chỉnh lý nhằm mục đích:
+ Làm căn cứ
cho việc xây dựng kế hoạch chỉnh lý phù hợp;
+ Làm căn cứ
cho việc biên soạn các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ cụ thể trong chỉnh lý như:
hướng dẫn phân loại, lập hồ sơ; hướng dẫn xác định giá trị tài liệu và phương
án phân loại tài liệu;
+ Giúp cho
những người tham gia thực hiện chỉnh lý nắm bắt một cách khái quát về lịch sử
và hoạt động của đơn vị hình thành phông và về tình hình của phông hoặc khối
tài liệu đưa ra chỉnh lý.
- Khi biên soạn
các văn bản này, cần tham khảo tư liệu liên quan về đơn vị và về phông tài liệu
sau:
+ Các văn bản
quy phạm pháp luật và các văn bản khác về việc thành lập, chia tách, sáp nhập…;
quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của đơn vị hình thành
phông và các đơn vị cấu thành;
+ Các văn bản
quy định về quan hệ, lề lối làm việc và chế độ công tác văn thư của đơn vị hình
thành phông;
+ Các biên bản
giao nhận tài liệu; mục lục hồ sơ, tài liệu nộp lưu; sổ sách thống kê tài liệu
và sổ đăng ký văn bản đi, đến;
+ Báo cáo kết
quả khảo sát tài liệu;
+ Các tư liệu
khác có liên quan.
- Ngoài ra, có
thể thu thập thông tin cần thiết từ các cán bộ, công chức, viên chức trong cơ
quan, đơn vị.
Bản lịch sử đơn
vị hình thành phông và lịch sử phông có thể biên soạn riêng hoặc gộp làm một,
bao gồm 2 phần với những nội dung cụ thể theo Đề cương biên soạn đính kèm (Phụ
lục 3).
2.1.5.2. Biên
soạn bản hướng dẫn phân loại, lập hồ sơ
Hướng dẫn phân
loại, lập hồ sơ là bản hướng dẫn phân chia tài liệu của phông hoặc khối tài
liệu đưa ra chỉnh lý thành các nhóm lớn, nhóm vừa, nhóm nhỏ theo một phương án
phân loại nhất định và phương pháp lập hồ sơ; được dùng làm căn cứ để những
người tham gia chỉnh lý thực hiện việc phân loại tài liệu, lập hồ sơ và hệ
thống hóa hồ sơ toàn phông được thống nhất.
Phương án phân
loại tài liệu là bản dự kiến phân chia tài liệu thành các nhóm và trật tự
sắp xếp các nhóm tài liệu của phông.
Nội dung bản
hướng dẫn phân loại, lập hồ sơ
Bản hướng dẫn
phân loại, lập hồ sơ bao gồm 2 phần chính: hướng dẫn phân loại tài liệu và
hướng dẫn lập hồ sơ (Đề cương biên soạn đính kèm - Phụ lục 4)
* Phần 1. Hướng
dẫn phân loại tài liệu
Nội dung của phần
này bao gồm phương án phân loại tài liệu và những hướng dẫn cụ thể trong quá
trình phân chia tài liệu của phông hoặc khối tài liệu đưa ra chỉnh lý thành các
nhóm lớn, nhóm vừa, nhóm nhỏ hay đưa tài liệu vào các nhóm thích hợp. Có thể
lựa chọn một trong những phương án phân loại tài liệu sau:
+ Phương án “cơ
cấu tổ chức - thời gian”: áp dụng đối với tài liệu của đơn vị hình thành phông
có cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị, bộ phận tương đối rõ
ràng, ổn định;
+ Phương án “thời
gian - cơ cấu tổ chức”: áp dụng đối với tài liệu của đơn vị hình thành phông có
cơ cấu tổ chức hay thay đổi;
+ Phương án “mặt
hoạt động - thời gian”: áp dụng đối với tài liệu của đơn vị hình thành phông có
cơ cấu tổ chức hay thay đổi nhưng có chức năng, nhiệm vụ tương đối ổn định;
+ Phương án “thời
gian - mặt hoạt động”: áp dụng đối với tài liệu của đơn vị hình thành phông có
cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ hay thay đổi, không rõ ràng hoặc đối với
tài liệu của các đơn vị hình thành phông hoạt động theo nhiệm kỳ;
+ Phương án “vấn
đề - thời gian” và “thời gian - vấn đề”: áp dụng đối với tài liệu của đơn vị
hình thành phông nhỏ, có ít tài liệu; đối với tài liệu phông lưu trữ cá nhân và
các sưu tập tài liệu lưu trữ.
- Theo phương
án phân loại đã lựa chọn, các nhóm lớn, nhóm vừa và nhóm nhỏ có thể như sau:
+ Theo phương
án “cơ cấu tổ chức - thời gian”: các đơn vị tổ chức của đơn vị hình thành
phông; năm; các lĩnh vực hoặc nội dung hoạt động lớn của các đơn vị tổ chức;
+ Theo phương
án “thời gian - cơ cấu tổ chức”: năm; các đơn vị tổ chức của đơn vị hình thành
phông; các lĩnh vực hoặc nội dung hoạt động lớn của các đơn vị tổ chức;
+ Theo phương
án “mặt hoạt động - thời gian”: mặt hoạt động; năm; các lĩnh vực hoặc nội dung
hoạt động lớn trong phạm vi một mặt hoạt động;
+ Theo phương
án “thời gian - mặt hoạt động”: năm; mặt hoạt động; các lĩnh vực hoặc nội dung
hoạt động lớn trong phạm vi một mặt hoạt động.
* Phần 2. Hướng
dẫn lập hồ sơ
Nội dung phần
hướng dẫn lập hồ sơ bao gồm:
- Hướng dẫn chi
tiết về phương pháp tập hợp các văn bản, tài liệu theo đặc trưng chủ yếu như
vấn đề, tên gọi của văn bản, tác giả, cơ quan giao dịch, thời gian v.v.. thành
hồ sơ đối với những phông hoặc khối tài liệu còn ở trong tình trạng lộn xộn,
chưa được lập hồ sơ.
- Hướng dẫn
chỉnh sửa hoàn thiện hồ sơ đối với những phông hoặc khối tài liệu đã được lập
hồ sơ nhưng còn chưa chính xác, đầy đủ (chưa đạt yêu cầu nghiệp vụ đặt ra).
- Hướng dẫn
viết tiêu đề hồ sơ:
Tiêu đề hồ sơ
bao gồm các yếu tố thông tin cơ bản, phản ánh khái quát nội dung của văn bản,
tài liệu có trong hồ sơ, nhưng cần ngắn gọn, rõ ràng, chính xác và được thể
hiện bằng ngôn ngữ phù hợp. Các yếu tố thông tin cơ bản của tiêu đề hồ sơ
thường gồm: tên loại văn bản, tác giả, nội dung, địa điểm, thời gian. Trật tự
các yếu tố trên có thể thay đổi tùy theo từng loại hồ sơ.
- Hướng dẫn sắp
xếp văn bản, tài liệu bên trong hồ sơ:
2.1.5.3. Biên
soạn bản hướng dẫn xác định giá trị tài liệu
- Nội dung bản
hướng dẫn xác định giá trị tài liệu bao gồm 2 phần chính: phần bản kê (dự kiến)
các nhóm tài liệu cần giữ lại bảo quản hoặc loại ra khỏi phông và phần hướng
dẫn cụ thể được dùng làm căn cứ để những người tham gia chỉnh lý thực hiện việc
xác định giá trị và định thời hạn bảo quản cho từng hồ sơ được thống nhất (Đề
cương biên soạn đính kèm - Phụ lục 5).
2.1.5.4. Lập kế
hoạch chỉnh lý
Kế hoạch chỉnh
lý là
bản dự kiến nội dung công việc, tiến độ thực hiện, nhân lực và cơ sở vật chất
phục vụ cho việc chỉnh lý ( Phụ lục 6).
2.2. Thực hiện
chỉnh lý
2.2.1. Phân
loại tài liệu
Căn cứ bản
hướng dẫn phân loại, lập hồ sơ, tiến hành phân chia tài liệu thành các nhóm
theo trình tự sau:
Bước 1: Phân
chia tài liệu ra thành các nhóm lớn;
Bước 2: Phân
chia tài liệu trong nhóm lớn thành các nhóm vừa;
Bước 3: Phân
chia tài liệu trong nhóm vừa thành các nhóm nhỏ.
2.2.2. Lập hồ
sơ hoặc chỉnh sửa hoàn thiện hồ sơ
2.2.2.1. Lập hồ
sơ đối với phông tài liệu chưa được lập hồ sơ
2.2.2.2. Chỉnh
sửa hoàn thiện hồ sơ
Mỗi hồ sơ được
lập hoặc được chỉnh sửa hoàn thiện cần được để trong một tờ bìa tạm hoặc một sơ
mi riêng và đánh một số tạm thời; đồng thời, ghi số đó và những thông tin ban
đầu về mỗi hồ sơ (như tên viết tắt của các nhóm (nếu có) theo phương án phân
loại tài liệu, tiêu đề hồ sơ, thời hạn bảo quản và thời gian sớm nhất và muộn
nhất của tài liệu có trong hồ sơ) lên một tấm thẻ tạm hoặc một phiếu tin (Mẫu
phiếu tin và hướng dẫn biên mục phiếu tin tham khảo Phụ lục 7 đính kèm).
2.2.3. Biên mục
phiếu tin
(chi tiết xem Phụ
lục 7
đính kèm).
2.2.4. Hệ thống
hóa hồ sơ
Bước 1: Sắp xếp
các phiếu tin hoặc thẻ tạm trong phạm vi mỗi nhóm nhỏ; sắp xếp các nhóm nhỏ
trong từng nhóm vừa, các nhóm vừa trong mỗi nhóm lớn và các nhóm lớn trong
phông theo phương án phân loại tài liệu và đánh số thứ tự tạm thời lên phiếu
tin hoặc thẻ tạm.
Bước 2: Sắp xếp
toàn bộ hồ sơ hoặc đơn vị bảo quản của phông theo số thứ tự tạm thời của phiếu
tin hoặc thẻ tạm.
2.2.5. Biên mục
hồ sơ (đơn vị bảo quản)
2.2.5.1. Đánh
số tờ:
Dùng bút chì
đen, mềm hoặc máy dập số để đánh số thứ tự của tờ tài liệu, từ tờ đầu tiên tới
tờ cuối cùng có trong hồ sơ hoặc đơn vị bảo quản. Số tờ được đánh bằng chữ số
Ả-rập vào góc phải phía trên của tờ tài liệu.
2.2.5.2. Viết mục
lục văn bản:
Mục lục văn bản
là bản kê các văn bản tài liệu có trong hồ sơ. Mục lục văn bản gồm các thông
tin sau: Số thứ tự, số ký hiệu văn bản, ngày tháng văn bản, tác giả văn bản,
tên loại và trích yếu nội dung văn bản, tờ số, ghi chú.
2.2.5.3. Viết
chứng từ kết thúc:
Chứng từ kết
thúc là bản nhận xét về số lượng, chất lượng và trạng thái vật lý của văn bản,
tài liệu trong đơn vị bảo quản, tránh mất mát, đánh tráo, giả mạo, đồng thời
theo dõi được trạng thái vật lý của văn bản, tài liệu để có biện pháp bảo quản,
xử lý kịp thời...
+ Chứng từ kết
thúc được in sẵn vào tai cạnh của bìa hồ sơ theo Quyết định số 1687/QĐ-BKHCN ngày 23/7/2012 của Bộ Khoa học và
Công nghệ về việc công bố tiêu chuẩn quốc gia về bìa hồ sơ lưu trữ.
2.2.5.4. Viết
bìa hồ sơ:
+ Bìa hồ sơ
được thiết kế và in mẫu thống nhất theo Quyết định số 1687/QĐ-BKHCN ngày 23/7/2012 của Bộ Khoa học
và Công nghệ về việc công bố tiêu chuẩn quốc gia về bìa hồ sơ lưu trữ.(Tiêu
chuẩn Quốc gia TCVN 9251:2012).

2.2.6. Vệ sinh
tài liệu, tháo bỏ ghim, kẹp và làm phẳng tài liệu
2.2.7. Thống kê
tài liệu loại
2.2.7.1. Thống
kê tài liệu hết giá trị
- Tài liệu hết
giá trị loại ra được tập hợp thành các nhóm theo phương án phân loại và được
thống kê thành danh mục (Phụ lục 8).
+ Các bó, gói
tài liệu loại ra trong quá trình chỉnh lý được đánh số liên tục từ 01 đến hết
trong phạm vi toàn phông;
+ Trong mỗi bó,
gói, các tập tài liệu được đánh số riêng, từ 01 đến hết.

