NGHỊ QUYẾT
SỬA
ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ QUYẾT SỐ 81/2023/QH15 NGÀY 09 THÁNG 01 NĂM
2023 CỦA QUỐC HỘI VỀ QUY HOẠCH TỔNG THỂ QUỐC GIA THỜI KỲ 2021 - 2030, TẦM NHÌN
ĐẾN NĂM 2050
QUỐC HỘI
Căn cứ Hiến pháp
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Căn cứ Luật Tổ chức
Quốc hội số 57/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 65/2020/QH14 và Luật số 62/2025/QH15;
Căn cứ Luật Quy hoạch
số 21/2017/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 28/2018/QH14, Luật số 35/2018/QH14 và Luật số 57/2024/QH15;
Căn cứ Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 09 tháng 01 năm 2023 của Quốc
hội về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050;
Sau khi xem xét Tờ trình số 1018/TTr-CP ngày 31
tháng 10 năm 2025 của Chính phủ về điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia thời
kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; Báo cáo thẩm tra số 1427/BC-UBKTTC15
ngày 05 tháng 11 năm 2025 của Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội; Báo cáo
tiếp thu, giải trình số 1197/BC-CP ngày 09 tháng 12 năm 2025 của Chính phủ; ý
kiến của các vị đại biểu Quốc hội,
QUYẾT NGHỊ:
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một
số điều của Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 09 tháng 01 năm 2023 của Quốc hội về
Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
1. Sửa đổi, bổ sung Điều 2 như sau:
“Điều 2. Quan điểm, tầm nhìn, mục tiêu phát triển
và những nhiệm vụ trọng tâm trong thời kỳ quy hoạch
1. Quan điểm phát triển và tổ chức không gian phát
triển thời kỳ 2021 - 2030
a) Quan điểm phát triển
- Phải có tư duy và tầm nhìn chiến lược, dài hạn,
chủ động kiến tạo, đột phá phát triển; lấy phát triển để duy trì ổn định, ổn định
để thúc đẩy phát triển. Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước, lấy
khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh làm động
lực chính.
- Phát huy tối đa lợi thế của quốc gia, vùng, địa
phương; phát triển hài hòa giữa kinh tế với văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường,
thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo đảm quốc phòng, an ninh.
- Cải cách, nâng cao chất lượng thể chế và thực thi
pháp luật hiệu lực, hiệu quả phải thực sự trở thành đột phá để thúc đẩy phát
triển đất nước nhanh, bền vững. Thị trường đóng vai trò quyết định trong huy động,
phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Phát triển nhanh, hài hòa các khu vực
kinh tế và các loại hình doanh nghiệp; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng
nhất của nền kinh tế quốc gia.
- Khơi dậy và hiện thực hóa khát vọng phát triển;
phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân
tộc, nêu cao ý chí tự tin, tự chủ, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc trong xây dựng
đất nước phồn vinh, dân chủ, công bằng, văn minh và hạnh phúc. Phát huy tối đa
nhân tố con người, lấy con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất
và là mục tiêu của sự phát triển; mọi chính sách đều phải hướng tới nâng cao đời
sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của người dân; coi văn hóa là trụ cột
trong phát triển bền vững, lấy giá trị văn hóa, con người Việt Nam là nền tảng,
sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững.
- Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ phải trên cơ
sở phát triển đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số,
làm chủ công nghệ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, đa dạng hóa thị trường,
nâng cao khả năng thích ứng, chống chịu của nền kinh tế. Phát triển lực lượng sản
xuất mới, hình thành năng lực sản xuất quốc gia trình độ cao để tham gia hiệu
quả, cải thiện vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu. Phát huy nội lực là cơ bản,
chiến lược, lâu dài, là yếu tố quyết định; ngoại lực và sức mạnh thời đại là yếu
tố quan trọng, đột phá. Lấy nguồn lực nhà nước khơi dậy, dẫn dắt nguồn lực xã hội.
Không ngừng tăng cường tiềm lực kinh tế, phát triển lực lượng doanh nghiệp của
người Việt Nam ngày càng lớn mạnh, có sức cạnh tranh quốc tế.
b) Quan điểm về tổ chức không gian phát triển
- Không gian phát triển quốc gia phải được tổ chức
hiệu quả, thống nhất trên quy mô toàn quốc, chú trọng khai thác hiệu quả không
gian phát triển mới do sắp xếp các đơn vị hành chính mang lại; bảo đảm liên kết
nội vùng, liên vùng, khu vực và quốc tế gắn với khai thác lợi thế so sánh của
quốc gia, từng vùng, từng địa phương trong vùng nhằm huy động, phân bổ và sử dụng
hiệu quả các nguồn lực, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, bảo đảm mức tăng
trưởng kinh tế hai con số trong nhiều năm.
- Phát triển có trọng tâm, trọng điểm, tập trung
vào một số địa bàn có điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý, kết cấu hạ tầng
kinh tế, xã hội, nguồn nhân lực chất lượng cao và các tiềm năng, lợi thế khác
cho phát triển để hình thành vùng động lực, hành lang kinh tế, cực tăng trưởng,
tạo hiệu ứng lan tỏa thúc đẩy kinh tế cả nước phát triển nhanh, hiệu quả và bền
vững; đồng thời, có cơ chế, chính sách, nguồn lực phù hợp với điều kiện của nền
kinh tế để bảo đảm an sinh xã hội, cung cấp các dịch vụ công cho các khu vực
khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đặc biệt là dịch vụ về y
tế, giáo dục, từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển với các địa bàn thuận lợi.
- Sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên, nhất là
tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên rừng, tài nguyên biển và các loại
khoáng sản; bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước;
phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên
nhiên và nâng cao chất lượng đa dạng sinh học; chủ động phòng, chống thiên tai,
thích ứng với biến đổi khí hậu.
- Tổ chức không gian phát triển quốc gia, các vùng,
hành lang kinh tế, hệ thống đô thị phải gắn với phát triển hệ thống kết cấu hạ
tầng đồng bộ, từng bước hiện đại và phát triển hài hòa khu vực đô thị, nông
thôn. Sớm hình thành các trục giao thông và hành lang kinh tế kết nối các đô thị
lớn tại các tỉnh, thành phố sau sáp nhập.
- Tổ chức không gian phát triển quốc gia phải gắn kết
giữa khu vực đất liền với không gian biển; quản lý, khai thác và sử dụng hiệu
quả không gian ngâm, vùng biển, vùng trời. Khai thác hiệu quả tài nguyên số,
không gian số. Chú trọng việc kết nối các hành lang kinh tế trong nước với các
hành lang kinh tế của khu vực và quốc tế. Kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát
triển kinh tế, văn hóa, xã hội với bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống
nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an
ninh.
2. Tầm nhìn đến năm 2050
Là quốc gia hùng cường, hưng thịnh, hạnh phúc; nước
phát triển, thu nhập cao, có thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa đầy đủ, đồng bộ, hiện đại, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; quản trị
xã hội trên nền tảng xã hội số hoàn chỉnh. Nền kinh tế vận hành theo phương thức
của kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo là động lực tăng trưởng chủ yếu. Việt Nam thuộc nhóm các nước công
nghiệp phát triển hàng đầu khu vực châu Á; là một trung tâm tài chính khu vực
và quốc tế; phát triển kinh tế nông nghiệp sinh thái giá trị cao thuộc nhóm
hàng đầu thế giới; có vị thế vững chắc và vai trò quan trọng trong chuỗi giá trị
khu vực và toàn cầu. Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, một trung tâm kinh
tế biển của khu vực châu Á - Thái Bình Dương; tham gia chủ động, có trách nhiệm
vào giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực về biển và đại dương. Quốc phòng,
an ninh được bảo đảm vững chắc.
Người dân được thụ hưởng các dịch vụ xã hội chất lượng
cao; hệ thống an sinh xã hội bền vững; dịch vụ trợ giúp xã hội đa dạng và
chuyên nghiệp, kịp thời hỗ trợ và bảo vệ các đối tượng dễ bị tổn thương. Các
giá trị, bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc được giữ gìn, phát huy, thống nhất
trong đa dạng; công nghiệp văn hóa phát triển mạnh, tạo ra các sản phẩm, dịch vụ
văn hóa có thương hiệu, uy tín và tầm ảnh hưởng trong khu vực và quốc tế.
Hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, thích ứng
hiệu quả với nước biển dâng và tác động của biến đổi khí hậu. Các vùng phát triển
hài hoà, bền vững, khai thác hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh.
Hệ thống đô thị liên kết thành mạng lưới đồng bộ,
thống nhất, có khả năng chống chịu, thích ứng với biến đổi khí hậu, kiến trúc
tiêu biểu, giàu bản sắc, xanh, văn minh, hiện đại, thông minh. Xây dựng được ít
nhất 5 đô thị ngang tầm quốc tế, giữ vai trò là đầu mối kết nối và phát triển với
mạng lưới đô thị khu vực và quốc tế.
Nông thôn hiện đại, có điều kiện sống tiệm cận với
đô thị, môi trường sống xanh, sạch, đẹp, giàu bản sắc văn hóa dân tộc.
Môi trường có chất lượng tốt, xã hội hài hoà với
thiên nhiên, phát triển hiệu quả theo hướng các-bon thấp; phấn đấu nhanh nhất đạt
mục tiêu giảm phát thải ròng của quốc gia về “0” vào năm 2050. Năng lực dự báo,
cảnh báo thiên tai, giám sát biến đổi khí hậu, quản lý rủi ro thiên tai tương
đương với các nước phát triển.
Giai đoạn 2031 - 2050, phấn đấu tốc độ tăng trưởng
GDP bình quân khoảng 7,0 - 7,5%/năm. Đến năm 2050, GDP bình quân đầu người theo
giá hiện hành đạt khoảng 38.000 USD; tỷ lệ đô thị hóa đạt 70 - 75%; chỉ số phát
triển con người (HDI) đạt trên 0,85.
3. Mục tiêu phát triển đến năm 2030
a) Mục tiêu tổng quát
Phấn đấu đến năm 2030 là nước đang phát triển có
công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; xác lập mô hình tăng trưởng mới,
lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính;
mô hình tổ chức không gian phát triển quốc gia hiệu quả, thống nhất, bền vững,
các vùng động lực, hành lang kinh tế, cực tăng trưởng phát huy vai trò đi đầu,
dẫn dắt trong phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc
gia; có mạng lưới kết cấu hạ tầng cơ bản đồng bộ, hiện đại; bảo đảm các cân đối
lớn, nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế; bảo đảm an ninh năng lượng,
an ninh lương thực và an ninh nguồn nước; môi trường sinh thái được bảo vệ,
thích ứng với biến đổi khí hậu; phát triển toàn diện nguồn nhân lực, đời sống vật
chất, tinh thần của Nhân dân được nâng cao; quốc phòng, an ninh được bảo đảm; vị
thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên.
b) Mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể
- Về kinh tế
Phấn đấu tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước
(GDP) bình quân đạt trên 8,0%/năm thời kỳ 2021 - 2030; trong đó giai đoạn 2026
- 2030 đạt từ 10%/năm trở lên. Đến năm 2030, GDP bình quân đầu người theo giá
hiện hành đạt khoảng 8.500 USD. Tỷ trọng trong GDP của khu vực dịch vụ đạt trên
50%; khu vực công nghiệp - xây
dựng trên 40% (trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo khoảng 28%), khu vực
nông, lâm, thủy sản dưới 10%. Tốc độ tăng năng suất lao động xã hội bình quân đạt
khoảng 7%/năm thời kỳ 2021 - 2030; trong đó giai đoạn 2026 - 2030 đạt trên
8,5%/năm. Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt
trên 55%.
Tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo đạt mức tiên tiến ở nhiều lĩnh vực quan trọng, thuộc nhóm dẫn đầu
trong các nước có thu nhập trung bình cao. Nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học,
phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo đạt 12 người trên một vạn dân; có từ 40
- 50 tổ chức khoa học và công nghệ được xếp hạng khu vực và thế giới.
Phát huy lợi thế của từng vùng kinh tế - xã hội; tập
trung phát triển 2 vùng động lực phía Bắc và phía Nam gắn với 2 cực tăng trưởng
là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, hành lang kinh tế Bắc - Nam, hành lang kinh
tế Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, hành lang kinh tế Mộc Bài - Thành
phố Hồ Chí Minh - Biên Hòa - Vũng Tàu với kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, có
tốc độ tăng trưởng cao, đóng góp lớn vào phát triển chung của đất nước.
Phát triển đô thị bền vững theo mạng lưới; tỷ lệ đô
thị hóa đạt trên 50%; phấn đấu từ 3 - 5 đô thị ngang tầm khu vực và quốc tế.
Xây dựng nông thôn mới phát triển toàn diện, bền vững và gắn với đô thị hoá.
Phát triển mạnh hạ tầng số, hạ tầng dữ liệu tạo nền
tảng chuyển đổi số quốc gia, phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số; tỷ
trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP.
- Về xã hội
Duy trì vững chắc mức sinh thay thế, bình quân mỗi
phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có 2,1 con; quy mô dân số đạt khoảng 105 triệu người.
Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt khoảng 0,78. Tuổi thọ bình quân đạt khoảng
75,5 tuổi, trong đó thời gian sống khỏe mạnh đạt tối thiểu 68 năm. Tỷ lệ lao động
nông nghiệp trong tổng lao động xã hội giảm xuống dưới 20%. Nâng cao chất lượng
việc làm, giữ tỷ lệ thất nghiệp ở mức hợp lý.
Phát triển nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên
tiến trong khu vực; thuộc nhóm 10 quốc gia có hệ thống giáo dục đại học tốt nhất
châu A. Phấn đấu ít nhất 8 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 200 đại học hàng đầu
châu Á, ít nhất 1 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 100 đại học hàng đầu thế giới
trong một số lĩnh vực theo các bảng xếp hạng quốc tế uy tín. Tỷ lệ sinh viên đại
học đạt 260 trên 1 vạn dân. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt
35 - 40%.
Nâng cao chất lượng dịch vụ y tế ngang tầm các nước
tiên tiến trong khu vực. Phát triển mạng lưới cơ sở y tế quốc gia đáp ứng yêu cầu
chăm sóc, bảo vệ, nâng cao sức khỏe toàn dân, hướng tới mục tiêu công bằng, chất
lượng, hiệu quả và hội nhập quốc tế. Đến năm 2030, đạt 35 giường bệnh và 19 bác
sĩ trên 1 vạn dân; tỷ lệ giường bệnh tư nhân đạt 15%.
Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong các
lĩnh vực đời sống xã hội. Phát triển mạng lưới cơ sở văn hóa quốc gia bảo đảm
thực hiện tốt nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị bản sắc văn hóa dân tộc,
thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa. Phấn đấu 100% đơn vị hành chính cấp tỉnh
có đủ 3 loại hình thiết chế văn hóa, gồm: trung tâm văn hóa hoặc trung tâm văn
hóa - nghệ thuật, bảo tàng và thư viện.
- Về môi trường
Tỷ lệ che phủ rừng ổn định ở mức 42%; nâng cao chất
lượng rừng, tăng diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên; bảo vệ, phục hồi các hệ
sinh thái tự nhiên quan trọng, nâng cao chất lượng đa dạng sinh học; diện tích
các khu bảo tồn biển, ven biển đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc
gia; diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên trên cạn đạt 3 triệu ha.
Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt đô thị được thu gom,
xử lý theo tiêu chuẩn, quy chuẩn đạt 95%, trong đó tỷ lệ xử lý thông qua các mô
hình kinh tế tuần hoàn đạt khoảng 50%; tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt nông thôn
được thu gom, xử lý theo tiêu chuẩn, quy chuẩn đạt 85 - 90%; tỷ lệ chất thải rắn
sinh hoạt được xử lý bằng phương pháp chôn lấp trực tiếp giảm dưới 50% số với
lượng chất thải được thu gom. Phấn đấu nâng cao tỷ lệ tái chế rác thải hữu cơ đạt
100% ở đô thị và 70% ở nông thôn theo lộ trình phù hợp với điều kiện từng khu vực.