(Thống
kê tài liệu loại hủy)
2.2.7.2. Kiểm tra, làm
thủ tục tiêu hủy tài liệu loại
Hồ sơ đề nghị tiêu hủy tài
liệu gồm:
+ Danh mục tài liệu
loại kèm theo bản thuyết minh tài liệu loại;
+ Biên bản họp Hội đồng
xác định giá trị tài liệu của cơ quan, tổ chức;
+ Văn bản thẩm định của
cấp có thẩm quyền.
2.2.8. Đánh số chính
thức hồ sơ, viết và dán nhãn hộp
- Đánh số chính thức
bằng chữ số Ả rập cho toàn bộ hồ sơ của phông hoặc khối tài liệu đưa ra chỉnh
lý lên thẻ tạm hoặc phiếu tin và lên bìa hồ sơ. Số hồ sơ được đánh liên tục
trong toàn phông:
+ Đối với những phông
hoặc khối tài liệu được chỉnh lý lần đầu: từ số 01 cho đến hết;
+ Đối với những đợt
chỉnh lý sau: từ số tiếp theo số hồ sơ cuối cùng trong mục lục hồ sơ của chính
phông hoặc khối tài liệu đó trong đợt chỉnh lý trước.
- Vào bìa hồ sơ và đưa
hồ sơ vào hộp (cặp).
- Viết và dán nhãn hộp
(cặp): (Phụ lục 09)
2.2.9. Xây dựng công cụ
quản lý và tra tìm hồ sơ tài liệu
2.2.9.1. Lập mục lục hồ
sơ
Việc lập mục lục hồ sơ
bao gồm những nội dung sau:
- Viết lời nói đầu,
trong đó giới thiệu tóm tắt về lịch sử đơn vị hình thành phông và lịch sử
phông; phương án phân loại tài liệu và kết cấu của mục lục hồ sơ.
- Viết các bảng chỉ dẫn
mục lục như bảng chỉ dẫn vấn đề; bảng chỉ dẫn tên người; bảng chỉ dẫn tên địa
danh; bảng chữ viết tắt sử dụng trong mục lục.
- Căn cứ các nội dung
thông tin trên thẻ tạm, đánh máy và in bảng thống kê hồ sơ của phông; hoặc nhập
tin từ phiếu tin vào máy và in bảng thống kê hồ sơ từ CSDL quản lý và tra tìm
hồ sơ, tài liệu của phông (nếu CSDL được xây dựng kết hợp với việc chỉnh lý tài
liệu).
- Đóng quyển mục lục
(ít nhất 03 bộ) để phục vụ cho việc quản lý và khai thác, sử dụng tài liệu.
Mẫu trình bày mục lục
hồ sơ thực hiện theo Tiêu chuẩn ngành TCN-04-1997
“Mục lục hồ sơ” được ban hành kèm theo Quyết định số 72/QĐ-KHKT ngày 02/8/1997 của Cục Lưu trữ Nhà nước; riêng đối
với lưu trữ hiện hành thì bổ sung thêm cột “Thời hạn bảo quản” sau cột “Số
lượng tờ”. (Phụ lục 10)
2.2.9.2. Xây dựng CSDL
quản lý và tra tìm hồ sơ, tài liệu tự động hóa
(Thực hiện theo hướng
dẫn )
2.3. Tổng kết chỉnh lý
2.3.1. Kiểm tra kết quả
chỉnh lý
2.3.1.1. Căn cứ để kiểm
tra gồm:
+ Mục đích, yêu cầu của
đợt chỉnh lý;
+ Các văn bản hướng dẫn
chỉnh lý đã ban hành;
+ Báo cáo kết quả khảo
sát tài liệu;
+ Hợp đồng chỉnh lý (nếu
có);
+ Biên bản giao nhận
tài liệu để chỉnh lý;
+ Kế hoạch chỉnh lý.
2.3.1.2. Nội dung kiểm
tra:
+ Kiểm tra trên các văn
bản hướng dẫn chỉnh lý; mục lục hồ sơ; cơ sở dữ liệu và công cụ thống kê, tra
cứu khác (nếu có) và danh mục tài liệu loại của phông hoặc khối tài liệu chỉnh
lý;
+ Kiểm tra thực tế tài
liệu sau khi chỉnh lý.
2.3.1.3. Lập biên bản
kiểm tra, nghiệm thu chỉnh lý (nếu cần).
2.3.2. Bàn giao tài
liệu, vận chuyển tài liệu vào kho và sắp xếp lên giá
2.3.2.1. Bàn giao tài
liệu:
2.3.2.2. Lập biên bản
giao nhận tài liệu theo mẫu đính kèm (Phụ lục 1).
2.3.2.3. Vận chuyển tài
liệu vào kho bảo quản và sắp xếp lên giá.
2.3.3. Viết báo cáo
tổng kết chỉnh lý, trong đó trình bày tóm tắt về:
2.3.3.1. Những kết quả
đạt được:
- Tổng số tài liệu đưa
ra chỉnh lý và tình trạng tài liệu trước khi chỉnh lý;
- Tổng số tài liệu sau
khi chỉnh lý, trong đó:
+ Số lượng tài liệu giữ
lại bảo quản: số lượng hồ sơ bảo quản vĩnh viễn, có thời hạn bảo quản lâu dài,
tạm thời (hoặc bảo quản có thời hạn);
+ Số lượng tài liệu loại
ra để tiêu hủy: bó hoặc gói, tập và tính theo mét giá;
+ Số lượng tài liệu
chuyển phông khác hoặc để bổ sung cho phông;
- Chất lượng hồ sơ sau
khi chỉnh lý so với yêu cầu nghiệp vụ.
2.3.3.2. Nhận xét, đánh
giá:
- Tiến độ thực hiện đợt
chỉnh lý so với kế hoạch;
- Những ưu điểm, khuyết
điểm trong quá trình chỉnh lý;
- Kinh nghiệm rút ra
qua đợt chỉnh lý.
2.3.4. Hoàn chỉnh và
bàn giao hồ sơ đợt chỉnh lý
Hồ sơ đợt chỉnh lý để
bàn giao gồm:
- Báo cáo kết quả khảo
sát tài liệu;
- Các văn bản hướng dẫn
chỉnh lý và kế hoạch chỉnh lý;
- Mục lục hồ sơ; cơ sở
dữ liệu và công cụ thống kê, tra cứu khác (nếu có);
- Danh mục tài liệu hết
giá trị của phông hoặc khối tài liệu chỉnh lý kèm theo bản thuyết minh;
- Báo cáo kết quả đợt
chỉnh lý.
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Khoa học và
Công nghệ, Quyết định số 1687/QĐ-BKHCN ngày
23/7/2012 về việc công bố Tiêu chuẩn quốc gia: (1.TCVN 9251: 2012 Bìa hồ sơ lưu trữ; 2.TCVN 9252: 2012 Hộp bảo quản tài liệu lưu trữ;
3.TCVN 9253: 2012 Giá bảo quản tài
liệu lưu trữ.
2. Cục Văn thư
và Lưu trữ Nhà nước, Công văn số 283/VTLTNN-NVTW
của Cục Văn thư Lưu trữ Nhà nước ngày 19 tháng 5 năm 2004 ban hành bản hướng
dẫn chỉnh lý tài liệu hành chính.
3. Cục Văn thư
và Lưu trữ Nhà nước, Quyết định 321-QĐ/VTLTNN
ngày 22 tháng 8 năm 2005 ban hành Quy trình chỉnh lý tài liệu giấy
4. Cục Văn thư
và Lưu trữ Nhà nước, Quyết định 128-QĐ/CVTLTNN
ngày 01 tháng 6 năm 2009 ban hành “Quy trình chỉnh lý tài liệu giấy” theo TCVN ISO 9001-2000.
5. Quốc hội, Luật lưu trữ số 01/2011/QH13.
6. Trường Đại
học Nội vụ Hà Nội, Giáo trình lý luận và phương pháp công tác lưu trữ,
NXB Lao động, Hà Nội 2017.
CÂU
HỎI ÔN TẬP, THẢO LUẬN
1. Phân tích ý
nghĩa, tác dụng của việc tổ chức khoa học tài liệu trong các lưu trữ.
2. Từ thực tiễn
hoạt động của các cơ quan, tổ chức hãy lấy ví dụ minh họa cho các phương án
phân loại phông lưu trữ cơ quan.
3. Hãy biên mục
hoàn chỉnh 1 hồ sơ chỉnh lý.
PHỤ LỤC
Phụ
lục 01
|
TÊN CƠ QUAN,
TỔ CHỨC
(cơ
quan, tổ chức quản lý tài liệu)
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
|
………, ngày … tháng ….
năm 200…..
|
BIÊN BẢN GIAO NHẬN TÀI
LIỆU
- Căn cứ Công
văn số /VTLTNN-NVTW ngày tháng 5 năm 2004 của Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước v/v
ban hành bản Hướng dẫn chỉnh lý tài liệu hành chính;
- Căn cứ:.............……………………(1)……………………………...….
Chúng tôi gồm:
BÊN GIAO: ………………………(2)…………………..…, đại
diện là:
- Ông (bà):...................................................……....................................
Chức vụ công
tác/chức danh:....................................……………............
- Ông (bà):.................................................................……......................
Chức vụ công
tác/chức danh:..................................……...........................
BÊN NHẬN: ………………………(3)……………………, đại
diện là:
- Ông (bà):.......……................................................................................
Chức vụ công
tác/chức danh:.......................................……......................
- Ông (bà):.........................................................……...............................
Chức vụ công
tác/chức danh:...............................……..............................
Thống nhất lập
biên bản giao nhận tài liệu …………(4)…………..…….. với những
nội dung cụ thể như sau:
1. Tên phông
(hoặc khối) tài liệu:....................................................…......
2. Thời gian của tài
liệu:............................................................................
3. Thành phần và số
lượng tài liệu:
3.1. Tài liệu hành
chính:
- Tổng số hộp (cặp):...................................................................................
- Tổng số hồ sơ (đơn vị
bảo quản):...........………………………….........
- Quy ra mét giá:..............
mét
3.2. Tài liệu khác (nếu
có):........................................................................
4. Công cụ tra cứu và
tài liệu liên quan kèm theo (5):
Biên bản này được lập
thành hai bản; mỗi bên giữ một bản./.
|
ĐẠI DIỆN BÊN
GIAO
(Ký
tên và ghi rõ họ tên)
|
ĐẠI DIỆN BÊN
NHẬN
(Ký tên và ghi rõ họ tên)
|
Xác
nhận của cơ quan, tổ chức (6)
(chức
vụ, chữ kí của người có thẩm quyền, họ tên, đóng dấu)
Phụ
lục 2
ĐỀ
CƯƠNG BIÊN SOẠN BÁO CÁO KẾT QUẢ KHẢO SÁT TÀI LIỆU
BÁO
CÁO KẾT QUẢ KHẢO SÁT TÀI LIỆU
1. Tên phông
tài liệu:......................................................................................
2. Giới hạn
thời gian của tài liệu:....................................................…….....
3. Khối lượng
tài liệu:
3.1. Tài liệu
hành chính:
- Tổng số hộp
(cặp):.............................................…….....................................
- Tổng số hồ sơ
(đơn vị bảo quản):...........……………………………….........
- Quy ra mét
giá:.............. mét.
3.2. Tài liệu
khác (nếu có).
4. Thành phần
và nội dung của tài liệu:
4.1. Thành phần
tài liệu:
ngoài tài liệu hành chính, trong phông hoặc khối tài liệu còn có những loại tài
liệu gì (tài liệu kỹ thuật, phim ảnh ghi âm...).
4.2. Nội dung
của tài liệu:
tài liệu của những đơn vị tổ chức hay thuộc về mặt hoạt động nào; những lĩnh
vực, vấn đề chủ yếu gì.
5. Tình trạng
của phông hoặc khối tài liệu đưa ra chỉnh lý:
5.1. Mức độ
thiếu đủ của phông hoặc khối tài liệu;
5.2. Mức độ xử
lý về nghiệp vụ: phân loại lập hồ sơ, xác định giá trị v.v.…;
5.3. Tình trạng
vật lý của phông hoặc khối tài liệu.
6. Công cụ
thống kê, tra cứu (nếu có).
|
|
……….…….,
ngày... tháng... năm 200.….
Người khảo sát
(Ký tên)
|
Phụ
lục 3
LỊCH SỬ ĐƠN VỊ HÌNH THÀNH PHÔNG VÀ LỊCH
SỬ PHÔNG
Giai
đoạn:....................................
I. LỊCH SỬ ĐƠN
VỊ HÌNH THÀNH PHÔNG
1. Bối cảnh
lịch sử; thời gian thành lập; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức
của cơ quan, tổ chức - đơn vị hình thành phông; chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của
các đơn vị trực thuộc (cần nêu rõ số, ký hiệu; ngày, tháng, năm và tác giả của
văn bản thành lập cơ quan, tổ chức);
2. Những thay
đổi, bổ sung (nếu có) về: chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
đơn vị hình thành phông; chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của các đơn vị trực thuộc;
3. Ngày, tháng,
năm ngừng hoạt động (đối với đơn vị hình thành phông đã ngừng hoạt động);
4. Quy chế làm
việc và chế độ công tác văn thư (nêu tóm tắt lề lối làm việc, quan hệ công tác
và chế độ công tác văn thư) của cơ quan, tổ chức và những thay đổi quan trọng
(nếu có).
II. LỊCH SỬ
PHÔNG
1. Giới hạn
thời gian của tài liệu.
2. Khối lượng
tài liệu:
2.1. Tài liệu
hành chính:
- Tổng số hộp
(cặp): ………………………………………………...….;
- Tổng số hồ sơ
(đơn vị bảo quản): …………………………………..;
- Quy ra mét
giá:.............. mét.
2.2. Tài liệu
khác (nếu có).
3. Thành phần
và nội dung của tài liệu:
3.1. Thành phần
tài liệu:
- Tài liệu hành
chính bao gồm những loại văn bản, giấy tờ chủ yếu gì;
- Tài liệu khác
(tài liệu kỹ thuật, phim ảnh ghi âm...) (nếu có).
3.2. Nội dung
của tài liệu, nêu cụ thể:
- Tài liệu của
những đơn vị tổ chức hay thuộc về mặt hoạt động nào;
- Những lĩnh
vực, vấn đề chủ yếu và sự kiện quan trọng gì trong hoạt động của đơn vị hình
thành phông được phản ánh trong tài liệu.
4. Tình trạng
của phông hoặc khối tài liệu đưa ra chỉnh lý:
4.1. Tình hình
thu thập tài liệu vào lưu trữ của cơ quan, tổ chức và giao nộp tài liệu vào lưu
trữ lịch sử (nếu có);
4.2. Mức độ
thiếu đủ của phông hoặc khối tài liệu;
4.3. Mức độ xử
lý về nghiệp vụ: phân loại lập hồ sơ, xác định giá trị v.v.…;
4.4. Tình trạng
vật lý của phông hoặc khối tài liệu
5. Công cụ
thống kê, tra cứu (nếu có)
6. Nhu cầu khai
thác, sử dụng tài liệu
|
Phê duyệt
(của người có thẩm quyền hoặc người có trách nhiệm (nếu có))
(Ký tên)
|
.……., ngày...
tháng... năm200.….
Người biên soạn
(Ký tên)
|
Phụ
lục 4
HƯỚNG DẪN PHÂN LOẠI, LẬP HỒ SƠ
Phông.....................……...............................
Giai
đoạn:.................................
I. HƯỚNG DẪN
PHÂN LOẠI TÀI LIỆU
1. Phương án
phân loại tài liệu:
- Căn cứ lịch
sử đơn vị hình thành phông và lịch sử phông;
- Căn cứ tình
hình thực tế tài liệu của phông;
- Căn cứ yêu
cầu tổ chức, sắp xếp và khai thác sử dụng tài liệu,
Tài liệu phông.........................................................……
được phân loại theo phương án ………………….…………………...; cụ thể như sau:
I. Tên nhóm lớn
(nhóm cơ bản) 1
1.1. Tên nhóm
vừa 1
1.1.1. Tên nhóm
nhỏ 1
1.1.2. Tên nhóm
nhỏ 2
1.1.3. Tên nhóm
nhỏ 3
1.2. Tên nhóm
vừa 2
II. Tên nhóm
lớn (nhóm cơ bản) 2
2.1. Tên nhóm
vừa 1
2.1.1. Tên nhóm
nhỏ 1
2.1.2. Tên nhóm
nhỏ 2
2.1.3. Tên nhóm
nhỏ 3
2.2. Tên nhóm
vừa 2
III. Tên nhóm
lớn (nhóm cơ bản) 3
3.1. Tên nhóm
vừa 1
3.2. Tên nhóm
vừa 2
IV......................................
2. Hướng dẫn cụ
thể trong quá trình phân loại tài liệu:
Trong phần này,
căn cứ tình hình thực tế của phông hoặc khối tài liệu đưa ra chỉnh lý, cần
trình bày những hướng dẫn chi tiết, cụ thể về việc phân chia tài liệu thành các
nhóm lớn, nhóm vừa và nhóm nhỏ để những người tham gia phân loại tài liệu thực
hiện thống nhất.
II. HƯỚNG DẪN
LẬP HỒ SƠ
Trình bày các
hướng dẫn chi tiết về:
1. Phương pháp
tập hợp văn bản, tài liệu thành hồ sơ đối với những phông hoặc khối tài liệu
còn ở trong tình trạng lộn xộn, chưa được lập hồ sơ;
2. Chỉnh sửa
hoàn thiện hồ sơ đối với những phông hoặc khối tài liệu đã được lập hồ sơ nhưng
còn chưa chính xác, đầy đủ (chưa đạt yêu cầu nghiệp vụ);
3. Việc viết
tiêu đề hồ sơ;
4. Việc sắp xếp
văn bản, tài liệu bên trong hồ sơ;
5. Việc biên mục
hồ sơ.
|
Phê duyệt
của người có thẩm quyền hoặc người có trách nhiệm (nếu có)
(Ký tên)
|
.……., ngày...
tháng... năm 200.….
Người biên soạn
(Ký tên)
|
Phụ
lục 5
HƯỚNG DẪN XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ TÀI LIỆU
Phông.....................................................
Giai
đoạn:...............................
Căn cứ......
(nêu các căn cứ được vận dụng để biên soạn hướng dẫn xác định giá trị tài liệu
phông......,
Việc xác định
giá trị và định thời hạn bảo quản cho hồ sơ, tài liệu trong quá trình chỉnh lý
phông................. được thực hiện theo hướng dẫn dưới đây:
A. Nhóm hồ sơ,
tài liệu bảo quản vĩnh viễn, lâu dài: liệt kê cụ thể các loại
hồ sơ, tài liệu có thời hạn bảo quản vĩnh viễn, lâu dài.
B. Nhóm hồ sơ,
tài liệu bảo quản tạm thời: liệt kê cụ thể các loại hồ sơ, tài liệu có thời
hạn bảo quản tạm thời.
C. Nhóm tài
liệu loại ra khỏi phông: liệt kê cụ thể những loại tài liệu loại ra khỏi
phông, gồm:
I. Tài liệu hết
giá trị
II. Tài liệu
trùng thừa
III. Tài liệu
bị bao hàm
IV. Tài liệu
không thuộc phông
Ngoài ra, trong
văn bản này, cần trình bày những hướng dẫn chi tiết, cụ thể về việc xác định
giá trị tài liệu và định thời hạn bảo quản cho từng hồ sơ để những người tham
gia chỉnh lý thực hiện được thống nhất.
Phụ
lục 6
KẾ HOẠCH CHỈNH LÝ TÀI LIỆU
Phông
……..............................….
Giai
đoạn:.............................
1. Mục đích,
yêu cầu của đợt chỉnh lý
- Tổ chức khoa
học tài liệu phông.......... phục vụ yêu cầu quản lý, bảo quản an toàn và tổ
chức sử dụng tài liệu của phông.
- Chỉnh lý theo
Hướng dẫn chỉnh lý tài liệu hành chính ban hành theo Cục Văn thư và Lưu trữ nhà
nước.
- Bảo vệ, bảo
quản an toàn tài liệu trong quá trình chỉnh lý.
2. Nội dung
công việc, phân công trách nhiệm và thời hạn hoàn thành
|
TT
|
Nội
dung công việc
|
Người
thực
hiện
|
Người
phối
hợp
|
Thời
hạn
|
|
1
|
Giao nhận tài liệu
|
...........
|
..........
|
.......
|
|
2
|
Khảo sát tài liệu và
viết báo cáo kết
quả khảo
sát
|
...........
|
..........
|
.......
|
|
3
|
Vệ sinh sơ bộ tài
liệu
|
...........
|
..........
|
.......
|
|
|
.............................
|
...........
|
..........
|
.......
|
Các nội dung, các bước
công việc và thời gian thực hiện cần được xác định cụ thể và phân công
trách nhiệm thực hiện rõ ràng.
3. Chuẩn bị địa điểm,
phương tiện và văn phòng phẩm phục vụ chỉnh lý:
a) Chuẩn bị địa điểm chỉnh
lý: phòng
làm việc, bàn ghế và phương tiện khác.
b) Văn phòng phẩm (giấy, bút bi, bút chì
mềm, bút đánh số hộp, mực, bút viết
bìa và viết nhãn hộp; bìa hồ sơ; hộp đựng tài liệu; dao, kéo, thước kẻ....).
4. Kinh phí chỉnh lý:
Tổng số: Trong đó:
- Thuê lao động thực
hiện chỉnh lý:
- Mua phương tiện, văn
phòng phẩm phục vụ chỉnh lý:
- Chi khác:
|
Phê duyệt
của người có thẩm quyền hoặc người có trách nhiệm (nếu có)
(Ký tên)
|
.……., ngày...
tháng... năm 200.….
Người lập kế hoạch
(Ký tên)
|
Phụ
lục 7
MẪU PHIẾU TIN TÀI LIỆU HÀNH CHÍNH
(Trình
bày trên 2 mặt của tờ giấy khổ A5: 148 mm x 210 mm)
|
1. Tên (hoặc
mã) kho lưu trữ:...............................................................................
2. Tên (hoặc
mã) phông:.........................................................................................
3. Số lưu
trữ: a. Mục lục số:....................................................................
b.
Hộp số:...........................………………………..............
c.
Hồ sơ số:........................................................................
4. Ký hiệu
thông tin:.................................................................................................
5. Tiêu đề hồ
sơ:...........................................................................................................
6. Chú giải:.......................................................................................…..........................
7. Thời gian
của tài liệu:..........................................................................…..........
a. Bắt đầu:.......................................
b.
Kết thúc:...............................….................
8. Ngôn ngữ:..................................................................................................…............
9. Bút tích:........................................................................................................…...........
10. Số lượng
tờ:.............................................................................................…...........
11. Thời hạn
bảo quản:..............................................................................…..........
12. Chế độ sử
dụng:.........................................................................................….....
13. Tình trạng vật
lý:.................................................................................…...........
|
Phụ
lục 8
DANH MỤC TÀI LIỆU LOẠI
|
Bó/gói số
|
Tập
số
|
Tiêu
đề tập tài liệu
|
Lý
do loại
|
Ghi
chú
|
|
(1)
|
(2)
|
(3)
|
(4)
|
(5)
|
|
|
|
|
|
|
Phụ
lục 9
MẪU NHÃN HỘP (CẶP)
|
TÊN KHO LƯU TRỮ
TÊN PHÔNG HOẶC PHÔNG SỐ
HỘP (CẶP) SỐ
...........................
Từ hồ sơ số:.........................................
Đến
hồ sơ số:.......................................
|
Phụ
lục 10
MẪU PHẦN ĐĂNG KÝ MỤC
LỤC HỒ SƠ
|
Cặp (hộp) số
|
Hồ sơ số
|
Đơn
vị TC/Mặt HĐ/Tiêu đề hồ sơ
|
Thời gian BĐ&KT
|
Số
lượng tờ
|
THBQ
|
Ghi chú
|
|
1)
|
2)
|
(3)
|
(4)
|
(5)
|
(6)
|
(7)
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Chuyên
đề 11
NGHIỆP VỤ BẢO QUẢN TÀI LIỆU LƯU TRỮ
1. Khái niệm, ý
nghĩa tác dụng của bảo quản tài liệu lưu trữ
1.1. Khái niệm
Bảo quản tài
liệu lưu trữ là sử dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật để kéo dài tuổi thọ và
bảo đảm an toàn cho tài liệu nhằm phục vụ các yêu cầu khai thác, sử dụng tài
liệu.
1.2. Ý nghĩa
tác dụng
Thực tế bảo
quản tài liệu lưu trữ ở nhiều cơ quan, tổ chức hiện nay do một số nguyên nhân
như thời gian tài liệu hình thành đã lâu, các yếu tố trong tự nhiên bất lợi cho
công tác bảo quản, việc thiếu ý thức giữ gìn, bảo vệ tài liệu, thiếu kho tàng
và trang thiết bị bảo quản thì ở nhiều cơ quan một khối lượng lớn tài liệu lưu trữ
đã bị hư hỏng hoặc đứng trước nguy cơ xuống cấp, hư hỏng. Trước thực trạng đó,
bảo quản tài liệu lưu trữ là một nhiệm vụ cấp thiết được đặt ra với các cơ
quan, tổ chức vì nếu không có biện pháp bảo quản tốt thì những tài liệu này có
thể bị mất mát, hư hỏng mà rất khó hoặc không thể phục hồi được.
Về mặt địa lý
nước ta nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nên các yếu tố tác động của tự
nhiên như nhiệt độ, độ ẩm cao, lũ lụt, vi sinh vật, côn trùng v.v... tác động
phá hoại rất lớn đối với tài liệu lưu trữ. Do đó, công tác bảo quản tài liệu
lưu trữ ở nước ta là một nhiệm vụ rất khó khăn và phức tạp và phải được thực
hiện thường xuyên.
Đối với cơ
quan, tổ chức, bảo quản tốt tài liệu lưu trữ giúp giữ lại được bằng chứng về
quá trình hoạt động của cơ quan, phục vụ cho công tác khai thác, sử dụng tài
liệu lưu trữ để giải quyết các công việc hàng ngày của cơ quan, tổ chức cũng
như phục vụ cho nghiên cứu lâu dài.
Đối với quốc
gia, bảo quản tài liệu lưu trữ nếu được thực hiện tốt sẽ góp phần bảo tồn nguồn
di sản văn hóa của dân tộc, di sản tư liệu của Thế giới. Qua đó giúp cho người
dân nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của tài liệu lưu trữ cũng như công
tác lưu trữ.
2. Nội dung
công tác bảo quản tài liệu lưu trữ
2.1. Xây dựng,
cải tạo kho lưu trữ
Việc xây dựng
và cải tạo kho lưu trữ là nhiệm vụ hàng đầu của công tác bảo quản tài liệu lưu
trữ. Đối với lưu trữ lịch sử thì phải lập dự án xây dựng kho lưu trữ chuyên
dụng để bảo quản vĩnh viễn tài liệu lưu trữ có giá trị lịch sử. Đối với lưu trữ
cơ quan có thể cải tạo các phòng hiện có thành kho lưu trữ.
2.2. Trang bị
trang thiết bị kỹ thuật bảo quản
Đây là điều
kiện cần thiết về cơ sở vật chất nhằm thực hiện công tác bảo quản tài liệu lưu
trữ. Bao gồm các trang thiết bị cơ bản và những trang thiết bị hỗ trợ.
2.3. Xử lý kỹ
thuật bảo quản
Xử lý kỹ thuật
bảo quản trong lưu trữ là việc áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật hiện đại
kết hợp với các kinh nghiệm truyền thống nhằm hạn chế tối đa quá trình lão hóa
tự nhiên của tài liệu, phòng chống các tác nhân gây hư hại tài liệu lưu trữ,
kéo dài tuổi thọ của tài liệu.
2.4. Tổ chức
tài liệu trong kho lưu trữ
Là việc sắp xếp
tài liệu trong kho lưu trữ một cách khoa học nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho
việc thống kê, kiểm tra và tra tìm tài liệu lưu trữ.
3. Các nguyên
nhân gây hư hại tài liệu lưu trữ
3.1. Nguyên
nhân do vật mang tin, chất liệu ghi tin và phương pháp ghi tin
Về vật mang tin
thì trong các kho lưu trữ hiện nay có nhiều loại tài liệu lưu trữ như: tài liệu
giấy, ảnh, phim điện ảnh, ghi âm v.v...Những loại tài liệu này lại được thể
hiện bằng nhiều vật liệu mang tin khác nhau trong đó tài liệu giấy chiếm khối
lượng lớn. Đối với tài liệu giấy nguyên nhân bị hư hỏng có thể do những chất
cấu thành nên tài liệu. Giấy là một lớp mỏng gồm các sợi Xen-lu-lô, Lig-nin và
một số chất khác liên kết chặt chẽ với nhau. Các chất trên được pha chế theo
những tỷ lệ khác nhau tạo thành các loại giấy khác nhau. Mức độ hư hại của giấy
thay đổi theo tỷ lệ cấu thành của nó. Loại giấy nào có cấu thành xen-lu-lô càng
cao thì giấy đó càng có độ bền cơ học cao, dễ đàn hồi và có tính chất hóa học
ổn định nên bảo quản được lâu. Những loại giấy có nhiều chất Lig-nin sẽ bị mất
màu ố vàng vì chất Lig-nin là chất kém bền vững về mặt hóa học và có khả năng
quang hóa khi bị tác động bởi ánh sáng. Chủ yếu hiện nay quá trình làm văn bản
đều sử dụng giấy công nghiệp, là loại giấy gồm nhiều thành phần như xen-lu-lô,
he-mi-xen-lu-lô, lignin, các hợp chất hữu cơ, vô cơ khác…dễ bị nhiễm axit nên
có tuổi thọ thấp.
Về chất liệu
ghi tin và phương pháp ghi tin thì đối với tài liệu giấy chủ yếu là mực với các
phương pháp ghi tin là viết tay, sao ánh sáng, in laze, chụp photocopy để thể
hiện chữ viết, đường nét và hình vẽ trên giấy. Mực gồm nhiều loại như: mực nho,
mực viết thường, mực in, mực dấu, mực sao in ánh sáng, bút chì v.v... Độ bền
của mực phụ thuộc vào thành phần hóa học của các chất liệu tạo ra chúng. Thành phần
của mực bao gồm: chất màu, chất cầm màu, chất keo, chất chống cặn. Mực càng bám
chặt vào sợi giấy, càng khó hòa tan thì đường nét, hình vẽ càng bền.
Những loại mực
viết phổ biến hiện nay được chế tạo từ muối kim loại hoặc nhựa cây có màu.
Trong các loại mực đó, độ axit càng lớn thì càng bị tác động của ánh sáng,
nhiệt độ và độ ẩm cao làm cho tài liệu dễ bị bay màu, ăn thủng giấy. Đối với
loại mực in có tỷ lệ chất keo nhiều hơn nên trong quá trình đánh máy, intypô,
photocopy mực dễ gắn chặt trên sợi giấy nên ít bị nhòe hay bay màu hơn mực viết
khi bị tác động của ánh sáng, nhiệt độ và độ ẩm. Tuy nhiên, nếu sử dụng các
loại mực kém chất lượng, không đúng chủng loại của các loại máy in, máy
photocopy sẽ làm tài liệu bị bay màu, mờ chữ nhanh sau một thời gian bảo quản.
Đối với loại mực in dùng cho máy Fax rất dễ phai màu và khó bảo quản lâu dài.
3.2. Nguyên
nhân do điều kiện tự nhiên
Trong công tác
bảo quản tài liệu lưu trữ, điều kiện tự nhiên là một nguyên nhân quan trọng gây
hư hỏng tài liệu, gây nên những tác động có hại đối với tài liệu lưu trữ và làm
cho công tác bảo quản tài liệu lưu trữ rất khó khăn và phức tạp. Các yếu tố như
độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng, bụi, vi sinh vật…đều có những tác động đến tài liệu
lưu trữ. Cụ thể như sau:
3.2.1. Độ ẩm
Độ ẩm là yếu tố
phá hoại mạnh nhất đối với tài liệu lưu trữ. Khi tài liệu bị ẩm thì tài liệu sẽ
mục dần. Ở nước ta độ ẩm tương đối trung bình từ 80% đến 90%, vùng núi thì độ
ẩm càng lớn. Độ ẩm cao sẽ tạo điều kiện cho các chất khí trong môi trường và
các chất hóa học của tài liệu dễ bị hòa tan, làm cho chữ viết bị nhòe, mực bị
bay màu, tài liệu bị bết dính. Ngoài ra, độ ẩm cao còn làm dung môi cho các hóa
chất gây phản ứng có hại cho tài liệu lưu trữ và tạo điều kiện cho nấm mốc, côn
trùng, vi sinh vật phát triển.
3.2.2. Nhiệt độ
không khí
Do nước ta nằm
trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa nên nhiệt độ trung bình hàng năm cao trên 20oC, lượng bức xạ
lớn. Nhiệt độ cao làm cho tài liệu lưu trữ bị hỏng hoặc có những ảnh hưởng đến
tuổi thọ của tài liệu vì nhiệt độ cao làm gia tăng mức độ hư hỏng. Đối với tài
liệu giấy, ở nhiệt độ cao giấy bị giòn, dễ bị gãy nát, tăng nhanh tốc độ phản
ứng hóa học làm giấy bị axit hóa, mờ chữ, ố vàng. Nhiệt độ cao làm cho tài liệu
ảnh bị chảy rữa các lớp nhũ tương, biến dạng, nhoè hình ảnh. Tài liệu phim và
tài liệu ghi âm khi nhiệt độ cao tác động làm cho phim bị khô giòn, chóng hỏng,
bết dính và mờ hình ảnh, thay đổi kích thước hình học của phim. Ngoài ra, đối
với phim có cấu tạo đế phim bằng Nitơrat Xen-lu-lô sẽ gây cháy nổ ở nhiệt độ
cao (41oC). Trong trường
hợp nhiệt độ thấp hay nhiệt độ thay đổi đột ngột cũng ảnh hưởng tới độ bền cơ
học của tài liệu vì tài liệu lưu trữ thường có tính hút ẩm, rất dễ hút và nhả
hơi nước. Sự thay đổi về nhiệt độ và độ ẩm tương đối hàng ngày và theo mùa có
thể làm tài liệu lưu trữ bị nở ra hoặc co lại. Bên cạnh đó, yếu tố nhiệt độ
cũng là điều kiện cho các côn trùng, nấm mốc phát triển phá hoại tài liệu.
3.2.3. Ánh sáng
Có 2 nguồn ánh
sáng là tự nhiên và nhân tạo. Mặc dù tất cả các bước sóng ánh sáng đều có hại,
nhưng tia cực tím (UV) là có hại nhất đối với các tài liệu lưu trữ vì cường độ
năng lượng cao của nó. Ánh sáng mặt trời có tỷ lệ tia cực tím cao làm biến đổi
cấu trúc của giấy, cấu trúc phân tử mực và chất kết dính từ đó gây ra tác động
quang hóa làm cho giấy bị vàng, giòn, mực bị bạc màu. Ánh sáng tác động tới tài
liệu ảnh, phim điện ảnh, ghi âm, ghi hình làm mất đi hình ảnh, âm thanh.
3.2.4. Bụi
Bụi là nhân tố
phá hoại tài liệu đáng lưu ý. Bụi có nhiều loại như bụi tự nhiên (đất,
cát), bụi cơ khí (từ các nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp), bụi vi sinh vật.
Bụi tự nhiên và bụi cơ khí bám vào tài liệu, cọ xát và làm thành các vết xước
hư hại tài liệu. Bụi vi sinh vật mang theo nhiều bào tử nấm, mốc, côn trùng
phát triển và phá hoại tài liệu.
3.2.5. Vi sinh
vật và sinh vật
Điều kiện khí
hậu nhiệt đới ở nước ta rất phù hợp cho côn trùng và các loài gặm nhấm sống và
phát triển mạnh. Côn trùng và các loài gặm nhấm mặc dù nhỏ bé nhưng có sức phá
hoại lớn đối với tài liệu. Bởi vì có những loài côn trùng lấy tài liệu lưu trữ
làm thức ăn và môi trường sống của chúng. Cũng có những loài cắn phá và gặm
nhấm tài liệu như một đặc tính tự nhiên và việc làm tổ của chúng cũng gây hư
hại lớn đối với tài liệu và các phương tiện bảo quản. Trong kho lưu trữ thường
gặp các loài côn trùng phổ biến như mối, mọt, bọ ba đuôi… và các loại gặm nhấm
như chuột, gián…Ngoài ra, nấm mốc cũng là một nguyên nhân gây hư hại đáng kể đối
với tài liệu lưu trữ. Các bào tử nấm luôn thường trực trong môi trường. Nấm mốc
xuất hiện và phá hoại tài liệu lưu trữ làm tài liệu lưu trữ có những đốm trắng,
xám đen hoặc vàng xanh hình tròn. Nấm mốc làm tài liệu giấy bị mờ nhoè chữ, tài
liệu ảnh bị nhoè và mờ hình ảnh làm ảnh không đẹp và nhanh hỏng, tài liệu ghi
âm, tài liệu phim điện ảnh, tài liệu ghi hình bị ảnh hưởng đến chất lượng ảnh
và âm thanh và có thể làm hỏng các tài liệu đó.
3.3. Nguyên
nhân do điều kiện bảo quản và sử dụng tài liệu lưu trữ
Là nguyên nhân
do bản thân con người trong quá trình bảo quản tài liệu gây ra. Có những nguyên
nhân có ý thức, có mục đích và có nguyên nhân là do thiếu ý thức hoặc do khách
quan tạo ra. Chẳng hạn như kẻ địch phá hoại, đánh cắp tài liệu lưu trữ, sự cẩu
thả, thiếu trách nhiệm của các nhân viên lưu trữ và người sử dụng tài liệu,
phương tiện bảo quản thiếu thốn, không đủ điều kiện tối thiểu để bảo quản như
giá, tủ, hộp, cặp và các phương tiện khác. Đặc biệt là không có nhà kho chuyên
dụng để bảo quản tài liệu. Việc chấp hành không đúng hoặc không nghiêm chế độ
quy định của Nhà nước về công tác lưu trữ nói chung và công tác bảo quản nói
riêng. Trong công tác thu thập, chỉnh lý, xác định giá trị, thống kê, kiểm tra,
tổ chức sử dụng tài liệu không có quy trình, làm sai nguyên tắc dẫn đến tổn
thất, hư hại tài liệu.
4. Các biện
pháp cơ bản để bảo quản tài liệu lưu trữ
4.1. Xây dựng
các văn bản quy định về bảo quản an toàn tài liệu lưu trữ
- Nội quy ra
vào kho
- Nội quy sử
dụng tài liệu
- Quy định chế
độ kiểm tra định kỳ, đột xuất về chất lượng, số lượng của tài liệu lưu trữ
- Quy định Chế
độ làm vệ sinh kho bảo quản tài liệu và tài liệu
- Quy định chế
độ phòng cháy, chữa cháy
- Quy định môi
trường trong kho lưu trữ
- Các quy
trình, quy phạm trong thao tác, sử dụng hóa chất.
4.2. Xây dựng,
bố trí kho lưu trữ
Kho lưu trữ là
nơi bảo quản tài liệu lưu trữ. Trong thực tế chúng ta gặp các dạng kho lưu trữ
sau:
Kho lưu trữ
chuyên dụng là dạng kho được xây dựng để chứa và bảo quản tài liệu lưu trữ theo
quy định. Kho lưu trữ chuyên dụng là công trình bao gồm: khu vực kho bảo quản
tài liệu, khu vực xử lý nghiệp vụ lưu trữ, khu hành chính, khu vực lắp đặt
thiết bị kỹ thuật và khu vực phục vụ công chúng.
Kho lưu trữ
chuyên dụng phải bảo đảm được các yêu cầu chung sau đây:
- Về địa điểm:
thuận tiện giao thông; có địa chất ổn định, xa các chấn động nền; có địa thế
cao, thoát nước nhanh; không ở gần các khu vực dễ gây cháy, nổ, ô nhiễm và có
đất dự phòng để mở rộng khi cần thiết.
- Bảo đảm kết
cấu bền vững; bảo vệ, bảo quản an toàn tài liệu lưu trữ.
- Thiết kế hợp
lý, liên hoàn phù hợp với các loại hình tài liệu và các quy trình nghiệp vụ lưu
trữ.
- Đáp ứng các
yêu cầu về mỹ quan của công trình văn hóa.
Những yêu cầu
cụ thể đối với kho lưu trữ chuyên dụng xem Thông tư số: 09/2007/TT-BNV ngày 26/11/2007 của Bộ Nội vụ
hướng dẫn về kho lưu trữ chuyên dụng.
Kho lưu trữ
không chuyên dụng (kho lưu trữ cải tạo) là dạng kho lưu trữ đặt trong trụ sở
làm việc của các cơ quan, tổ chức. Đối với dạng kho này cần đảm bảo các yêu cầu
sau:
- Về địa điểm:
chọn phòng kho bảo quản đáp ứng được các yêu cầu về bảo vệ, bảo quản an toàn
tài liệu lưu trữ; không bố trí kho bảo quản tài liệu lưu trữ ở tầng hầm hoặc
tầng trên cùng của trụ sở cơ quan; tránh cửa hướng Tây, tránh gần khu vực ẩm ướt,
ô nhiễm, dễ gây cháy, nổ. Bố trí phòng kho bảo quản gần thang máy, cầu thang
thuận tiện cho vận chuyển tài liệu.
- Về diện tích
phòng kho: bảo đảm đủ diện tích để bảo quản tài liệu.
- Về môi trường
trong phòng kho bảo quản: bảo đảm các yêu cầu về nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, bụi,
khí độc.
- Hệ thống điện
trong phòng kho bảo quản tài liệu lưu trữ phải tuyệt đối an toàn.
- Bố trí phòng
đọc tài liệu riêng, tách rời kho bảo quản tài liệu lưu trữ.
4.3. Trang bị
các trang thiết bị bảo quản
Trang thiết bị
bảo quản trong kho vừa là phương tiện để bảo quản tài liệu vừa là phương tiện
để quản lý hồ sơ, tài liệu. Thông thường trong một kho lưu trữ thường có các
phương tiện bảo quản sau:
4.3.1. Giá bảo
quản tài liệu lưu trữ
Giá bảo quản
tài liệu lưu trữ được cấu tạo từ các thép tấm mỏng mạ kẽm được sơn chống gỉ và
sơn màu, cũng có thể làm từ thép không gỉ hoặc kim loại khác tùy theo yêu cầu.
Việc sử dụng vật liệu làm giá bằng kim loại sẽ tránh được tác động của côn
trùng, ẩm mốc. Mặt khác sử dụng loại giá lắp ghép sẽ dễ dàng tháo, lắp, di chuyển.
Lưu ý là giá sau lắp hoàn chỉnh phải ngay ngắn, chắc chắn, các tấm đợt, thanh
giằng, ốc liên kết phải chắc chắn, cân đối. Theo TCVN
9253: 2012 về giá bảo quản tài liệu lưu trữ (Shelf for presevervation of
archival records) ban hành theo Quyết định số: 1687/QĐ-BKHCN
ngày 23/7/2012 của Bộ Khoa học và Công nghệ về việc công bố Tiêu chuẩn quốc gia
thì giá có kích thước 2000mm x 1230 mm x 400 mm với sai số là ± 2 mm. Thép tấm
làm khung giá có độ dày là 40 mm, các tấm đợt có độ dày là 25 mm và các thanh
giằng có độ dày là 30 mm. Độ chịu tải của giá tối thiểu là 30 kg.
4.3.2. Tủ
Trong việc bảo
quản ở các kho lưu trữ được sử dụng nhiều loại tủ như tủ đựng hồ sơ, tủ đựng
bản can, bản đồ, tủ đựng ảnh, tủ đựng tài liệu theo kích cỡ... Tủ hồ sơ chỉ
thích hợp với những tài liệu bảo quản tại các phòng làm việc hiện hành. Đối với
tài liệu quan trọng thì có thể dùng tủ sắt hoặc thiết bị bảo quản đặc biệt
khác.
4.3.3. Hòm đựng
tài liệu
Hòm đựng tài
liệu cũng là phương tiện bảo quản cần thiết cho yêu cầu bảo quản và vận chuyển
tài liệu. Vật liệu làm hòm có thể bằng gỗ hoặc kim loại. Khi thiết kế hòm cần
chú ý đến các yếu tố chống ẩm, mối, chuột…Khi vận chuyển tài liệu đi nơi khác
thì phải sử dụng hòm chắc chắn chịu lực.
4.3.4. Hộp bảo
quản tài liệu lưu trữ
Hộp bảo quản tài
liệu lưu trữ giúp giúp tránh bụi và tác động của ánh sáng chiếu vào tài liệu,
hộp cũng được sử dụng cho việc phân loại, thống kê, kiểm tra và tổ chức sử dụng
tài liệu. Theo TCVN 9252: 2012 về hộp bảo
quản tài liệu lưu trữ (Box for presevervation of archival records) ban hành
theo Quyết định số: 1687/QĐ-BKHCN ngày 23/7/2012
của Bộ Khoa học và Công nghệ về việc công bố Tiêu chuẩn quốc gia hộp bảo quản
tài liệu lưu trữ làm bằng các tông có kích thước là 350mm x 250 mm x 125 mm với
sai số ± 2 mm. Hộp có dạng hình chữ nhật, nắp mở theo chiều rộng của hộp, nắp
có dây buộc, khuy hộp phải được làm từ vật liệu không ăn mòn, dầy 3 mm. Nắp hộp
mở ra có chiều dài là 129 mm. Ở mỗi cạnh bên của hộp, cách nắp hộp khoảng 50 mm
và cách mặt trên 30 mm có một lỗ hình tròn với đường kính 30 mm để tạo sự thông
thoáng.
4.3.5. Bìa hồ
sơ lưu trữ
Theo TCVN 9251: 2012 về bìa hồ sơ lưu trữ (File
covers) ban hành theo Quyết định số: 1687/QĐ-BKHCN
ngày 23/7/2012 của Bộ Khoa học và Công nghệ về việc công bố Tiêu chuẩn quốc
gia, bìa hồ sơ có kích thước 650 mm x 320 mm (không tính kích thước phần tai
trên và tai dưới) với sai số cho phép ± 2mm. Bìa hồ sơ gồm 5 phần: tờ đầu có
kích thước 320 mm x 230 mm, phần gáy có kích thước 320 mm x 40 mm, tờ sau có
kích thước 320mm x 230mm, phần tai trên và tai dưới có kích thước 230 mm x 100
mm, phần tai cạnh có kích thước 320 mm x 150 mm. Trong trường hợp tài liệu lưu
trữ có kích thước khác kích thước A4 thì có thể thay đổi kích thước bìa hồ sơ
lưu trữ cho phù hợp. Các thành phần trên bìa hồ sơ được trình bày thống nhất về
tên gọi, kiểu chữ và kích thước.
Ngoài các trang
thiết bị bảo quản nêu trên, để làm tốt công tác bảo quản, bảo vệ tài
liệu lưu trữ, tùy theo điều kiện kinh phí có thể đầu tư những phương tiện và
thiết bị thích hợp như: Hệ thống báo động; thiết bị phòng và chống cháy (thiết
bị báo khói, thiết bị báo cháy, cát, bao tải dập lửa, bình chữa cháy); thiết bị
thông gió, thiết bị chống ẩm (máy điều hoà, quạt thông gió, máy hút ẩm); thiết
bị đo nhiệt độ và độ ẩm (ẩm kế, nhiệt kế); dụng cụ làm vệ sinh tài liệu (máy
hút bụi, máy lọc bụi), các phương tiện vận chuyển như: thang máy, xe đẩy; trang
thiết bị bảo vệ cửa chính, cửa sổ.
4.4. Sắp xếp
khoa học tài liệu trong kho
Đây là nhiệm vụ
mà lưu trữ viên hạng IV cần thực hiện khi bảo quản tài liệu lưu trữ. Việc sắp
xếp khoa học tài liệu trong kho lưu trữ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công
tác thống kê, kiểm tra và tra tìm tài liệu, giúp cho cán bộ lưu trữ nắm được
địa chỉ tài liệu, số lượng, chất lượng của tài liệu từ đó quản lý và phục vụ
tốt các yêu cầu khai thác, sử dụng tài liệu. Ngoài ra, việc sắp xếp khoa học
tài liệu còn giúp cho việc xử lý nhanh chóng các sự cố và phòng, chống các yếu
tố phá hoại tài liệu.
Đối với những
kho bảo quản nhiều phông lưu trữ thì trước hết tài liệu được sắp xếp theo khối
phông. Khối phông lưu trữ bao gồm những phông lưu trữ độc lập hoàn chỉnh có
quan hệ với nhau về nội dung tài liệu và có những đặc điểm giống nhau, để gần
nhau sẽ có lợi cho việc bảo quản và tổ chức sử dụng. Tiếp đó tài liệu được sắp
xếp theo phông lưu trữ. Tài liệu của phông nào được sắp xếp theo phông lưu trữ
đó, không được để lẫn tài liệu của phông lưu trữ này với phông lưu trữ khác.
Trong phạm vi một phông, tài liệu được sắp xếp theo thứ tự của hồ sơ trong
phông. Các hồ sơ này sắp xếp trong các cặp, hộp được đánh số thứ tự và xếp lên
các khoang giá theo quy định từ trên xuống dưới, từ trái qua phải và phải đảm
bảo nguyên tắc dễ tìm thấy, dễ lấy.
Đối với các giá
trong kho cần được sắp xếp sao cho tiết kiệm diện tích, thông thoáng kho tàng,
thuận tiện cho phương tiện vận chuyển và đi lại đồng thời thuận lợi cho công
tác làm vệ sinh, sắp xếp và thống kê, kiểm tra tài liệu. Giá để tài liệu được
lắp thành hàng giá hai mặt, mỗi hàng giá không dài quá 10 m. Các hàng giá được
đặt vuông góc với cửa sổ, cách mặt tường từ 0,4 -0,6 m. Lối đi giữa các hàng
giá từ 0,7- 0,8 m, lối đi giữa hai đầu giá từ 1,2 -1,4 m.
Đối với những
kho bảo quản nhiều phông, sử dụng nhiều giá để tài liệu thì cần lập bảng chỉ
dẫn nơi để tài liệu theo phông và bảng chỉ dẫn nơi để tài liệu theo giá. Các
bảng chỉ dẫn này được làm thành các tấm thẻ bìa cứng có cùng kích thước và sắp
xếp theo từng bảng chỉ dẫn. Mỗi khi có yêu cầu sắp xếp lại tài liệu trong kho
thì các tấm thẻ cần được thay đổi theo sự sắp xếp mới.
4.5. Phòng,
chống các nguyên nhân gây hư hại tài liệu lưu trữ
4.5.1. Lựa chọn
vật mang tin, chất liệu ghi tin và phương pháp ghi tin
Để bảo quản an
toàn tài liệu chống lại nguy cơ tài liệu bị xuống cấp, lão hóa và tự thân hủy hoại
cần sử dụng loại giấy hiện đại có chứa một lớp kiềm bảo vệ (độ PH từ 6-10). Trong
điều kiện hiện nay, về cơ bản các cơ quan, tổ chức đều đã được trang bị các
thiết bị văn phòng do đó để đảm bảo tài liệu được bảo quản lâu dài thì quá
trình làm ra văn bản bên cạnh việc lựa chọn loại giấy thì cũng cần chú ý đến việc
sử dụng mực in văn bản, mực dấu, mực viết có chất lượng tốt và phương pháp ghi
tin có độ bền cao.
4.5.2. Phòng,
chống các yếu tố phá hoại tài liệu lưu trữ do điều kiện tự nhiên
4.5.2.1. Đảm
bảo độ ẩm thích hợp trong kho lưu trữ
Vì độ ẩm là yếu
tố phá hoại mạnh nhất đối với tài liệu lưu trữ do đó trong công tác bảo quản
tài liệu lưu trữ đảm bảo độ ẩm thích hợp trong kho lưu trữ là vấn đề cần quan
tâm hàng đầu. Trong điều kiện cơ sở vật chất có thể, cơ quan nên trang bị các
thiết bị phòng, chống ẩm như máy hút ẩm, máy điều hòa không khí. Số lượng và
công suất của máy hút ẩm, máy điều hòa không khí tùy thuộc vào diện tích, độ
kín của kho và vào yêu cầu duy trì chế độ nhiệt độ - độ ẩm để bảo quản tài liệu
phòng đó. Cần trang bị đủ máy và các phương tiện đi kèm khác để bảo đảm các máy
có thể hoạt động liên tục 24/24 giờ trong một ngày đêm.
Nếu chưa có điều
kiện trang bị máy móc, cơ quan có thể áp dụng một số biện pháp truyền thống
sau:
a. Thông gió
Áp dụng trong điều
kiện không khí trong kho ẩm ướt hơn không khí ngoài trời. Có hai cách thông gió
là thông gió tự nhiên và thông gió bằng máy. Khi áp dụng phương pháp này cần
chú ý:
- Nhiệt độ
ngoài kho không cao quá 32oC và không thấp hơn 10oC
- Độ ẩm tuyệt
đối và tương đối ngoài trời phải thấp hơn trong kho
- Ngoài kho
không có sương đọng, nhiệt độ không khí ngoài kho phải nhỏ hơn nhiệt độ điểm sương
trong kho.
- Về chế độ
thông gió: không khí trong kho phải được lưu thông với tốc độ khoảng 5m/giây.
Đây là biện
pháp đơn giản, rẻ tiền nhưng nhược điểm là khi thông gió bụi và côn trùng có điều
kiện thâm nhập vào kho.
b. Bao gói cách
ly độ ẩm
Là biện pháp
chủ động để tránh không khí ẩm xâm nhập vào tài liệu. Tài liệu khô được cho túi
chất dẻo, giấy dầu, giấy paraphin để bao gói. Có thể cho thêm vào túi Silicagen
và chất chống nấm mốc. Biện pháp này chủ yếu áp dụng đối với tài liệu ảnh.
c. Dùng tủ sấy,
bóng điện sơn mờ để sấy tài liệu
Trong trường
hợp tài liệu bị ướt do mưa bão, lụt thì dùng tủ sấy, bóng điện sơn mờ để sấy
tài liệu ở nhiệt độ không quá 35-36oC. Lưu ý không được
dùng than, củi và sấy tài liệu. Các tài liệu phim ảnh, phim, băng, bản sao
in…tuyệt đối không được sấy.
Chế độ ẩm tiêu
chuẩn cần duy trì trong kho nhằm bảo quản tốt tài liệu lưu trữ là: Tài liệu
giấy độ ẩm 50% (±5%); tài liệu phim, ảnh, băng, đĩa nhiệt độ: độ ẩm 45% (±5%).
4.5.2.2. Duy
trì nhiệt độ bảo quản thích hợp
Quy định về
nhiệt độ bảo quản đối với từng loại tài liệu lưu trữ:
Tài liệu giấy
nhiệt độ: 20ºC (±2 ºC); tài liệu phim, ảnh, băng, đĩa nhiệt độ: 16ºC (±2 ºC).
Để đảm bảo được
nhiệt độ nêu trên thì tại các kho lưu trữ cần trang bị các thiết bị kiểm soát
và duy trì nhiệt độ bao gồm: nhiệt kế, quạt thông gió, điều hòa cục bộ, điều
hòa trung tâm.
4.5.2.3. Hạn
chế ánh sáng trong kho bảo quản tài liệu lưu trữ
Do ánh sáng và
đặc biệt là ánh sáng tự nhiên gây nhiều tác động không tốt cho tài liệu lưu trữ
nên trong công tác bảo quản cần chú ý một số vấn đề sau:
Đối với kho lưu
trữ đặt trong trụ sở cơ quan, về địa điểm cần tránh hướng Tây, chọn phòng có ít
cửa sổ. Sử dụng rèm chắn sáng với màu sắc phù hợp.
- Tài liệu cần
để trong các cặp, hộp kín
- Trong kho chủ
yếu dùng ánh sáng đèn điện và chỉ dùng khi thật cần thiết, không bật điện
thường xuyên trong kho.
- Độ chiếu sáng
trong
kho bảo quản tài liệu từ 50-80 lux.
4.5.2.4. Phòng,
chống bụi
Trước hết địa điểm
xây dựng kho lưu trữ cần chú ý không xây dựng ở những nơi có nhiều bụi như khu
vực ven biển hoặc gần khu công nghiệp.
- Tài liệu cần
được bảo quản trong bìa, cặp, hộp kín.
- Thường xuyên
vệ sinh kho tàng và trang thiết bị bảo quản tài liệu và tài liệu thường xuyên.
Việc vệ sinh kho bảo quản và vệ sinh tài liệu lưu trữ trên giấy được thực hiện theo
quy trình hướng dẫn tại Thông tư số 15/2011/TT-BNV
ngày 11/11/2011 quy định định mức kinh tế-kỹ thuật vệ sinh kho bảo quản tài
liệu lưu trữ và Vệ sinh tài liệu lưu trữ nền giấy.
Lưu ý: Nồng độ
bụi trong kho phải <5mg/m3.
4.5.2.5. Phòng,
chống vi sinh vật và sinh vật
Trong các loại
vi sinh vật gây hại cho tài liệu lưu trữ cần đặc biệt chú ý đến nấm mốc. Nấm
mốc là loại thực vật cấp thấp, sinh sống bằng phương pháp ký sinh, cộng sinh,
hoại sinh. Nấm mốc duy trì tồn tại bằng 3 yếu tố chính: thức ăn, độ ẩm, nhiệt
độ thích hợp. Để phòng chống nấm mốc, tài liệu trước khi đưa vào kho phải sạch
sẽ, khô, đã được khử trùng. Đối với tài liệu lưu trữ trên nền giấy, quy trình
khử trùng được thực hiện theo hướng dẫn tại Quyết định số 150/QĐ-VTLTNN ngày 08/7/2014
của Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước ban hành Quy trình khử trùng tài liệu lưu
trữ trên nền giấy.
Đối với kho
cũng cần khử trùng và kiểm tra mức độ ô nhiễm trước khi đưa tài liệu vào. Biện
pháp hiệu quả nhất là duy trì độ ẩm và nhiệt độ hợp lý, thông khí tốt, bảo đảm
khu vực lưu trữ thông thoáng, sạch sẽ.
Ngoài ra, để
phòng, chống nấm mốc thì kho tàng và các phương tiện bảo quản phải được làm vệ
sinh sạch sẽ, thường xuyên quét, lau bụi để các bào tử nấm, mốc không bám vào
tài liệu. Khi phát hiện tài liệu bị nấm mốc trước hết phải khống chế độ ẩm và
nhiệt độ để hạn chế sự phát triển nhanh của nó, sau đó dùng hóa chất để tiêu diệt.
Đối với việc
phòng, chống các loại sinh vật gây hại cho tài liệu lưu trữ thì cần chú ý đến
các loại côn trùng và các loài gặm nhấm. Có nhiều loại côn trùng trong đó các
loại côn trùng phá hoại tài liệu gồm nhậy cánh bạc, sâu non, nhộng trưởng thành
của các loại cánh cứng, cánh phấn, gián, mối…Để phòng, chống côn trùng thì phải
thường xuyên kiểm tra, làm vệ sinh và khử trùng kho tàng, tài liệu. Có thể sử
dụng hóa chất để phòng và tiêu diệt côn trùng nếu cần thiết. Trong các loài côn
trùng thì mối là kẻ thù nguy hiểm nhất vì chúng phá hoại nhà cửa, kho tàng,
phương tiện bảo quản và tài liệu lưu trữ. Biện pháp chủ yếu để phòng, chống mối
là phát hiện, ngăn chặn và phá bỏ đường xâm nhập của mối. Công việc này cần
phải tiến hành ngay từ khi xây dựng kho tàng. Đối với việc sắp xếp tài liệu
trong kho thì tài liệu phải được để lên giá. Giá cần được kê cách xa tường 50
cm, cách mặt đất 20 cm, cách trần 80 cm để mối không có điều kiện bắc cầu tới.
Kho lưu trữ phải vệ sinh sạch sẽ, điều chỉnh nhiệt độ và độ ẩm thích hợp để mối
không hoạt động được. Khi phát hiện có mối thì phải tìm hố nhử và sử dụng hóa
chất để tiêu diệt.
Trong các loài
gặm nhấm thì chuột và gián là những loài gây hại thường xuyên đối với tài liệu
lưu trữ. Chuột là loại gặm nhấm khá nguy hiểm, tốc độ sinh sản nhanh nên sức
phá hoại rất lớn. Chuột cắn phá tài liệu, làm tổ và phóng uế làm bẩn tài liệu.
Để phòng chuột đột nhập vào kho thì kho lưu trữ phải được che chắn chu đáo.
Cống rãnh quanh khu vực kho phải được khơi thông. Các cửa thông hơi và các
đường ống thông vào nhà kho phải làm lưới sắt bịt kín. Để chống chuột thì sử
dụng hóa chất hoặc dùng bẫy.
Đối với gián
thì thường gặm nhấm các lớp hồ, keo trên gáy sách, cặp đựng tài liệu và tiết ra
các chất lỏng như mực có màu đen làm hỏng các trang tài liệu khi chúng cư trú
hoặc bò qua. Biện pháp phòng, chống gián là thường xuyên làm vệ sinh kho bảo
quản tài liệu được sạch sẽ. Khi đã phát hiện có gián trong kho tài liệu có thể
dùng băng phiến, long não để chống, đuổi gián.
4.5.2.6. Biện
pháp phòng, chống cháy
Nguyên nhân gây
cháy có thể là do chủ quan cán bộ, nhân viên không chấp hành nội quy về việc
dùng lửa, hút thuốc trong kho, do kẻ gian phá hoại gây nên cháy hoặc do khách
quan chập điện. Để phòng cháy thì cơ quan lưu trữ cần có quy định nghiêm ngặt
về phòng cháy, chữa cháy; các đường dẫn điện trong kho phải đặt ngầm hoặc bọc
kín; dụng cụ phòng, chữa cháy phải được trang bị đầy đủ quanh khu vực kho. Lưu
ý khi chữa cháy cho khu vực có tài liệu, chỉ được dùng loại bình khí CO2 hoặc loại bình
bọt tetraclorua cacbon.
Ngoài ra cần
lưu ý là việc thiết kế kho phải có cầu thang thoát hiểm, xung quanh kho cần đảm
bảo diện tích cho xe cứu hỏa có thể tiếp cận khu vực kho và đường thoát cho xe
vận chuyển tài liệu.
Khi phát hiện
kho tàng bị cháy, phải thực hiện các biện pháp chữa cháy như:
- Cách ly vật
bị cháy
- Làm lạnh cục
bộ khu vực cháy
- Làm ngạt hơi
cháy
Ngoài các biện
pháp kỹ thuật nêu trên trong công tác bảo quản tài liệu lưu trữ còn áp dụng một
số biện pháp khác. Cụ thể là với những tài liệu bị nhiễm axít tức là giấy có độ
pH trên giấy nhỏ hơn giá trị trung tính (pH<7) thì có thể lựa chọn phương pháp
khử ướt đối với những tài liệu không bị phai màu hoặc phai mực hoặc phương pháp
khử khô đối với những tài liệu bị mủn, phai màu hoặc phai mực. Về quy trình,
khử axít cho tài liệu giấy được thực hiện theo Quyết định số 230/QĐ-VTLTNN ngày
20/11/2014 của Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước ban hành Quy trình và Hướng dẫn
thực hiện Quy trình khử axít cho tài liệu giấy.
5. Lập bản sao