Tỷ lệ chất thải nguy hại được thu gom, vận chuyển và xử lý theo tiêu chuẩn, quy
chuẩn đạt 98%, trong đó tỷ lệ chất thải y tế được xử lý đạt 100%. Tỷ lệ xử lý
và tái sử dụng nước thải ra môi trường lưu vực các sông đạt 65 - 70%. Thực hiện
giảm phát thải khí nhà kính trong các ngành, lĩnh vực để phấn đấu nhanh nhất đạt
mục tiêu giảm phát thải ròng của quốc gia về “0” vào năm 2050.
- Về phát triển kết cấu hạ tầng
Hình thành cơ bản bộ khung kết cấu hạ tầng quốc
gia, bao gồm các trục giao thông đường bộ Bắc - Nam (đường bộ cao tốc Bắc - Nam
phía Đông, một số đoạn của đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Tây, đường ven biển),
các trục giao thông Đông - Tây quan trọng, phấn đấu có khoảng 5.000 km đường bộ
cao tốc; các cảng biển cửa ngõ có chức năng trung chuyển quốc tế, các cảng hàng
không quốc tế lớn, các tuyến đường sắt kết nối với các cảng biển lớn, đường sắt
kết nối quốc tế, đường sắt đô thị; xây dựng một số đoạn đường sắt tốc độ cao
trên trục Bắc - Nam; phát triển hạ tầng năng lượng, hạ tầng thông tin và truyền
thông, hạ tầng đô thị, hạ tầng thủy lợi, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên
tai, thích ứng với biến đổi khí hậu. Giảm thiểu chi phí logistics.
- Về quốc phòng, an ninh
Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và
toàn vẹn lãnh thổ quốc gia; gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế,
văn hóa, xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh; giữ vững môi trường hòa bình, ổn
định chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.
4. Nhiệm vụ trọng tâm trong thời kỳ quy hoạch
a) Hình thành cơ bản bộ khung kết cấu hạ tầng quốc
gia, tập trung vào hạ tầng giao thông, hạ tầng đô thị, hạ tầng nông thôn, hạ tầng
năng lượng, hạ tầng số, hạ tầng văn hóa, xã hội, hạ tầng thủy lợi;
b) Xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học,
công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính. Ưu tiên phát
triển một số ngành, lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế và còn dư địa lớn, phù hợp với
xu thế chung của thế giới và gắn với không gian phát triển mới;
c) Phát triển các vùng động lực, cực tăng trưởng quốc
gia quan trọng để hình thành các đầu tàu dẫn dắt sự phát triển của quốc gia. Lựa
chọn một số địa bàn, đô thị, vùng có lợi thế đặc biệt để xây dựng trung tâm
kinh tế, tài chính, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt với thể chế, cơ chế,
chính sách đặc thù, vượt trội có tính đột phá, có khả năng cạnh tranh quốc tế
cao. Đồng thời có cơ chế, chính sách, nguồn lực phù hợp để bảo đảm an sinh xã hội
và từng bước phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, khu vực
biên giới, hải đảo, góp phần ổn định chính trị, giữ vững quốc phòng, an ninh;
d) Hình thành và phát triển các hành lang kinh tế
theo trục Bắc - Nam, các hành lang kinh tế Đông - Tây, các vành đai kinh tế ven
biển; kết nối hiệu quả các cảng biển, cảng hàng không, cửa khẩu quốc tế, đầu mối
giao thương lớn, các đô thị, trung tâm kinh tế, cực tăng trưởng; kết nối hiệu
quả với các hành lang kinh tế của khu vực và thế giới. Phát triển các vành đai
công nghiệp - đô thị - dịch vụ tại các vùng động lực, vùng đô thị lớn. Hình
thành các trục đường giao thông và hành lang kinh tế kết nối các đô thị quan trọng
tại các tỉnh, thành phố sau sáp nhập;
đ) Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả liên kết vùng,
khai thác hiệu quả không gian phát triển mới sau sáp nhập, sắp xếp đơn vị hành
chính các cấp. Khai thác lợi thế không gian phát triển cấp vùng, nhất là vai
trò trung tâm vùng của các thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải
Phòng, Cần Thơ, Huế;
e) Quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ
môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu; xây dựng, củng cố, nâng cấp
hạ tầng phòng, chống thiên tai, lũ lụt, sạt lở; xử lý ngập, úng, nhất là tại
các đô thị lớn.”.
2. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều
3 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:
“1. Phân vùng kinh tế - xã hội, định hướng phát triển
và liên kết vùng
a) Phân vùng kinh tế - xã hội
Tổ chức không gian phát triển đất nước thành 06
vùng kinh tế - xã hội; xây dựng mô hình tổ chức, cơ chế điều phối vùng để thực
hiện liên kết nội vùng và thúc đẩy liên kết giữa các vùng, nâng cao hiệu quả sử
dụng nguồn lực.
- Vùng Trung du và miền núi phía Bắc gồm 9 tỉnh: Lạng
Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Phú Thọ, Lào Cai, Sơn La, Lai Châu, Điện
Biên.
- Vùng Đồng bằng sông Hồng gồm 6 tỉnh, thành phố:
Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình.
- Vùng Bắc Trung Bộ gồm 5 tỉnh, thành phố: Huế,
Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị.
- Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên gồm 6 tỉnh,
thành phố: Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hòa, Lâm Đồng.
- Vùng Đông Nam Bộ gồm 3 tỉnh, thành phố: Thành phố
Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Tây Ninh.
- Vùng Đồng bằng sông Cửu Long gồm 5 tỉnh, thành phố:
Cần Thơ, Đồng Tháp, Vĩnh Long, An Giang, Cà Mau.
b) Định hướng phát triển vùng và liên kết vùng
- Vùng Trung du và miền núi phía Bắc: phấn đấu tốc
độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân đạt khoảng 9 -
10%/năm giai đoạn 2026 - 2030. Phát triển vùng theo hướng xanh, bền vững và
toàn diện. Tập trung bảo vệ rừng tự nhiên, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đầu nguồn,
khôi phục rừng gắn với bảo đảm an ninh nguồn nước và phát triển kinh tế lâm
nghiệp bền vững, nâng cao đời sống của người làm nghề rừng.
Phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo, năng lượng,
ưu tiên công nghiệp cơ khí chế tạo, điện tử, công nghệ số; đẩy mạnh dịch vụ
logistics trên cơ sở khai thác lợi thế các cửa khẩu quốc tế và các tuyến đường
sắt kết nối quốc tế; phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, hữu cơ, đặc
sản, mở rộng diện tích cây ăn quả, dược liệu. Khai thác và sử dụng hiệu quả tài
nguyên khoáng sản. Phát triển kinh tế cửa khẩu. Hình thành các trung tâm du lịch,
sản phẩm du lịch mang đặc trưng riêng của vùng.
Hình thành và phát triển các hành lang kinh tế nội
vùng, liên vùng, kết nối vùng với các trung tâm kinh tế lớn của vùng Đồng bằng
sông Hồng; tập trung xây dựng vành đai công nghiệp Thái Nguyên - Phú Thọ trở
thành động lực thúc đẩy tăng trưởng cả vùng, gắn kết với tỉnh Bắc Ninh là vành
đai công nghiệp liên vùng. Xây dựng các tuyến đường bộ cao tốc, các tuyến đường
bộ nối các địa phương với đường cao tốc, các đường vành đai biên giới, các tuyến
quốc lộ quan trọng kết nối các địa phương trong vùng. Nghiên cứu đầu tư và nâng
cấp một số cảng hàng không trong vùng. Hoàn thành xây dựng đường sắt Lào Cai -
Hà Nội - Hải Phòng; xây dựng đường sắt Lạng Sơn - Hà Nội.
- Vùng Đồng bằng sông Hồng: phấn đấu tốc độ tăng
trưởng GRDP bình quân đạt khoảng 11%/năm giai đoạn 2026 - 2030. Xây dựng vùng Đồng
bằng sông Hồng là động lực phát triển hàng đầu, có vai trò định hướng, dẫn dắt
quá trình cơ cấu lại nền kinh tế và xác lập mô hình tăng trưởng mới của đất nước.