bảo hiểm tài liệu lưu trữ
5.1. Khái niệm
bản sao bảo hiểm tài liệu lưu trữ
Bản sao bảo
hiểm tài liệu lưu trữ là bản sao từ tài liệu lưu trữ theo phương pháp, tiêu
chuẩn nhất định nhằm lưu giữ bản sao đó dự phòng khi có rủi ro xảy ra đối với
tài liệu lưu trữ.
5.2. Mục đích
lập bản sao bảo hiểm tài liệu lưu trữ
Lập bản sao bảo
hiểm tài liệu lưu trữ là biện pháp chủ động phòng ngừa rủi ro có thể hủy hoại
tài liệu lưu trữ trước các hiểm hoạ của thiên tai, cháy nổ, địch hoạ. Tuy nhiên
việc lập bản sao bảo hiểm tài liệu không bắt buộc phải thực hiện cho tất cả tài
liệu lưu trữ vì chi phí đầu tư cho hoạt động nghiệp vụ này khá lớn. Do đó, hiện
nay việc lập bản sao bảo hiểm chỉ được thực hiện với các tài liệu lưu trữ đặc
biệt quý, hiếm. Khi lập bản sao bảo hiểm cần ưu tiên lập bản sao bảo hiểm cho những
phông/khối tài liệu có tần suất sử dụng cao, tình trạng vật lý kém.
Khi xác định và
lựa chọn tài liệu thuộc diện bảo hiểm có thể tham khảo công văn số 129/VTLTNN-NVTW
ngày 31/10/2003 của Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước hướng dẫn xác định, lựa
chọn và thống kê tài liệu lưu trữ thuộc diện bảo hiểm.
5.3. Phương
pháp lập bản sao bảo hiểm tài liệu lưu trữ
Để lập bản sao
bảo hiểm tài liệu lưu trữ hiện nay đang áp dụng một số công nghệ sau:
Công nghệ chụp
microfilm, microfiches
Công nghệ số hóa
tài liệu và ghi sang đĩa CD-ROM, băng từ, thiết bị lưu trữ khác.
Công nghệ số hóa
và chuyển dữ liệu số hóa sang microfilm bảo hiểm
Đến thời điểm hiện
tại, công nghệ số hóa bằng máy quét chuyên dụng, ghi dữ liệu số hóa sang
microfilm bảo hiểm được coi là giải pháp tối ưu.
Cục Văn thư và
Lưu trữ nhà nước đã ban hành một số văn bản về nội dung này, cụ thể gồm: Quyết
định số 30/QĐ-VTLTNN ngày 29/02/2008 ban hành Quy trình lập bản sao bảo hiểm
trên microfilm đen trắng tráng bạc 35mm và bản sao sử dụng kỹ thuật số đối với
tài liệu giấy bằng máy chụp quét lưỡng hệ; Quyết định số 01/QĐ-VTLTNN ngày 08/01/2009
ban hành Quy trình lập bản sao sử dụng công nghệ số hóa và chuyển ảnh sang
microfilm; Quyết định số 109/QĐ-VTLTNN ngày 27/4/2009 của Cục Văn thư và Lưu
trữ nhà nước ban hành Quy định chế độ bảo quản bản sao bảo hiểm tài liệu lưu
trữ bằng microfilm.
6. Tu bổ, phục
chế tài liệu lưu trữ
6.1. Khái niệm
tu bổ, phục chế tài liệu lưu trữ
Tu bổ, phục chế
tài liệu lưu trữ là biện pháp kỹ thuật trong bảo quản tài liệu lưu trữ được
thực hiện để xử lý tài liệu đã hư hỏng hoặc có nguy cơ bị hư hỏng.
Tu bổ tài liệu
là việc thực hiện các biện pháp kỹ thuật nhằm kéo dài tuổi thọ của tài liệu
đang có nguy cơ bị hư hỏng, nhằm phục vụ công tác khai thác và sử dụng tài liệu.
Phục chế tài
liệu là việc thực hiện các biện pháp kỹ thuật nhằm phục hồi lại những tài liệu
đã bị hư hỏng do tác động của các yếu tố tự nhiên và con người, phục vụ cho
công tác khai thác và sử dụng tài liệu.
6.2. Mục đích
tu bổ, phục chế tài liệu lưu trữ
- Tu bổ tài
liệu nhằm kéo dài tuổi thọ của tài liệu lưu trữ đang có nguy cơ bị hư hỏng.
- Phục chế tài
liệu nhằm khôi phục lại đặc điểm, giá trị ban đầu chính xác của tài liệu ngay
trên tài liệu bị hư hại hoặc trên nền vật mang tin khác có cùng chất liệu của
tài liệu gốc.
6.3. Nguyên tắc
tu bổ, phục chế tài liệu lưu trữ
Nguyên tắc của
việc tu bổ, phục chế tài liệu là không làm sai lệch nội dung và hình thức so
với nguyên trạng ban đầu của tài liệu và đảm bảo tính chính xác của tài liệu
được tu bổ, phục chế.
6.4. Quy trình
tu bổ, phục chế tài liệu lưu trữ
Về quy trình tu
bổ tài liệu lưu trữ được thực hiện theo Quyết định số: 246/QĐ-LTNN ngày 17/12/2002
của Cục Lưu trữ Nhà nước v/v ban hành Quy trình tu bổ TLLT.
- Kiểm tra lựa
chọn tài liệu
- Giao nhận tài
liệu
- Kiểm tra xác
định thực trạng ban đầu của tài liệu và quyết định biện pháp tu bổ
- Tháo gỡ ghim,
kẹp, chỉ khâu tài liệu
- Bóc tài liệu
dính bết
- Làm phẳng tài
liệu
- Tẩy các vết ố
bẩn trên tài liệu
- Khử nấm mốc
- Khử axít
- Vệ sinh tài
liệu
- Thực hiện kỹ
thuật tu bổ tài liệu
- Kiểm tra
nghiệm thu
- Bàn giao, vận
chuyển và sắp xếp tài liệu vào kho
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Khoa học và
Công nghệ, Quyết định số 1687/QĐ-BKHCN ngày
23/7/2012 về việc công bố Tiêu chuẩn quốc gia.
2. Bộ Nội vụ,
Thông tư số 09/2007/TT-BNV ngày 26/11/2007
hướng dẫn về kho lưu trữ chuyên dụng.
3. Bộ Nội vụ,
Thông tư số 15/2011/TT-BNV ngày 11/11/2011
quy định định mức kinh tế-kỹ thuật vệ sinh kho bảo quản tài liệu lưu trữ và Vệ
sinh tài liệu lưu trữ nền giấy.
4. Bộ Nội vụ,
Thông tư số 04/2013/TT-BNV ngày 16/4/2013
hướng dẫn xây dựng Quy chế công tác văn thư, lưu trữ của cơ quan, tổ chức.
5. Chính phủ,
Nghị định số 01/2013/NĐ-CP ngày 03/01/2013
quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật
Lưu trữ số 01/2011/QH13 ngày 11/11/2011 của Quốc hội.
6. Cục Lưu trữ
Nhà nước, Quyết định số 246/QĐ-LTNN ngày 17/12/2002 về quy trình tu bổ tài liệu
lưu trữ.
7. Cục Văn thư
và Lưu trữ nhà nước, Quyết định số 30/QĐ-VTLTNN ngày 29/02/2008 ban hành Quy
trình lập bản sao bảo hiểm trên microfilm đen trắng tráng bạc 35mm và bản sao
sử dụng kỹ thuật số đối với tài liệu giấy bằng máy chụp quét lưỡng hệ.
8. Cục Văn thư
và Lưu trữ nhà nước, Quyết định số 262/QĐ-VTLTNN ngày 17/12/2008 ban hành Quy
trình vệ sinh kho bảo quản tài liệu và Quy trình vệ sinh tài liệu lưu trữ trên
nền giấy.
9. Cục Văn thư
và Lưu trữ nhà nước, Quyết định số 01/QĐ-VTLTNN ngày 08/01/2009 ban hành Quy
trình lập bản sao sử dụng công nghệ số hóa và chuyển ảnh sang microfilm.
10. Cục Văn thư
và Lưu trữ nhà nước, Quyết định số 109/QĐ-VTLTNN ngày 27/4/2009 ban hành Quy
định chế độ bảo quản bản sao bảo hiểm tài liệu lưu trữ bằng microfilm.
11. Cục Văn thư
và Lưu trữ nhà nước, Quyết định số 150/QĐ-VTLTNN ngày 08/7/2014 ban hành Quy
trình khử trùng tài liệu lưu trữ trên nền giấy.
12. Cục Văn thư
và Lưu trữ nhà nước, Quyết định số 230/QĐ-VTLTNN ngày 20/11/2014 ban hành Quy
trình và Hướng dẫn thực hiện Quy trình khử axít cho tài liệu giấy.
13. Cục Lưu trữ
nhà nước, Công văn số 287/LTNN-KH ngày 03/7/2000
hướng dẫn lập dự án và kế hoạch đầu tư xây dựng, cải tạo kho lưu trữ.
14. Cục Văn thư
và Lưu trữ nhà nước, Công văn số 129/VTLTNN-NVTW ngày 31/10/2003 hướng dẫn xác
định, lựa chọn và thống kê tài liệu lưu trữ thuộc diện bảo hiểm.
15. Quốc hội, Luật Lưu trữ số 01/2011/QH13 ngày 11/11/2011.
16. Trường Đại
học Nội vụ Hà Nội, Giáo trình lý luận và phương pháp công tác lưu trữ,
NXB Lao động, Hà Nội 2017.
CÂU
HỎI ÔN TẬP, THẢO LUẬN
1. Hãy đánh giá
tình hình thực tế của công tác bảo quản tài liệu tại cơ quan anh/chị công tác.
2. Hãy chỉ ra
những nguyên nhân gây hư hại tài liệu lưu trữ tại cơ quan anh/chị công tác và
xác định đâu là nguyên nhân chủ yếu?
3. Cơ quan anh/chị
có đủ điều kiện để thực hiện những biện pháp kỹ thuật bảo quản tài liệu lưu trữ
nào? Hãy mô tả cách thức thực hiện từng biện pháp kỹ thuật đó.
4. Vận dụng lý
luận vào thực tiễn, hãy đề xuất các biện pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả
của công tác bảo quản tài liệu lưu trữ của cơ quan anh/chị công tác.
Chuyên
đề 12
NGHIỆP VỤ TỔ CHỨC KHAI THÁC, SỬ DỤNG TÀI LIỆU LƯU TRỮ
1. Khái niệm, mục
đích, ý nghĩa của việc tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ
1.1. Khái niệm
Tài liệu lưu
trữ đang ngày càng chứng minh được vai trò quan trọng trong đời sống xã hội,
thông tin trong tài liệu lưu trữ đang dần trở thành một nguồn lực cơ bản của
các cơ quan, tổ chức. Tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ là một trong các
nghiệp vụ quan trọng của công tác lưu trữ.
Tổ chức khai
thác, sử dụng tài liệu lưu trữ là quá trình tổ chức khai thác thông tin tài
liệu lưu trữ phục vụ yêu cầu nghiên cứu lịch sử và yêu cầu nghiên cứu giải
quyết những nhiệm vụ hiện hành của các cơ quan, tổ chức và cá nhân.
1.2. Mục đích,
ý nghĩa
1.2.1. Mục đích
Tổ chức khai
thác, sử dụng tài liệu lưu trữ nhằm biến các thông tin quá khứ trong tài liệu
lưu trữ thành những thông tin tư liệu bổ ích phục vụ yêu cầu nghiên cứu, phát
triển kinh tế, văn hóa, khoa học công nghệ, nghiên cứu lịch sử.
Tổ chức khai
thác, sử dụng tài liệu lưu trữ nhằm đưa tài liệu lưu trữ ra phục vụ hoạt động
của các cơ quan, tổ chức, các nhà nghiên cứu và nhu cầu chính đáng của công
dân. Đối với một cơ quan, tổ chức tài liệu lưu trữ đặc biệt phát huy hiệu quả
khi thông tin trong tài liệu được khai thác để phục vụ cho hoạt động quản lý, điều
hành. Những quyết định quan trọng như hoạch định kế hoạch, quyết định phương án
đầu tư, bổ nhiệm nhân sự hay tổ chức bộ máy rất cần phải tham khảo các thông
tin từ tài liệu lưu trữ. Thực tế đã có nhiều vụ việc xảy ra với những thiệt hại
nghiêm trọng về kinh tế bởi những kế hoạch đầu tư không hiệu quả, bổ nhiệm nhân
sự thiếu năng lực, phẩm chất...mà nguyên nhân một phần là do không căn cứ vào
tài liệu lưu trữ.
1.2.2. Ý nghĩa
Tổ chức khai
thác, sử dụng tài liệu lưu trữ là mục tiêu cuối cùng của công tác lưu trữ.
Tổ chức khai
thác, sử dụng tài liệu lưu trữ là động lực mạnh mẽ để thúc đẩy các khâu nghiệp
vụ lưu trữ phát triển. Để đáp ứng nhu cầu khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ
ngày càng đa dạng, phong phú thì các cơ quan lưu trữ phải đẩy mạnh các nghiệp
vụ như thu thập, phân loại, chỉnh lý, thống kê, xây dựng công cụ tra tìm, bảo
quản tài liệu lưu trữ…Như vậy, tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ
chính là động lực mạnh mẽ để thúc đẩy các công tác nghiệp vụ lưu trữ phát triển
Tổ chức khai
thác, sử dụng tài liệu lưu trữ là cơ sở để đánh giá các quy trình nghiệp vụ lưu
trữ trước đó. Thông qua việc đưa tài liệu ra khai thác, sử dụng mới có thể đánh
giá khách quan kết quả thực hiện các nghiệp vụ trước đó như xác định giá trị có
chính xác không, phân loại, chỉnh lý tài liệu có khoa học không, bảo quản tài
liệu có tốt không…
Tổ chức khai
thác, sử dụng tài liệu lưu trữ có hiệu quả sẽ có tác dụng thiết thực trong việc
tiết kiệm thời gian, công sức, tiền của cho Nhà nước và nhân dân.
Là cầu nối giữa
lưu trữ với xã hội, với nhân dân, tăng cường vai trò xã hội của các lưu trữ.
Thông qua việc
tổ chức sử dụng tài liệu lưu trữ, các cơ quan, tổ chức, cá nhân sẽ nhận thức
được vị trí và tầm quan trọng của tài liệu lưu trữ cũng như công tác lưu trữ từ
đó xây dựng ý thức, trách nhiệm trong việc bảo quản an toàn tài liệu lưu trữ.
Tổ chức sử dụng
tài liệu lưu trữ sẽ mang lại lợi ích thiết thực cho xã hội, cho các kho lưu
trữ, từ đó tạo nên nguồn động viên hữu hiệu cho cán bộ ngành lưu trữ cả về vật
chất và tinh thần.
2. Các hình
thức tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ phổ biến tại các lưu trữ
Có thể nói, tài
liệu lưu trữ có giá trị về nhiều phương diện bởi vì đây chính là những thông
tin có tính chính xác cao, phục vụ nhu cầu khai thác, sử dụng của cá nhân cũng
như các cơ quan, tổ chức.
Thực hiện điều 29, Luật Lưu trữ: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền sử
dụng tài liệu lưu trữ để phục vụ công tác, nghiên cứu khoa học, lịch sử và các
nhu cầu chính đáng khác”. Để đáp ứng mục đích và nhu cầu khai thác của mọi đối
tượng, công tác tổ chức khai thác với những hình thức phổ biến như: Tổ chức sử
dụng tài liệu lưu trữ tại phòng đọc; Cấp bản sao tài liệu lưu trữ, cấp chứng
thực tài liệu lưu trữ; Triển lãm, trưng bày tài liệu lưu trữ; Xây dựng các bộ
phim, tập ảnh chuyên đề; Cho mượn tài liệu lưu trữ…
2.1. Tổ chức sử
dụng tài liệu lưu trữ tại phòng đọc
2.1.1. Điều
kiện áp dụng
Tổ chức sử dụng
tài liệu lưu trữ tại phòng đọc (phục vụ tại chỗ) là một trong những hình thức
chủ yếu, được áp dụng thường xuyên và phổ biến nhất tại các lưu trữ cơ quan và
lưu trữ lịch sử.
2.1.2. Yêu cầu
đối với phòng đọc
Về quy mô phòng
đọc: Phụ thuộc vào quy mô và đặc điểm của kho lưu trữ, giá trị tài liệu, đối tượng
khai thác.Những lưu trữ có số lượng tài liệu nhiều và nội dung quý giá, đông
độc giả thì phòng đọc của nó được tổ chức với quy mô lớn, có đầy đủ thiết bị và
phương tiện khai thác. Trái lại, những kho lưu trữ có quy mô nhỏ, số lượng tài liệu
ít thì phòng đọc tổ chức đơn giản hơn, nhẹ nhàng hơn.
Về địa điểm:
Phòng đọc cần được đặt ở nơi yên tĩnh, thoáng mát, có đủ ánh sáng thích hợp cho
độc giả làm việc.
Về trang thiết
bị: Phòng đọc phải có trang thiết bị tốt, phù hợp với từng loại hình tài liệu,
tạo điều kiện cho độc giả tìm kiếm chính xác, đầy đủ tài liệu theo yêu cầu, rút
ngắn thời gian nghiên cứu, tăng năng suất lao động.
Thiết bị của
phòng đọc gồm: bàn, ghế, quạt, điều hòa nhiệt độ, giá đựng tài liệu, tủ đựng
công cụ tra cứu tài liệu lưu trữ..
Ngoài các trang
thiết bị trên, phòng đọc phải có công cụ tra cứu bổ trợ như: các tác phẩm kinh
điển, các văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước, công báo, từ điển, một số
báo, tạp chí liên quan đến chức năng của kho lưu trữ.
Để hướng dẫn
độc giả thực hiện tốt các quy định của Nhà nước về bảo vệ an toàn tài liệu lưu
trữ, vì vậy trong các phòng đọc phải có nội quy. Xây dựng nội quy phòng đọc
nhằm hướng dẫn độc giả thực hiện tốt các quy định của Nhà nước về bảo vệ an
toàn tài liệu lưu trữ. Nội dung của bản nội quy cần quy định rõ những thủ tục
ban đầu đối với độc giả đến nghiên cứu khai thác tài liệu tại phòng đọc; những
quy định về bảo vệ an toàn và bảo mật tài liệu lưu trữ và những quyền lợi,
nghĩa vụ của độc giả.
Cán bộ phụ
trách phòng đọc có nhiệm vụ tổ chức quản lý toàn bộ công tác ở phòng đọc, nắm
vững thành phần và nội dung tài liệu trong kho lưu trữ, giải đáp những yêu cầu
của độc giả, sử dụng thành thạo các thiết bị của phòng đọc, cấp phát cho độc
giả các bản sao, trích sao tài liệu lưu trữ.
2.1.3. Đối
tượng phục vụ
Đối tượng phục
vụ của các lưu trữ cơ quan chủ yếu là cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan
đó hoặc cơ quan, đơn vị trực thuộc.
Đối tượng phục
vụ của các lưu trữ lịch sử khá rộng rãi, bao gồm độc giả trong nước, ngoài
nước.
Hình thức này
hướng tới đối tượng có nhiều thời gian, cần khai thác nhiều tài liệu theo nhiều
chủ đề khác nhau (các nhà nghiên cứu, sinh viên, cán bộ hưu trí...).
2.1.4. Quy
trình thực hiện
* Bước 1:
Tiếp nhận yêu cầu, làm thẻ độc giả và mở hồ sơ
- Tiếp nhận một
trong các giấy tờ sau: công văn, giấy giới thiệu, chứng minh thư nhân dân, hộ
chiếu và đề cương nghiên cứu (nếu có)
- Nhận đơn xin
khai thác, sử dụng tài liệu
- Làm thẻ độc
giả
- Vào sổ đăng
ký độc giả
- Mở hồ sơ độc
giả
* Bước 2:
Hướng dẫn độc giả tra tìm tài liệu và viết phiếu yêu cầu
- Hướng dẫn độc
giả tra tìm tài liệu bằng các công cụ tra cứu
- Hướng dẫn độc
giả viết phiếu yêu cầu khai thác, sử dụng tài liệu
- Nhận phiếu
yêu cầu của độc giả
- Đăng ký phiếu
yêu cầu vào sổ
* Bước 3:
Trình duyệt phiếu yêu cầu
- Trình lãnh
đạo phòng đọc cho ý kiến
- Lãnh đạo kho
lưu trữ phê duyệt
* Bước 4:
Nhận lại phiếu yêu cầu, chuyển phiếu yêu cầu được duyệt tới bộ phận bảo quản
- Nhận lại
phiếu yêu cầu
- Chuyển phiếu
yêu cầu được duyệt đến bộ phận bảo quản
* Bước 5:
Nhận, kiểm tra tài liệu
- Đối chiếu tài
liệu với phiếu yêu cầu
- Kiểm tra số
lượng, nội dung, tình trạng vật lý của tài liệu
- Ký nhận tài
liệu vào sổ giao nhận tài liệu giữa bộ phận bảo quản và bộ phận tổ chức sử dụng
tài liệu (phòng đọc)
* Bước 6:
Giao tài liệu cho độc giả và thu phí khai thác sử dụng tài liệu
- Thông báo kết
quả xét duyệt phiếu yêu cầu cho độc giả
- Ký giao nhận
tài liệu với độc giả, thu phí khai thác sử dụng tài liệu
* Bước 7:
Theo dõi việc nghiên cứu sử dụng tài liệu
* Bước 8:
Nhận lại tài liệu từ độc giả
- Kiểm tra,
nhận lại tài liệu
- Ký nhận vào
sổ
* Bước 9:
Trả tài liệu cho bộ phận bảo quản
- Trả tài liệu
cho bộ phận bảo quản
- Ký trả vào sổ
giao nhận tài liệu giữa bộ phận bảo quản và bộ phận tổ chức sử dụng tài liệu
(phòng đọc)
* Bước 10:
Kết thúc, hoàn thiện hồ sơ độc giả
- Hoàn thiện hồ
sơ độc giả
- Lưu hồ sơ độc
giả
Với hình thức
này, độc giả sẽ được tiếp cận trực tiếp với nhân viên phụ trách phòng đọc (cán
bộ lưu trữ) và tài liệu ở các dạng khác nhau như bản gốc, bản sao, bản điện
tử... Đối tượng phục vụ khá rộng rãi, bao gồm độc giả từ các cơ quan trong
nước, ngoài nước và quần chúng nhân dân. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm thì
tổ chức sử dụng tại phòng đọc cũng có những hạn chế nhất định mặc dù đây là
hình thức được sử dụng phổ biến nhất.
2.1.5. Ưu điểm và
hạn chế của hình thức tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ tại phòng đọc
2.1.5.1.Ưu điểm
Đối với độc
giả: Khi sử dụng tài liệu tại phòng đọc, độc giả có thể sử dụng cùng lúc nhiều
tài liệu, được bổ sung kịp thời những tài liệu mà trong quá trình nghiên cứu
thấy phát sinh; được tra cứu, tham khảo các tài liệu bổ trợ; Được nghiên cứu
tài liệu gốc (nắm được cả nd và hình thức, chất liệu ghi tin của tài liệu);
Được mở rộng thành phần tài liệu lưu trữ cần tra cứu. Bên cạnh đó, việc tiếp
xúc trực tiếp với cán bộ phòng đọc sẽ tạo điều kiện cho độc giả được hướng dẫn
các nguồn tài liệu, giải đáp các thắc mắc.
Đối với cơ quan
lưu trữ: Khi tổ chức tốt phòng đọc, cơ quan lưu trữ có điều kiện bảo vệ an toàn
tài liệu lưu trữ, tránh mất mát và thất thoát về cả phương diện vật mang tin và
thông tin của tài liệu. Phòng đọc cũng là nơi tiếp xúc với nhiều độc giả nên
cán bộ phòng đọc có thể tiếp nhận những ý kiến đóng góp để cải tiến công tác
phục vụ độc giả.
2.1.5.2. Hạn
chế
Đối với độc giả:
Hạn chế cơ bản là thời gian và không gian (thời gian phục vụ theo giờ hành
chính, thủ tục trình/duyệt cho phép khai thác; khoảng cách địa lý sẽ gây tốn
kém tiền của cho độc giả…)
Xét ở một khía
cạnh nào đó, hình thức này chỉ phù hợp với các đối tượng độc giả có điều kiện
về thời gian và khoảng cách địa lý. Bởi lẽ, thời gian phục vụ của phòng đọc có
giới hạn nhất định, trong khi đó, thời gian tìm hiểu và đọc tài liệu của độc
giả có thể kéo dài nhiều ngày. Đối với độc giả có nơi cư trú cách xa phòng đọc thì
việc sử dụng tài liệu càng khó khăn hơn.
Đối với cơ quan
lưu trữ: Mặc dù tài liệu được đưa ra phục vụ độc giả sẽ được bảo đảm an toàn
hơn một số hình thức tổ chức khai thác sử dụng khác nhưng xét về lâu dài, việc
sử dụng trực tiếp bản gốc tài liệu sẽ tác động xấu tới vật mang tin và giảm
tuổi thọ của tài liệu. Những tác động này có thể xuất phát từ độc giả hoặc đơn
giản chỉ là việc đưa tài liệu ra khỏi môi trường bảo quản thường xuyên.
2.2. Cấp bản
sao tài liệu lưu trữ, cấp chứng thực tài liệu lưu trữ
Trước khi có Luật Lưu trữ thì hình thức này chủ yếu chỉ áp
dụng ở các lưu trữ lịch sử. Điều này đã hạn chế các cơ quan, tổ chức, doanh
nghiệp và cá nhân sử dụng chứng thực, bản sao tài liệu lưu trữ trong giải quyết
công việc. Trong khi đó phần lớn các tài liệu cần cho hoạt động thực tiễn lại
đang được bảo quản tại các lưu trữ cơ quan.
Hiện nay, theo
quy định của Luật Lưu trữ việc sao tài
liệu lưu trữ và chứng thực lưu trữ do Lưu trữ cơ quan hoặc Lưu trữ lịch sử thực
hiện (Khoản 1 Điều 33).
Chính vì vậy,
nhằm thực hiện quy định của Luật cũng như giúp cho các cơ quan, cá nhân xác
minh những vấn đề đã xảy ra trong quá khứ nhưng bị mất chứng cứ, cần phải dựa
vào sự chứng nhận của cơ quan lưu trữ trên cơ sở tài liệu lưu trữ còn giữ được
để làm bằng chứng thì các lưu trữ cơ quan cần thực hiện hình thức cấp chứng
thực lưu trữ và cấp bản sao tài liệu lưu trữ.
2.2.1. Khái
niệm
Chứng thực lưu
trữ là xác nhận của cơ quan, tổ chức hoặc Lưu trữ lịch sử về nội dung thông tin
hoặc bản sao tài liệu lưu trữ do Lưu trữ cơ quan hoặc Lưu trữ lịch sử đang quản
lý” (Điều 33, Luật Lưu trữ).
Bản sao tài
liệu gồm: Bản sao không chứng thực và bản sao có chứng thực theo yêu cầu của
độc giả.
Tài liệu được
sao dưới các hình thức: Sao chụp, in từ bản số hóa nguyên văn toàn bộ hoặc một phần
nội dung thông tin của văn bản, tài liệu từ nguyên bản tài liệu lưu trữ.
2.2.2. Điều
kiện áp dụng:
Hình thức này
áp dụng ở các loại lưu trữ (Lưu trữ cơ quan, lưu trữ lịch sử).
2.2.3. Đối
tượng phục vụ:
Hình thức này
thường hướng tới đối tượng cần tài liệu để đối chứng, để xác minh sự việc (giúp
cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân xác minh những vấn đề đã xảy ra trong quá
khứ, nhưng bị mất chứng cứ, cần phải dựa vào sự chứng nhận của cơ quan lưu
trữ...)
2.2.4. Các hình
thức cấp chứng thực
Về mặt hình
thức cấp chứng thực tài liệu lưu trữ gồm hai loại: cấp chứng thực nội dung tài
liệu lưu trữ và cấp chứng thực bản sao tài liệu lưu trữ.
Về mặt nội dung
có các loại bản chứng thực lưu trữ sau:
- Bản chứng
thực tiểu sử: thường được cấp cho các cá nhân trong trường hợp họ có yêu cầu
xác nhận thông tin về lý lịch gia đình, về thời gian công tác, trình độ học
vấn, mức lương, về quan hệ nhân thân để xác định quyền thừa kế, quyền sở hữu…
- Bản chứng
thực theo chuyên đề: được cấp cho các cơ quan hoặc cá nhân trong trường hợp độc
giả cần xác nhận có một hoặc một số tài liệu lưu trữ hiện đang được bảo quản
trong kho lưu trữ. Cũng có trường hợp chứng thực tài liệu lưu trữ về nhiều vấn
đề khác nhau, tùy theo yêu cầu của người khai thác.
Bản chứng thực
lưu trữ có giá trị về mặt pháp lý, có thể dùng làm bằng chứng trước các tòa án
hoặc để bảo vệ quyền lợi chính đáng của cá nhân khi cần thiết. Vì vậy, khi cấp
chứng thực các cơ quan lưu trữ phải chịu trách nhiệm về tính chân thực của các thông
tin. Điều này đòi hỏi các cán bộ lưu trữ phải nghiên cứu kỹ mục đích khai thác
tài liệu của độc giả, nghiên cứu kỹ các thông tin của tài liệu, kiểm tra, đối
chiếu cẩn thận trước khi viết chứng thực. Trong trường hợp nhận được đơn yêu
cầu cấp chứng thực lưu trữ nhưng khi tra tìm không phát hiện được tài liệu ở
trong kho lưu trữ thì phải viết công văn trả lời cho đương sự rõ lý do.
Nội dung chứng
thực lưu trữ bao gồm xác nhận thông tin về nguồn gốc, địa chỉ lưu trữ của tài
liệu đang bảo quản:
- Tờ số
- Số hồ sơ
- Số mục lục hồ
sơ
- Tên phông
- Số chứng thực
được đăng ký trong sổ chứng thực
2.2.5. Quy
trình thực hiện
* Bước 1:
Tiếp nhận, đăng ký phiếu yêu cầu cấp bản sao, chứng thực lưu trữ
- Hướng dẫn độc
giả viết phiếu yêu cầu cấp bản sao, chứng thực lưu trữ
- Nhận phiếu
yêu cầu cấp bản sao, chứng thực lưu trữ
- Đăng ký vào
Sổ đăng ký phiếu yêu cầu
* Bước 2:
Trình duyệt phiếu yêu cầu
Trình lãnh đạo
phòng đọc cho ý kiến
Trình thủ
trưởng cơ quan/lãnh đạo lưu trữ lích sử duyệt cấp bản sao, chứng thực tài liệu
* Bước 3:
Nhận lại phiếu yêu cầu, thông báo kết quả cho độc giả và giao nhận tài liệu cần
nhân bản
- Nhận lại
phiếu yêu cầu và thông báo kết quả xét duyệt cho độc giả
- Chuẩn bị tài
liệu cần nhân bản (tách hoặc đánh dấu) theo phiếu yêu cầu
- Giao, nhận
tài liệu cần nhân bản
- Ký giao, nhận
vào sổ
* Bước 4:
Nhân bản tài liệu
- Nhân bản tài
liệu (chụp bằng máy photocopy)
- Kiểm tra, sắp
xếp bản gốc và bản chụp theo trình tự ban đầu
* Bước 5:
Nhận lại tài liệu gốc và bản chụp
- Nhận lại tài
liệu gốc và bản chụp từ bộ phận nhân bản
- Kiểm tra số
lượng và chất lượng bản chụp
- Ký nhận vào
sổ
* Bước 6: Đóng
dấu sao hoặc dấu chứng thực
- Đóng dấu sao
- Đóng dấu
chứng thực và ghi các thông tin trên dấu
* Bước 7:
Thu phí và bàn giao tài liệu
- Thu phí và
giao bản sao, bản chứng thực (bản chụp đã được đóng dấu) cho độc giả
- Đưa tài liệu
gốc về hồ sơ ban đầu và trả lại cho bộ phận bảo quản.
2.2.6. Ưu điểm và
hạn chế của hình thức cấp bản sao tài liệu lưu trữ, cấp chứng thực tài liệu lưu
trữ
2.2.6.1. Ưu điểm:
Hình thức này
giúp cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân xác minh được vấn đề đã xảy ra trong
quá khứ, nhưng bị mất chứng cứ, cần phải dựa vào tài liệu lưu trữ làm bằng
chứng kèm theo chứng nhận của cơ quan lưu trữ.
Ví dụ thực tế:
Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III là một trong các lưu trữ lịch sử cấp quốc gia, Trung
tâm đã cung cấp chứng thực tiểu sử cho nhiều cá nhân mà phần lớn đó là những
cán bộ đi B, giúp họ xác minh được quá trình cống hiến của mình trong cuộc
kháng chiến chống Mĩ, từ đó họ được hưởng chế độ đãi ngộ của Nhà nước. Hiện nay
Trung tâm đang tiến hành cung cấp bản sao và chứng thực lưu trữ cho cán bộ đi B
ở tất cả các tỉnh thành trong cả nước. Ngoài ra còn cung cấp nhiều bản sao lục,
trích lục từ tài liệu lưu trữ cho nhiều độc giả. Trung bình một năm Trung tâm
đã cấp chứng thực lưu trữ và bản sao là gần 11.000, trong đó gần 2% là chứng
thực lưu trữ.
2.2.6.2. Hạn chế:
Trong quá trình
sử dụng tài liệu, nếu độc giả có nguyện vọng sao hoặc trích sao tài liệu lưu
trữ thì phải có Phiếu yêu cầu, các phiếu này phải do người có thẩm quyền cho
phép mới được cấp bản sao, trích sao tài liệu lưu trữ. Tất cả các bản sao và
trích sao phải có dấu chứng thực của cơ quan. Vì vậy có thể nói, hình thức này
tốn khá nhiều thời gian khi người có nhu cầu chứng thực phải chờ đợi sự xác
minh và cho phép của cấp quản lý.
2.3. Triển lãm,
trưng bày tài liệu lưu trữ.
2.3.1. Mục đích
của triển lãm
Mục đích của
hình thức này là tuyên truyền giáo dục quần chúng về truyền thống anh hùng cách
mạng trong dựng nước và giữ nước của dân tộc, giới thiệu chủ nghĩa anh hùng
cách mạng của quân và dân ta trong cuộc đấu tranh để giải phóng dân tộc, bảo vệ
độc lập tự do. Với mục đích này, triển lãm tài liệu lưu trữ thường được tổ chức
nhân dịp kỷ niệm những ngày lễ lớn của dân tộc, của Đảng…Ví dụ như triển lãm “85
năm Đảng Cộng sản Việt Nam- Một chặng đường vẻ vang” do Bộ VHTH&DL và Cục
Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng phối hợp tổ chức.
Mục đích thứ
hai của triển lãm tài liệu lưu trữ là hiện giới thiệu tài liệu lưu trữ cho
người nghiên cứu. Ở mục đích này, các cuộc triển lãm thường giới thiệu những
tài liệu có giá trị mới phát hiện trong các kho lưu trữ, gây sự quan tâm chú ý
của độc giả.
Triển lãm cũng
có thể giới thiệu những tài liệu liên quan đến một chủ đề đang được sự quan tâm
theo dõi của nhiều người. Ví dụ như cuộc triển làm “Hoàng Sa, Trường Sa của
Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử”.
Ngoài ra, việc
triển lãm tài liệu lưu trữ còn góp phần tăng cường sự hiểu biết xã hội về lưu
trữ, xây dựng được nhịp cầu giao lưu giữa các cơ quan lưu trữ và công chúng,
thúc đẩy cho sự phát triển và sử dụng nguồn tài liệu lưu trữ, làm cho lưu trữ
phát huy được nhiều hơn, lớn hơn giá trị của mình trong sự phát triển kinh tế
xã hội. Các cuộc trưng bày, triển lãm tài liệu lưu trữ đặc biệt là các cuộc
triển lãm hợp tác với lưu trữ nước ngoài còn góp phần củng cố mối quan hệ hợp
tác hữu nghị giữa các nước, tăng cường việc thực hiện cam kết, thỏa thuận giữa
cơ quan lưu trữ các nước.
2.3.2. Điều
kiện áp dụng
Hình thức tổ
chức triển lãm tài liệu lưu trữ thường áp dụng tại các lưu trữ lịch sử hoặc kết
hợp giữa lưu trữ lịch sử với bảo tàng. Ngoài ra, có thể tổ chức tại lưu trữ cơ
quan nhân dịp cơ quan tổ chức sự kiện kỷ niệm ngày thành lập.
Do tính chất
đặc thù của hình thức này nên không phải mọi tài liệu lưu trữ đều được đưa ra
triển lãm. Những tài liệu liên quan đến các vấn đề bí mật của Đảng và Nhà nước,
những tài liệu xét thấy đưa ra triển lãm sẽ dễ bị hư hỏng…không được đưa ra
triển lãm.
2.3.3. Đối
tượng phục vụ
Hình thức này
hướng tới đông đảo người dân và những người ít có điều kiện đến các kho lưu
trữ để sưu tầm, nghiên cứu tài liệu theo chủ đề.
2.3.4. Yêu cầu
đối với việc triển lãm tài liệu lưu trữ
Thứ nhất, triển
lãm phải có chủ đề tư tưởng rõ ràng. Chủ đề đó phải phục vụ thiết thực các
nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước trong từng thời kỳ lịch sử nhất định.
Các cơ quan lưu trữ phải nhạy bén với công tác chính trị tư tưởng, nắm bắt được
yêu cầu đòi hỏi của xã hội, của độc giả để chọn chủ đề triển lãm tài liệu cho
thiết thực.
Thứ hai, triển
lãm tài liệu phải bảo đảm thể hiện các yêu cầu mỹ thuật, làm tăng sức thể hiện
nội dung và chủ đề triển lãm, tạo điều kiện thuận lợi cho người xem lĩnh hội
sâu sắc và toàn diện nội dung triển lãm. Triển lãm phải đảm bảo thực hiện đúng
các quy định của Nhà bí mật quốc gia, bảo vệ tài liệu lưu trữ.nước về bảo vệ
Triển lãm phải
có chủ đề tư tưởng rõ ràng (phục vụ thiết thực các nhiệm vụ chính trị của
Đảng, Nhà nước).
Triển lãm tài
liệu phải đảm bảo các yêu cầu mỹ thuật, làm tăng sức thể hiện nội dung và chủ
đề triển lãm, tạo điều kiện thuận lợi cho khán giả lĩnh hội sâu sắc và toàn
diện nội dung triển lãm.
2.3.5. Các hình
thức triển lãm
Triển lãm
thường xuyên
Triển lãm định
kỳ
Triển lãm cố
định
Triển lãm lưu
động
2.3.6. Quy
trình tổ chức triển lãm
Bước 1: Chọn
chủ đề triển lãm
Bước 2: Lập kế
hoạch tổ chức triển lãm
Bước 3: Sưu tầm
và lựa chọn tài liệu cho cuộc triển lãm
Bước 4: Trình
bày mỹ thuật triển lãm
Bước 5: Thuyết
minh triển lãm
2.3.7. Ưu điểm và
hạn chế của hình thức triển lãm, trưng bày tài liệu lưu trữ
2.3.7.1.Ưu điểm:
Đây là một hình
thức tổ chức sử dụng tài liệu lưu trữ đa dạng, có ảnh hưởng sâu sắc đến xã hội.
Với hình thức này có thể giới thiệu cùng một lúc nhiều loại hình tài liệu lưu
trữ khác nhau.
2.3.7.2. Hạn
chế:
Hình thức này
đòi hỏi các Lưu trữ phải đầu tư về cơ sở vật chất, chuẩn bị địa điểm, nhân lực
để có thể tổ chức thành công một buổi triển lãm. Tầm ảnh hưởng của triển lãm
tới quần chúng nhân dân có thể sâu nhưng không rộng, bởi đối tượng tham dự
triển lãm thường chỉ là những người quan tâm tới chủ đề triển lãm hoặc các đối
tượng được ban tổ chức mời.
2.4. Xây dựng các
bộ phim, tập ảnh chuyên đề
Xây dựng các bộ
phim, tập ảnh chuyên đề là một hình thức hoạt động có tính chất tuyên truyền
rộng rãi.
2.4.1. Ưu điểm:
Đây là hình
thức có tính chất tuyên truyền rộng rãi, có thể cung cấp thông tin đến mọi đối
tượng. Các bộ phim điện ảnh thường được xây dựng theo chuyên đề, vì vậy công
chúng có thể tiếp cận thông tin theo chuyên đề cần khai thác. Hơn nữa, với tính
chất sinh động trong các thước phim thì việc sử dụng tài liệu lưu trữ để xây
dựng các bộ phim sẽ là hình thức thu hút các đối tượng độc giả hiệu quả nhất.
2.4.2.Hạn chế:
Hình thức này
cũng cần huy động nguồn kinh phí đầu tư ban đầu. Mặt khác, đối với các bộ phim
điện ảnh sử dụng chất liệu là tài liệu lưu trữ không phải dạng phim tài liệu /
tư liệu thì nội dung của tài liệu lưu trữ có thể bị “khúc xạ” khi đến với khán
giả bởi nguyên nhân chủ quan từ phía các đạo diễn, đoàn làm phim.
Hình thức này
thường được áp dụng trong những dịp kỷ niệm hoặc những ngày lễ lớn của cơ quan,
tổ chức nhằm giáo dục truyền thống, nhấn mạnh bề dày lịch sử, xây dựng hình ảnh
và là một trong những hình thức quảng bá thương hiệu, năng lực cạnh tranh mà các
doanh nghiệp rất chú trọng. Chẳng hạn như Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam đã
xây dựng bộ phim “Ký sự dầu khí” nhân kỷ niệm 50 năm hoạt động của ngành dầu
khí (1951-2011). Hoặc như dịp kỷ niệm 80 năm truyền thống ngành dân vận, Ban
Dân vận trung ương đã xây dựng bộ phim “Những cánh chim không mỏi”. Để xây dựng
những bộ phim này ngoài việc sử dụng tài liệu lưu trữ của cơ quan còn phải khai
thác nhiều tài liệu của các cơ quan khác trong đó một nguồn đáng chú ý là tài
liệu lưu trữ đang bảo quản ở các lưu trữ lịch sử.
Trung tâm Lưu
trữ Quốc gia III đã sử dụng tài liệu lưu trữ để xây dựng một số phim tài liệu
về lịch sử Việt Nam, về Chủ tịch Hồ Chí Minh, về quan hệ hợp tác với các
nước... Đặc biệt, Trung tâm đã phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam xây dựng
phóng sự “Giữ trọn niềm tin”, qua đó giới thiệu những hồ sơ, kỉ vật của cán bộ
đi B thời kì kháng chiến chống Mỹ. Việc phát sóng bộ phim đã có hiệu quả to lớn
là giúp nhiều cá nhân và gia đình tìm lại được hồ sơ là chứng cứ để làm các thủ
tục về chế độ chính sách. Bộ phim “Trung tâm Lưu trữ quốc gia III - Một mỏ vàng
văn hóa” do Trung tâm xây dựng được phát sóng trên đài Truyền hình Việt Nam
cũng đã có tác dụng lớn đối với việc tuyên truyền, phổ biến về công tác lưu trữ
và vai trò của TLLT trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Ngoài ra,
TTLTQG III còn cho ra mắt nhiều bộ phim tài liệu để kỷ niệm một số sự kiện
trọng đại của dân tộc và của ngành như bộ phim “Hội diễn văn nghệ lưu trữ các
tỉnh phía Bắc tại Hải Phòng” và 10 chuyên đề phim về các sự kiện, hoạt động của
Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước và TTLTQG III...
2.5. Cho mượn
tài liệu lưu trữ
Trong một số
trường hợp cần thiết đặc biệt là trong hoạt động chuyên môn của một số ngành
như công an, kiểm sát, tòa án phải dùng tài liệu lưu trữ để đối chiếu với các
tài liệu khác, làm bằng chứng xét xử tại tòa hoặc đối chiếu với hiện trường thì
hình thức cho mượn tài liệu lưu trữ là hình thức duy nhất có thể đáp ứng được
những trường hợp này. Bởi tính xác thực, độ tin cậy của tài liệu lưu trữ thì
không loại tài liệu nào có thể thay thế được. Tuy nhiên, hình thức này không
nên khuyến khích áp dụng vì với việc đưa tài liệu ra khỏi kho lưu trữ sẽ gây
khó khăn cho việc đảm bảo an toàn cho tài liệu, cả về tình trạng vật lý cũng
như thông tin tài liệu.
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Nội vụ, Thông
tư số 10/2014/TT-BNV ngày 01/10/2014 của Bộ
Nội vụ
quy
định về việc sử dụng tài liệu tại phòng đọc của các lưu trữ lịch sử.
2. Đào Xuân
Chúc, Nguyên Văn Hàm, Vương Đình Quyền và Nguyễn Văn Thâm (1990), Lý luận và
thực tiễn công tác lưu trữ, NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội;
3. Chính phủ,
Nghị định số 01/2013/NĐ-CP ngày 03/01/2013
quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật
Lưu trữ;
4. Dương Văn
Khảm (2011),Từ điển giải thích nghiệp vụ văn thư lưu trữ Việt Nam, NXB Chính trị
Quốc gia, Hà Nội;
5. Kỷ yếu Hội
thảo khoa học (2007), 45 năm tổ chức và sử dụng tài liệu tại Trung tâm Lưu
trữ Quốc gia I (1962 - 2007). Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, Hà Nội;
6. Kỷ yếu Hội thảo khoa
học quốc tế (2008), Phát huy giá trị tài liệu lưu trữ phục vụ sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ tổ quốc. Hà Nội;
7. Kỷ yếu Hội thảo khoa
học quốc tế (2012), Tổ chức và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ nhân dân”.
Hà Nội;
8. Quốc hội, Luật Lưu trữ số 01/2011/QH13 ngày 11/11/2011;
9. Quốc hội, Luật Di sản văn hóa sửa đổi năm 2009;
10. Trường Đại học Nội
vụ Hà Nội, Giáo trình lý luận và phương pháp công tác lưu trữ, NXB Lao
động, Hà Nội 2017.
CÂU
HỎI ÔN TẬP, THẢO LUẬN
1. Phân tích mục
đích, ý nghĩa của việc tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ.
2. Phân tích ưu
điểm và hạn chế của các hình thức tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ
tại các lưu trữ của Việt Nam.
3. Chứng minh rằng: Tổ
chức khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ là mục tiêu cuối cùng của công tác lưu
trữ.
4. Chứng minh rằng: Tổ
chức khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ là cơ sở để đánh giá các quy trình
nghiệp vụ lưu trữ trước đó.
Chuyên
đề 13
NGHIỆP VỤ THỐNG KÊ TRONG CÔNG TÁC LƯU TRỮ
Thống kê trong công tác
lưu trữ có vai trò rất quan trọng là cơ sở, là căn cứ để các cơ quan có thẩm
quyền cấp trên quản lý về công tác lưu trữ. Vì trong báo cáo thống kê thì các cơ quan,
đơn vị phải thống kê đầy đủ chi tiết, từ việc ban hành các văn bản chỉ đạo và
hướng dẫn nghiệp vụ công tác lưu trữ; tổ chức lưu trữ; nhân sự làm công tác lưu
trữ đến kho lưu trữ, trang thiết bị dùng cho lưu trữ… Căn cứ vào những số liệu
cụ thể trong báo cáo thống kê, các cơ quan có thẩm quyền có thể biết được chính
xác về tình hình công tác lưu trữ của mỗi cơ quan và trên phạm vi toàn quốc. Vì
vậy, tại các cơ quan cần thực hiện báo cáo một cách trung thực, khách quan và
theo đúng yêu cầu để việc thống kê Nhà nước về lưu trữ được thực hiện có hiệu
quả hơn.
1. Khái niệm, mục đích,
yêu cầu, nguyên tắc của thống kê trong công tác lưu trữ
1.1. Khái niệm
Theo Từ điển Tiếng Việt
của Viện Ngôn Ngữ học, xuất bản năm 2010 thống kê là “Thu thập số liệu về
một hiện tượng, sự việc, tình hình nào đó” [8;1220]
Theo Từ điển Lưu trữ
Việt Nam của Cục Lưu trữ Nhà nước xuất bản năm 1992, thống kê tài liệu lưu trữ
là “quá trình ghi chép số lượng, thành phần, nội dung, tình hình tài liệu và
hệ thống bảo quản trong các lưu trữ” [1;79]
Trong cuốn Lý luận và
thực tiễn công tác lưu trữ xuất bản năm 1990, thống kê tài liệu là “sử dụng
những phương pháp và phương tiện thích hợp để xác định rõ ràng và chính xác số
lượng, thành phần tài liệu, tình hình và hệ thống bảo quản chúng trong các
phòng, kho lưu trữ” [2;145]
Theo Giáo trình lưu trữ
của trường Cao đẳng Văn thư Lưu trữ Trung ương I, xuất bản năm 2006”thống kê
tài liệu lưu trữ là áp dụng các phương pháp và các công cụ chuyên môn để xác
định số lượng, chất lượng, thành phần, nội dung, tình hình tài liệu và hệ thống
trang thiết bị bảo quản tài liệu trong các kho lưu trữ để ghi vào phương tiện
thống kê” [7;153]
Thông tư số 09/2013/TT-BNV ngày 31 tháng 10 năm 2013 ban
hành “quy định chế độ báo cáo thống kê công tác văn thư, lưu trữ và tài liệu
lưu trữ” thì thống kê trong công tác lưu trữ gồm các nội dung: Văn bản chỉ
đạo và hướng dẫn nghiệp vụ công tác lưu trữ; tổ chức lưu trữ; nhân sự làm công
tác lưu trữ; tài liệu lưu trữ; thu thập và loại hủy tài liệu; tổ chức sử dụng
tài liệu lưu trữ; kho lưu trữ, trang thiết bị dùng cho lưu trữ; nghiên cứu khoa
học về lưu trữ.
1.2. Mục đích, ý nghĩa
- Căn cứ vào số liệu
thống kê giúp các cơ quan, tổ chức nắm được số lượng, nội dung các văn bản chỉ
đạo và hướng dẫn nghiệp vụ của các lưu trữ
- Cung cấp các số liệu
cần thiết về số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ lưu trữ, để có cơ sở định hướng
trong công tác đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ lưu trữ
- Qua thống kê giúp các
cơ quan, tổ chức nắm được số lượng tài liệu hiện có, thành phần và chất lượng
tài liệu, để có cơ sở xây dựng kế hoạch thu thập, bổ sung những tài liệu còn
thiếu, có kế hoạch thích hợp để bảo quản tốt những tài liệu có giá trị thực
tiễn và giá trị lịch sử
- Giúp các cơ quan, tổ
chức nắm được tình hình tổ chức việc khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ, để có
kế hoạch cụ thể nhằm phát huy giá trị của tài liệu phông lưu trữ cơ quan nói
riêng và tài liệu phông lưu trữ quốc gia nói chung.
- Xác định được thực
trạng tình hình các kho lưu trữ và trang thiết bị dùng cho các lưu trữ, để có
cơ sở đầu tư kinh phí phù hợp.
- Giúp các cơ quan, tổ
chức nắm được các công trình nghiên cứu khoa học về lưu trữ, để có cơ sở
đánh giá và định hướng nghiên cứu phù hợp với từng thời điểm.
- Cung cấp các số liệu
cần thiết cho các cơ quan quản lý lưu trữ để quy hoạch được chính xác các
nhiệm vụ đặt ra cho ngành.
1.3. Yêu cầu
- Cụ thể và chính xác:
Kết quả công tác thống kê là số liệu phải đúng, cụ thể so với thực tế về khối
lượng, thành phần, nội dung, phương tiện, tình hình bảo quản, số lượng, chất
lượng đội ngũ cán bộ lưu trữ …Người làm công tác thống kê không tự ý thêm, bớt,
làm sai lệch số liệu, không được tự ý sửa chữa, gạch xoá, nội dung số liệu
thống kê, vì số liệu thống kê phục vụ cho công tác quản lý.
- Kịp thời và toàn
diện: Số liệu thống kê phải được cung cấp đúng thời gian và đầy đủ theo yêu cầu
của cơ quan quản lý hoặc của cơ quan sử dụng số liệu thống kê. Việc cung cấp
kịp thời, đầy đủ, chính xác về số liệu thống kê sẽ cung cấp các thông tin cần
thiết cho cơ quan quản lý ngành lưu trữ và các cơ quan, tổ chức phục vụ cho
công tác quản lý, quy hoạch được chính xác các nhiệm vụ đặt ra trong công tác
lưu trữ. Trong trường hợp, cung cấp số liệu thống kê về lưu trữ không kịp thời,
không đầy đủ theo yêu cầu sẽ ảnh hưởng đến công tác lập kế hoạch, quy hoạch
phát triển ngành lưu
trữ.
- Khoa học và có những
công cụ thống kê thích hợp: Các công cụ thống kê khi thiết kế, xây dựng phải
đơn giản, phù hợp và dễ sử dụng khi đưa vào sử dụng trong thực tế. Đồng thời
phải đảm bảo tính khoa học, lôgic và có thể phản ánh được nhiều loại đối tượng
khác nhau cần thống kê trong công tác lưu trữ.
1.4. Nguyên tắc
- Đảm bảo sự thống nhất
giữa sổ sách thống kê và bảo quản tài liệu trong kho lưu trữ:
Trong các loại sổ sách
thống kê như: Sổ nhập, sổ xuất, số thống kê phông lưu trữ, mục lục hồ sơ,...
ghi số lượng, ghi vị trí để tài liệu trong kho như thế nào thì ở trong kho bảo
quản tài liệu lưu trữ phải đúng như ghi trong sổ sách với mục đích phục vụ cho
công tác quản lý, tra tìm tài liệu đúng nơi chỉ dẫn. Sự thống nhất này không
chỉ là nguyên tắc mà còn là nhu cầu khách quan nhằm đảm bảo thực hiện nhiệm vụ
tổ chức khoa học tài liệu.
- Đảm bảo sự thống nhất
trong phạm vi cả phông lưu trữ quốc gia:
Sự thống nhất này được
thể hiện trong các loại hình công cụ thống kê, đơn vị thống kê và các thông tin
về thống kê các loại tài liệu. Đồng thời, các loại sổ sách dùng trong công tác
thống kê lưu trữ phải được thống nhất về hình thức, nội dung gồm:
+ Tên gọi công cụ thống
kê.
+ Thống nhất về số
lượng cột, mục trong mỗi loại sổ sách.
+ Thống nhất về mức độ
chi tiết, khái quát.
+ Ghi thống kê nội dung
trong các cột, mục.
Các loại sổ sách dùng
trong công tác thống kê lưu trữ phải được thống nhất về hình thức, nội dung với
mục đích giúp cho việc sử dụng các công cụ thống kê, số liệu thống kê nhanh
chóng, thuận tiện. Trong thực tế ngành lưu trữ đã và đang xây dựng tiêu chuẩn hóa
để sử dụng thống nhất trong công tác lưu trữ.
- Bảo mật về số liệu
thống kê và công cụ thống kê:
+ Đây là một nguyên tắc
quan trọng vì các số liệu thống kê đều phản ánh trung thực về nơi bảo quản tài
liệu, thành phần và nội dung cơ bản của tài liệu, kể cả những tài liệu chứa
đựng thông tin bí mật của Đảng và Nhà nước cũng như của các ngành quan trọng.
+ Thực hiện nguyên tắc
này là trách nhiệm của cơ quan lưu trữ theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật
về bảo vệ bí mật nhà nước. Vì vậy, khi xây dựng các công cụ thống kê và đặc
biệt là việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác này cần tính đến khả
năng bảo vệ bí mật về số liệu thống kê cơ bản.
2. Đối tượng và đơn vị
thống kê
2.1. Đối tượng thống kê
Tại Thông tư số 09/2013/TT-BNV ngày 31 tháng 10 năm 2013 quy
định chế độ báo cáo thống kê công tác văn thư, lưu trữ và tài liệu lưu trữ.
Theo văn bản này thống kê trong công tác lưu trữ gồm các nội dung:
+ Văn bản chỉ đạo và
hướng dẫn nghiệp vụ công tác lưu trữ;
+ Tổ chức lưu trữ;
+ Nhân sự làm công tác
lưu trữ;
+ Tài liệu lưu trữ;
+ Thu thập và loại hủy
tài liệu;
+ Tổ chức sử dụng tài
liệu lưu trữ;
+ Kho lưu trữ, trang
thiết bị dùng cho lưu trữ;
+ Nghiên cứu khoa học
về lưu trữ.
2.2. Đơn vị thống kê
- Đối với văn bản chỉ
đạo và hướng dẫn nghiệp vụ công tác lưu trữ: Đơn vị tính là số lượng văn bản
- Đối với tổ chức lưu
trữ: Đơn vị tính là trung tâm, phòng, tổ, bộ phận
- Đối với nhân sự làm
công tác lưu trữ: Số lượng người
- Đối với tài liệu
giấy:
+ Đơn vị thống kê được
sử dụng là phông lưu trữ, phông lưu trữ liên hợp, các sưu tập lưu trữ. Đó là
những đơn vị thường được sử dụng để thống kê tài liệu trên phạm vi toàn Phông
lưu trữ quốc gia Việt Nam
+ Trong phạm vị một kho
và từng phông lưu trữ độc lập, đơn vị thống kê chủ yếu được sử dụng là hồ
sơ/đơn vị bảo quản
+ Trong các phòng, kho
lưu trữ còn thống kê tài liệu theo chiều dài của giá để tài liệu (tính bằng
mét, mét/giá)
+ Đối với tài liệu quý
hiếm thì thống kê đến từng văn bản.
- Đối với tài liệu khoa
học, kỹ thuật: Đơn vị thống kê được sử dụng là công trình, đề tài, mét, hồ sơ/đơn
vị bảo quản
- Đối với tài liệu nghe
nhìn: Đơn vị thống kê được sử dụng là bộ, đoạn, cuộn, đĩa giờ, chiếc
- Đối với tài liệu điện
tử: Đơn vị thống kê được sử dụng là hồ sơ/mb
- Đối với công cụ tra
cứu khoa học, các đơn vị thống kê được xác định tùy thuộc vào từng loại cụ thể:
các bộ thẻ thông thường được thống kê theo bộ; mục lục hồ sơ thống kê theo
quyển; các sách hướng dẫn thống kê theo quyển.
- Đối với kho lưu trữ:
Đơn vị thống kê là m2.
- Đối với các phương
tiện bảo quản: Trong các kho lưu trữ phương tiện bảo quản tài liệu là một trong
các yếu tố quan trọng cho thấy tình hình công tác lưu trữ. Các phương tiện bảo
quản như giá, tủ, hệ thống chống đột nhập, hệ thống báo cháy, chữa cháy tự
động, máy điều hòa, máy hút bụi, thiết bị thông gió và các thiết bị khác được
thống kê là mét, chiếc, hệ thống.
3. Các công cụ thống kê
Hiện nay tài liệu lưu
trữ được thống kê bằng sổ sách là chủ yếu. Các loại sổ sách thống kê tài liệu
hành chính bao gồm:
3.1. Sổ nhập tài liệu
lưu trữ
- Phạm vi áp dụng: Sổ
nhập tài liệu lưu trữ được lập ở các phòng, kho lưu trữ
- Tác dụng:
+ Là công cụ để thống
kê tình hình nhập tài liệu vào kho lưu trữ, nó cho biết số lượng, chất lượng,
thành phần tài liệu trong kho lưu trữ.
+ Mỗi lần nhập tài
liệu, các phòng, kho lưu trữ có trách nhiệm đăng tài liệu vào sổ nhập, không
phân biệt tài liệu đó thuộc phông lưu trữ nào, đã được đăng ký tại cơ quan quản
lý lưu trữ hay chưa.
+ Sổ nhập tài liệu rất
cần thiết, giúp cho các các phòng, kho lưu trữ theo dõi được tình hình cụ thể
về nguồn gốc, số lượng, nội dung cơ bản, tình trạng tài liệu được nhập vào cơ
quan.
- Yêu cầu:
+ Bất cứ loại tài liệu
nào xuất xứ từ đâu khi thu thập vào kho lưu trữ đều phải thống kê vào sổ nhập
tài liệu lưu trữ. Sổ này được lập theo Quyết định số 02/QĐ-QHTK ngày 12/01/1990 của Cục Lưu trữ Nhà
nước. Đơn vị thống kê vào sổ nhập là hồ sơ/đơn vị bảo quản (đối với tài liệu đã
lập hồ sơ). Nếu là tài liệu chưa chỉnh lý, chưa lập hồ sơ thì dùng đơn vị thống
kê là: bó, gói, cặp ba dây, mét giá tài liệu
+ Tài liệu phải được
thống kê vào sổ nhập ngay sau khi nhập. Mỗi lần nhập tài liệu dù nhiều hay ít
cũng đều phải ghi số thứ tự riêng.
Mẫu
sổ nhập tài liệu
|
TT
|
Ngày
tháng năm nhập
|
Họ
tên người nhập
|
Tên
cơ quan, đơn vị nộp
|
Tên
phông (bộ sưu tập) tài liệu
|
Số
phông
|
Năm
của tài liệu
|
Văn
bản căn cứ nhập
|
Số
lượng hồ sơ
|
Số
cặp, hộp bó, mét
|
Giới
thiệu tóm tắt tình hình tài liệu
|
Ghi
chú
|
|
(1)
|
(2)
|
(3)
|
(4)
|
(5)
|
(6)
|
(7)
|
(8)
|
(9)
|
(10)
|
(11)
|
(12)
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
3.2. Sổ
xuất tài liệu lưu trữ
- Phạm vi áp dụng: Được
áp dụng đối với các phòng, kho lưu trữ
- Tác dụng:
+ Để thống kê tình hình
xuất tài liệu ra khỏi kho lưu trữ như chuyển giao tài liệu cho kho lưu trữ khác
hoặc đem tài liệu ra khử trùng, chỉnh lý tài liệu hay phục vụ khai thác sử dụng
tài liệu.
+ Để quản lý tài liệu
được chặt chẽ
+ Đăng ký việc xuất tài
liệu vào sổ nhập tài liệu lưu trữ không chỉ để bảo vệ tài liệu mà qua đó còn
cho thấy các hoạt động cụ thể của các phòng, kho lưu trữ.
+ Qua sổ xuất tài liệu,
cán bộ quản lý lưu trữ có thể thấy được các biến động của kho lưu trữ, của các
phông lưu trữ cụ thể, theo dõi để thu về những tài liệu cần thiết đã xuất khỏi
kho lưu trữ.
- Yêu cầu:
+ Bất cứ loại tài liệu
nào khi đưa ra khỏi kho lưu trữ đều phải thống kê vào sổ xuất tài liệu lưu trữ.
Đơn vị thống kê vào sổ xuất là hồ sơ hay đơn vị bảo quản (đối với tài liệu đã
lập hồ sơ). Nếu là tài liệu chưa chỉnh lý, chưa lập hồ sơ thì dùng đơn vị thống
kê là: bó, gói, cặp ba dây, mét giá tài liệu,…
+ Tài liệu phải được
thống kê vào sổ xuất ngay sau khi xuất. Mỗi lần xuất tài liệu dù nhiều hay ít
cũng đều phải ghi số thứ tự riêng.
Mẫu
sổ xuất tài liệu
|
TT
|
Ngày
tháng năm xuất
|
Căn
cứ xuất
|
Xuất
đi đâu, lý do
|
Số
và tên phông
|
Mục
lục số
|
Số
lượng ( sơ, bó, gói...)
|
Ghi
chú
|
|
(1)
|
(2)
|
(3)
|
(4)
|
(5)
|
(6)
|
(7)
|
(8)
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
3.3. Mục lục hồ sơ
- Phạm vi áp dụng: Được
áp dụng đối với các phòng, kho lưu trữ
- Tác dụng:
+ Giới thiệu cho độc
giả thành phần và nội dung tài liệu trong lưu trữ, chỉ dẫn địa chỉ của hồ sơ
+ Thống kê số lượng hồ
sơ hiện có trong lưu trữ, qua đó, làm căn cứ để xây dựng kế hoạch công tác lưu