Tập trung phát triển các ngành sản xuất công nghiệp
và dịch vụ hiện đại: điện tử, công nghiệp công nghệ số, chíp bán dẫn, trí tuệ
nhân tạo, sản xuất ô tô, năng lượng, công nghiệp hỗ trợ, sản xuất thông minh,
các dịch vụ thương mại, logistics, tài chính, ngân hàng, du lịch, viễn thông,
đào tạo chất lượng cao, y tế chuyên sâu; phát triển nhanh các ngành dịch vụ mới
như công nghiệp sáng tạo, công nghệ tài chính, logistics thông minh, dịch vụ
công nghệ số. Phát triển vùng trở thành trung tâm dịch vụ hiện đại của khu vực
Đông Nam Á. Phát triển công nghiệp văn hóa, giải trí; bảo tồn gắn với phát huy
giá trị các không gian và di sản văn hóa. Phát huy vai trò trung tâm đào tạo
nhân lực chất lượng cao dẫn đầu cả nước, tập trung xây dựng một số ngành đào tạo
mũi nhọn đạt trình độ khu vực, thế giới. Xây dựng các trung tâm đổi mới sáng tạo,
đi đầu trong phát triển khoa học, công nghệ. Phát triển các khu kinh tế ven biển,
khu thương mại tự do và các loại hình khu chức năng với mô hình phù hợp, có điều
kiện thuận lợi về hạ tầng, cơ chế, chính sách nhằm thu hút đầu tư thúc đẩy phát
triển các ngành công nghiệp và dịch vụ chất lượng cao, hiện đại. Phát triển
nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch, hữu cơ, phục vụ đô thị.
Phát triển các đô thị vệ tinh để giảm sức ép tại các đô thị lớn; sử dụng tiết
kiệm, hiệu quả tài nguyên đất. Giải quyết cơ bản tình trạng ô nhiễm môi trường,
tắc nghẽn giao thông và ngập úng. Phát triển bền vững kinh tế biển theo hướng
tăng trưởng xanh, bảo tồn đa dạng sinh học và các hệ sinh thái biển; tiếp tục
xây dựng khu vực Hải Phòng - Quảng Ninh trở thành trung tâm kinh tế biển hiện đại,
mang tầm quốc tế, hàng đầu ở Đông Nam Á. Hà Nội trở thành thành phố kết nối
toàn cầu, ngang tầm thủ đô các nước phát triển trong khu vực và thế giới.
Phát triển các hành lang kinh tế nội vùng và liên
vùng, kết nối với vùng Trung du và miền núi phía Bắc, hành lang kinh tế Bắc -
Nam trên địa bàn vùng; phát triển vành đai kinh tế Vịnh Bắc Bộ (khu vực ven biển
Quảng Ninh - Hải Phòng - Hưng Yên - Ninh Bình). Xây dựng các tuyến đường bộ cao
tốc kết nối Hà Nội với các địa phương trong và ngoài vùng, tuyến đường bộ ven
biển, đường vành đai 4, vành đai 5 vùng Thủ đô Hà Nội. Đẩy nhanh triển khai đường
sắt đô thị tại Hà Nội. Xây dựng các tuyến đường sắt mới từ Hà Nội kết nối các cảng
biển, cửa khẩu quốc tế lớn; xây dựng đường sắt Hải Phòng - Hạ Long - Móng Cái,
đường sắt tốc độ cao Hà Nội - Quảng Ninh. Xây dựng Cảng hàng không quốc tế Gia
Bình.
- Vùng Bắc Trung Bộ: phấn đấu tốc độ tăng trưởng
GRDP bình quân đạt khoảng 10 - 10,5%/năm giai đoạn 2026 - 2030. Phát triển mạnh
kinh tế biển; nâng cao hiệu quả hệ thống cảng biển, các khu kinh tế ven biển,
khu công nghiệp; ưu tiên phát triển các khu kinh tế ven biển tập trung vào một
số ngành trọng điểm phù hợp với các địa phương, tạo đột phá tăng trưởng. Phát
triển các ngành công nghiệp lọc hóa dầu, luyện kim, cơ khí chế tạo, sản xuất ô
tô và phụ trợ, công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, năng lượng. Xây dựng
các trung tâm dịch vụ logistics. Phát triển du lịch biển, đảo, du lịch sinh
thái và du lịch văn hóa - lịch sử. Cơ cấu lại nông, lâm nghiệp, khai thác, nuôi
trồng thủy sản gắn với công nghiệp chế biến, bảo đảm bền vững và hiệu quả cao.
Xây dựng thành phố Huế trở thành trung tâm lớn, đặc
sắc của khu vực Đông Nam Á về văn hóa, du lịch và y tế chuyên sâu, trung tâm lớn
của cả nước về khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực,
chất lượng cao; hướng tới là thành phố Festival, trung tâm văn hóa, giáo dục,
du lịch và y tế chuyên sâu đặc sắc của châu Á. Xây dựng khu vực ven biển Thanh
Hóa - Nghệ An - Hà Tĩnh là trung tâm phát triển công nghiệp của vùng và cả nước,
trở thành vùng động lực quốc gia.
Xây dựng mạng lưới giao thông đồng bộ, hiện đại, gắn
với hình thành hành lang kinh tế Bắc - Nam qua địa bàn vùng và các hành lang
Đông - Tây kết nối các cửa khẩu quốc tế, các đô thị và cảng biển lớn.
- Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên: phấn đấu
tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt khoảng 9,5 - 10%/năm giai đoạn 2026 -
2030.
Phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế, công
nghiệp sạch; đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, năng
lượng tái tạo. Phát triển kinh tế nông nghiệp hiệu quả cao với quy mô phù hợp;
nâng cao hiệu quả phát triển cây công nghiệp, mở rộng diện tích cây ăn quả, dược
liệu, rau, hoa. Phát triển các trung tâm du lịch lớn gắn với tiềm năng đặc thù
của mỗi khu vực, hình thành các tuyến du lịch kết nối chuỗi không gian núi - rừng
- biển và không gian văn hóa - di sản.
Tại khu vực duyên hải đẩy mạnh kinh tế biển, phát
triển mạnh công nghiệp cơ khí chế tạo, luyện kim, lọc hóa dầu, năng lượng; cảng
biển, cảng hàng không và dịch vụ logistics; du lịch biển, đảo; nuôi trồng và
khai thác thủy sản. Phát triển nhanh các ngành công nghiệp mới, công nghiệp
công nghệ cao, công nghệ số. Phát triển chuỗi đô thị ven biển gắn với phát triển
các trung tâm du lịch biển, trung tâm tài chính, khu thương mại tự do, khu kinh
tế ven biển, khu công nghiệp.
Đối với khu vực trung du, miền núi và cao nguyên, đặc
biệt quan tâm bảo vệ rừng tự nhiên, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đầu nguồn gắn
với bảo đảm an ninh nguồn nước. Phát triển kinh tế lâm nghiệp, nâng cao đời sống
của người làm nghề rừng. Phát triển bền vững công nghiệp khai thác bô-xít, chế
biến alumin, sản xuất nhôm. Phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch
văn hóa gắn với bảo tồn, phát huy giá trị, bản sắc văn hóa các dân tộc Tây
Nguyên. Phát triển các khu kinh tế cửa khẩu, thúc đẩy hoạt động thương mại, đầu
tư.
Phát triển thành phố Đà Nẵng trở thành một trong những
trung tâm kinh tế - xã hội lớn của cả nước và Đông Nam Á với vai trò là trung
tâm về khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, du lịch, thương mại, tài chính,
logistics, công nghiệp công nghệ cao, công nghệ số, công nghiệp hỗ trợ; là một
trong những trung tâm văn hóa - thể thao, giáo dục và đào tạo, y tế chất lượng
cao, khoa học, công nghệ phát triển của đất nước.