trữ một cách khoa học như bố trí kho lưu trữ, mua sắm trang thiết bị lưu trữ
+ Hướng dẫn cán bộ lưu
trữ sắp xếp hồ sơ lên giá theo trật tự khoa học
+ Đối với những phông
lưu trữ đã được chỉnh lý thì mục lục hồ sơ dùng để cố định phương án phân loại
tài liệu trong phông.
+ Mục lục hồ sơ còn là
cơ sở để xây dựng các loại công cụ tra cứu khác như các bộ thẻ, sách sơ yếu tài
liệu lưu trữ, sách hướng dẫn các kho lưu trữ và các loại phiếu tra tìm khác…
- Yêu cầu:
+ Tài liệu của một
phông hoặc khối tài liệu của phông nào đã được lập hồ sơ, chỉnh lý hoàn chỉnh
đều phải được đăng ký vào mục lục hồ sơ, được thực hiện theo tiêu chuẩn ngành
do Cục Lưu trữ Nhà nước ban hành tại Quyết định 72/QĐ-KHKT
ngày 02/8/1997. Đơn vị thống kê vào mục lục là hồ sơ hay đơn vị bảo quản.
+ Một quyển mục lục hồ
sơ chỉ được thống kê hồ sơ của một phông lưu trữ, không được thống kê hồ sơ của
nhiều phông vào một quyển mục lục.
Mẫu
mục lục hồ sơ
|
Cặp
hộp số
|
Hồ
sơ số
|
Tiêu đề hồ sơ
|
Ngày
tháng bắt đầu và kết thúc
|
Số
lượng tờ
|
Thời
hạn bảo quản
|
Ghi
chú
|
|
(1)
|
(2)
|
(3)
|
(4)
|
(5)
|
(6)
|
(7)
|
|
|
|
|
|
|
|
|
3.4. Sổ đăng ký mục lục
hồ sơ
- Phạm vi áp dụng: Sổ
đăng ký mục lục hồ sơ là sổ thống kê toàn bộ các mục lục hồ sơ của một kho lưu
trữ hoặc một phòng lưu trữ quản lý nhiều phông lưu trữ.
- Tác dụng:
+ Dùng để thống kê các
quyển mục lục hồ sơ được bảo quản trong phông lưu trữ và từng kho lưu trữ.
+ Để quản lý mục lục hồ
sơ được chặt chẽ
+ Để tra tìm tài liệu
nhanh chóng, chính xác
- Yêu cầu:
+ Nếu kho lưu trữ có
nhiều phông, mỗi phông lập được nhiều quyển mục lục thì cần phải có sổ đăng ký
các quyển mục lục này;
+ Cấu tạo và trình bày
chi tiết sổ đăng ký mục lục hồ sơ được thực hiện theo tiêu chuẩn ngành do Cục
Lưu trữ Nhà nước ban hành tại Quyết định số 73/QĐ-KHKT
ngày 04/8/1997.
Mẫu
sổ đăng ký mục lục hồ sơ
|
STT
|
Phông
số
|
Mục
lục hồ sơ số
|
Tên
mục lục hồ sơ
|
Thời
gian tài liệu có trong mục lục hồ sơ
|
Số
lượng đơn vị bảo quản
|
Số
tờ của mục lục hồ sơ
|
Số
bản của mục lục hồ sơ
|
Thời
hạn bảo quản
|
Ghi
chú
|
|
(1)
|
(2)
|
(3)
|
(4)
|
(5)
|
(6)
|
(7)
|
(8)
|
(9)
|
(10)
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
3.5. Sổ thống kê phông
lưu trữ
- Phạm vi áp dụng: Được
lập ở kho các lưu trữ lịch sử và một số kho lưu trữ cơ quan (trong kho có
nhiều phông lưu trữ)
- Tác dụng:
+ Dùng để thống kê số
lượng các phông lưu trữ, các bộ sưu tập tài liệu lưu trữ bảo quản trong kho lưu
trữ;
+ Để cố định trật tự
sắp xếp các phông lưu trữ trong kho và phản ánh tình hình tài liệu lưu trữ
trong phông.
+ Để phản ánh khái quát
tình hình tài liệu trong phòng, kho lưu trữ
- Yêu cầu:
+ Đối tượng thống kê
trong sổ này là phông lưu trữ, bộ sưu tập lưu trữ đã được bảo quản trong kho
lưu trữ;
+ Mỗi phông lưu trữ lần
đầu tiên nhập vào kho thì được đánh số riêng, những lần sau cũng là tài liệu
của phông đó nhập vào kho thì không cần đánh số phông nữa.
Mẫu
sổ thống kê phông lưu trữ
|
STT
|
Số
phông
|
Tên
phông
|
Thời
gian bắt đầu và kết thúc
|
Số
lượng tài liệu đã chỉnh lý
|
Số
lượng tài liệu chưa chỉnh lý
|
Ghi
chú
|
|
(1)
|
(2)
|
(3)
|
(4)
|
(5)
|
(6)
|
(7)
|
|
|
|
|
|
|
|
|
3.6. Cơ sở dữ liệu
Theo Luật Giao dịch điện tử của Việt Nam năm 2005 thì
cơ sở dữ liệu là tập hợp các dữ liệu được sắp xếp, tổ chức để truy cập, khai
thác, quản lý và cập nhật thông qua phương tiện điện tử.
Hiện nay công nghệ
thông tin đã tác động ngày càng sâu rộng vào các lĩnh vực công tác, trong mọi
hoạt động hàng ngày, việc ứng dụng công nghệ thông tin là một xu thế tất yếu
của cuộc sống, công nghệ thông tin làm thay đổi quan niệm về khoảng cách địa lý
và phương thức làm việc, nâng cao hiệu quả của công tác quản lý. Đặc biệt đối
với công tác lưu trữ nó giúp cho việc thu thập, lưu trữ, xử lý, cung cấp thông
tin đối với người dùng được nhanh chóng, kịp thời và chính xác.
Đối với lưu trữ việc
xây dựng cơ sở dữ liệu vào công tác nghiệp vụ có thể ứng dụng vào một số công
việc sau đây:
- Quản lý các dữ liệu
về kho tàng, trang thiết bị trong phạm vi một kho, một vùng hay phạm vi toàn
quốc
- Quản lý về con người
làm công tác lưu trữ về số lượng, chất lượng, độ tuổi, giới tính, phân bổ theo
ngành, lĩnh vực.
- Quản lý các khối tài
liệu, hồ sơ đang quản lý trong kho và tình trạng vật lý của chúng
- Quản lý việc xuất,
nhập hồ sơ, tài liệu, cho mượn, trả
Việc ứng dụng công nghệ
thông tin trong lưu trữ giúp cho công tác thống kê, hoạch định chính sách
đào tạo nguồn nhân lực, phân bố nhân sự giữa các ngành, các vùng miền được hợp
lý, tránh lãng phí, đáp ứng nguồn nhân lực giữa cung và cầu của ngành.
Tại Hướng dẫn số 169/HD-VTLTNN ngày 10 tháng 3 năm 2010 của Cục
Văn thư và Lưu trữ Nhà nước về việc Hướng dẫn xây dựng cơ sở dữ liệu lưu trữ.
Theo hướng dẫn này các cơ quan lưu trữ lịch sử, lưu trữ cơ quan căn cứ vào tính
chất của cơ quan lưu trữ, tình hình thực tế và yêu cầu quản lý, tra tìm tài
liệu lưu trữ để xác định các cơ sở dữ liệu lưu trữ cần xây dựng. Các cơ sở dữ
liệu lưu trữ cần xây dựng là: Cơ sở dữ liệu cơ quan lưu trữ; cơ sở dữ liệu
phông/công trình/sưu tập lưu trữ; cơ sở dữ liệu hồ sơ; cơ sở dữ liệu văn bản
(thông tin cấp 2) hoặc cơ sở dữ liệu toàn văn bản (thông tin cấp 1).
Đối với quy trình xây
dựng cơ sở dữ liệu lưu trữ theo Hướng dẫn số 169/HD-VTLTNN
ngày 10 tháng 3 năm 2010 của Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước về việc Hướng dẫn
xây dựng cơ sở dữ liệu lưu trữ, gồm các bước sau:
- Bước 1: Xác định các
cơ sở dữ liệu; xác định thông tin và chuẩn thông tin đầu vào của cơ sở dữ liệu
- Bước 2: Thiết kế
phiếu tin và biên mục phiếu tin
- Bước 3: Lựa chọn phần
mềm cơ sở dữ liệu, xây dựng phần mềm ứng dụng và cài đặt phần mềm (có thể đồng
thời, cùng lúc với bước 2)
- Bước 4: Nhập và kiểm
tra dữ liệu
- Bước 5: Bảo trì và tổ
chức khai thác cơ sở dữ liệu.
3.7. Báo cáo thống kê
Luật
Thống kê năm 2015,
báo cáo thống kê là mẫu biểu và hướng dẫn ghi chép mẫu biểu để thu thập dữ
liệu, thông tin thống kê về đối tượng nghiên cứu cụ thể theo phương pháp khoa
học, thống nhất được quy định trong chế độ báo cáo thống kê trong một thời kỳ
nhất định.
Đối với công tác lưu
trữ theo quy định hiện hành, báo cáo thống kê gồm báo cáo thống kê cơ sở và báo
cáo thống kê tổng hợp về công tác lưu trữ, tài liệu lưu trữ. Báo cáo thống kê
lưu trữ đây là một loại công cụ thống kê do các cơ quan, tổ chức lập có tính
chất định kỳ. Nội dung của báo đề cập đến tình hình chung về công tác lưu trữ,
tài liệu lưu trữ. Qua báo cáo thống kê, các cơ quan, tổ chức nói chung và cơ
quan quản lý
lưu trữ
nói riêng có thể hiểu được công tác lưu trữ và những vấn đề cần tiếp tục cải
tiến, giải quyết.
4. Lập báo cáo thống kê
4.1. Thời gian lập báo
cáo
Trong các hoạt động lưu
trữ, thống kê có ý nghĩa quan trọng đối với công tác quản lý và hoạt động
nghiệp vụ. Do vậy, tài liệu Phông lưu trữ quốc gia Việt Nam được Nhà nước thống
kê đã được quy định trong Luật Lưu trữ năm
2011. Việc thống kê phải được thực hiện thống nhất trong toàn Phông Lưu trữ
Quốc gia Việt Nam.
Tài liệu Phông lưu trữ
quốc gia Việt Nam phải được thống kê tập trung trong hệ thống sổ sách, cơ sở dữ
liệu, hồ sơ quản lý. Cơ quan, tổ chức có tài liệu lưu trữ phải định kỳ thực
hiện chế độ thống kê lưu trữ. Số liệu báo cáo thống kê hằng năm được tính từ
ngày 01 tháng 01 đến hết ngày 31 tháng 12.
Thống kê lưu trữ được
thực hiện theo quy định sau đây:
- Cơ quan, tổ chức ở
trung ương tổng hợp số liệu của các đơn vị trực thuộc và báo cáo cơ quan quản
lý nhà nước về lưu trữ ở trung ương
- Cơ quan, tổ chức ở
cấp tỉnh tổng hợp số liệu của các đơn vị trực thuộc và báo cáo cơ quan quản lý
nhà nước về lưu trữ cấp tỉnh
- Cơ quan quản lý nhà
nước về lưu trữ cấp tỉnh tổng hợp số liệu của các cơ quan, tổ chức cấp tỉnh, cơ
quan quản lý nhà nước về lưu trữ cấp huyện và báo cáo cơ quan quản lý nhà nước
về lưu trữ ở trung ương
- Cơ quan, tổ chức ở
cấp huyện, cấp xã tổng hợp số liệu của các đơn vị trực thuộc và báo cáo cơ quan
quản lý nhà nước về lưu trữ cấp huyện.
- Cơ quan quản lý nhà
nước về lưu trữ cấp huyện tổng hợp số liệu của các cơ quan, tổ chức cấp
huyện, cấp xã và báo cáo cơ quan quản lý nhà nước về lưu trữ cấp tỉnh.
4.2. Nội dung báo cáo
thống kê
Để cụ thể hóa quy định về
chế độ báo cáo thống kê công tác lưu trữ, tài liệu lưu trữ, Bộ Nội vụ ban hành
Thông tư số 09/2013/TT-BNV ngày 31 tháng 10
năm 2013 quy định chế độ báo cáo thống kê công tác văn thư, lưu trữ và tài liệu
lưu trữ. Thống kê trong công tác lưu trữ được áp dụng đối với các cơ quan nhà
nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tập
đoàn kinh tế nhà nước, tổng công ty nhà nước, doanh nghiệp nhà nước, đơn vị sự
nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân. Theo quy định này nội dung báo cáo thống kê
gồm: Văn bản chỉ đạo và hướng dẫn nghiệp vụ công tác lưu trữ; tổ chức lưu trữ;
nhân sự làm công tác lưu trữ; tài liệu lưu trữ; thu thập và loại hủy tài liệu;
tổ chức sử dụng tài liệu lưu trữ; kho lưu trữ, trang thiết bị dùng cho lưu trữ.
Yêu cầu đối với nội
dung các báo cáo cần phải đầy đủ, trung thực, khách quan, kịp thời và đúng nội
dung thông tin đã được quy định trong chế độ báo cáo thống kê công tác lưu trữ
và tài liệu lưu trữ.
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Nội vụ, Thông tư số
09/2013/TT-BNV ngày 31 tháng 10 năm 2013
của Bộ Nội vụ quy định chế độ báo cáo thống kê công tác văn thư, lưu trữ và tài
liệu lưu trữ.
2. Trường Đại học Nội
vụ Hà Nội, Giáo trình lý luận và phương pháp công tác lưu trữ, Nhà Xuất bản Lao
động, Hà Nội, 2017.
3. Cục Lưu trữ Nhà
nước, Từ điển Lưu trữ Việt Nam, Hà Nội,1992
4. Đào Xuân Chúc,
Nguyễn Văn Hàm, Vương Đình Quyền, Nguyễn Văn Thâm: Lý luận và thực tiễn công
tác lưu trữ, Nhà Xuất bản Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội, 1990
5. Chính phủ, Nghị định
số 01/2013/NĐ-CP ngày 03 tháng 01 năm 2013
quy định chi tiết thi hành
một số điều của Luật lưu trữ.
6.Viện Ngôn Ngữ học: Từ
điển Tiếng Việt, Nhà Xuất bản Từ điển Bách Khoa, Hà Nội, 2010.
7. Quốc hội, Luật Lưu trữ số 01/2011/QH13 ngày 11 tháng 11
năm 2011
8. Quốc hội, Luật Thống kê số 89/2015/QH13 ngày 23 tháng 11
năm 2015
CÂU
HỎI ÔN TẬP, THẢO LUẬN
1. Phân tích mục
đích, ý nghĩa của thống kê trong công tác lưu trữ
2. Tại sao
thống kê trong công tác lưu trữ phải đảm bảo yêu cầu cụ thể và chính xác?
3. Đối với lưu
trữ của cơ quan hiện nay, theo anh/chị cần thiết phải xây dựng các loại công cụ
thống kê nào? Tác
dụng của các loại công cụ thống kê đó.
Chuyên
đề 14
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ HỒ SƠ, TÀI LIỆU
1. Vai trò của Công
nghệ thông tin đối với công tác lưu trữ
1.1. Khái niệm Công
nghệ thông tin
Khái niệm Công nghệ
thông tin được hiểu và định nghĩa trong Nghị quyết Chính phủ số 49/CP ngày 04/8/1993: “CNTT là tập hợp các
phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là
kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả
các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực
hoạt động của con người và xã hội”.
Theo Luật Công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 giải
thích: “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và
công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và
trao đổi thông tin số”.
“Ứng dụng công nghệ
thông tin là việc sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động thuộc lĩnh vực
kinh tế-xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng
cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này”.
1.2. Khái niệm Hệ thống
thông tin
Khái niệm hệ thống được
sử dụng trong cuộc sống hàng ngày: Hệ thống giao thông, hệ thống truyền thông,
hệ thống các trường đại học v.v..
Hệ thống thông tin
(Information System): Hệ thống thống tin là một hệ thống mà mục tiêu tồn tại
của nó là cung cấp thông tin phục vụ cho hoạt động của con người trong một tổ
chức nào đó. Ta có thể hiểu hệ thống thông tin là hệ thống mà mối liên hệ giữa
các thành phần của nó cũng như mối liên hệ giữa nó với hệ thống khác là sự trao
đổi thông tin. Hệ thống là một tập hợp có tổ chức gồm nhiều phần tử có các mối
quan hệ ràng buộc lẫn nhau và cùng hoạt động hướng tới một mục tiêu chung.
Hệ thống thông tin là một hệ thống bao gồm
các yếu tố có quan hệ với nhau cùng làm nhiệm vụ thu thập, xử lý, lưu trữ và
phân phối thông tin và dữ liệu và cung cấp một cơ chế phản hồi để đạt được một mục
tiêu định trước.
Hệ thống thông tin bao
gồm bộ phận xử lý thông tin, kênh thông tin vào ra.
Hình mô tả hệ thống
thông tin
Hệ thống thông tin
thông thường được cấu thành bởi các thành phần:
+ Phần cứng: Phần cứng
là sản phẩm thiết bị số hoàn chỉnh, gồm các thiết bị/phương tiện kỹ thuật dùng
để xử lý/lưu trữ thông tin (Theo Điều 4 của Luật Công nghệ
thông tin). Trong đó chủ yếu là máy tính, các thiết bị ngoại vi dùng để lưu
trữ và nhập vào/xuất ra dữ liệu.
+ Phần mềm: là chương
trình máy tính được mô tả bằng hệ thống ký hiệu, mã hoặc ngôn ngữ để điều khiển
thiết bị số thực hiện chức năng nhất định (Theo Điều 4 của Luật
Công nghệ thông tin). Phần mềm gồm các chương trình máy tính, phần mềm hệ
thống, phần mềm chuyên dụng, thủ tục dành cho người sử dụng.
+ Dữ liệu: Dữ liệu là
thông tin dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng
tương tự (Theo Điều 4 của Luật Giao dịch điện tử).
Hệ thống thông tin quản
lý là hệ thống cung cấp thông tin cho công tác quản lý của tổ chức. Nó bao gồm
con người, thiết bị và quy trình thu thập, phân tích, đánh giá và phân phối
những thông tin cần thiết, kịp thời, chính xác cho những người soạn thảo các
quyết định trong tổ chức. Đây cũng là tên gọi của một chuyên ngành khoa học.
Ngành khoa học này thường được xem là một phân ngành của khoa học quản lý.
Ngoài ra, do ngày nay việc xử lý dữ liệu thành thông tin và quản lý thông tin
liên quan đến công nghệ thông tin, nó cũng được coi là một phân ngành trong
toán học, nghiên cứu việc tích hợp hệ thống máy tính vào mục đích tổ chức.
Xu hướng phát triển các
hệ thống thông tin:
Ngày nay, sự phát triển
của các hệ thống thông tin đang chuyển theo xu hướng hệ thống thư tín điện tử
(Messaging), phần mềm làm việc nhóm (Groupware) và Internet. Thiết kế cơ sở hạ
tầng công nghệ thông tin cần phải chọn các tiêu chuẩn kỹ thuật không chỉ hỗ trợ
hệ thống thư tín điện tử mà còn phải hỗ trợ các kết nối trong nội bộ một tổ
chức thông qua mạng Intranet, các ứng dụng cho nhóm làm việc, các kết nối với
các tổ chức bên ngoài thông qua Internet. Phần mềm làm việc nhóm cần đáp các
yêu cầu:
+ Phát triển ứng dụng
dễ sử dụng, nhanh chóng đáp ứng yêu cầu thay đổi của hệ thống, đáp ứng các chức
năng cơ bản của hệ thông tin hiện đại.
+ Là công cụ quản trị
và quản lý duy nhất cho toàn bộ kiến trúc hạ tầng của hệ thống thư tín điện tử,
các ứng dụng, truy nhập web, bảo mật, đồng bộ dữ liệu.
+ Chức năng truyền
thông rất tốt, kể cả trong môi trường đường truyền chất lượng không cao.
+ Có giao diện mở cho
phép tích hợp với trình duyệt web và ứng dụng khác.
+ Chi phí thấp khi tích
hợp hệ thống, đào tạo và hỗ trợ hệ thống.
1.3. Vai trò của Công
nghệ thông tin đối với công tác lưu trữ
Cùng với sự phát triển
nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin (CNTT) đã và đang được
triển khai ứng dụng nhằm hỗ trợ cho việc quản lý, nâng cao hiệu quả trong việc
phục vụ khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ. Đối với công tác văn thư, lưu trữ nhiệm
vụ đặt ra là phải đổi mới và hợp lý hóa các khâu nghiệp vụ. Bởi vì, công tác
văn thư có chức năng đảm bảo thông tin bằng văn bản cho hoạt động quản lý.
Quan điểm của Đảng:
Ứng dụng CNTT là một
vấn đề được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, đã được cụ thể hóa bằng những văn bản
như Chỉ thị 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ
Chính trị về “đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Chỉ thị xác định rõ mục tiêu, yêu cầu đối với
việc ứng dụng công nghệ thông tin để hiện đại hóa công tác của các cơ quan
Đảng, Nhà nước như sau:
“Các cơ quan Đảng,
Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội đi đầu trong việc triển khai, ứng dụng
công nghệ thông tin trong mọi hoạt động theo phương châm đảm bảo tiết kiệm,
thiết thực và hiệu quả lâu dài.
Tin học hóa hoạt động
của các cơ quan Đảng và Nhà nước là bộ phận hữu cơ quan trọng cải cách nền hành
chính quốc gia, là nhiệm vụ thường xuyên của các cơ quan nhằm tăng cường năng
lực quản lý, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả.
Các cấp ủy, tổ chức
đảng chỉ đạo khẩn trương xây dựng các hệ thống thông tin cần thiết phục vụ lợi
ích công cộng của nhân dân, phục vụ sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước.
Sớm hoàn thiện, thường xuyên nâng cấp và sử dụng có hiệu quả mạng thông tin
diện rộng của Đảng và Chính phủ.”
Ngày 01/7/2014, Bộ
Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển
công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế. Mục
tiêu tổng quát: “Công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi và trở thành một
ngành kinh tế có tác động lan toả trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm
quốc phòng, an ninh, góp phần nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh
quốc gia, chất lượng cuộc sống, chỉ số phát triển con người Việt Nam và nâng
cao khả năng phòng thủ quốc gia trong chiến tranh mạng. Đến năm 2030, đưa năng
lực nghiên cứu, ứng dụng, phát triển, sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ
công nghệ thông tin đạt trình độ tiên tiến thế giới; Việt Nam trở thành quốc
gia mạnh về công nghệ thông tin và bằng công nghệ thông tin”.
Để triển khai Nghị
quyết số 36-NQ/TW ngày 01/7/2014 của Bộ Chính trị khóa XI, Chính phủ ban hành
Nghị quyết số 36a/NQ-CP, ngày 14/10/2015 về
chính phủ điện tử với kỳ vọng nâng cao năng lực hoạt động của bộ máy hành chính
Nhà nước; đáp ứng, phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn; thúc
đẩy cải cách hành chính; tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh; nâng
cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế khi nước ta đang hội nhập ngày càng sâu
rộng với thế giới.
Cơ sở pháp lý:
Luật
Lưu trữ
đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII thông qua ngày 11/11/2011
và từ ngày 01/7/2012 có hiệu lực thi hành. Luật
Lưu trữ ra đời là một mốc quan trọng, khẳng định một bước phát triển mới
của ngành Lưu trữ Việt Nam. Luật Lưu trữ
gồm 7 chương, 42 điều quy định chi tiết, cụ thể về hoạt động lưu trữ. Ngày 03/01/2013,
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 01/2013/NĐ-CP
quy định chi tiết một số điều của Luật Lưu trữ.
Sự ra đời của Luật Lưu trữ và Nghị định số 01/2013/NĐ-CP của Chính phủ nhằm tăng cường sử
dụng văn bản điện tử và quản lý tài liệu điện tử trong các cơ quan tổ chức như
một hoạt động cải cách hành chính chuyển từ phương thức làm việc chủ yếu dựa
trên giấy sang phương thức làm việc qua mạng với văn bản điện tử. Trong đó về
quản lý tài liệu điện tử và lưu trữ điện tử được xem là vấn đề có tính tất yếu,
khách quan trong hoạt động quản lý của các cơ quan, tổ chức. Điều này đặt ra
yêu cầu trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và sự phối hợp chặt chẽ của các
nhà quản lý, các chuyên gia công nghệ thông tin, những người làm công tác hành
chính và công tác lưu trữ tích cực định hướng tiếp cận tài liệu điện tử theo
phương thức mới, hiện đại.
Công tác lưu trữ:
Công tác lưu trữ là quá
trình hoạt động quản lý và nghiệp vụ nhằm thu thập triệt để, bảo quản an toàn
và tổ chức sử dụng có hiệu quả tài liệu lưu trữ để phục vụ cho yêu cầu của xã
hội. Nội dung hoạt động nghiệp vụ của công tác lưu trữ gồm:
+ Thu thập, bổ sung tài
liệu lưu trữ;
+ Chỉnh lý khoa học -
kỹ thuật tài liệu;
+ Xác định giá trị tài
liệu;
+ Quản lý: Bảo quản và
khai thác, sử dụng tài liệu.
Ứng dụng công nghệ
thông tin trong công tác lưu trữ:
- Mục tiêu: Việc ứng dụng CNTT vào
công tác lưu trữ là nhằm chủ yếu vào mục tiêu khai thác sử dụng triệt để các
thông tin lưu trữ và quản lý chặt chẽ tài liệu lưu trữ phục vụ cho công tác
lãnh đạo, quản lý và công tác nghiên cứu khoa học.
- Nhiệm vụ:
+ Xây dựng cơ sở dữ
liệu quản lý tài liệu lưu trữ.
+ Tin học hóa các hoạt
động nghiệp vụ và quản lý của các kho lưu trữ, đặc biệt dịch vụ phục vụ khai
thác tài liệu lưu trữ từ xa thông qua mạng.
+ Thực hiện việc bảo
hiểm tài liệu lưu trữ dưới dạng ảnh trên đĩa quang và các phương tiện lưu trữ
sử dụng kỹ thuật số.
+ Ứng dụng kỹ thuật tin
học vào việc phục chế, tu bổ tài liệu.
- Yêu cầu và trang
thiết bị tin học cho ứng dụng:
+ Mỗi kho lưu trữ phải
được trang bị đủ máy tính có cấu hình mạnh, nối mạng cục bộ và mạng diện rộng
cho các cơ quan.
+ Phần mềm hệ thống
thông tin quản lý tài liệu lưu trữ: Hỗ trợ việc quản lý và khai thác hồ sơ, tài
liệu lưu trữ hiện hành trên mạng nội bộ tại của cơ quan. Phần mềm bao gồm các
tính năng truy cập, tìm kiếm, lưu trữ và tổ chức thông tin.
+ Ngoài ra, cần từng
bước trang bị theo nhu cầu các thiết bị khác như: máy quét ảnh tài liệu, thiết
bị chuyển đổi dữ liệu từ kỹ thuật tương tự sang kỹ thuật số, các thiết bị và
phương tiện lưu trữ tài liệu (các ổ đĩa lưu trữ chuyên dụng và các thiết bị chọn
và đọc các đĩa quang với số lượng lớn, các thiết bị chuyên dụng cho việc xử lý
hình ảnh, âm thanh) và các thiết bị chuyên dụng khác phục vụ cho việc phục chế,
tu bổ tài liệu.
Kết luận: tin học hóa hoạt động
của cơ quan, trước hết là tin học hóa công tác văn thư, lưu trữ, là một nhiệm
vụ quan trọng hiện nay của các cấp ủy và các cơ quan Đảng. Tin học hóa hoạt
động của cơ quan đòi hỏi phải đổi mới tư duy, phương pháp, lề lối làm việc,
phải đào tạo cán bộ thích ứng với công nghệ mới, nhất là công nghệ thông tin,
phải hiện đại hóa các trang thiết bị và phương tiện làm việc. Tuy nhiên, việc
tin học hóa cần được tiến hành từng bước vững chắc, từ đơn giản đến phức tạp,
theo một kế hoạch chung thống nhất. Trong việc tin học hóa, chuẩn bị tốt yếu tố
con người thích ứng với công nghệ mới là vấn đề có ý nghĩa quyết định.
1.4. Một số ứng dụng
CNTT vào công tác lưu trữ
Cơ sở dữ liệu đã trở
thành một thành phần chủ yếu của cuộc sống hàng ngày trong xã hội hiện đại.
Trong vòng một ngày con người có thể có nhiều hoạt động cần có sự giao tiếp với
cơ sở dữ liệu; chẳng hạn, đến ngân hàng để rút tiền và gửi tiền, đăng ký chỗ
trên máy bay hoặc khách sạn, truy cập vào một thư viện đã tin học hóa để tìm
sách báo, đặt mua tạp chí ở một nhà xuất bản...
Tất cả những giao tiếp
như trên được gọi là các áp dụng của cơ sở dữ liệu truyền thống. Trong các cơ
sở dữ liệu truyền thống, hầu hết các thông tin được lưu giữ và truy cập là văn
bản hoặc số. Những năm lại đây, tiến bộ về kỹ thuật đã đưa đến những áp dụng
mới của hệ cơ sở dữ liệu. Các cơ sở dữ liệu đa phương tiện có thể lưu trữ hình
ảnh, phim và tiếng nói.
Khái niệm cơ sở dữ liệu
(CSDL): Cơ sở dữ liệu là một tập hợp các dữ liệu bền vững, có liên quan với
nhau, có thể chia sẻ cho nhiều người sử dụng và được tổ chức theo một mô hình.
Dữ liệu là những sự
kiện có thể ghi lại được và có ý nghĩa. Cơ sở dữ liệu là kho dữ liệu được tổ
chức sao cho chương trình máy tính có khả năng tìm nhanh những đoạn dữ liệu. Cơ
sở dữ liệu là hồ sơ điện tử.
Có thể hiểu đơn giản cơ
sở dữ liệu (database) chỉ là một tập hợp các dữ liệu (thông tin) được tổ chức
theo một cấu trúc nhất định giúp máy tính có thể dễ dàng đọc thông tin, chỉnh
sửa, thêm hoặc xóa dữ liệu. Cơ sở dữ liệu được cấu trúc để dễ dàng cập nhật,
quản lý và truy cập dữ liệu.
Định nghĩa một CSDL bao
gồm việc đặc tả các kiểu dữ liệu, các cấu trúc và các ràng buộc cho dữ liệu
sẽ được lưu giữ trong CSDL. Xây dựng một CSDL là quá trình lưu trữ các dữ liệu
trên các phương tiện lưu trữ được hệ quản trị CSDL kiểm soát. Các CSDL truyền
thống được tổ chức bởi các trường (Field), biểu ghi (Record) và tệp (File).
Trường là phần tử thông tin riêng biệt, biểu ghi là tập hợp hoàn chỉnh các
trường, tệp: là tập hợp của các biểu ghi. Do đó, Cơ sở dữ liệu (CSDL) là tập
hợp các biểu ghi và các tệp được tổ chức cho một mục đích cụ thể (lưu giữ tên,
địa chỉ... hoặc thu thập các thông tin được sắp xếp theo thứ tự tên ABC, vấn
đề…). CSDL hiện đại cho phép liên kết các dữ liệu trường thông tin với dữ liệu
toàn văn dưới dạng tệp (file: văn bản, ảnh, media…).
Hệ thống cơ sở dữ liệu là hệ thống thông tin,
cho phép người sử dụng dùng chung các dữ liệu có trong hệ thống để tính toán.
Ví dụ hệ thống thông tin địa lý có thể lưu trữ và phân tích các bản đồ, dữ liệu
về thời tiết và ảnh vệ tinh. Cơ sở dữ liệu được coi như tập các tệp dữ liệu.
Người dùng có thể thực hiện các phép toán như: bổ sung các tệp mới vào cơ sở dữ
liệu, bổ sung dữ liệu vào tệp đã có, tìm dữ liệu trong tệp đó, thay đổi dữ liệu
trong tệp đó.
Bất cứ cơ sở dữ liệu
nào sau khi được tạo ra cũng cần được lưu trữ lại. Quá trình lưu cơ sở dữ liệu
này được thực hiện qua việc sử dụng hệ quản trị cơ sở dữ liệu. Hệ quản trị
cơ sở dữ liệu là chương trình phần mềm giúp thực hiện việc lưu trữ cơ sở dữ
liệu, gồm cơ sở dữ liệu và các thao tác trên cơ sở dữ liệu. Đó là hệ thống chương
trình, công cụ cho phép quản lý và tương tác với cơ sở dữ liệu. Việc sử dụng
các phần mềm (hệ quản trị cơ sở dữ liệu) này sẽ giúp các nhà quản trị hệ thống
dễ dàng thực hiện các thao tác như tìm kiếm, lọc, xóa, chỉnh sửa hay tạo mới dữ
liệu trên cơ sở dữ liệu. Để làm được điều này trên các hệ quản trị cơ sở dữ
liệu các nhà quản trị hệ thống thường sử dụng ngôn ngữ truy vấn mang tính cấu
trúc: Structured Query Language hay SQL. Các hệ quản trị cơ sở dữ liệu phổ biến
hiện này bao gồm: Microsoft Access, MySQL, PostgreSQL, SQL Server, Oracle, DB2
(IBM)...
1.4.1. Ứng dụng Công
nghệ thông tin vào quản lý tài liệu lưu trữ
Hiện nay, hệ thống cơ
sở dữ liệu là giải pháp quản lý thông tin, hiệu quả trong quản lý tài liệu lưu
trữ. Các kiểu cơ sở dữ liệu (CSDL) quản lý tài liệu lưu trữ:
- Thư mục
(Bibliographic): biểu ghi được thay thế cho tài liệu, bao gồm: thư mục dữ liệu (tác giả, tiêu đề,…),
tóm tắt thông tin, thuật ngữ hay chủ đề để miêu tả nội thông tin mà tài liệu đề
cập.
- Toàn văn văn bản
(Full text): cung cấp tài liệu được thực hiện dưới dạng điện tử (tài liệu dưới
dạng điện tử, quét toàn văn), có thể được phát triển từ CSDL thư mục.
- Sách chỉ dẫn và tham
khảo (Referral & Directory): cung cấp thông tin trực tiếp về các tổ chức
hoặc cá nhân như: tên, địa chỉ hay các thông tin liên quan khác, dữ liệu số,
thuật ngữ hay chủ đề để miêu tả nội thông tin mà tài liệu đề cập, tóm tắt thông
tin.
Xây dựng CSDL quản lý
tài liệu lưu trữ của các cơ quan, tổ chức, kho lưu trữ để quản lý thông tin cấp
II và toàn bộ thông tin cấp I về tài liệu lưu trữ. Việc xây dựng hệ thống các
cơ sở dữ liệu này cần được triển khai từng bước vững chắc, làm đâu được đó với
phương châm khẩn trương, thiết thực và hiệu quả, đáp ứng kịp thời các yêu cầu
khai thác thông tin tài liệu lưu trữ phục vụ cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo của
cơ quan, tổ chức và công tác nghiên cứu khoa học, đáp ứng yêu cầu về tra cứu
thông tin.
1.4.2. Ứng dụng Công
nghệ thông tin vào công tác tra cứu, thống kê
Tìm kiếm thông tin:
Định nghĩa tìm tin: tìm
tin là quá trình so sánh giữa lệnh tìm và mẫu tin; trong đó, lệnh tìm là những
thuật ngữ (từ, cụm từ (Words) được hiểu như từ khóa); mẫu tin là văn bản
(TEXT).
Cách thức tìm kiếm theo
văn bản (TEXT): tìm kiếm dựa vào các từ (words) có trong toàn văn tài liệu
(thông tin cấp 1) và trong thông tin trích yếu tài liệu (thông tin cấp 2). Kết
hợp sử dụng các thuật toán (AND-Và; OR-Hoặc; NOT-Không…) để lập các biểu thức
tìm (hay nối các từ, cụm từ có nghĩa). Kết quả tìm kiếm được thể hiện theo trật
tự như vần chữ cái, thời gian, nội dung …
Để đánh giá khả năng
(kết quả) tìm tin, đánh giá theo:
+ Độ chính xác
(Precision): tỷ lệ tài liệu đã tìm là phù hợp;
+ Hồi cố (Recall): mức
độ phù hợp của tài liệu đã tìm được. Giới hạn của tìm kiếm theo văn bản (TEXT):
+ Tìm kiếm chủ yếu dựa
vào các từ khóa (Words),
+ Các tài liệu liên
quan có thể bị bỏ qua nếu như không dùng các thông tin trích yếu theo khái niệm
(khái niệm đặc trưng theo thời gian) hoặc theo vấn đề (chuyên đề, từ khoá).
+ Không áp dụng để tìm
kiếm theo hình ảnh (ảnh toàn văn được quét- scanner, hay chụp bằng camera) hoặc
những thông tin không ở dạng văn bản.
Các bước tìm kiếm thông
tin:
+ Bước 1: Phân tích yêu
cầu;
+ Bước 2: Diễn đạt lệnh
tìm kiếm - cú pháp lệnh
+ Bước 3: Phân nhóm yêu
cầu thông tin
+ Bước 4: Chọn công cụ
tìm kiếm phù hợp
+ Bước 5: Nếu các bước
trên chưa thành công - hãy lặp lại
+ Bước 6: Đánh giá kết
quả tìm
Khi tra tìm một nội
dung yêu cầu phải phân tích mức độ và phạm vi nội dung thông tin của yêu cầu
khai thác để chọn ra những thông tin chủ yếu (từ, cụm từ) đặc trưng cho nội
dung thông tin cần tìm có trong tài liệu, sau đó, thiết lập biểu thức quan hệ
giữa các cụm từ đã chọn. Vì vậy, việc phân tích thông tin là khâu rất quan
trọng, liên quan tới quan
niệm, cách tiếp cận vấn đề của cả người mô tả tin và người tìm tin.
Thứ nhất, kết quả của
việc phân tích thông tin phụ thuộc vào tính chủ quan của người tìm tin hay kinh
nghiệm và sự hiểu rõ thông tin. Việc người tìm tin chọn những từ, cụm từ để lập
biểu thức tìm (mẫu tìm), bất kể bằng cách nào, cũng đều mang một độ tự do khá
lớn, làm cho những người tra cứu khác nhau với cùng một yêu cầu khai thác, sẽ
cho kết quả thông tin khác nhau về số lượng kết quả tìm, về mức độ chính xác
của yêu cầu và tỷ lệ tài liệu tìm ra so với số tài liệu thực có trong CSDL.
Thứ hai, kết quả của
việc phân tích thông tin phụ thuộc khách quan vào tính đa dạng của thông tin có
trong tài liệu và thông tin trích yếu của người mô tả tin. Hiện tượng đồng
nghĩa đa âm là hiện tượng phổ biến trong ngôn ngữ văn bản tự nhiên, cũng như
trong cách dùng từ của mỗi giai đoạn thời gian, do đó, gây ảnh hưởng đến ngôn
ngữ tìm tin bao quát. Trong trích yếu nội dung thông tin, đôi khi giữa những
người mô tả tin cũng có những quan điểm và cách tiếp cận khác nhau dẫn tới
nhiều tài liệu có cùng vấn đề nhưng bị phân tán ra nhiều vấn đề khác nhau, do
vậy mà kết quả tìm tin sẽ không thể đạt được hiệu quả cao.
Vì vậy, để đảm bảo được
hiệu quả khai thác, đối với người mô tả tin cần có sự thống nhất chung về
phương pháp phân tích thông tin, cách trích yếu thông tin; xây dựng các công cụ
thông tin (khung phân loại thông tin, bộ từ khoá…). Đối với người tìm tin cần
tham khảo các công cụ thông tin này trong việc hỗ trợ tìm tin.
Công cụ thống kê:
Hệ thống thông tin bao
gồm bộ phận xử lý thông tin, kênh thông tin vào ra. Đối với cơ sở dữ liệu: tính
năng xử lý thông tin sẽ hỗ trợ việc tổ chức dữ liệu, thống kê dữ liệu (công cụ
tính toán số liệu); tính năng thông tin ra chính là tìm kiếm và xuất dữ liệu ra
ứng dụng bên ngoà.
Ví dụ. Cơ sở dữ liệu
sau khi hỗ trợ tính năng tìm kiếm, kết quả được lưu và xuất ra chương trình
Excel để in ấn hoặc thực hiện tiếp các năng thống kê số liệu theo bảng tính
(tính năng rất mạnh của ứng dụng Microsoft Excel).
1.4.3. Ứng dụng Công
nghệ thông tin vào nghiệp vụ của công tác lưu trữ
Việc ứng dụng công nghệ
thông tin vào công tác lưu trữ là nhằm chủ yếu vào mục tiêu khai thác sử dụng
triệt để các thông tin lưu trữ và quản lý chặt chẽ tài liệu lưu trữ phục vụ cho
công tác lãnh đạo, quản lý và công tác nghiên cứu khoa học.
Ngoài nhiệm vụ xây dựng
kho lưu trữ điện tử bao gồm hệ thống các cơ sở dữ liệu để quản lý thông tin cấp
II và toàn bộ thông tin cấp I về tài liệu lưu trữ, một số nhiệm vụ khác cần xác
định:
- Tin học hóa các hoạt
động nghiệp vụ và quản lý của các kho lưu trữ, đặc biệt dịch vụ phục vụ khai thác
tài liệu lưu trữ từ xa thông qua mạng.
- Thực hiện việc bảo
hiểm tài liệu lưu trữ dưới dạng ảnh trên đĩa quang và các phương tiện lưu trữ sử
dụng kỹ thuật số.
- Ứng dụng kỹ thuật tin
học vào việc phục chế, tu bổ tài liệu.
1.5. Tổ chức hệ thống
thông tin quản lý tài liệu lưu trữ
Thông tin tài liệu
trong các cơ sở dữ liệu tài liệu lưu trữ bao gồm:
+ Thông tin cấp 1 là
thông tin toàn văn của tài liệu (dưới dạng tệp điện tử).
+ Thông tin cấp 2 là
thông tin về trích ngang hay thông tin tóm tắt tài liệu và hồ sơ (siêu dữ liệu
- metadata). Thông tin tóm tắt là sự thể hiện chính xác và cô đọng nội dung của
một tài liệu hay hồ sơ và được trình bầy theo phong cách tương tự như tài liệu
hay hồ sơ gốc.
Mục đích của thông tin
cấp 2 là hỗ trợ người đọc đánh giá nội dung của một tài liệu hay hồ sơ mà không
nhất thiết phải đọc toàn văn tài liệu hay hồ sơ (thông tin cấp 1). Thông qua thông tin
cấp 2, người đọc có thể hạn chế phạm vi lựa chọn tài liệu hay hồ sơ, tăng cường
hiệu quả của việc tìm tin.
Xây dựng hệ thống cơ sở
dữ liệu tài liệu lưu trữ là để quản lý thông tin cấp 2 và toàn bộ thông tin cấp
1 về tài liệu lưu trữ. Hệ thống cơ sở dữ liệu này đáp ứng kịp thời yêu cầu tra
cứu, tìm kiếm thông tin tài liệu lưu trữ phục vụ cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo
của cấp ủy và công tác nghiên cứu khoa học, đáp ứng yêu cầu về tra cứu thông
tin.
1.6. Biên mục phiếu
tin, chuẩn hóa thông tin đối với loại hình tài liệu
Theo Điều
13 của Luật Lưu trữ đã qui định: Tài liệu lưu trữ điện tử phải đáp
ứng các tiêu chuẩn dữ liệu thông tin đầu vào. Tại Điều 5
của Nghị định cũng qui định: Tài liệu lưu trữ điện tử hình thành từ việc số hóa
tài liệu lưu trữ trên các vật mang tin khác phải đáp ứng các tiêu chuẩn dữ
liệu thông tin đầu vào.
Tại Điều
2 của Nghị định đã giải thích thuật ngữ như sau: Dữ liệu thông tin đầu
vào là những thông tin mô tả các đặc tính của tài liệu như nội dung,
tác giả, thời gian, định dạng, chất lượng, điều kiện và các đặc tính khác nhằm
tạo thuận lợi cho quá trình thu thập, bảo quản, tìm kiếm, truy cập, quản lý và
lưu trữ dữ liệu. Cũng tại Điều 6 của Nghị định cũng đã xác
định Tiêu chuẩn dữ liệu thông tin đầu vào phải thống nhất, phù hợp với
tiêu chuẩn kỹ thuật về công nghệ thông tin và nghiệp vụ lưu trữ.
Cấp chính quyền: Đối
với việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào công tác văn thư -lưu trữ, Cục
Văn thư và Lưu trữ Nhà nước ban hành Hướng dẫn số 169/HD-VTLTNN ngày 10/3/2010 hướng
dẫn xây dựng cơ sở dữ liệu.
Các CSDL lưu trữ cần được
xây dựng là: CSDL cơ quan lưu trữ; CSDL phông/công trình/sưu tập lưu trữ; CSDL
hồ sơ; CSDL văn bản (thông tin cấp 2) hoặc CSDL toàn văn văn bản (thông tin cấp
1).
Bảng mô tả các thông
tin đầu vào của cơ sở dữ liệu:
|
1. CSDL cơ quan lưu
trữ
|
1. Mã cơ quan
lưu trữ
|
|
|
2. Tên cơ
quan lưu trữ
|
|
|
3. Địa chỉ liên hệ:
|
|
2. CSDL phông/công
trình/sưu tập lưu
trữ
|
1. Mã cơ quan
lưu trữ
|
|
|
2. Mã phông/công
trình/sưu tập
|
|
|
3. Tên phông/công
trình/sưu tập lưu trữ:
|
|
|
4. Lịch sử
đơn vị hình thành phông:
|
|
|
5. Thời gian tài
liệu:
|
|
|
6. Tổng số tài liệu:
|
|
|
7. Số tài liệu đã
chỉnh lý:
|
|
|
8. Số tài liệu chưa
chỉnh lý:
|
|
|
9. Các nhóm tài liệu
chủ yếu:
|
|
|
10. Các loại hình tài
liệu khác:
|
|
|
11. Ngôn ngữ:
|
|
|
12. Thời gian nhập
tài liệu:
|
|
|
13. Công cụ tra cứu:
|
|
|
14. Lập bản sao bảo
hiểm:
|
|
|
15. Ghi chú:
|
|
3. CSDL hồ sơ
|
1. Mã cơ quan
lưu trữ
|
|
|
2. Mã phông/công
trình/sưu tập lưu trữ
|
|
|
3. Mục lục số:
|
|
|
4. Hộp số:
|
|
|
5. Hồ sơ số:
|
|
|
6. Ký hiệu thông tin:
|
|
|
7. Tiêu đề hồ sơ:
|
|
|
8. Chú giải:
|
|
|
9. Thời gian bắt đầu:
|
|
|
10. Thời gian kết
thúc:
|
|
|
11. Ngôn ngữ:
|
|
|
12. Bút tích:
|
|
|
13. Số lượng tờ:
|
|
|
14. Thời hạn bảo
quản:
|
|
|
15. Chế độ sử dụng:
|
|
|
16. Tình trạng vật
lý:
|
|
4. CSDL văn bản
(thông tin cấp 2)
|
1. Mã cơ quan
lưu trữ
|
|
|
2. Mã phông/công
trình/sưu tập lưu trữ
|
|
|
3. Mục lục số
|
|
|
4. Hồ sơ số
|
|
|
5. Tờ số:
|
|
|
6. Số và ký hiệu:
|
|
|
7. Thời gian:
|
|
|
8. Tác giả:
|
|
|
9. Tên loại:
|
|
|
10. Trích yếu nội
dung:
|
|
|
11. Ký hiệu thông
tin:
|
|
|
12. Tình trạng vật
lý:
|
|
|
13. Hạn chế sử dụng:
|
|
|
14. Ngôn ngữ:
|
|
|
15. Bút tích:
|
|
|
16. Ghi chú:
|
|
5. CSDL toàn
văn văn bản
|
1. Mã cơ quan
lưu trữ
|
|
|
2. Mã phông/công
trình/sưu tập lưu trữ
|
|
|
3. Mục lục số
|
|
|
4. Hồ sơ số
|
|
|
5. Tờ số
|
|
|
6. Trang số
|
|
|
7. Tên file ảnh
|
Cơ quan cấp ủy
đảng:
Văn phòng Trung ương đã ban hành Hướng dẫn số 08- HD/VPTW ngày 10/9/2003 về xây
dựng Cơ sở dữ liệu Văn kiện Đảng và Hướng dẫn số 09-HD/VPTW
ngày 10/9/2003 về xây dựng cơ sở dữ liệu mục lục hồ sơ. Nội dung văn bản hướng
dẫn xây dựng kế hoạch và cập nhật dữ liệu (mô tả thông tin đầu vào đối với các
tài liệu, hồ sơ lưu trữ).
|
1. CSDL Văn kiện Đảng
|
1. Số văn bản
|
|
|
2. Ký hiệu
|
|
|
3. Ngày ký
|
|
|
4. Người ký
|
|
|
5. Độ mật
|
|
|
6. Thể loại văn bản
|
|
|
7. Loại bản
|
|
|
8. Cơ quan ban hành
|
|
|
9. Số trang
|
|
|
10. Trích yếu nội dung
|
|
|
11. Toàn văn nội dung văn
bản
|
|
|
12. Từ khóa
|
|
|
13. Chuyên đề
|
|
|
14. Tên hồ sơ
|
|
|
15. Địa chỉ tài liệu gốc
|
|
|
16. Mã số ảnh và ảnh chụp
tài liệu
|
|
|
17. Người nhập tin
|
|
2. CSDL mục lục hồ sơ
|
1. Tên phông
|
|
|
2. “Phông số”
|
|
|
3. “Mục lục số”
|
|
|
4. “Đơn vị bảo quản
số
|
|
|
5. Địa chỉ hồ sơ
|
|
|
6. Tiêu đề nhóm
|
|
|
7. Tên đơn vị bảo
quản
|
|
|
8. Chú thích
|
|
|
9. Chuyên đề
|
|
|
10. Từ khóa
|
|
|
11. Ngày bắt đầu
|
|
|
12. Ngày kết thúc
|
|
|
13. Thời hạn bảo quản
|
|
|
14. Số trang
|
|
|
15. Số tài liệu
|
|
|
16. Độ mật
|
|
|
17. Ghi chú
|
|
|
18. Người nhập tin
|
|
|
19. Ngày nhập
|
2. Hướng dẫn sử dụng phần
mềm quản lý tài liệu lưu trữ (thực hành)
2.1. Tổng quan về hệ
thống chương trình
Hiện nay có nhiều phần
mềm phục vụ cho việc quản lý văn bản trong công tác văn thư. Tuy nhiên, trong
hệ thống tổ chức của Đảng từ Trung ương đến cấp ủy đảng ở địa phương đang dùng
chung một phần mềm thống nhất từ năm 1999 trên mạng thông tin diện rộng của
Đảng (WAN). Năm 1995, Văn phòng Trung ương Đảng đã tiến hành nghiên cứu và tổ
chức nghiệm thu đề tài KC-04/VPTW “Nghiên cứu thiết kế hệ thống cơ sở dữ liệu và xây
dựng các chương trình máy tính phục vụ cho việc quản lý, khai thác, sử dụng tài
liệu thuộc Phông lưu trữ Đảng cộng sản Việt Nam”. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu
của đề tài KC-04/VPTW, Văn phòng Trung ương đã triển khai phát triển các phần
mềm phục vụ cho việc tin học hóa quy trình quản lý văn bản và tin học hóa công
tác lưu trữ trên mạng cục bộ và mạng thông tin diện rộng của Đảng trên môi
trường phần mềm Lotus Notes từ năm 1999 đến nay. Hệ thống tổ chức của Đảng đang
dụng các phần mềm cơ sở dữ liệu thống nhất trong quản lý và tra tìm tài liệu
lưu trữ.
Phần mềm Lotus Notes
cho chép xây dựng các ứng dụng quản lý dữ liệu dưới dạng cơ sở dữ liệu (CSDL)
với các đặc tính và cấu trúc như một phần mềm CSDL. Hệ thống các cơ sở dữ liệu
quản lý tài liệu lưu trữ đang triển khai trong hệ thống các cơ quan của Đảng
gồm:
+ CSDL Quản lý hồ sơ
lưu trữ (CSDL Mục lục hồ sơ)
+ CSDL Quản lý tài liệu
lưu trữ (CSDL Văn kiện Đảng).
Từ năm 2000 đến nay, Hệ
thống cơ sở dữ liệu quản lý tài liệu lưu trữ (CSDL Văn kiện Đảng, CSDL Mục lục
hồ sơ) đã được xây dựng từ Trung ương đến cấp huyện theo phần mềm thống nhất
của Ban Chỉ đạo Công nghệ thông tin của cơ quan Đảng, đáp ứng yêu cầu quản lý,
tra tìm và khai thác nhanh chóng, chính xác thông tin tài liệu của các kho lưu
trữ cấp ủy. Hàng năm, các cơ sở dữ liệu lưu trữ tiếp tục được cập nhật, hoàn
thiện phục vụ cho việc quản lý và khai thác tài liệu lưu trữ.
Văn bản hướng dẫn xây
dựng cơ sở dữ liệu: Văn phòng Trung ương đã ban hành Hướng dẫn số 08-HD/VPTW
ngày 10/9/2003 về xây dựng Cơ sở dữ liệu Văn kiện Đảng và Hướng dẫn số 09-HD/VPTW ngày 10/9/2003 về xây dựng cơ sở dữ
liệu mục lục hồ sơ. Nội dung văn bản hướng dẫn xây dựng kế hoạch và cập nhật dữ
liệu (mô tả thông tin đầu vào đối với các tài liệu, hồ sơ lưu trữ). Kinh phí
thực hiện: Hiện nay áp dụng theo Thông tư số 194/2012/TT-BTC,
ngày 15/11/2012 của Bộ Tài chính về hướng dẫn mức chi tạo lập thông tin điện tử
(nội dung chi gồm: nhập dữ liệu áp dụng theo mục a, khoản 1, Điều
4; số hóa thông tin áp dụng theo khoản 6, Điều 4).
2.1.1. CSDL Văn kiện
Đảng
Theo Hướng dẫn 08-HD/VPTW
ngày 10/9/2003 về xây dựng CSDL Văn kiện Đảng đã định nghĩa: CSDL Văn kiện
Đảng là tập hợp dữ liệu có cấu trúc những tài liệu chủ yếu do Trung ương và các
cấp ủy địa phương ban hành; được cập nhật, khai thác, sử dụng trong nội bộ Đảng
và trên mạng thông tin diện rộng của Đảng. CSDL Văn kiện Đảng được xây dựng
trước hết và chủ yếu nhằm tạo điều kiện tốt nhất để các cấp ủy đảng và cán bộ,
chuyên viên các cơ quan Đảng khai thác, sử dụng thông tin về các quyết định,
chủ trương, chính sách, giải pháp được hình thành trong quá trình lãnh đạo, chỉ
đạo của các cấp ủy Đảng.
Yêu cầu xây dựng cơ sở
dữ liệu phải bảo đảm các yêu cầu sau:
+ Đối với tài liệu lưu
trữ, trước khi cập nhật vào CSDL phải được chỉnh lý, phân loại và sắp xếp khoa
học.
+ Tập hợp đầy đủ tài
liệu; cập nhật chính xác thông tin toàn văn (tệp toàn văn tài liệu dưới dạng
điện tử-tệp văn bản, tệp ảnh) và thông tin cấp II.
+ Đáp ứng yêu cầu khai
thác trên mạng máy tính cục bộ và mạng thông tin diện rộng của Đảng theo quy
định.
+ Sử dụng thống nhất phần
mềm quản trị và khai thác CSDL theo quy định của Ban chỉ đạo công nghệ thông
tin các cơ quan Đảng; thực hiện các quy trình nghiệp vụ do Văn phòng Trung ương
Đảng hướng dẫn.
2.1.2.Cơ sở dữ liệu mục
lục hồ sơ
Theo Hướng dẫn 09-HD/VPTW ngày 10/9/2003 về xây dựng CSDL Mục
lục hồ sơ đã định nghĩa: Mục lục hồ sơ là bản kê có hệ thống tên gọi và các
thông tin khác về thành phần và nội dung hồ sơ (đơn vị bảo quản) của một phông,
phân phông hoặc một sưu tập lưu trữ; là một trong những công cụ thống kê chủ
yếu và là công cụ tra cứu cơ bản hồ sơ, tài liệu lưu trữ.
Cơ sở dữ liệu mục lục
hồ sơ là tập hợp các dữ liệu có cấu trúc, quan hệ một cách lô gích các thông
tin về từng đơn vị bảo quản của các phông và sưu tập lưu trữ trong một kho lưu
trữ hoặc một hệ thống các kho lưu trữ, được cập nhật và khai thác thông tin
trên mạng diện rộng của Đảng.
Xây dựng CSDL mục lục
hồ sơ giúp cho các kho lưu trữ quản lý, tìm kiếm và phục vụ khai thác tới từng
hồ sơ tài liệu lưu trữ nhanh chóng, chính xác; tạo điều kiện thuận tiện cho các
cơ quan cấp ủy đảng, các cán bộ nghiên cứu được trực tiếp lựa chọn danh mục hồ
sơ tài liệu theo đúng yêu cầu sử dụng; Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng có
điều kiện thực hiện tốt hơn chức năng quản lý thống nhất Phông lưu trữ Đảng
cộng sản Việt Nam.
Yêu cầu xây dựng cơ sở
dữ liệu phải đảm bảo các yêu cầu sau:
+ Cập nhật đầy đủ và
chính xác các thông tin về từng hồ sơ (ĐVBQ) trong kho lưu trữ.
+ Đáp ứng kịp thời các
yêu cầu quản lý, khai thác hồ sơ tài liệu trong các kho lưu trữ trên mạng cục
bộ và mạng thông tin diện rộng theo quy định
+ Sử dụng thống nhất phần
mềm quản trị và khai thác CSDL theo quy định của Ban chỉ đạo công nghệ thông
tin các cơ quan Đảng và thực hiện các quy trình nghiệp vụ do Văn phòng Trung
ương hướng dẫn.
2.2. Môi trường làm
việc và phương pháp cài đặt chương trình
Lotus Domino Server là phần
mềm được cài đặt trên phía máy chủ của Lotus Notes nhằm cung cấp các dịch vụ
trên mạng cho các máy trạm (Lotus Notes Client). Lotus Domino Server từ phiên
bản 4.6 trở đi đã được thiết kế hỗ trợ cao hơn các tiêu chuẩn mở của Internet
và cũng như phát triển các ứng dụng Web, tạo điều kiện sử dụng các dịch vụ dễ
dàng hơn.
Một số khả năng cơ bản
của Lotus Notes:
+ Xây dựng các ứng dụng
từ đơn giản đến phức tạp.
+ Chạy trên các nền cơ
sở hệ thống mạng máy tính khác nhau, thích hợp với các loại hệ điều hành mạng
khác nhau.
+ Khả năng tổ chức phân
nhóm và phân quyền truy nhập.
+ Khả năng đồng bộ dữ
liệu theo lịch.
+ Khả năng cấp chữ ký
điện tử, mã hóa, nén dữ liệu trên đường truyền.
+ Giao diện dễ hiểu,
thuận tiện và đẹp mắt.
+ Hệ thống và ứng dụng
dễ mở rộng, phát triển, thích hợp với nhiều CSDL.
Hệ thống Lotus Notes/Domino
là một hệ thống tích hợp thư điện tử và các ứng dụng Web. Domino là một giải
pháp mở, có kiến trúc thống nhất, đã được các công ty lớn trên thế giới tin
tưởng để xây dựng các hệ thống thông tin bảo mật, các ứng dụng mang tính chất
cộng tác và thương mại. Các máy chủ Domino đã cài đặt một hệ thống tiêu chuẩn
với Internet, đơn giản trong quản trị hệ thống và tích hợp với các hệ thống
nền. Với quá trình phát triển lâu dài, Lotus Notes/Domino đã vượt qua rào cản
về sử dụng chung tài nguyên, quản trị hệ thống, phân phối thông tin, trợ giúp người
sử dụng với tiến trình đồng bộ và tự động đã giúp cải tiến các hoạt động trong
công ty.
Lotus Notes/Domino là
sự kết hợp của các cơ sở dữ liệu hướng văn bản, một cơ sở hạ tầng về thư tín
điện tử mở rộng và sự phát triển ứng dụng có thể chạy trên nhiều nền hệ điều
hành khác nhau. Các phần mềm trong hệ thống Lotus:
- Máy chủ Domino:
+ Domino Application
Server: Kết hợp thư tín điện tử và máy chủ ứng dụng;
+ Domino Enterprise
Server: hỗ trợ giống như Domino Application Server nhưng cộng thêm vào đó khả năng
hỗ trợ về cluster (nhóm máy chủ) và khả năng sẵn sàng đáp ứng cao (24/24)
- Máy trạm Notes: có
một lượng lớn máy trạm sẵn sàng cho việc sử dụng, mỗi cái được thiết kế cho mục
đích riêng. Bao gồm:
+ Lotus Notes: dùng cho
máy trạm
+ Domino Designer: dùng
cho máy trạm muốn phát triển ứng dụng
+ Domino Administrator:
dùng cho máy trạm quản trị hệ thống;
+ Mobile clients: dùng
cho thiết bị cầm tay, di động có trình duyệt
+ iNotes Web Access
Phần lớn các chức năng
của Lotus Domino có thể được tiếp cận trên trình duyệt web. Lotus Domino bao
gồm cả ứng dụng quản trị trên web.
- Cài đặt:
+ Cài đặt máy chủ Lotus
Domino
+ Cài đặt Lotus Domino
Designer: phát triển ứng dụng
+ Cài đặt Lotus Domino
Administrator: quản trị hệ thống
+ Có thể cài đặt Lotus
Notes Client hoặc qua giao diện web (ứng dụng trình duyệt web): kết nối máy
chủ.
2.3. Chức năng quản trị
hệ thống
Hệ quản trị cơ sở dữ
liệu là một hệ thống gồm cơ sở dữ liệu và các thao tác trên cơ sở dữ liệu. Hệ
quản trị trị cơ sở dữ liệu khi lưu trữ cơ sở dữ liệu cần đảm bảo được được tính
cấu trúc trong cơ sở dữ liệu và ngoài ra cần phải hỗ trợ chức năng quản lý bao
gồm các việc cung cấp cơ chế thao tác (đọc, chỉnh sửa, thêm và xóa) và truy vấn
dữ liệu trong cơ sở dữ liệu một cách dễ dàng.
Hầu hết các hệ quản trị
CSDL đều thực hiện các chức năng sau:
+ Lưu trữ dữ liệu;
+ Tạo ra và duy trì
CSDL;
+ Cho phép nhiều người
dùng truy xuất đồng thời;
+ Hỗ trợ tính bảo mật
và riêng tư;
+ Cho phép xem và xử lý
dữ liệu lưu trữ;
+ Cho phép cập nhật và
lưu trữ dữ liệu sau khi cập nhật;
+ Cung cấp cơ chế chỉ mục
(index) để truy cập nhanh dữ liệu lựa chọn;
+ Cung cấp tính nhất
quán giữa các bản ghi khác nhau;
+ Bảo vệ dữ liệu khỏi
mất mát bằng các quá trình sao lưu và phục hồi.
Hệ quản trị CSDL trong phần
mềm Lotus Notes: Do
tính chất của công tác lưu trữ, liên quan đến vấn đề bảo mật thông tin, nên đòi
hỏi sự phân quyền truy cập. Để truy cập vào cơ sở dữ liệu, người sử dụng cần
phải được phân quyền. Việc phân quyền cho các thành viên tham gia hệ thống, do
quy định của từng đơn vị, dưới sự kiểm soát của người quản trị hệ thống. Việc
phân quyền do lãnh đạo của đơn vị, phân quyền cho các thành viên tham gia hệ
thống mạng. Tùy thuộc vào chức năng, nhiệm vụ của các thành viên, việc phân
quyền được thực hiện theo các mức khác nhau. Quyền cao nhất được dành cho cán
bộ làm công tác quản trị mạng. Quản trị mạng có quyền tạo lập các thành viên
mới, đổi quyền truy cập của các thành viên (nhưng không làm thay đổi mật
khẩu của các thành viên).