Phát triển hành lang kinh tế kết nối khu vực Tây
Nguyên - Đông Nam Bộ, các hành lang Đông - Tây. Hình thành, phát triển các hành
lang kinh tế Đông - Tây tại các tỉnh, thành phố nhằm tạo trục kết nối liên
thông, khai thác hiệu quả không gian phát triển mới sau sáp nhập. Xây dựng mạng
lưới đường bộ cao tốc và nâng cấp mạng lưới giao thông nội vùng; các tuyến đường
nối với các địa phương vùng Đông Nam Bộ, khu vực Nam Lào và Đông Bắc Campuchia.
Nghiên cứu xây dựng tuyến đường sắt qua địa bàn Tây Nguyên.
- Vùng Đông Nam Bộ: phấn đấu tốc độ tăng trưởng
GRDP bình quân đạt khoảng 10 - 11%/năm giai đoạn 2026 - 2030. Xây dựng Đông Nam
Bộ trở thành vùng phát triển năng động, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, động
lực tăng trưởng lớn nhất cả nước; trung tâm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng
tạo, công nghiệp công nghệ cao, logistics và trung tâm tài chính quốc tế có
tính cạnh tranh cao trong khu vực; đi đầu trong đổi mới mô hình tăng trưởng,
chuyển đổi số. Phát triển mạnh các ngành công nghiệp cơ khí chế tạo, hóa dầu,
hóa chất, dược phẩm, vật liệu mới, năng lượng, điện tử, chíp bán dẫn, trí tuệ
nhân tạo, an ninh mạng, công nghiệp công nghệ số. Phát triển các khu công nghiệp
- dịch vụ - đô thị hiện đại, các khu công nghiệp chuyên ngành, khu công nghệ
cao. Xây dựng mới một số khu công nghệ số tập trung quy mô lớn, hình thành vùng
động lực công nghiệp công nghệ số. Hình thành, phát triển khu thương mại tự do
và các loại hình khu chức năng với mô hình phù hợp, có sức cạnh tranh khu vực
và quốc tế trong thu hút đầu tư chất lượng cao. Phát triển vùng trở thành trung
tâm dịch vụ của khu vực Đông Nam Á về tài chính, thương mại, du lịch, giao lưu
quốc tế. Phát triển mạnh kinh tế biển, dịch vụ hậu cần cảng biển, công nghiệp
khai thác, chế biến dầu khí, các dịch vụ ngành dầu khí, phát triển du lịch biển,
đảo. Phát triển hoạt động thương mại, đầu tư tại các khu kinh tế cửa khẩu, trọng
tâm là khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài. Nâng cao hiệu quả phát triển cây công nghiệp,
cây ăn quả, chăn nuôi tập trung gắn với chế biến và thương hiệu sản phẩm, đẩy mạnh
ứng dụng công nghệ cao. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, giáo dục, đào tạo, y tế
phát triển đứng đầu cả nước. Phát triển một số cơ sở giáo dục đại học lớn theo
hướng trọng tâm, trọng điểm đủ năng lực đào tạo nhân lực cho phát triển kinh tế
- xã hội, đạt trình độ tiên tiến, thuộc nhóm hàng đầu châu Á. Phát triển công
nghiệp văn hóa, các trung tâm dịch vụ vui chơi giải trí chất lượng cao mang tầm
khu vực và quốc tế. Giải quyết cơ bản tình trạng ô nhiễm môi trường, tắc nghẽn
giao thông và ngập úng.
Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố văn
minh, hiện đại, năng động sáng tạo; trung tâm tài chính quốc tế; có vị thế nổi
trội trong khu vực Đông Nam Á và phát triển ngang tầm các thành phố lớn trong
khu vực châu Á.
Tạo động lực liên kết, lan toả thúc đẩy hợp tác và
phát triển qua hành lang kinh tế Bắc - Nam, hành lang kinh tế Tây Nguyên - Đông
Nam Bộ, hành lang kinh tế theo Quốc lộ 13 từ Thành phố Hồ Chí Minh - Đồng Nai.
Phát triển chuỗi công nghiệp - đô thị Mộc Bài - Thành phố Hồ Chí Minh - cảng
Cái Mép - Thị Vải gắn với hành lang kinh tế xuyên Á. Xây dựng các tuyến đường bộ
cao tốc kết nối Thành phố Hồ Chí Minh với các địa phương trong và ngoài vùng, đường
vành đai 3, vành đai 4 Thành phố Hồ Chí Minh. Xây dựng đường sắt đô thị Thành
phố Hồ Chí Minh, đường sắt kết nối trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh với các đô
thị lân cận. Xây dựng các tuyến đường sắt kết nối đến các cảng biển, cảng hàng
không quốc tế cửa ngõ. Xây dựng, đưa vào vận hành, khai thác Cảng hàng không quốc
tế Long Thành và các tuyến giao thông kết nối đồng bộ. Xây dựng cảng trung chuyển
quốc tế Cần Giờ. Phối hợp, nâng cao hiệu quả khai thác các cảng hàng không Tân
Sơn Nhất và Long Thành, các cảng biển khu vực Cái Mép - Thị Vải và khu vực Hiệp
Phước, Cát Lái.
- Vùng Đồng bằng sông Cửu Long: phấn đấu tốc độ
tăng trưởng GRDP bình quân đạt 9 - 9,5%/năm giai đoạn 2026 - 2030. Phát triển
vùng Đồng bằng sông Cửu Long thành trung tâm kinh tế nông nghiệp hiện đại, bền
vững, năng động và hiệu quả cao của cả nước, khu vực và thế giới. Tập trung
phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, hiện đại, quy mô lớn gắn với công
nghiệp chế biến và xây dựng thương hiệu sản phẩm; đẩy mạnh phát triển nông nghiệp
số, nông nghiệp thông minh. Chuyển đổi cơ cấu sản phẩm chủ lực theo hướng giảm
lúa gạo, tăng trái cây và thủy sản; sử dụng đất nông nghiệp linh hoạt, hiệu quả
hơn. Triển khai hiệu quả Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa
chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu
Long đến năm 2030. Xây dựng trung tâm khởi nghiệp sáng tạo quốc gia về nông
nghiệp trên địa bàn vùng. Phát triển công nghiệp xanh, năng lượng tái tạo; chú
trọng phát triển công nghiệp chế biến nông, thủy sản, công nghiệp phục vụ nông
nghiệp, công nghiệp hỗ trợ; từng bước phát triển công nghiệp ứng dụng công nghệ
cao và công nghiệp công nghệ số. Phát triển mạnh kinh tế biển, trong đó chú trọng
phát triển du lịch, dịch vụ biển, kinh tế hàng hải, khai thác dầu khí, năng lượng,
nuôi trồng và khai thác thủy sản xa bờ. Phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu Long
trở thành thương hiệu quốc tế về du lịch nông nghiệp, nông thôn, du lịch sinh
thái và du lịch biển, đảo. Chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển
dâng; xây dựng các hồ chứa nước và nghiên cứu các biện pháp, công trình trữ nước
trong sông, kênh, rạch; phòng, chống sạt lở, xâm nhập mặn; bảo vệ hệ sinh thái
rừng ngập mặn.
Phát triển thành phố Cần Thơ là thành phố sinh
thái, văn minh, hiện đại mang đậm bản sắc văn hóa sông nước vùng Đồng bằng sông
Cửu Long; là đô thị hạt nhân, trung tâm của vùng về kinh tế, giáo dục và đào tạo,
y tế chuyên sâu, khoa học, công nghệ, văn hóa, thể thao.