+ Phân quyền truy cập
CSDL - ACL: Kiểm soát các chức năng, vai trò như đọc, sửa, xóa thông tin, bản
ghi, chỉnh sửa cấu trúc csdl… (Hình 1.1).
+ Quản lý người truy
cập CSDL: ghi lại công việc hàng ngày của người sử dụng đối với CSDL (người
truy cập, chức năng xử lý). (Hình 1.2)
2.4. Phân loại thông
tin
Mục đích: Phân loại thông tin
nhằm xây dựng chuẩn thống nhất thông tin đầu vào của các loại hình tài liệu,
trên cơ sở đó để xây dựng cơ sở dữ liệu, thiết lập mối quan hệ, trao đổi thông
tin trong hệ thống, trong cơ sở dữ liệu.
Đặc trưng thông tin: Thông tin trong cơ sở
dữ liệu tài liệu lưu trữ gồm:
- Thông tin cấp 1 là
thông tin toàn văn của tài liệu, lưu dưới dạng tệp điện tử.
- Thông tin cấp 2 là
thông tin về trích ngang hay thông tin tóm tắt tài liệu. Thông tin tóm tắt là
sự thể hiện chính xác và cô đọng nội dung của một tài liệu và được trình bầy
theo phong cách tương tự như tài liệu hay hồ sơ gốc.
Xây dựng hệ thống các
cơ sở dữ liệu tài liệu lưu trữ là để quản lý thông tin cấp 2 và toàn bộ thông
tin cấp 1 về tài liệu lưu trữ. Hệ thống cơ sở dữ liệu này đáp ứng kịp thời các
yêu cầu khai thác thông tin tài liệu lưu trữ phục vụ cho công tác lãnh đạo, chỉ
đạo của cấp ủy và công tác nghiên cứu khoa học, đáp ứng các yêu cầu về tra cứu
thông Chức năng cập nhật thông tin
2.5. Chức năng cập nhật
thông tin vào hồ sơ
2.5.1. Cập nhật thông
tin vào hồ sơ
- Thông tin đầu vào:
Mỗi đơn vị bảo quản hay hồ sơ được trích yếu thông tin trong bản ghi gồm 17
trường thông tin (thông tin cấp 2) (Xem hình 2.1).

Hình
2.1. Biểu mẫu đăng ký hồ sơ
2.5.2. Cập nhật thông
tin vào văn bản trong hồ sơ
- Thông tin đầu vào:
Mỗi văn kiện (tài liệu) được trích yếu thông tin trong bản ghi gồm 17
trường thông tin (trong đó có 2 trường thông tin cấp).

Hình
2.2. Biểu mẫu đăng ký tài liệu lưu trữ
2.6. Chức năng tìm kiếm
thông tin
Khái niệm về tìm kiếm thông
tin:
Tìm kiếm thông tin là tìm kiếm trong một tập tài liệu để lấy ra các thông tin
mà người tìm kiếm quan tâm.
Hệ thống tìm kiếm thông
tin (IRS) là một hệ thống có khả năng lưu trữ, truy tìm và duy trì thông tin.
Thông tin trong trường hợp này có thể bao gồm văn bản, hình ảnh, âm thanh,
video và những đối tượng đa phương tiện khác.
Hiểu đơn giản hệ thống
tìm kiếm thông tin là một hệ thống hỗ trợ cho người sử dụng tìm kiếm thông tin
một cách nhanh chóng và dễ dàng. Người sử dụng có thể đưa vào những yêu cầu
(dạng ngôn ngữ tự nhiên) và hệ thống sẽ tìm kiếm trong tập các tài liệu (dạng
ngôn ngữ tự nhiên) đã được lưu trữ để tìm ra những tài liệu có liên quan, sau
đó sắp xếp tài liệu theo mức độ liên quan giảm dần và trả về cho người sử dụng.
Bất kỳ hệ thống tìm
kiếm thông tin nào cũng dựa trên một tập các mục được lưu trữ (gọi là cơ sở dữ
liệu) cần thiết cho truy cập dữ liệu.
Cơ sở dữ liệu sử dụng
hệ quản trị cơ sở dữ liệu để lưu trữ và quản lý dữ liệu. Việc sử dụng các phần
mềm (hệ quản trị cơ sở dữ liệu) này sẽ giúp các nhà quản trị hệ thống dễ dàng
thực hiện các thao tác như tìm kiếm, lọc, xóa, chỉnh sửa hay tạo mới dữ liệu
trên cơ sở dữ liệu. Để làm được điều này trên các hệ quản trị cơ sở dữ liệu các
nhà quản trị hệ thống thường sử dụng ngôn ngữ truy vấn mang tính cấu trúc:
Structured Query Language hay SQL.
Công cụ tìm kiếm thông
tin:
Công cụ tìm tin trong
CSDL chỉ cho phép tìm tin đối với dữ liệu văn bản (TEXT) như: các trường thông
tin cấp 2, trường thông tin cấp 1 chỉ cho phép tìm những tệp toàn văn định dạng
Microsoft Word, Excel… Cách thức tìm kiếm theo văn bản (TEXT): tìm kiếm dựa vào
các từ (words) có trong toàn văn tài liệu (thông tin cấp 1) và trong thông tin
trích yếu tài liệu (thông tin cấp 2). Kết hợp sử dụng các thuật toán (AND-Và;
OR-Hoặc; NOT-Không …) để lập các biểu thức tìm (hay nối các từ, cụm từ có
nghĩa). Kết quả tìm kiếm được thể hiện theo trật tự như vần chữ cái, thời gian,
nội dung và mức độ thích hợp.
Có 2 công cụ tìm kiếm
trong CSDL:
- Tìm kiếm toàn văn
(FullTextSearch): Tìm
kiếm toàn văn văn bản là tìm kiếm văn bản có chứa một từ hoặc cụm từ có trong
văn bản (tìm cả thông tin cấp 2/thông tin trích yếu và thông tin cấp 1/tệp soạn
thảo toàn văn). Công cụ tìm kiếm toàn văn cho phép tìm kiếm những cụm từ trong
bản ghi mà ta đã xây dựng. Công cụ việt hóa sử dụng tính năng công cụ hệ thống
nhưng được trình bày với giao diện bằng tiếng Việt.
Ví dụ. Tìm kiếm tất cả
các văn bản đồng thời có chứa cả 4 cụm từ ‘Báo cáo’, ‘kiểm điểm’, Nghị
quyết', ‘Đại hội Đảng’. Lập biểu thức như hình 1.3.
Chú ý: Trong mục lục (view) Tìm
kiếm, nếu muốn xóa kết quả tìm kiếm cũ đang có trong thư mục chọn chức năng
<Xóa kết quả cũ>. Nếu không xóa kết quả tìm kiếm cũ thì khi thực hiện tìm
kiếm kết quả tìm kiếm mới sẽ được công thêm với kết quả tìm kiếm cũ.