Trên hành lang kinh tế Bắc - Nam, tập trung phát
triển đoạn Cần Thơ - Vĩnh Long - Đồng Tháp là hành lang kinh tế - đô thị - công
nghiệp động lực của vùng. Hình thành, phát triển một số hành lang kinh tế Đông
- Tây, hành lang kinh tế phía Tây, hành lang kinh tế ven biển phía Đông. Tăng
cường đầu tư hạ tầng kết nối vùng với Thành phố Hồ Chí Minh và vùng Đông Nam Bộ;
hệ thống đường ven biển qua các địa phương. Phát triển kết cấu hạ tầng đường thủy
nội địa, cảng biển, hạ tầng logistics; nâng cấp các luồng chính, bao gồm luồng
hàng hải cho tàu biển trọng tải lớn. Xây dựng cảng biển Trần Đề là cảng cửa ngõ
vùng Đồng bằng sông Cửu Long; xây dựng cảng tổng hợp lưỡng dụng Hòn Khoai và đường
nối từ đất liền ra cảng.”.
b) Sửa đổi, bổ sung khoản 2 như sau:
“2. Phát triển các vùng động lực, cực tăng trưởng
quốc gia
a) Vùng động lực phía Bắc
Phát triển vùng động lực phía Bắc bao gồm thành phố
Hà Nội và các địa bàn gắn với các tuyến đường vành đai 4, vành đai 5, các trục
Quốc lộ 5, Quốc lộ 18, các cao tốc Bắc - Nam phía Đông, cao tốc Hà Nội - Hải
Phòng, cao tốc Nội Bài - Lào Cai, cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên qua thành phố Hải
Phòng và các tỉnh Bắc Ninh, Thái Nguyên, Phú Thọ, Ninh Bình, Hưng Yên, Quảng
Ninh; trong đó, thành phố Hà Nội là cực tăng trưởng. Trong giai đoạn sau năm
2030, nghiên cứu mở rộng phạm vi của vùng động lực.
Xây dựng vùng động lực phía Bắc đi đầu trong phát
triển nguồn nhân lực chất lượng cao, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo,
kinh tế số, xã hội số; phát huy vai trò trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục,
đào tạo, y tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của quốc gia. Tập trung
phát triển một số ngành dịch vụ hiện đại, chất lượng cao; các ngành công nghiệp
chế biến, chế tạo có hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn, tham gia
sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu; phát triển nhanh công nghiệp công nghệ số và
các ngành công nghiệp mới nổi. Phát triển khu vực ven biển trở thành trung tâm
kinh tế biển với các ngành vận tải biển và dịch vụ cảng biển, logistics, du lịch
biển, đảo và công nghiệp đóng tàu. Phát triển khu thương mại tự do và các loại
hình khu chức năng theo mô hình mới phù hợp với xu thế chung của thế giới, có
môi trường hấp dẫn vượt trội để tạo động lực phát triển mới.
b) Vùng động lực phía Nam
Phát triển vùng động lực phía Nam bao gồm các địa
bàn dọc theo trục Quốc lộ 22, Quốc lộ 13, Quốc lộ 1, Quốc lộ 51, cao tốc Bắc -
Nam phía Tây, đường vành đai 4 qua Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng Nai,
Tây Ninh; trong đó Thành phố Hồ Chí Minh là cực tăng trưởng. Trong giai đoạn
sau năm 2030, nghiên cứu mở rộng phạm vi của vùng động lực.
Xây dựng vùng động lực phía Nam dẫn đầu cả nước và
hàng đầu khu vực Đông Nam Á về kinh tế, tài chính, thương mại, dịch vụ, y tế,
giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, khoa học, công
nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Tập trung phát triển mạnh hệ sinh thái đổi
mới sáng tạo, đi đầu trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng, xây dựng kinh tế số,
xã hội số. Phát triển mạnh các dịch vụ tài chính, ngân hàng, khoa học, công nghệ,
logistics. Thu hút đầu tư các ngành công nghiệp công nghệ cao, phát triển các
ngành công nghiệp mới nổi như chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghiệp công
nghệ số. Phát triển các ngành kinh tế biển như dịch vụ logistics, khai thác, chế
biến dầu khí, du lịch biển. Phát triển trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố
Hồ Chí Minh hướng tới mục tiêu trở thành trung tâm tài chính quốc tế hàng đầu,
nâng tầm vị thế của Việt Nam trong mạng lưới tài chính toàn cầu gắn với động lực
tăng trưởng kinh tế. Phát triển khu thương mại tự do gắn với đầu mối giao thông
cửa ngõ quốc tế để hình thành hệ sinh thái logistics - công nghiệp - thương mại
dịch vụ - đổi mới sáng tạo - đô thị, có sức cạnh tranh khu vực, quốc tế cao.
c) Vùng động lực miền Trung
Hình thành, phát triển vùng động lực miền Trung bao
gồm các địa bàn dọc theo đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông, Quốc lộ 1 và đường
ven biển thuộc các tỉnh, thành phố: Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai; trong đó
thành phố Đà Nẵng là cực tăng trưởng. Trong giai đoạn sau năm 2030, nghiên cứu
mở rộng phạm vi của vùng động lực.
Tiếp tục hình thành, phát triển hệ thống đô thị ven
biển, các trung tâm du lịch biển, du lịch sinh thái mang tầm khu vực và thế giới;
trung tâm công nghiệp lọc hóa dầu và năng lượng quốc gia, công nghiệp ô tô, phụ
trợ ngành cơ khí; đẩy nhanh thu hút các ngành công nghiệp mới nổi, phát triển
các khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung, trung tâm đổi mới sáng tạo.
Phát triển cảng biển và dịch vụ cảng biển, cảng hàng không và công nghiệp hàng
không; dịch vụ logistics gắn với cảng biển, cảng hàng không. Phát triển hạ tầng
và các trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá. Đẩy mạnh phát triển, đi đầu về khoa học,
công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của khu vực miền Trung - Tây Nguyên.
Phát triển, gắn kết giữa trung tâm tài chính quốc tế và khu thương mại tự do tại
thành phố Đà Nẵng, hình thành hệ sinh thái kinh tế hiện đại, thông minh, có
tính cạnh tranh cao, tạo sức lan tỏa lớn.
d) Vùng động lực Đồng bằng sông Cửu Long
Hình thành, phát triển vùng động lực Đồng bằng sông
Cửu Long bao gồm các địa bàn thuộc thành phố Cần Thơ, các tỉnh An Giang, Vĩnh
Long, Đồng Tháp gắn với khu vực kết nối các tuyến đường cao tốc, gồm cao tốc Bắc
- Nam phía Đông đoạn Cần Thơ - Vĩnh Long, cao tốc An Hữu - Cao Lãnh, cao tốc Bắc
- Nam phía Tây từ Cao Lãnh đến Rạch Sỏi, cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc
Trăng, cao tốc Hà Tiên - Rạch Giá - Bạc Liêu và đặc khu Phú Quốc; trong đó
thành phố Cần Thơ là cực tăng trưởng. Trong giai đoạn sau năm 2030, nghiên cứu
mở rộng phạm vi của vùng động lực gắn với cảng biển Trần Đề.
Xây dựng vùng động lực Đồng bằng sông Cửu Long trở
thành trung tâm dịch vụ, du lịch, logistics, công nghiệp phục vụ nông nghiệp.
Phát triển công nghiệp chế biến nông sản, cơ khí, hóa chất phục vụ nông nghiệp.
Hình thành các trung tâm đầu mối về nông nghiệp gắn với các vùng chuyên canh;
xây dựng vùng trở thành trung tâm quốc gia về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng
tạo trong nông nghiệp và các dịch vụ phục vụ nông nghiệp. Đóng vai trò hạt nhân
thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển các ngành công nghiệp mới như công nghiệp
công nghệ số của toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Phát triển kinh tế biển, tập
trung xây dựng đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang thành trung tâm dịch vụ, du lịch
sinh thái biển mang tầm quốc tế, kết nối với các trung tâm kinh tế lớn trong
khu vực và thế giới.
đ) Vùng động lực Bắc Trung Bộ
Hình thành, phát triển vùng động lực Bắc Trung Bộ
bao gồm các địa bàn dọc theo đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông, Quốc lộ 1 và
đường ven biển thuộc các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh.
Xây dựng vùng động lực Bắc Trung Bộ trở thành một
trung tâm về công nghiệp lọc hóa dầu, luyện kim, cơ khí chế tạo, công nghiệp ô
tô và phụ trợ của cả nước; đồng thời phát triển nhanh các ngành công nghiệp mới
như điện tử, chíp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghiệp công nghệ số, các
ngành công nghệ cao, tạo động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội toàn vùng Bắc Trung
Bộ. Tiếp tục phát triển các trung tâm du lịch biển gắn với các đô thị du lịch
ven biển. Phát triển các cảng biển và dịch vụ cảng biển, dịch vụ logistics.
e) Từng bước xây dựng, hình thành vùng động lực tại
vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên tại Khánh Hòa, Lâm Đồng và phụ cận.”.
c) Sửa đổi, bổ sung khoản 3 như sau:
“3. Phát triển các hành lang kinh tế
a) Các hành lang kinh tế ưu tiên trong giai đoạn đến
năm 2030
- Phát triển hành lang kinh tế Bắc - Nam trên cơ sở
trục giao thông Bắc - Nam phía Đông, kết nối các vùng động lực, các đô thị lớn,
trung tâm kinh tế, đóng góp lớn cho phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, tạo
tác động lan tỏa thúc đẩy sự phát triển của dải ven biển và khu vực phía Tây đất
nước, kết nối với hành lang kinh tế Nam Ninh - Singapore. Xây dựng phương án, bố
trí không gian phát triển các đô thị, khu công nghiệp, trung tâm logistics gắn
với hành lang kinh tế Bắc - Nam trong các quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh.
- Phát triển hành lang kinh tế Lào Cai - Hà Nội - Hải
Phòng - Quảng Ninh, là trục kết nối chủ đạo của vùng động lực phía Bắc, kết nối
vùng Trung du và miền núi phía Bắc với các trung tâm kinh tế, cảng biển lớn của
cả nước, kết nối hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng
Ninh; thúc đẩy hợp tác thương mại, đầu tư giữa các địa phương của Việt Nam và
khu vực phía Tây Nam Trung Quốc.
- Phát triển hành lang kinh tế Mộc Bài - Thành phố
Hồ Chí Minh - Biên Hoà - Vũng Tàu gắn với hành lang kinh tế xuyên Á, là cửa ngõ
ra biển của khu vực Đông Nam Bộ, thúc đẩy phát triển kinh tế vùng Đông Nam Bộ
và các khu vực lân cận.
b) Từng bước hình thành và phát triển các hành lang
kinh tế trong dài hạn
- Hình thành hành lang kinh tế theo đường Hồ Chí
Minh và cao tốc Bắc - Nam phía Tây qua địa bàn Tây Nguyên, Đông Nam Bộ (hành
lang kinh tế Tây Nguyên - Đông Nam Bộ) nhằm thúc đẩy phát triển, liên kết vùng,
gắn với tăng cường quốc phòng, an ninh; kết nối các vùng nguyên liệu cây công
nghiệp, công nghiệp chế biến, liên kết phát triển du lịch “con đường xanh Tây
Nguyên”, tăng cường tác động lan tỏa của các đô thị trung tâm vùng.
- Từng bước hình thành các hành lang kinh tế Đông -
Tây
Hành lang kinh tế Điện Biên - Sơn La - Hòa Bình -
Hà Nội kết nối vùng Trung du và miền núi phía Bắc với vùng Đồng bằng sông Hồng,
thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội khu vực Tây Bắc.
Hành lang kinh tế Cầu Treo - Vũng Áng kết nối các địa
phương của Lào với cảng biển tại Hà Tĩnh, Quảng Trị, thúc đẩy phát triển kinh tế
- xã hội các địa phương vùng Bắc Trung Bộ.
Hành lang kinh tế Lao Bảo - Đông Hà - Đà Nẵng gắn với
hành lang kinh tế Đông - Tây thuộc Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng (GMS), kết nối
các địa phương phía Nam Myanmar, miền Trung Thái Lan và Lào với cảng biên của
miền Trung Việt Nam, thúc đẩy giao lưu thương mại, du lịch, đầu tư giữa các nước,
phát triển các địa phương vùng Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây
Nguyên.
Hành lang kinh tế Bờ Y - Pleiku - Quy Nhơn kết nối
phía Bắc khu vực Tây Nguyên với khu vực ven biển Nam Trung Bộ và cảng biển,
thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.
Hành lang kinh tế Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng, kết
nối với cảng biển Trần Đề phục vụ xuất nhập khẩu trực tiếp cho vùng Đồng bằng
sông Cửu Long trong tương lai, thúc đẩy phát triển các trung tâm đầu mối về
nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, logistics liên quan đến nông nghiệp của
vùng.
Hành lang kinh tế Hà Tiên - Rạch Giá - Cà Mau, kết
nối với hành lang ven biển phía Nam của Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng (GMS) nhằm
thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội khu vực ven biển phía Tây của vùng Đồng bằng
sông Cửu Long và toàn vùng.
Nghiên cứu xây dựng hành lang kinh tế Thanh Thủy -
Vinh - Cửa Lò; hành lang kinh tế Bờ Y - Đà Nẵng; hành lang kinh tế Buôn Ma Thuột
- Khánh Hòa; hành lang kinh tế Lâm Đồng - Khánh Hòa.”.
3. Sửa đổi, bổ sung Điều 4 như sau:
“Điều 4. Định hướng phát triển hệ thống đô thị
và nông thôn quốc gia
1. Định hướng tổng thể phát triển hệ thống đô thị
Đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá phù hợp với quy hoạch,
hình thành hệ thống đô thị, tạo động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã
hội nhanh, bền vững; bảo đảm kết hợp đồng bộ và hài hòa giữa cải tạo, chỉnh
trang, tái thiết đô thị với phát triển các đô thị mới. Nâng cao chất lượng phát
triển đô thị về kinh tế, xã hội, nhà ở, kết cấu hạ tầng đô thị, nhất là giao
thông, cấp, thoát nước, chống ngập, lụt đô thị, bảo vệ môi trường; tăng cường
hiệu lực, hiệu quả quản lý đô thị gắn với chuyển đổi số và quản trị thông minh.
Nâng cao khả năng cạnh tranh kinh tế và hội nhập của hệ thống đô thị. Tăng cường
vai trò đô thị là các cực tăng trưởng và phát triển, dẫn dắt và nâng cao chất
lượng tăng trưởng quốc gia, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng hai con số giai đoạn
2026 - 2030.
Phát triển hệ thống đô thị bền vững theo mạng lưới,
phân bổ hợp lý, bảo đảm đồng bộ, thống nhất, cân đối giữa các vùng. Bảo đảm
tính liên kết giữa các đô thị phù hợp với quá trình sắp xếp đơn vị hành chính.
Phát triển các đô thị có chức năng tổng hợp theo hướng đô thị xanh, thông minh,
thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh. Phát triển
đô thị theo hướng nén kết hợp tạo lập không gian công cộng, không gian xanh,
sinh thái để tăng hiệu quả sử dụng đất và tài nguyên. Bảo đảm tính kết nối giữa
đô thị - nông thôn. Quy hoạch, phát triển đô thị gắn với định hướng phát triển
hệ thống giao thông công cộng (TOD). Quản lý, khai thác hiệu quả không gian ngầm,
nhất là tàu điện ngầm tại các đô thị lớn. Phát triển và quản lý hiệu quả không
gian công cộng đô thị, công trình điểm nhấn kiến trúc và nghệ thuật đô thị tạo
nên giá trị bản sắc, chất lượng và thương hiệu của đô thị. Lựa chọn đô thị có lợi
thế đặc biệt để xây dựng thành trung tâm kinh tế, tài chính, thương mại, dịch vụ...
có khả năng cạnh tranh khu vực, quốc tế. Đẩy mạnh xây dựng và phát triển các đô
thị thông minh; hình thành và phát triển một số đô thị, chuỗi đô thị thông minh
kết nối với khu vực và thế giới. Phát triển hệ thống đô thị ven biển và hải đảo
theo hướng bền vững, bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên; chú trọng phát triển đô thị
trên cơ sở bảo tồn, phát huy các yếu tố di sản, văn hóa - lịch sử.