Hình
3 - Biểu mẫu tìm kiếm toàn văn hồ sơ, tài liệu
- Tìm kiếm cấu trúc
(Tìm kiếm SQL):
Thông thường khi sử
dụng các hệ CSDL theo mô hình quan hệ, người sử dụng quen với cách tìm kiếm
bằng cách xây dựng câu hỏi SELECT thông qua cơ chế viết trực tiếp câu hỏi hoặc
tạo câu hỏi thông qua giao diện trực quan (Query By Form) hay còn gọi Tìm kiếm
có cấu trúc hoặc Tìm kiếm SQL. Cách tìm kiếm này tìm tin chính xác theo cấu
trúc trường thông tin cấp 2 đã nhập (tìm theo các trường thông tin trích yếu
tài liệu, hồ sơ), rất thuận lợi cho những người đã quen làm việc với CSDL quan
hệ, người quản lý CSDL hoặc những người có tư duy logic tốt.
Ví dụ 1: Tìm chỉ thị
của Tỉnh ủy Cao Bằng v/v chỉnh đốn các cơ quan lãnh đạo cấp huyện trong cuộc
phát động quần chúng thực hiện cải cách ruộng đất.
Lập biểu thức tìm với
lựa chọn các tiêu chí thông tin như sau (Hình 4.1):
+ Thể loại = “Chỉ
thị”;
+ Chuyên đề có chứa cụm
từ “B.2.4-Xây dựng cấp huyện”
+ Cơ quan ban hành = “Ban
Chấp hành Đảng bộ tỉnh Cao Bằng”;
+ Trích yếu có chứa cụm
từ “chỉnh đốn”; “cơ quan lãnh đạo”
+ Từ khóa có chứa từ
khoá: “kiện toàn cán bộ”; “cải cách ruộng đất”

Hình
4.1- Biểu mẫu tìm kiếm tài liệu trong CSDL Văn kiện đảng
2.7. Chức năng thống kê
- tổng hợp thông tin
Tổ chức thông tin theo mục
lục:
Các bản ghi được phân loại và sắp xếp thành các mục lục (view) theo tiêu chí
khác nhau nhằm đáp ứng yêu cầu về tra cứu thông tin, tổng hợp số liệu, báo cáo
thống kê và in theo mục lục quản lý hồ sơ, tài liệu.
CSDL Văn kiện Đảng:
- Các mục lục (view)
trong CSDL Văn kiện Đảng:
|
Tên thư mục
|
Diễn giải
|
|
1. Cơ quan ban hành
|
Sắp xếp tên cơ quan
ban hành theo thứ tự bảng chữ cái;
|
|
2. Thể loại
|
Sắp xếp tên thể loại
văn bản theo thứ tự bảng chữ cái;
|
|
3. Thời gian (ngày
ký)
|
Sắp xếp thời gian của
trường ngày ký văn bản (năm, tháng, ngày) theo thứ tự từ bé đến lớn;
|
|
4. Người ký
|
Sắp xếp tên người ký
văn bản theo thứ tự bảng chữ cái;
|
|
5. Chuyên đề
|
Sắp xếp trường thông
tin chuyên đề theo thứ tự bảng chữ cái;
|
|
6. Từ khóa
|
Sắp xếp trường thông
tin từ khóa theo thứ tự bảng chữ cái;
|
|
7. Độ mật
|
Sắp xếp theo trường
thông tin độ mật (Thường, Mật, Tối mật và Tuyệt Mật);
|
|
8. Địa chỉ bảo quản
|
Sắp xếp theo trường
thông tin Phông số, mục lục số, số thứ tự đơn vị bảo quản;
|
Ví dụ 1. Mục lục view
Thể loại
Trong mục lục view Thể
loại được phân loại và sắp xếp như sau:
+ Văn bản được phân
loại theo 3 cấp độ thời gian: Thể loại\Năm hoặc có thể Khóa\Thể loại\Năm, được
sắp xếp theo thứ tự số;
+ Tổng hợp số liệu:
Trong cấp độ cuối cùng (Năm), văn bản được sắp xếp theo thứ tự số ký hiệu, ngày
văn bản và kèm số liệu tổng hợp về số tài liệu, số trang tài liệu.
+ Tra cứu - Thống kê:
Hỗ trợ người sử dụng có thể tra cứu, thống kê (số lượng tài liệu, trang tài
liệu) theo tiêu chí phân loại và sắp xếp (trường Khóa tài liệu, Thể loại văn
bản, Thời gian văn bản ban hành);

Hình
5.1. Cửa sổ màn hình CSDL Văn kiện Đảng, view Thể loại
Ví dụ 2- mục lục view
Chuyên đề

Hình
5.2. Cửa sổ màn hình CSDL Văn kiện Đảng, view Chuyên đề
Trong mục lục view
Chuyên đề được phân loại và sắp xếp sau:
+ Văn bản được phân
loại theo các cấp độ chuyên đề (1-4 cấp): Chuyên đề\Thể loại được sắp
xếp theo thứ tự chữ cái;
+ Tổng hợp số liệu:
Trong cấp độ cuối cùng (Thể loại), văn bản được sắp xếp theo thứ tự số ký hiệu,
ngày văn bản và kèm tổng hợp số liệu theo số tài liệu, số trang tài liệu.
+ Tra cứu - Thống kê:
Hỗ trợ người sử dụng có thể tra cứu, thống kê số lượng văn bản theo tiêu chí
phân loại và sắp xếp của cấp độ chuyên đề và thể loại văn bản;
CSDL mục lục hồ sơ:
- Các mục lục (view)
trong csdl mục lục hồ sơ:
|
Tên
thư mục
|
Diễn giải
|
|
1. Phông lưu trữ
|
Sắp xếp các trường
thông tin phông số, mục lục số, tiêu đề nhóm và theo thứ tự từ bé đến lớn, và thứ tự
bảng chữ cái;
|
|
2. Thời hạn bảo quản
|
Sắp xếp trường thông
tin thời hạn bảo quản (Vĩnh viễn, 70 năm…) theo thứ tự chữ cái;
|
|
3. Độ mật
|
Sắp xếp theo trường thông
tin độ mật (Thường, Mật, Tối mật và Tuyệt Mật);
|
|
4. Chuyên đề
|
Sắp xếp trường thông
tin chuyên đề theo thứ tự bảng chữ cái;
|
|
5. Từ khóa
|
Sắp xếp trường thông
tin từ khóa theo thứ tự bảng chữ cái;
|
|
6. Tổng hợp số liệu
toàn kho
|
Sắp xếp trường thông
tin phông số, mục lục số, số thứ tự đơn vị bảo quản và kèm theo số liệu tổng hợp về
số hồ sơ, số tài liệu, số trang tài liệu trong hồ sơ;
|
|
7. Địa chỉ bảo quản
|
Sắp xếp trường thông
tin phông số, mục lục số, số thứ tự đơn vị bảo quản theo thứ tự từ bé đến lớn;
|
Ví dụ: Mục lục view 1.
Phông lưu trữ:

Hình
5.3. Cửa sổ giao diện của mục lục Phông lưu trữ trong CSDL Mục Lục hồ sơ
Trong mục lục view Phông
lưu trữ được phân loại và sắp xếp như sau:
+ Hồ sơ được phân loại
theo 3 cấp độ thời gian: Phông\Mục lục\Tiêu đề nhóm, được sắp xếp theo thứ
tự số và chữ cái;
+ Tổng hợp số liệu:
Trong cấp độ cuối cùng (Tiêu đề nhóm), hồ sơ được sắp xếp theo thứ tự số đơn vị
bảo quản và kèm tổng hợp số liệu theo số tài liệu, số trang.
+ Tra cứu - Thống kê:
Hỗ trợ người sử dụng có thể tra cứu, thống kê (số lượng hồ sơ, tài liệu, trang
tài liệu) theo tiêu chí phân loại và sắp xếp về địa chỉ bảo quản và các nhóm hồ
sơ (trường Tiêu đề nhóm);
2.8. Chức năng in mục
lục thông tin
2.8.1. Cấu trúc và tổ
chức
CSDL hỗ trợ lập danh mục
tài liệu theo 2 loại:
Theo mục lục thông tin
(view):
Các bản ghi được phân loại và sắp xếp thành các mục lục (view) theo tiêu chí
khác nhau nhằm đáp ứng yêu cầu về tra cứu thông tin, tổng hợp số liệu để thống
kê và in tài liệu…Theo đó, chương trình ứng dụng hỗ trợ công cụ in mục lục tài
liệu theo đúng thứ tự phân loại và sắp xếp thông tin.
Theo mục lục thông tin
tạm (folder):
chương trình ứng dụng hỗ trợ công cụ tìm kiếm thông tin và kết quả tìm kiếm
được lưu trong thư mục tạm (Folder). Theo đó, chương trình ứng dụng cũng hỗ trợ
công cụ in mục lục tài liệu theo các tiêu chí phân loại và sắp xếp thông tin
trong mục lục (view) và mục lục tạm (Folder). Do thư mục tìm kiếm là mục lục
tạm (Folder) nên chương trình cho phép lựa chọn, bổ sung và xóa dữ liệu (bản
ghi), mà không ảnh hưởng tới dữ liệu gốc.
2.8.2. Phương pháp thực
hiện
- In danh mục tài liệu: Theo mục lục (view
hoặc folder) có 2 cách:
+ In gián tiếp qua chương
trình ứng dụng bên ngoài để lưu và in: CSDL cho phép lựa chọn tài liệu trong
các mục lục view (hình 6) và sau đó xuất dữ liệu thành danh mục tài liệu dưới
định dạng tệp Microsoft Excel để thống kê, lưu tệp và in ấn (Hình 7)
+ In danh mục tài liệu
từ mục lục view: CSDL cho phép lựa chọn tài liệu trong các mục lục view (hình
6) và in trực tiếp danh mục tài liệu qua công cụ máy in (hình 8)
- In mục lục hồ sơ:
+ In gián tiếp qua ứng
dụng bên ngoài để lưu và in: CSDL cho phép lựa chọn hồ sơ trong các mục lục
view (hình 6.2) và sau đó xuất dữ liệu thành danh mục tài liệu dưới định dạng
tệp Microsoft Excel để thống kê, lưu tệp và in ấn (Hình 7.2)
+ In danh mục tài liệu
từ mục lục view: CSDL cho phép lựa chọn tài liệu trong mục lục view (hình 1.6b)
và in trực tiếp qua công cụ máy in (hình 1.8).

Hình
6- Mục lục view Thể loại trong CSDL Văn kiện Đảng

Hình
7-Xuất dữ liệu thành danh mục tài liệu dưới định dạng tệp Microsoft Excel

Hình
8-In trực tiếp từ mục lục view ra máy in

Hình
6.2- Lựa chọn hồ sơ trong mục lục view phông lưu trữ của CSDL Mục lục hồ sơ

Hình
7.2-Xuất dữ liệu thành danh mục hồ sơ dưới định dạng tệp Microsoft Excel
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
1. Chính phủ,
Nghị định số 01/2013/NĐ-CP ngày 03 tháng 01
năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Lưu trữ.
2. Cục văn thư
và Lưu trữ Nhà nước, Hướng dẫn số 169/HD-VTLTNN
ngày 10/3/2010 hướng dẫn về xây dựng cơ sở dữ liệu.
3. IBM, Tài liệu về phần
mềm IBM Domino Lotus Notes.
4. Quốc hội, Luật Lưu trữ số 01/2011/QH13 ngày 11/11/2011.
5. Lưu trữ quốc gia Úc,
Chuẩn VERS (Victorian Electronic Records Stratery Standard Management of Electronic Records
PROS99/007 Version 2.0).
6. Phan Tấn Quốc,
Trường Cao đẳng kỹ thuật Cao Thắng, Giáo trình cơ sở dữ liệu.
7. Văn phòng Trung ương
Đảng, Hướng dẫn số 08-HD/VPTW ngày 10/9/2003 về xây dựng Cơ sở dữ liệu Văn kiện
Đảng.
8. Văn phòng Trung ương
Đảng, Hướng dẫn số 09-HD/VPTW ngày 10/9/2003
về xây dựng Cơ sở dữ liệu Mục lục hồ sơ.
CÂU
HỎI ÔN TẬP, THẢO LUẬN
1. Nội dung ứng dụng
công nghệ thông tin vào công tác lưu trữ?
2. Hệ thống thông tin
là gì ? Hệ thống quản lý tài liệu lưu trữ điện tử gồm có các chức năng gì?
3. Hãy xây dựng Bảng dữ
liệu thông tin đầu vào cho Hệ thống thông tin quản lý tài liệu lưu trữ của Lưu
trữ tại cơ quan bạn đang công tác?
4. Hãy xây dựng Bảng mô
tả yêu cầu chức năng cho cơ sở dữ liệu quản lý tài liệu lưu trữ của Lưu trữ tại
cơ quan bạn đang công tác?
Chuyên
đề 15
BẢO
MẬT HỒ SƠ, TÀI LIỆU
Hồ sơ, tài liệu hình
thành trong hoạt động của bất cứ tổ chức nào luôn chứa đựng nhiều vấn đề thuộc
phạm vi bí mật của tổ chức đó. Tài liệu của các cơ quan nhà nước chứa đựng
những vấn đề “nhạy cảm” về chính sách ngoại giao, các biện pháp liên quan đến
bảo vệ an ninh quốc gia hay kế hoạch triển khai các chủ trương, chính sách quan
trọng... Tài liệu của các tổ chức chính trị - xã hội lại phản ánh những vấn đề
về tổ chức như chủ trương và các biện pháp tuyên truyền để kiện toàn bộ máy,
nhân sự hay mối quan hệ giữa các tổ chức này với các cơ quan nhà nước. Đối với
doanh nghiệp, tài liệu chứa đựng những thông tin về bí quyết sản xuất, kinh
doanh; các chính sách áp dụng với từng đối tác…
Tính chất cơ mật của công
tác văn thư, lưu trữ xuất phát từ nhiệm vụ phải quản lý toàn bộ thông tin bằng
văn bản hình thành trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức hay doanh nghiệp.
Do vậy,việc quản lý và bảo vệ bí mật những hồ sơ, tài liệu này là trách nhiệm
tất cả công chức, viên chức đã và đang làm việc trong các cơ quan, tổ chức,
doanh nghiệp, trong đó, trên hết và trước hết là thuộc về những công chức, viên
chức đảm nhận công tác văn thư, lưu trữ.
1. Những vấn đề cơ bản
về bảo mật hồ sơ, tài liệu
1.1. Khái niệm:
- Bí mật Nhà nước là
những tin về vụ, việc, tài liệu, vật, địa điểm, thời gian, lời nói có nội dung
quan trọng thuộc lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế,
khoa học, công nghệ, các lĩnh vực khác mà Nhà nước không công bố hoặc chưa công
bố và nếu bị tiết lộ thì gây nguy hại cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam.
- Hồ sơ, tài liệu mật
là những hồ sơ, tài liệu chứa đựng các bí mật nhà nước, bao gồm cả tài liệu
được đóng dấu mật và tài liệu không được đóng dấu mật nhưng có nội dung mật
- Độ mật là mức độ mật
của văn bản, hồ sơ, tài liệu do chủ thể ban hành văn bản xác định tương ứng với
tính chất quan trọng, mức độ nguy hại của nội dung thông tin mà văn bản, hồ sơ,
tài liệu đó chứa đựng. Có 03 loại mật là Tuyệt mật, Tối mật và Mật.
+ Độ Tuyệt mật
được xác định cho những văn bản, hồ sơ, tài liệu chứa đựng các nội dung thông
tin trực tiếp đề cập đến chiến lược an ninh quốc gia; kế hoạch phòng thủ đất
nước; kế hoạch động viên đối phó với chiến tranh; các loại vũ khí, phương tiện
có ý nghĩa quyết định khả năng phòng thủ đất nước; các chủ trương, chính sách
về đối nội, đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam không công bố hoặc chưa công bố; những tin của nước ngoài hoặc
của các tổ chức quốc tế chuyển giao cho Việt Nam mà Chính phủ xác định thuộc độ
Tuyệt mật; tổ chức và hoạt động tình báo, phản gián do Chính phủ quy định; mật
mã quốc gia; dự trữ chiến lược quốc gia; các số liệu dự toán, quyết toán ngân
sách nhà nước về những lĩnh vực chưa công bố; kế hoạch phát hành tiền, khóa an
toàn của từng mẫu tiền và các loại giấy tờ có giá trị như tiền; phương án, kế
hoạch thu đổi tiền chưa công bố; khu vực, địa điểm cấm; tin, tài liệu khác mà
Chính phủ xác định thuộc độ Tuyệt mật.
Như vậy, bí mật nhà
nước thuộc độ Tuyệt mật là những tin về vụ, việc, tài liệu, vật, địa điểm, thời
gian, lời nói có nội dung đặc biệt quan trọng thuộc danh mục bí mật nhà nước do
Thủ tướng Chính phủ quyết định ban hành và nếu bị tiết lộ sẽ gây hậu quả đặc
biệt nghiêm trọng cho lợi ích của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
+ Độ Tối mật được xác
định cho những văn bản, hồ sơ, tài liệu chứa đựng các nội dung thông tin trực
tiếp đề cập đến các cuộc đàm phán và tiếp xúc cấp cao giữa nước ta với nước
ngoài hoặc các tổ chức quốc tế về chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại,
kinh tế, khoa học, công nghệ và các lĩnh vực khác chưa công bố; những tin của
nước ngoài hoặc của các tổ chức quốc tế chuyển giao cho Việt Nam mà Chính phủ
xác định thuộc độ Tối mật; tổ chức hoạt động, trang bị, phương án tác chiến của
các đơn vị vũ trang nhân dân; phương án sản xuất, vận chuyển và cất giữ vũ khí;
công trình quan trọng phòng thủ biên giới, vùng trời, vùng biển, hải đảo; bản
đồ quân sự; tọa độ điểm hạng I, hạng II nhà nước của mạng lưới quốc gia hoàn chỉnh
cùng với các ghi chú điểm kèm theo; vị trí và trị số độ cao các mốc chính của
các trạm khí tượng, thủy văn, hải văn; số liệu độ cao và số không tuyệt đối của
các mốc hải văn; số lượng tiền in, phát hành; tiền dự trữ bằng đồng Việt Nam và
ngoại tệ; các số liệu về bội chi, lạm phát tiền mặt chưa công bố; phương án giá
các mặt hàng chiến lược thuộc Nhà nước quản lý chưa công bố; nơi lưu giữ và số
lượng kim loại quý hiếm, đá quý, ngoại hối và vật quý hiếm khác của Nhà nước; công
trình khoa học, phát minh, sáng chế, giải pháp hữu ích, bí quyết nghề nghiệp
đặc biệt quan trọng đối với quốc phòng, an ninh, kinh tế, khoa học, công nghệ
mà Nhà nước chưa công bố; kế hoạch xuất khẩu, nhập khẩu các mặt hàng đặc biệt
giữ vị trí trọng yếu trong việc phát triển và bảo vệ đất nước không công bố
hoặc chưa công bố; tin, tài liệu khác mà Chính phủ xác định thuộc độ Tối mật.
Bí mật nhà nước thuộc
độ Tối mật là những tài liệu, vật mang bí mật nhà nước có nội dung rất quan
trọng thuộc danh mục bí mật nhà nước do Thủ tướng Chính phủ quyết định ban hành
và nếu bị tiết lộ sẽ gây hậu quả rất nghiêm trọng cho lợi ích của Nhà nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
+ Độ Mật được xác định
cho những văn bản, hồ sơ, tài liệu chứa đựng các nội dung thông tin gián tiếp
đề cập đến các vấn đề trong các văn bản, hồ sơ, tài liệu được xác định tuyệt mật hoặc
tối mật. Danh mục bí mật nhà nước thuộc độ Mật do người đứng đầu hoặc người
được ủy quyền của cơ quan, tổ chức đề nghị Bộ trưởng Bộ Công an quyết định.
Bí mật nhà nước thuộc
độ Mật là những tài liệu, vật mang bí mật nhà nước có nội dung quan trọng thuộc
danh mục bí mật nhà nước do Bộ trưởng Bộ Công an và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng
quyết định ban hành, nếu bị tiết lộ sẽ gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Bảo mật là việc bảo
vệ đối với sự tồn tại của thông tin và toàn bộ nội dung thông tin của văn bản,
hồ sơ, tài liệu trong toàn bộ quá trình hình thành, chuyển giao, tiếp nhận, xử
lý, bảo quản và khai thác, sử dụng.
- Giải mật là việc công
bố hoặc cho phép người có nhu cầu sử dụng tin có thể tiếp cận một phần hoặc
toàn bộ nội dung thông tin của văn bản, hồ sơ, tài liệu đã được xác định độ
mật.
1.2. Ý nghĩa của bảo
mật hồ sơ, tài liệu
Việc bảo mật hồ sơ, tài
liệu là công việc được tiến hành một cách thường xuyên trong hoạt động của các
cơ quan, tổ chức hay doanh nghiệp. Công việc này mang nhiều ý nghĩa, cụ thể như
sau:
- Việc bảo mật hồ sơ,
tài liệu góp phần bảo vệ các lợi ích của quốc gia, dân tộc. Những thông tin
được xác định các độ mật khác nhau đều là những thông tin có tính chất quan
trọng và có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến các phương diện quốc phòng, an ninh
quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội hay sức khỏe cộng đồng... Lợi ích quốc gia,
dân tộc là bất khả xâm phạm, bởi nếu nếu các thông tin nói trên bị tiết lộ, sẽ
kéo theo là những hậu quả, rủi ro khó có thể lường hết được đối với quốc gia,
dân tộc. Do vậy, hơn hết, những thông tin này cần được quản lý một cách chặt
chẽ vì những lợi ích chung.
- Góp phần bảo vệ các
lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức hay doanh nghiệp: Lợi ích hợp pháp
của các cơ quan, tổ chức hay doanh nghiệp là một trong những công cụ quan trọng
duy trì hoạt động của các tổ chức; đối với các cơ quan nhà nước hay các tổ chức
chính trị - xã hội là công cụ đảm bảo hiệu lực và hiệu quả của các quyết định
quản lý; đối với các doanh nghiệp, lợi ích hợp pháp đảm bảo hoạt động kinh
doanh được diễn ra đạt lợi nhuận cao trong môi trường cạnh tranh khốc liệt.
Những thông tin thuộc diện bí mật đồng thời là những thông tin liên quan đến
lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức hay doanh nghiệp như chiến lược, kế hoạch
và phương án triển khai các hoạt động, các nguồn lực và phương tiện sử dụng…
Nếu bị tiết lộ hoặc bị rò rỉ, những thông tin này sẽ gây cản trở không nhỏ cho
việc thực thi các quyết định quản lý của các cơ quan. Bên cạnh đó, những thông
tin khác cũng liên quan đến lợi ích hợp pháp của các cơ quan, doanh nghiệp là
quyền sở hữu đất đai, trụ sở, cơ sở vật chất nói chung… Đây cũng là thông tin
bí mật cần bảo vệ.
- Góp phần nâng cao
trách nhiệm, kỷ luật công vụ trong quá trình thực thi hoạt động nghiệp vụ của
các cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong các cơ quan nhà nước, các tổ
chức chính trị - xã hội, kỷ luật lao động của các nhân viên làm việc trong các
doanh nghiệp: Như đã đề cập, mọi thông tin hình thành trong hoạt động của các
cơ quan, tổ chức hay doanh nghiệp đều hàm chứa các bí mật ở mức độ khác nhau.
Tuy nhiên, do việc được tiếp cận, sử dụng hay cụ thể là nghe, đọc một cách
thường xuyên các thông tin này đã khiến cho một bộ phận không nhỏ các cán bộ,
công chức, viên chức hay các nhân viên hành chính thực sự chủ quan trong việc
giữ gìn các bí mật của cơ quan, tổ chức hay doanh nghiệp mà mình đang công tác.
Ý thức bảo mật các thông tin trong văn bản, hồ sơ, tài liệu phải được thể hiện
bằng hành động trong từng thao tác nghiệp vụ. Đây đồng thời cũng là một tiêu
chí rèn luyện để đạt được tính chuyên nghiệp của tất cả nhân sự làm việc trong
bất cứ khu vực công hay tư.
1.3. Quy định của Nhà
nước về bảo mật hồ sơ, tài liệu
- Luật Lưu trữ: Luật này quy định về
hoạt động lưu trữ; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt
động lưu trữ; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ lưu trữ; hoạt động dịch vụ lưu trữ
và quản lý về lưu trữ. Khoản 4, điều 30 về sử dụng tài liệu
tại Lưu trữ lịch sử, trong đó có các quy định về việc sử dụng các tài liệu lưu
trữ có các dấu chỉ mức độ Mật khác nhau, như sau:
“Việc sử dụng tài liệu
lưu trữ thuộc Danh mục tài liệu có đóng dấu chỉ các mức độ mật được thực hiện
theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước” (Khoản
3, điều 30);
“Tài liệu lưu trữ
thuộc Danh mục tài liệu có đóng dấu chỉ các mức độ mật được sử dụng rộng rãi
trong các trường hợp sau đây:
a) Được giải mật theo
quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước;
b) Sau 40 năm, kể từ
năm công việc kết thúc đối với tài liệu có đóng dấu mật nhưng chưa được giải
mật;
c) Sau 60 năm, kể từ
năm công việc kết thúc đối với tài liệu có đóng dấu tối mật, tuyệt mật nhưng
chưa được giải mật”
(Khoản 4, điều 30)
- Thông tư số 07/2012/TT-BNV ngày 22 tháng 11 năm
2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn quản lý văn bản, lập hồ sơ và nộp lưu hồ sơ, tài
liệu vào Lưu trữ cơ quan. Thông tư quy định một số nghiệp vụ liên quan đến việc
tiếp nhận, chuyển giao, đăng ký các văn bản mật.
- Luật Tiếp cận thông tin: Luật này quy định về
việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân, nguyên tắc, trình tự, thủ
tục thực hiện quyền tiếp cận thông tin, trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan nhà nước
trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân. Điều
6 của Luật này quy định như sau:
“1. Thông tin thuộc
bí mật nhà nước, bao gồm những thông tin có nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực
chính trị, quốc phòng, an ninh quốc gia, đối ngoại, kinh tế, khoa học, công
nghệ và các lĩnh vực khác theo quy định của luật.
Khi thông tin thuộc bí
mật nhà nước được giải mật thì công dân được tiếp cận theo quy định của Luật
này.
2. Thông tin mà nếu để
tiếp cận sẽ gây nguy hại đến lợi ích của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến quốc
phòng, an ninh quốc gia, quan hệ quốc tế, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã
hội, sức khỏe của cộng đồng; gây nguy hại đến tính mạng, cuộc sống hoặc tài sản
của người khác; thông tin thuộc bí mật công tác; thông tin về cuộc họp nội bộ
của cơ quan nhà nước; tài liệu do cơ quan nhà nước soạn thảo cho công việc nội bộ»
- Pháp lệnh bảo vệ bí mật nhà nước: Đây là văn bản có
hiệu lực pháp lý cao nhất đề cập đến vấn đề bảo mật. Nội dung pháp lệnh đề cập
đến những vấn đề chung về bảo vệ bí mật nhà nước, phạm vi bí mật nhà nước, quản
lý nhà nước về bảo vệ bí mật nhà nước, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và công
dân về bảo vệ bí mật nhà
nước.
- Nghị định số 33/2002/NĐ-CP ngày 28 tháng 3 năm
2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp
lệnh bảo vệ bí mật nhà nước. Nghị định quy định về việc lập, quyết định và
công bố danh mục bí mật nhà nước; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và công dân
về bảo vệ bí mật nhà nước. Căn cứ điều 1 của Nghị định,
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao,Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ
trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ; người
đứng đầu các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội ở
cấp Trung ương chịu trách nhiệm lập danh mục bí mật nhà nước ở cơ quan, tổ chức
của mình.
Chủ tịch ủy ban nhân
dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm lập danh mục bí
mật nhà nước của địa phương mình trên cơ sở đề xuất của các Ban, ngành và Ủy
ban nhân dân cấp dưới trực tiếp.
- Thông tư số 33/2015/TT-BCA ngày 20 tháng 7 năm
2015 của Bộ Công an hướng dẫn thực hiện Nghị định số 33/2002/NĐ-CP ngày 28 tháng 3 năm 2002 của
Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh
bảo vệ bí mật nhà nước. Thông tư đã quy định cụ thể về các vấn đề như lập
danh mục bí mật nhà nước, sửa đổi, bổ sung, giải mật danh mục bí mật nhà nước;
vận chuyển, giao nhận tài liệu, vật mang bí mật nhà nước; lưu giữ, bảo quản, sử
dụng tài liệu, vật mang bí mật nhà nước; thủ tục xét duyệt cung cấp tin thuộc
phạm vi bí mật nhà nước cho tổ chức, cá nhân nước ngoài; thủ tục xin phép mang
tài liệu, vật mang bí mật nhà nước ra nước ngoài; giải mật, giảm mật, tăng mật
tài liệu, vật mang bí mật nhà nước do các cơ quan, tổ chức soạn thảo; giải mật tài liệu
lưu trữ tại Lưu trữ lịch sử; thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và giải quyết
khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực bảo vệ bí mật nhà nước; xây dựng quy chế bảo
vệ bí mật nhà nước; mẫu dấu mật và mẫu biển cấm.
- Bộ luật hình sự năm 2015 quy định một số tội
liên quan đến bảo vệ bí mật nhà nước. Điều 337 quy định về
xử lý tội cố ý làm lộ bí mật nhà nước, tội chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy tài
liệu bí mật nhà nước như sau:
“1. Người nào cố ý
làm lộ hoặc mua bán bí mật nhà nước, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 110 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội trong những
trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Bí mật nhà nước
thuộc độ tối mật;
b) Lợi dụng chức vụ,
quyền hạn;
c) Gây tổn hại về quốc
phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế, văn hóa.
3. Phạm tội trong các
trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:
a) Có tổ chức;
b) Bí mật nhà nước
thuộc độ tuyệt mật;
c) Phạm tội 02 lần trở
lên;
d) Gây tổn hại về chế
độ chính trị, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.
4. Người phạm tội còn
có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức
vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”
Điều
338
quy định về xử lý tội vô ý làm lộ bí mật nhà nước, tội làm mất vật, tài liệu bí
mật nhà nước, cụ thể như sau:
“1. Người nào vô ý
làm lộ bí mật nhà nước hoặc làm mất vật, tài liệu bí mật nhà nước, thì bị phạt
cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội trong những
trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Bí mật nhà nước
thuộc độ tối mật, tuyệt mật;
b) Gây tổn hại về quốc
phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế, văn hóa chế độ chính trị, độc lập, chủ
quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.
3. Người phạm tội còn
có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ
01 năm đến 05 năm.”
Trên đây là những văn
bản quy phạm pháp luật do các cơ quan trung ương ban hành, một số cơ quan địa
phương cũng ban hành những văn bản quy định các nội dung về bảo vệ bí mật nhà
nước.
2. Nghiệp vụ bảo mật hồ
sơ, tài liệu
Nghiệp vụ bảo mật, hồ
sơ tài liệu bao gồm các vấn đề về nguyên tắc, yêu cầu, quy trình và phương pháp
bảo mật hồ sơ, tài liệu. Dưới đây là 05 vấn đề cơ bản của bảo mật hồ sơ, tài
liệu.
2.1. Xác định độ mật
của hồ sơ, tài liệu
Khi soạn thảo văn bản
có nội dung bí mật nhà nước, người được phân công soạn thảo văn bản phải đề
xuất với lãnh đạo (thủ trưởng) cơ quan hoặc người được ủy quyền xác định mức độ
mật theo đúng danh mục bí mật của cơ quan và của ngành; đối với những văn bản
trình ký ở mức độ mật có tài liệu kèm theo, đơn vị soạn thảo văn bản phải trình
rõ mức độ mật cho từng loại tài liệu; người có thẩm quyền ban hành văn bản chịu
trách nhiệm quyết định mức độ mật, số lượng bản phát hành và phạm vi lưu hành
tài liệu mang bí mật nhà nước. Trong trường hợp cần lấy ý kiến xây dựng dự thảo
văn bản có nội dung bí mật đối với các cơ quan, đơn vị và cá nhân có liên quan
thì đơn vị soạn thảo văn bản phải xác định rõ phạm vi, đối tượng, phải đóng dấu
chỉ mức độ mật vào dự thảo trước khi xin ý kiến. Cơ quan, đơn vị, cá nhân nhận
được dự thảo phải thực hiện việc quản lý, sử dụng theo đúng độ mật đã ghi trên
dự thảo.
Danh mục bí mật nhà
nước được thủ trưởng các cơ quan, tổ chức trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của
mình tổ chức đối chiếu để xác định phạm vi bí mật nhà nước độ Tuyệt mật, Tối
mật, Mật của cơ quan, đơn vị, báo cáo theo hệ thống dọc đến người đứng đầu cơ
quan, tổ chức ở Trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương tập hợp, xem xét lập danh mục bí mật nhà nước theo quy định tại Nghị
định số 33/2002/NĐ-CP ngày 28/3/2002 của
Chính phủ. Danh mục bí mật nhà nước độ Tuyệt mật và Tối mật được gửi đến Bộ
Công an để thẩm định trước khi trình Thủ tướng Chính phủ quyết định. Danh mục
bí mật nhà nước độ Mật gửi Bộ trưởng Bộ Công an quyết định. Danh mục bí mật
được soát xét, sửa đổi vào quý I hàng năm theo đúng thủ tục và trình tự (Điều 3, Thông tư 33/2015/TT-BCA). Căn cứ xác định các
mức độ mật thực hiện theo điều 5, điều 6 và điều 7 của Pháp lệnh
bảo vệ bí mật nhà nước.
Hồ sơ được lập chứa các
văn bản mật được xếp vào danh mục hồ sơ hạn chế tiếp cận. Cán bộ lập hồ sơ căn
cứ vào danh mục bí mật của cơ quan và của ngành để đề xuất mức độ mật cho hồ
sơ. Thủ trưởng cơ quan là người
quyết định mức độ mật của hồ sơ.
2.2. In, sao, chụp hồ
sơ, tài liệu mật
Việc soạn thảo, đánh
máy, in, sao chụp các văn bản, hồ sơ, tài liệu... có nội dung bí mật nhà nước
phải được tiến hành ở nơi đảm bảo bí mật an toàn do Thủ trưởng cơ quan, đơn vị
trực tiếp quản lý tài liệu mật quy định. Trường hợp đặc biệt, khi có yêu cầu
phải được soạn thảo trên hệ thống trang thiết bị đã qua kiểm tra và đủ điều
kiện về đảm bảo an toàn, bảo mật. Không sử dụng máy tính, máy chuyên dùng đã
kết nối mạng Internet, hoặc sử dụng các thiết bị lưu giữ tài liệu (USB, thẻ
nhớ,...) để đánh máy, in, sao các loại tài liệu mật.
Người có trách nhiệm
in, sao chụp tài liệu, vật mang bí mật nhà nước chỉ được in, sao chụp đúng số
lượng văn bản đã được Thủ trưởng cơ quan, đơn vị hoặc người được ủy quyền phê
duyệt; với tài liệu đánh máy, in, sao chụp phải đánh số trang, ghi rõ số lượng
bản phát hành, phạm vi lưu hành, tên người đánh máy, in, sao, chụp tài liệu,
tuyệt đối không đánh máy thừa hoặc sao, chụp, in thừa. Sau khi đánh máy, in,
sao chụp xong phải kiểm tra lại, hủy ngay bản dư thừa và những bản đánh máy,
in, sao, chụp hỏng theo quy định chung. Đối với tài liệu bí mật nhà nước được
sao chụp ở dạng đĩa, phim... phải chuyển cho bộ phận Văn thư bảo mật niêm phong
và đóng dấu độ mật, ghi rõ tên người sao chụp ở bì niêm phong.
Những văn bản, tài liệu
thuộc các loại “Tuyệt Mật”, “Tối Mật” nếu có yêu cầu sao chụp hoặc chuyển sang
dạng tin khác phải được Thủ trưởng cơ quan, đơn vị nơi ban hành tài liệu gốc
đồng ý bằng văn bản và phải ghi rõ số lượng được phép sao chụp hoặc chuyển dạng
tin.
2.3. Phổ biến, nghiên
cứu hồ sơ, tài liệu mật
Việc phổ biến, nghiên
cứu hồ sơ, tài liệu mật được thực hiện theo đúng quy định tại điều
18 và 19 của Nghị định số 33/2002/NĐ-CP. Cụ thể như sau:
“Điều 18. Cung cấp tin thuộc phạm
vi bí mật nhà nước cho cơ quan, tổ chức, công dân Việt Nam
1. Người được giao
nhiệm vụ tìm hiểu, thu thập tin thuộc phạm vi bí mật nhà nước phải có giấy
chứng minh nhân dân kèm theo giấy giới thiệu của cơ quan ghi rõ nội dung, yêu
cầu tìm hiểu, thu thập và phải được cấp có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức lưu
giữ bí mật đồng ý.
2. Các cơ quan, tổ chức
lưu giữ bí mật nhà nước khi cung cấp tin thuộc phạm vi bí mật nhà nước cho cơ
quan, tổ chức, công dân Việt Nam phải được cấp có thẩm quyền duyệt theo quy
định sau:
a) Bí mật nhà nước độ
Tuyệt mật và Tối mật do người đứng đầu cơ quan, tổ chức ở Trung ương và
địa phương duyệt.
b) Bí mật nhà nước độ
Mật do cấp Cục trưởng (hoặc tương đương) ở các cơ quan, tổ chức ở Trung ương và Giám đốc sở (hoặc
tương đương) ở địa phương duyệt.
Điều 19. Bảo vệ bí mật nhà nước
trong quan hệ tiếp xúc với tổ chức, cá nhân nước ngoài
1. Cơ quan, tổ chức
công dân Việt Nam quan hệ tiếp xúc với tổ chức, cá nhân nước ngoài không được tiết
lộ bí mật nhà nước.
2. Khi tiến hành chương
trình hợp tác quốc tế hoặc thi hành công vụ nếu có yêu cầu phải cung cấp những
tin thuộc phạm vi bí mật nhà nước cho tổ chức, cá nhân nước ngoài phải tuân thủ
theo nguyên tắc:
a) Bảo vệ lợi ích quốc
gia.
b) Chỉ cung cấp những
tin được các cấp có thẩm quyền duyệt theo quy định sau:
+ Bí mật nhà nước thuộc
độ Tuyệt mật do Thủ tướng Chính phủ duyệt;
+ Bí mật nhà nước thuộc
độ Tối mật do Bộ trưởng Bộ Công an duyệt, riêng trong lĩnh vực quốc phòng do Bộ
trưởng Bộ Quốc phòng duyệt;
+ Bí mật nhà nước thuộc
độ Mật do người đứng đầu hoặc người được ủy quyền của cơ quan, tổ chức ở Trung
ương và địa phương duyệt.
c) Yêu cầu bên nhận tin
sử dụng đúng mục đích thỏa thuận và không được tiết lộ cho bên thứ ba.”
Việc nghiên cứu, sao
chụp hồ sơ, tài liệu mật chỉ thực hiện khi có ý kiến của lãnh đạo cơ quan, tổ
chức. Cơ quan, đơn vị và người thực hiện chỉ được cung cấp theo đúng nội dung đã
được duyệt. Bên nhận tin không làm lộ thông tin và không cung cấp thông tin đã
nhận cho bên khác. Nội dung buổi làm việc về cung cấp thông tin phải được thể
hiện chi tiết bằng biên bản để báo cáo với người đã duyệt cung cấp thông tin và
nộp lại bộ phận bảo mật của cơ quan, đơn vị. Trường hợp hồ sơ, tài liệu mật
được người có thẩm quyền cho phép khai thác sử dụng, bộ phận quản lý tài liệu
mật phải mở sổ riêng để theo dõi.
Việc phát ngôn, trao
đổi thông tin, trong hội thảo, trao đổi hồ sơ, tài liệu khoa học trong quá
trình hợp tác, tiếp xúc với tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi bí mật nhà nước, cơ
quan, tổ chức phải xin phép bằng văn bản cấp có thẩm quyền duyệt cho phép cung
cấp tin thuộc phạm vi bí mật nhà nước. Trong đó, nêu rõ người hoặc tổ chức cung
cấp tin; loại tin thuộc bí mật nhà nước sẽ cung cấp; tổ chức, cá nhân nước
ngoài sẽ nhận tin; phạm vi, mục đích sử dụng tin.
2.4. Vận chuyển, giao
nhận hồ sơ, tài liệu mật
2.4.1. Hồ sơ, tài liệu
mật gửi đi
- Trường hợp hồ sơ, tài
liệu mật gửi đi phải kèm theo Phiếu gửi và phải bỏ chung vào bì cùng với tài liệu.
Phiếu gửi phải ghi rõ nơi gửi, số phiếu, nơi nhận, số ký hiệu hồ sơ, từng tài
liệu gửi đi, đóng dấu độ mật, độ khẩn của tài liệu vào góc phải phía trên của
Phiếu gửi.
- Khi nhận hồ sơ, tài
liệu mật, nơi nhận phải hoàn ngay Phiếu gửi cho nơi đã gửi tài liệu mật.
- Làm bì: Hồ sơ, tài
liệu mật gửi đi không gửi chung trong một bì với tài liệu thường. Giấy làm bì
phải là loại giấy dai, khó bóc, khó thấm nước, không nhìn thấu qua được. Gấp bì
theo mối chéo, hồ dán phải dính, khó bóc.
Việc đóng dấu ký hiệu
các “độ mật” ngoài bì thực hiện như sau:
- Văn bản mật gửi đi
phải làm bì riêng. Mẫu con dấu A, B, C thực hiện theo quy định tại khoản 3, điều 7, Thông tư số 33/2015/TT-BCA (A11) ngày 20/7/2015
của Bộ Công an.
- Văn bản mật độ “Mật”
ngoài bì đóng dấu chữ 
- Văn bản mật độ “Tối
mật” ngoài bì đóng dấu chữ 
- Văn bản mật độ “Tuyệt
mật” gửi bằng hai bì:
+ Bì trong: Ghi rõ số ký
hiệu của hồ sơ, tài liệu, tên người nhận, đóng dấu “Tuyệt mật”. Nếu là tài
liệu, vật gửi đích danh người có trách nhiệm giải quyết thì đóng dấu “Chỉ có
người có tên mới được bóc bì”.
+ Bì ngoài: Ghi như gửi
tài liệu thường, đóng dấu ký hiệu chữ 
2.4.2. Giao, nhận hồ
sơ, tài liệu mật
Mọi trường hợp giao
nhận hồ sơ, tài liệu mật giữa các khâu (cá nhân soạn thảo, đánh máy, in, văn
thư, giao liên, người có trách nhiệm giải quyết, người lưu giữ, bảo quản...)
đều phải vào sổ có ký nhận giữa hai bên giao, nhận. Việc giao, nhận hồ sơ, tài
liệu mật phải được thực hiện trực tiếp tại nơi làm việc theo quy định của Thủ
trưởng cơ quan, đơn vị có hồ sơ, tài liệu mật.
2.4.3. Chuyển phát hồ
sơ, tài liệu mật
- Việc vận chuyển, giao
nhận hồ sơ, tài liệu mật ở trong nước do cán bộ làm công tác bảo mật hoặc cán
bộ giao liên riêng của cơ quan, tổ chức thực hiện. Nếu vận chuyển, giao nhận
theo đường bưu điện phải thực hiện theo quy định riêng của ngành bưu chính viễn
thông.
- Hồ sơ, tài liệu mật
khi mang ra nước ngoài phải có văn bản xin phép và được người đứng đầu hoặc
người được ủy quyền của cơ quan, tổ chức ở Trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân
tỉnh đồng ý; văn bản xin phép phải nêu rõ người mang hồ sơ, tài liệu thuộc phạm
vi bí mật nhà nước ra nước ngoài; hồ sơ, tài liệu sẽ mang đi; phạm vi, mục đích
sử dụng. Khi xuất cảnh phải trình văn bản xin phép có sự phê duyệt của cấp có
thẩm quyền cho cơ quan quản lý xuất nhập cảnh tại cửa khẩu. Vận chuyển, giao
nhận hồ sơ, tài liệu mật giữa các cơ quan, tổ chức trong nước với các cơ quan,
tổ chức ở nước ngoài do người làm giao liên ngoại giao thực hiện.
- Trường hợp truyền đưa
hồ sơ, tài liệu mật bằng phương tiện viễn thông và máy tính thì phải được mã
hóa theo quy định của pháp luật về cơ yếu.
- Khi vận chuyển hồ sơ,
tài liệu mật phải có đủ phương tiện bảo quản và lực lượng bảo vệ để đảm bảo an
toàn trong quá trình vận chuyển. Các hồ sơ, tài liệu mật phải được đựng trong
hòm sắt, cặp có khóa chắc chắn.
- Phương tiện vận
chuyển do Thủ trưởng cơ quan, đơn vị có hồ sơ, tài liệu mật quyết định và phải
chịu trách nhiệm nếu để xảy ra mất an toàn; trong mọi trường hợp phải có người có
trách nhiệm coi giữ cẩn thận, bảo đảm an toàn tuyệt đối các loại hồ sơ, tài
liệu mật.
Nơi gửi và nơi nhận hồ
sơ, tài liệu mật phải tổ chức kiểm tra, đối chiếu thường xuyên nhằm phát hiện
những sai sót, mất mát để xử lý kịp thời.
2.4.4. Thu hồi hồ sơ, tài
liệu mật
Những hồ sơ, tài liệu
mật có đóng dấu “Tài liệu thu hồi”, Văn thư phải theo dõi, thu hồi hoặc trả lại
nơi gửi đúng kỳ hạn. Khi nhận cũng như khi trả phải kiểm tra, đối chiếu, theo
dõi trong sổ sách bảo đảm hồ sơ, tài liệu không bị thất lạc.
2.5. Thống kê, lưu giữ,
bảo quản hồ sơ, tài liệu mật
Mọi tài liệu mật, vật
mang bí mật nhà nước, sổ quản lý và giao nhận văn bản mật phải được bảo quản
theo chế độ mật; lưu giữ, bảo quản chặt chẽ và sử dụng đúng mục đích. Tài liệu
mật, vật mang bí mật nhà nước sau khi xử lý xong phải được sắp xếp, lập hồ sơ,
cất vào tủ, hòm hoặc két sắt, không tự động mang ra khỏi cơ quan.
Cán bộ, công chức, viên
chức không tiết lộ cho cá nhân hoặc cơ quan không có trách nhiệm biết địa điểm đặt
kho tàng, nơi để hồ sơ, tài liệu mật; kế hoạch, phương án bảo vệ phòng cháy,
chữa cháy, địa điểm kho tàng, nơi để hồ sơ, tài liệu mật; sao chụp sơ đồ, mạng
lưới kho tàng và địa danh của các vùng kho, tổng kho, nơi cất giữ hồ sơ, tài
liệu mật. Không cho người không có trách nhiệm đến thăm, khảo sát hoặc chụp
ảnh, quay phim các vùng kho, tổng kho, nơi cất giữ hồ sơ, tài liệu mật khi chưa
được phép của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý địa điểm đó.
Khi xử lý văn bản, tài
liệu mật, người được giao tài liệu mật không tự ý mang tài liệu về nhà riêng.
Nếu phải xử lý gấp, phải báo cáo thủ trưởng cơ quan, đơn vị xem xét, quyết định
và làm thủ tục đăng ký làm việc ngoài giờ với Văn phòng cơ quan hoặc bảo vệ cơ
quan theo quy định.
Trường hợp cần thiết
phải mang tài liệu mật, vật mang bí mật nhà nước ra khỏi cơ quan, mang về nhà
riêng, đi công tác hoặc cho mượn thì phải được sự đồng ý của thủ trưởng cơ
quan, đơn vị, phải đăng ký với bộ phận bảo mật và có phương án bảo mật chặt
chẽ.
Thủ trưởng các cơ quan,
tổ chức trực tiếp quản lý bí mật nhà nước trong phạm vi quyền hạn của mình phải
thường xuyên kiểm tra, chỉ đạo việc lưu giữ, bảo quản và thực hiện báo cáo thống
kê tài liệu mật theo quy định. Tài liệu mật độ Tuyệt mật, Tối mật phải được lưu
giữ riêng, có phương tiện (tủ, két sắt...) bảo quản, bảo vệ bảo đảm an toàn.
3. Giải mật
Giải mật là việc xóa bỏ
hoàn toàn các mức độ mật được xác định trước đó của tài liệu. Có hai cách giải
mật đối với hồ sơ, tài liệu: giải mật theo quy trình, thủ tục và tự động giải
mật. Giải mật theo quy định là hoạt động xem xét việc xóa bỏ độ mật cho các hồ
sơ, tài liệu mang bí mật nhà nước. Đây là hoạt động được tiến hành thường xuyên
và phải tuân thủ theo đúng quy trình, thủ tục quy định. Trong khi đó, tự động
giải mật là hồ sơ, tài liệu mật được xác định từ khâu văn thư đến một thời hạn
nhất định sẽ được tự động xóa bỏ độ mật và không cần trải qua quy trình xem
xét, quyết định của cơ quan hoặc cá nhân có thẩm quyền. Hoạt động giải mật là
hoạt động chủ yếu diễn ra trong các lưu trữ cơ quan, tổ chức hay doanh nghiệp hoặc
lưu trữ lịch sử, nơi bảo quản các tài liệu lưu trữ hình thành trong hoạt động
của các cơ quan, tổ chức hay doanh nghiệp đó.
Khoản
4 và 5, điều 30 của Luật Lưu trữ năm 2011 đã quy định cụ thể về vấn đề này như sau:
“ Tài liệu lưu trữ
thuộc Danh mục tài liệu có đóng dấu chỉ các mức độ mật được sử dụng rộng rãi
trong các trường hợp sau đây:
a) Được giải mật theo
quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước;
b) Sau 40 năm, kể từ
năm công việc kết thúc đối với tài liệu có đóng dấu mật nhưng chưa được giải
mật;
c) Sau 60 năm, kể từ
năm công việc kết thúc đối với tài liệu có đóng dấu tối mật, tuyệt mật nhưng
chưa được giải mật.
Tài liệu liên quan đến
cá nhân được sử dụng rộng rãi sau 40 năm, kể từ năm cá nhân qua đời, trừ một số
trường hợp đặc biệt theo quy định của Chính phủ.”
Bên cạnh việc giải mật,
cũng tồn tại một dạng khác của công tác bảo mật hồ sơ, tài liệu mật, đó là tăng
mật, gia hạn độ mật và giảm độ mật. Tăng mật tài liệu, vật mang bí mật nhà nước
là tăng độ mật đã được xác định của tài liệu, vật mang bí mật nhà nước. Gia hạn độ mật là kéo
dài thời gian giữ độ mật đã được xác định của hồ sơ, tài liệu ngay cả khi hết
thời gian tối đa tự giải mật của hồ sơ, tài liệu đó. Giảm độ mật là việc hạ mức
độ mật đối với hồ sơ, tài liệu đã được xác định độ mật.
3.1. Sự cần thiết của
việc giải mật tài liệu
Việc Quốc hội thông qua
Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là sự
khẳng định về một trong những quyền quan trọng của công dân, đó là quyền tiếp
cận thông tin được quy định tại Hiến pháp nước
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Giải mật tài liệu chính là tạo cơ
hội cho công dân được khai thác và sử dụng rộng rãi thông tin trong hồ sơ, tài liệu lưu trữ
vào các mục đích chính đáng và hợp pháp của mình. Đây là một trong những quyền lợi tiến
bộ, một trong những biểu hiện của xã hội phát triển và văn minh. Thực hiện
quyền lợi này, người dân được biết hoạt động của bộ máy nhà nước, cụ thể là
những chủ trương, quyết định của chính quyền trong quá khứ. Tính dân chủ được
thực thi và trong những trường hợp nhất định có thể làm giảm những bức xúc
không đáng có trong dư luận xã hội, từ đó gia tăng niềm tin của nhân dân đối
với bộ máy chính quyền.
Ở một góc độ tiếp cận
khác, việc giải mật hồ sơ, tài liệu mật sẽ tác động ngược trở lại cho những
hoạt động của bộ máy nhà nước. Thông qua việc giải mật hồ sơ, tài liệu,
tính minh bạch, dân chủ, liêm chính… của nhà nước được đảm bảo từ việc ban hành
chủ trương, đường lối hay trong những quyết sách quan trọng liên quan đến quốc
gia, dân tộc đến việc thực thi, triển khai các quyết sách đó trên thực tế. Việc
giải mật chính là một động thái tích cực của nhà nước hướng tới người dân, thể
hiện sự tôn trọng của nhà nước đối với các quyền lợi cơ bản của người dân,
trong đó có quyền tiếp cận thông tin.
Dưới góc độ tiếp cận
của các lưu trữ, việc giải mật sẽ góp phần làm phong phú thêm thành phần,
nội dung hồ sơ, tài liệu được phục vụ khai thác, sử dụng của các lưu trữ.
Qua đó, có thể làm gia tăng sự quan tâm của xã hội nói chung, các nhà nghiên
cứu nói riêng đối với các lưu trữ. Mặt khác, để đảm bảo việc quản lý và bảo
quản hồ sơ, tài liệu mật một cách chặt chẽ theo đúng quy định, các lưu trữ cần
có những chế độ, phương tiện riêng. Và thực tế này khiến gia tăng những chi phí
cho các lưu trữ. Việc giải mật nếu được tiến hành thường xuyên sẽ giảm các áp
lực này đối với các lưu trữ.
3.2. Trách nhiệm giải
mật tài liệu
3.2.1. Đối với các lưu
trữ cơ quan, tổ chức hay doanh nghiệp
- Thủ trưởng cơ quan,
tổ chức, doanh nghiệp có trách nhiệm tổ chức giải mật hồ sơ, tài liệu của cơ
quan, tổ chức. Hội đồng giải mật tài liệu do thủ trưởng cơ quan lập ra, có
nhiệm vụ giúp thủ trưởng cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong việc thẩm định,
kết luận và ra quyết định về giải mật tài liệu.
- Chánh văn phòng (hoặc
Trưởng phòng Hành chính ở những nơi không có văn phòng) cơ quan, tổ chức có
trách nhiệm giúp thủ trưởng cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp xây dựng kế hoạch và
tổ chức thực hiện kế hoạch giải mật tài liệu của cơ quan, tổ chức hay doanh
nghiệp mình.
- Bộ phận Hành chính và
Lưu trữ cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch giải mật;
lập mục lục tài liệu và chuẩn bị tài liệu để đưa ra giải mật; làm báo cáo tình
hình tài liệu, đề xuất ý kiến, lý do giải mật cho từng tài liệu.
3.2.2. Đối với các Lưu
trữ lịch sử
Các Lưu trữ lịch sử có
trách nhiệm giúp các cơ quan quản lý ngành xây dựng kế hoạch và tổ chức thực
hiện kế hoạch giải mật tài liệu trong kho của mình; lập danh mục tài liệu dự
kiến giải mật; làm báo cáo tình hình tài liệu đưa ra xem xét để giải mật, đề
xuất ý kiến, lý do giải mật hoặc gia hạn độ mật cho từng tài liệu.
3.3. Nguyên tắc giải
mật tài liệu
Việc giải mật hồ sơ,
tài liệu cần tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
- Việc giải mật hồ sơ,
tài liệu phải xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ lợi ích và an ninh của quốc gia,
dân tộc và bảo vệ bí mật của từng cơ quan. Những hồ sơ, tài liệu được xác định
độ mật khác nhau đều liên quan chặt chẽ đến việc bảo vệ lợi ích, an ninh và sự
an toàn của quốc gia, dân tộc hay của cơ quan, tổ chức hay doanh nghiệp. Đây là
những lợi ích tối thượng, bất khả xâm phạm nên cần được đảm bảo tốt nhất có
thể. Do vậy, tất cả mọi quyết định giải mật, dù chỉ một tài liệu đơn lẻ, đều
phải được suy xét và dự báo trước những rủi ro gây nguy hại đến các lợi ích nói
trên. Hay nói cách khác, việc giải mật một hồ sơ, tài liệu đều luôn phải ưu tiên
đứng trên lập trường của quốc gia, dân tộc, của Đảng hay của các cơ quan, tổ
chức hay doanh nghiệp để quyết định.
- Việc giải mật hồ sơ,
tài liệu cần tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật của Nhà nước, quy chế
công tác về bảo vệ bí mật của từng cơ quan. Nhà nước đã có những quy định về
trách nhiệm, quy trình, thủ tục… liên quan đến việc giải mật hồ sơ, tài liệu.
Mỗi cơ quan, tổ chức hay doanh nghiệp cũng có những quy định bổ sung riêng phù
hợp với đặc thù cua từng cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đó. Những quy định này
đều rất chặt chẽ và được xây dựng, ban hành nhằm đảm bảo việc giải mật hồ sơ,
tài liệu đạt được mục đích đề ra, tránh nguy cơ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến
các lợi ích của các đối tượng khác nhau. Ngoài ra, việc tuân thủ các quy trình,
thủ tục này giúp việc xác định trách nhiệm một cách dễ dàng nếu việc giải mật
hồ sơ, tài liệu gây ra hậu quả đối với quốc gia, dân tộc hay đối với từng cơ
quan, tổ chức, doanh nghiệp.
3.4. Quy trình giải mật
tài liệu
Căn cứ khoản
5, điều 12 của Thông tư 33/2015/TT-BCA ban hành ngày 20 tháng 7 năm 2015,
quy trình giải mật, giảm mật, tăng mật tài liệu, vật mang bí mật nhà nước do
các cơ quan, tổ chức soạn thảo được tiến hành như sau:
a) Sau khi tiến hành rà
soát các tài liệu, vật mang bí mật nhà nước cần giải mật, giảm mật, tăng mật,
đơn vị được giao chủ trì soạn thảo thành lập Hội đồng giải mật, giảm mật, tăng
mật, bao gồm: Lãnh đạo đơn vị chủ trì soạn thảo làm chủ tịch Hội đồng; đại diện
bộ phận trực tiếp soạn thảo tài liệu, vật mang bí mật nhà nước mật và đại diện
các bộ phận khác có liên quan.
Hội đồng giải mật, giảm
mật, tăng mật làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số và tự giải
thể sau khi tiến hành giải mật, giảm mật, tăng mật;
b) Hội đồng giải mật,
giảm mật, tăng mật có trách nhiệm nghiên cứu, xem xét, đánh giá đề xuất người
đứng đầu cơ quan, tổ chức quyết định việc giải mật, giảm mật, tăng mật.
Trong trường hợp cần
thiết, Hội đồng giải mật, giảm mật, tăng mật có thể xin ý kiến tham gia của cơ
quan, tổ chức có liên quan;
c) Danh mục tài liệu,
vật mang bí mật nhà nước đề nghị giải mật, giảm mật, tăng mật của Hội đồng phải
được thể hiện bằng văn bản. Quá trình giải mật, giảm mật, tăng mật phải được
lập thành hồ sơ và lưu giữ tại đơn vị tiến hành giải mật, giảm mật, tăng mật.
Hồ sơ giải mật, giảm
mật, tăng mật tài liệu, vật mang bí mật nhà nước bao gồm: Quyết định thành lập
Hội đồng giải mật, giảm mật, tăng mật; danh mục các tài liệu, vật mang bí mật
nhà nước đề nghị giải mật, giảm mật, tăng mật; bản thuyết minh về việc giải
mật, giảm mật, tăng mật; biên bản họp Hội đồng; quyết định giải mật, giảm mật,
tăng mật; ý kiến tham gia của các cơ quan chức năng và các tài liệu khác có
liên quan;
d) Sau khi có quyết
định giải mật, giảm mật, tăng mật, văn thư có trách nhiệm đóng dấu giải mật, giảm
mật, tăng mật theo quy định;
e) Sau 15 ngày kể từ
khi tài liệu, vật mang bí mật nhà nước được giải mật, giảm mật, tăng mật, đơn
vị tiến hành giải mật có trách nhiệm thông báo cho các cơ quan, tổ chức đã nhận
tài liệu biết để thực hiện đóng dấu giải mật, giảm mật, tăng mật đối với tài
liệu do mình quản lý.
Căn cứ Khoản
4, Điều 13 của Thông tư 33/2015/TT-BCA ban hành ngày 20 tháng 7 năm 2015,
quy trình giải mật, giảm mật, tăng mật tài liệu, vật mang bí mật nhà nước do
Lưu trữ lịch sử được tiến hành như sau:
a) Sau khi tiến hành rà
soát các tài liệu lưu trữ cần giải mật, người đứng đầu cơ quan thực hiện nhiệm
vụ quản lý nhà nước về văn thư, lưu trữ thành lập Hôi đồng giải mật tài liệu
lưu trữ tại Lưu trữ lịch sử cùng cấp, bao gồm: Lãnh đạo cơ quan thực hiện nhiệm
vụ quản lý nhà nước về văn thư, lưu trữ làm Chủ tịch Hội đồng; lãnh đạo đơn vị
trực tiếp bảo quản tài liệu lưu trữ và đại diện các cơ quan, tổ chức có tài
liệu nộp lưu được giải mật.
Hội đồng giải mật làm
việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số và tự giải thể sau khi tiến
hành giải mật;
b) Hội đồng giải mật
tài liệu lưu trữ tại Lưu trữ lịch sử các cấp có trách nhiệm nghiên cứu tài
liệu, xem xét, đánh giá đề xuất người đứng đầu cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản
lý nhà nước về văn thư, lưu trữ cùng cấp quyết định việc giải mật tài liệu lưu
trữ.
Đối với các tài liệu
lưu trữ lịch sử thuộc độ Tuyệt mật thì trước khi tiến hành giải mật Hội đồng
phải có trách nhiệm xin ý kiến của các Bộ, ngành có liên quan trước khi báo cáo
lãnh đạo có thẩm quyền quyết định;
c) Quá trình giải mật
tài liệu lưu trữ phải được lập thành hồ sơ và lưu giữ tại cơ quan, tổ chức thực hiện
nhiệm vụ giải mật.
Hồ sơ giải mật tài liệu
lưu trữ bao gồm: Quyết định thành lập Hội đồng giải mật tài liệu lưu trữ; danh mục
tài liệu đề nghị giải mật; bản thuyết minh về việc giải mật; biên bản họp Hội
đồng; Quyết định giải mật; ý kiến tham gia của các cơ quan, tổ chức và các tài
liệu khác có liên quan;
d) Sau khi có quyết
định giải mật tài liệu lưu trữ, văn thư có trách nhiệm đóng dấu giải mật theo
quy định;
e) Việc thông báo danh mục
tài liệu lưu trữ đã được giải mật thực hiện theo quy định của pháp luật lưu
trữ.
Tóm lại, hoạt động giải
mật hồ sơ, tài liệu thường trải qua 07 bước như sau:
Bước 1: Xây dựng kế hoạch
giải mật. Kế hoạch giải mật là bảng dự kiến các công việc phải làm liên
quan đến việc giải mật hồ sơ, tài liệu kèm theo trách nhiệm thực hiện của các
cá nhân, bộ phận liên quan.
Đối với việc giải mật ở
lưu trữ cơ quan, cuối năm dương lịch, bộ phận Hành chính hay Lưu trữ cơ quan,
tổ chức tiến hành xây dựng kế hoạch giải mật hồ sơ, tài liệu và trình lên Chánh
Văn phòng (hoặc Trường phòng Hành chính). Thủ trưởng cơ quan là người xem xét
và quyết định việc thực hiện kế hoạch này.
Đối với các Lưu trữ
lịch sử: các Lưu trữ lịch sử lập kế hoạch, đệ trình lên cơ quan quản lý ngành
lưu trữ và các cơ quan đơn vị hình thành phông có hồ sơ, tài liệu dự kiến giải
mật.
Bước 2: Lập mục lục tài
liệu; báo cáo tình hình tài liệu và đề xuất giải mật tài liệu; chuẩn bị các tài
liệu để trình Hội đồng giải mật tài liệu xem xét. Trưởng bộ phận lưu trữ cơ
quan, tổ chức, doanh nghiệp hay Giám đốc các Lưu trữ lịch sử thực hiện việc lập
mục lục đề xuất các tài liệu đã đến niên hạn giải mật; phương pháp giải mật
(theo quy định hay tự giải mật); thuyết minh lý do giải mật cho từng hồ sơ, tài
liệu trong mục lục.
Bước 3: Lập Hội đồng giải
mật tài liệu.
Hội đồng giải mật tài
liệu được thành lập theo kế hoạch tổ chức giải mật tài liệu của cơ quan, tổ
chức; Hội đồng tự giải thể sau khi hoàn thành nhiệm vụ.
- Thành phần Hội đồng
giải mật tài liệu của cơ quan, tổ chức gồm:
+ Đại diện lãnh đạo cơ
quan, tổ chức - Chủ tịch Hội đồng.
+ Lãnh đạo Văn phòng -
Phó Chủ tịch Hội đồng.
+ Trưởng bộ phận Hành
chính - Văn thư - Ủy viên.
+ Đại diện các đơn vị
trong cơ quan, tổ chức có tài liệu liên quan được giải mật
- Ủy viên.
+ Trưởng bộ phận Lưu
trữ - Thư ký Hội đồng.
- Thành phần Hội đồng
giải mật tài liệu của Lưu trữ lịch sử gồm:
+ Đại diện lãnh đạo cơ
quan quản lý ngành nội vụ - Chủ tịch Hội đồng.
+ Lãnh đạo cơ quan quản
lý ngành lưu trữ - Phó Chủ tịch Hội đồng.
+ Giám đốc Lưu trữ lịch
sử - Ủy viên.
+ Đại diện các đơn vị
trong cơ quan, tổ chức có tài liệu liên quan được giải mật
- Ủy viên.
+ Trưởng bộ phận Lưu
trữ lịch sử - Thư ký Hội đồng
Nhiệm vụ của Hội đồng
giải mật: Trên cơ sở báo cáo, mục lục tài liệu và các tài liệu đề nghị giải mật
do bộ phận hành chính hoặc bộ phận lưu trữ trình, Hội đồng giải mật tài liệu tổ
chức xem xét, thẩm định nội dung và kết luận về giải mật, giảm độ mật hoặc gia
hạn độ mật (chưa giải mật) đối với từng tài liệu; xây dựng báo cáo và lập mục
lục tài liệu đề nghị giải mật, tài liệu đề nghị chưa được giải mật, tài liệu
được giải mật nhưng nội dung có tính nội bộ đề nghị hạn chế sử dụng không được
công bố rộng rãi; dự thảo quyết định giải mật hoặc gia hạn độ mật (chưa giải
mật) trình thủ trưởng cơ quan xem xét, quyết định.
Bước 4: Hội đồng giải mật
tài liệu tiến hành thẩm định tài liệu được đề xuất giải mật; làm báo cáo trình
thủ trưởng cơ quan, tổ chức hoặc thủ trưởng cơ quan quản lý ngành có thẩm
quyền.
Bước 5: Thủ trưởng cơ
quan, tổ chức hoặc thủ trưởng cơ quan quản lý ngành có thẩm quyền xem xét báo
cáo, mục lục tài liệu và tài liệu do Hội đồng giải mật tài liệu trình; quyết
định giải mật (hoặc chưa giải mật) tài liệu.
Bước 6: Đóng dấu xác
nhận giải mật cho từng tài liệu.
Tài liệu giải mật đã
được xóa bỏ độ mật hoàn toàn phải được đóng dấu xác nhận “Đã giải mật” (gọi tắt
là dấu giải mật).
- Dấu giải mật do cơ
quan, tổ chức khắc theo mẫu quy định thống nhất, sử dụng cho các lần giải mật
tài liệu.
- Nội dung của dấu giải
mật ghi rõ tên cơ quan, tổ chức chữ ĐÃ GIẢI MẬT và thời gian ra quyết định giải
mật tài liệu.
- Sử dụng con dấu: dấu
giải mật được đóng trực tiếp vào tài liệu, ở vị trí phía trên, bên trái của tài
liệu, dưới vị trí dấu chỉ độ mật cũ của tài liệu hoặc vào khoảng trống dưới
thời gian văn bản. Trường hợp giải mật cả hồ sơ (đơn vị bảo quản) thì đóng thêm
dấu giải mật lên bìa hồ sơ, phía trên tiêu đề hồ sơ.
Để thuận tiện cho công
tác quản lý và khai thác sử dụng tài liệu, cần chú giải việc giải mật tài liệu
vào các công cụ thống kê tài liệu (mục lục tài liệu trong các hồ sơ, bản ghi
trong các cơ sở dữ liệu văn kiện, mục lục hồ sơ…).
Bước 7: Lập hồ sơ giải
mật tài liệu.
Toàn bộ tài liệu liên
quan đến quá trình giải mật hồ sơ, tài liệu phải được lập hồ sơ đầy đủ. Hồ sơ giải
mật gồm:
+ Kế hoạch giải mật.
+ Báo cáo tình hình tài
liệu, mục lục tài liệu đề xuất giải mật.
+ Quyết định thành lập
Hội đồng giải mật.
+ Biên bản họp Hội đồng
giải mật.
+ Báo cáo của Hội đồng
giải mật trình thủ trưởng cơ quan, tổ chức hoặc thủ trưởng cơ quan quản lý
ngành có thẩm quyền kèm theo mục lục tài liệu đề nghị giải mật và mục lục tài
liệu đề nghị chưa giải mật, tài liệu hạn chế sử dụng (nếu có).
+ Quyết định của thủ
trưởng cơ quan, tổ chức hoặc thủ trưởng cơ quan quản lý ngành có thẩm quyền về
giải mật tài liệu (nội dung bao gồm tài liệu được giải mật, tài liệu chưa được
giải mật và tài liệu hạn chế sử dụng).
Hồ sơ giải mật được
quản lý theo chế độ quản lý tài liệu có thời hạn bảo quản vĩnh viễn.
Tài liệu, vật mang bí
mật nhà nước sẽ tự động giải mật trong các trường hợp sau:
a) Đăng tải trên trang
thông tin điện tử của cơ quan, đơn vị;
b) Công bố trên phương
tiện thông tin đại chúng;
c) Đăng Công báo;
d) Niêm yết tại trụ sở
cơ quan, đơn vị hoặc tại các địa điểm khác;
e) Các hình thức công
bố công khai khác.
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
1. Ban chấp hành Trung
ương, Quy định số 212-QĐ/TW ngày 16-3-2009 về giải mật tài liệu của các cơ
quan, tổ chức trước khi nộp lưu vào Kho Lưu trữ Trung ương Đảng và tài liệu của
Kho Lưu trữ Trung ương Đảng.
2. Bộ Công an, Thông tư
số 33/2015/TT-BCA ngày 20 tháng 7 năm 2015
hướng dẫn thực hiện Nghị định số 33/2002/NĐ-CP
ngày 28 tháng 3 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh bảo vệ bí mật nhà nước
3. Chính phủ,: Nghị
định số 33/2002/NĐ-CP ngày 28 tháng 3 năm
2002 quy
định
chi tiết thi hành Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà
nước.
4. Quốc hội, Luật số 01/2011/QH13 ngày 11/11/2011 ban hành Luật lưu trữ, Hà Nội năm 2011.
5. Quốc hội, Luật số 104/2016/QH13 ngày 06/4/2016 ban hành Luật tiếp cận thông tin, Hà Nội
năm 2006.
6. Sở Nội vụ tỉnh Sơn
La, Hướng dẫn số 373/HD-SNV ngày 16 tháng 4
năm 2015 thực hiện công
tác bảo vệ bí mật nhà nước trong công tác văn thư, lưu trữ.
7. Ủy ban thường vụ
Quốc hội, Pháp lệnh số 30/2000/PL-UBTVQH10
ngày 28/12/2000 ban hành
Pháp lện bảo vệ bí mật Nhà nước.
8. Văn phòng Trung ương
Đảng, Hướng dẫn số 10-HD/VPTW ngày 13 tháng 12 năm 2011 thực hiện Quy định số 212-QĐ/TW,
ngày 16-3-2009 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về giải mật tài liệu.
CÂU
HỎI ÔN TẬP, THẢO LUẬN
1. Nhận xét về tình hình
thực hiện việc bảo mật hồ sơ, tài liệu của cơ quan anh, chị đang công tác?
2. Việc tiết lộ nội
dung một văn bản đang tiến hành thủ tục ban hành (ở khâu văn thư) có bị coi là tiết
lộ bí mật cơ quan hay không? Tại sao?
3. Anh, chị hãy cho
biết những thông tin gì thuộc danh mục Bí mật Nhà nước của cơ quan anh, chị
đang công tác?
4. Anh, chị phân tích
mối quan hệ giữa Luật tiếp cận thông tin và
vấn đề giải mật tài liệu? Cho ví dụ minh họa?
5. Anh, chị hãy đề xuất
xây dựng khung văn bản quy định về bảo mật hồ sơ, tài liệu của cơ quan anh, chị
đang công tác.
Chuyên
đề 16: Chuyên đề báo cáo
THỰC TIỄN THỰC HIỆN NGHIỆP VỤ LƯU TRỮ TRONG CƠ QUAN, TỔ
CHỨC
1. Mục đích
Chuyên đề báo cáo giúp
học viên liên hệ, vận dụng, đối chiếu, so sánh giữa lý thuyết được cung cấp trong
Phần kiến thức, kỹ năng với thực tiễn công tác tại cơ quan, tổ chức.
2. Yêu cầu
2.1. Đối với Ban tổ
chức lớp học
- Cần lựa chọn nội dung
chuyên đề báo cáo phù hợp với đối tượng học viên của lớp.
- Yêu cầu báo cáo viên
chuẩn bị nội dung và xây dựng kế hoạch cụ thể.
2.2. Đối với báo cáo
viên
- Báo cáo viên trình
bày chuyên đề có thể là: Các nhà quản lý, nhà khoa học, giảng viên của Cục Văn
thư và Lưu trữ Nhà nước, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn. Báo cáo viên phải là người có nhiều kinh nghiệm quản lý,
nghiên cứu thực tiễn tổ chức hoạt động lưu trữ và có khả năng sư phạm tốt.
- Thiết kế chuyên đề
báo cáo theo hình thức tọa đàm, có phần trình bày chung, phần trao đổi - thảo
luận, phần tóm tắt, kết luận nội dung và rút ra những bài học kinh nghiệm. Có
thể kết hợp với đi khảo sát thực tế.
3. Nội dung
Học viên có thể lựa
chọn 1 nội dung của chuyên đề trong phần Kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp.
- Độ dài từ 10 đến 15
trang A4 (không kể trang bìa, tài liệu tham khảo và phụ lục), sử dụng phông
chức Times New Roman, cỡ chữ 14, cách dòng 1,5.
- Có phân tích, đánh
giá, ý kiến nêu ra cần có số liệu minh chứng rõ ràng.
3.1. Khái quát về cơ
quan, tổ chức và bộ phận tổ chức hoạt động công tác lưu trữ tại cơ quan, tổ
chức
- Giới thiệu khái quát
cơ quan, tổ chức
- Giới thiệu về đội ngũ
viên chức lưu trữ của cơ quan, tổ chức
3.2. Thực trạng thực
hiện nghiệp vụ lưu trữ trong cơ quan, tổ chức
- Thực trạng
- Đánh giá
- Nguyên nhân
3.3. Giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả thực hiện nghiệp vụ lưu trữ trong cơ quan, tổ chức
- Nhóm giải pháp chung
- Nhóm giải pháp cụ thể
MỤC
LỤC
|
STT
|
CHUYÊN ĐỀ
|
TRANG
|
|
PHẦN I: KIẾN THỨC CHUNG
|
|
1
|
Nhà nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
|
|
|
2
|
Pháp luật và
thực hiện pháp luật trong Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
|
|
|
3
|
Viên chức và
văn hoá công sở
|
|
|
4
|
Tiêu chuẩn
chức danh Lưu trữ viên trung cấp và đạo đức nghề nghiệp
|
|
|
5
|
Thủ tục hành
chính
|
|
|
6
|
Chuyên đề báo
cáo: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan, tổ chức trong công
tác lưu trữ.
|
|
|
PHẦN II: KIẾN THỨC KỸ NĂNG, NGHỀ NGHIỆP
|
|
7
|
Kỹ năng soạn
thảo văn bản hành chính
|
|
|
8
|
Nghiệp vụ lập
hồ sơ và nộp lưu hồ sơ, tài liệu vào lưu trữ cơ quan
|
|
|
9
|
Nghiệp vụ thu
thập và xác định giá trị tài liệu.
|
|
|
10
|
Nghiệp vụ
chỉnh lý tài liệu
|
|
|
11
|
Nghiệp vụ bảo
quản tài liệu lưu trữ.
|
|
|
12
|
Nghiệp vụ tổ chức
khai thác, sử dụng tài liệu lưu
|
|
|
13
|
Nghiệp vụ
thống kê trong công tác lưu trữ
|
|
|
14
|
Ứng dụng công
nghệ thông tin trong quản lý hồ sơ, tài liệu
|
|
|
15
|
Bảo mật hồ
sơ, tài liệu
|
|
|
16
|
Chuyên đề báo
cáo: Thực tiễn thực hiện nghiệp vụ lưu trữ trong cơ quan, tổ chức
|
|