Xây dựng, phát triển thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ
Chí Minh và các thành phố khác trở thành các đô thị năng động, sáng tạo, dẫn dắt
và tạo hiệu ứng lan tỏa, liên kết vùng đô thị; đủ sức cạnh tranh, hội nhập khu
vực và quốc tế, có vai trò quan trọng trong mạng lưới đô thị của khu vực Đông
Nam Á, châu Á. Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trở thành siêu đô thị đạt tầm
quốc tế theo mô hình đa cực, đa trung tâm, có hệ thống kết cấu hạ tầng và quản
trị thông minh, hiện đại.
Ưu tiên phát triển các đô thị gắn với các
hành lang kinh tế để trở thành các đô thị trung tâm phù hợp với chức năng của từng
vùng, thúc đẩy lan tỏa phát triển. Phát triển các đô thị vệ tinh của một số đô
thị lớn, nhất là thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh.
Phát triển đô thị vừa và nhỏ trong mối quan hệ chặt
chẽ, chia sẻ chức năng với các đô thị lớn, giảm dần khoảng cách phát triển giữa
các đô thị. Chú trọng phát triển các đô thị nhỏ, vùng ven đô để hỗ trợ phát triển
nông thôn thông qua các mối liên kết đô thị, nông thôn. Phát triển các mô hình
đô thị đặc thù như đô thị du lịch, đô thị di sản, đô thị đại học, đô thị sáng tạo,
đô thị kinh tế cửa khẩu, đô thị đảo.
Đối với các tỉnh, thành phố mới sáp nhập, tăng cường
hạ tầng kết nối đô thị trung tâm tỉnh, thành phố (tỉnh lỵ mới) với các đô thị
là các trung tâm các tỉnh trước sáp nhập (tỉnh lỵ cũ), tạo các động lực bổ trợ,
thúc đẩy các cực tăng trưởng cấp tỉnh và các tiểu vùng cùng phát triển, đồng thời
chia sẻ vai trò, chức năng nhằm bảo đảm tính đồng bộ, hiệu quả, thu hút các nguồn
lực để mở ra các không gian phát triển mới.
2. Định hướng phân bố các vùng đô thị lớn
a) Vùng đô thị Hà Nội: xây dựng hệ thống đô thị gồm
thành phố Hà Nội và các đô thị lân cận của các tỉnh xung quanh trong vùng Đồng
bằng sông Hồng và vùng Trung du và miền núi phía Bắc nhằm chia sẻ chức năng về
giáo dục và đào tạo, y tế, khoa học, công nghệ, thương mại, dịch vụ, du lịch, hạn
chế sự tập trung quá mức vào đô thị trung tâm Hà Nội.
Tập trung phát triển kết cấu hạ tầng đô thị và hạ tầng
kết nối đồng bộ, hiện đại, bao gồm các trục từ Hà Nội kết nối với các đô thị lớn
của vùng, các đường vành đai 4, vành đai 5 vùng Thủ đô Hà Nội và các tuyến đường
sắt đô thị, đường sắt vành đai phía Đông thành phố Hà Nội, thúc đẩy liên kết và
lan tỏa phát triển kinh tế - xã hội cho cả khu vực phía Bắc. Đẩy nhanh hình
thành các vành đai công nghiệp - đô thị - dịch vụ dọc theo các đường vành đai
4, vành đai 5 vùng Thủ đô Hà Nội.
Phát triển thành phố Hà Nội trở thành đô thị thông
minh, hiện đại, năng động, sáng tạo, dẫn dắt; đầu tàu trong khoa học, công nghệ;
trung tâm giao dịch quốc tế, dịch vụ giáo dục và đào tạo, y tế, tài chính, ngân
hàng chất lượng cao; đầu mối giao thông quan trọng của khu vực và quốc tế. Tập
trung xây dựng hạ tầng đô thị hiện đại, nhất là hạ tầng giao thông, thoát nước,
khắc phục tình trạng tắc nghẽn, ngập úng. Đẩy nhanh tiến độ các dự án đường sắt
đô thị gắn với triển khai mô hình phát triển đô thị theo định hướng giao thông
công cộng (TOD). Xây dựng thêm các cầu qua sông Hồng, sông Đuống. Quản lý, khai
thác không gian ngầm đô thị gắn với nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ đất đô thị.
Xây dựng, phát triển các đô thị của Thủ đô Hà Nội,
các đô thị vệ tinh có hạ tầng đồng bộ, tiện ích và dịch vụ đô thị, giao thông kết
nối thuận tiện với trung tâm, giảm tải khu vực nội đô và mở rộng không gian
phát triển của Hà Nội.
b) Vùng đô thị Thành phố Hồ Chí Minh: xây dựng hệ
thống đô thị gồm Thành phố Hồ Chí Minh và các đô thị lân cận thuộc các tỉnh
vùng Đông Nam Bộ và vùng Đồng bằng sông Cửu Long nhằm chia sẻ chức năng về dịch
vụ, công nghiệp, giáo dục và đào tạo, y tế, khoa học, công nghệ, hạn chế sự tập
trung quá mức vào đô thị trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh.
Tập trung phát triển kết cấu hạ tầng đô thị và hạ tầng
kết nối đồng bộ, hiện đại, bao gồm các trục từ khu vực lõi đô thị Thành phố Hồ
Chí Minh kết nối với các đô thị lớn của vùng, các đường vành đai 3, vành đai 4
và các tuyến đường sắt đô thị, đường sắt kết nối cảng hàng không, cảng biển cửa
ngõ quốc tế, thúc đẩy liên kết và lan tỏa phát triển kinh tế - xã hội cho cả
khu vực phía Nam. Đẩy nhanh hình thành các vành đai công nghiệp - đô thị - dịch
vụ dọc theo các đường vành đai 3, vành đai 4. Xây dựng đường sắt đô thị gắn với
phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD) dọc các tuyến.
Phát triển đô thị sân bay cửa ngõ quốc tế Long Thành.
Khu vực lõi đô thị Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị
hạt nhân, trung tâm phát triển của toàn vùng; chuyển nhanh sang dịch vụ chất lượng
cao, trở thành trung tâm tài chính quốc tế có tính cạnh tranh trong khu vực; đi
đầu về công nghiệp công nghệ cao, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, giáo dục
và đào tạo, y tế chuyên sâu và đầu mối giao thương với quốc tế. Chú trọng khai
thác không gian ngầm gắn với sử dụng hiệu quả quỹ đất đô thị. Khai thác tiềm
năng và lợi thế để phát triển khu vực đô thị Thủ Đức, khu vực Cần Giờ trở thành
động lực tăng trưởng mới cho Thành phố Hồ Chí Minh.
c) Vùng đô thị Đà Nẵng - Huế: xây dựng hệ thống đô
thị theo mô hình chuỗi đô thị bao gồm khu vực lõi đô thị thành phố Đà Nẵng và
thành phố Huế và các đô thị lân cận trên địa bàn hai thành phố; phát triển trở
thành trung tâm về khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, du lịch, thương mại, tài
chính, logistics, công nghiệp công nghệ cao, công nghệ số; một trong những
trung tâm giáo dục và đào tạo, y tế chất lượng cao, khoa học, công nghệ của đất
nước; trung tâm tổ chức các sự kiện tầm khu vực và quốc tế.
Phát triển thành phố Đà Nẵng là cực tăng trưởng, động
lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng Duyên hải Nam Trung Bộ
và Tây Nguyên, cùng với đô thị Huế thúc đẩy phát triển khu vực phía Nam của
vùng Bắc Trung Bộ, trở thành chuỗi đô thị động lực quan trọng của khu vực miền
Trung và cả nước.
d) Vùng đô thị Cần Thơ: xây dựng hệ thống đô thị gồm
đô thị trung tâm là lõi đô thị của Thành phố Cần Thơ và các đô thị lân cận;
phát triển trở thành trung tâm dịch vụ thương mại, du lịch, logistics, công
nghiệp chế biến, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, giáo dục, đào tạo, y tế
chuyên sâu, khoa học, công nghệ, văn hóa, thể thao của cả vùng. Khai thác các
trục giao thông kết nối Cần Thơ - Mỹ Thuận - Trung Lương - Thành phố Hồ Chí
Minh, Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng gắn với cảng biển Trần Đề để tập trung
phát triển đô thị, tạo sự lan tỏa tới các khu vực khác trong vùng.
Phát triển thành phố Cần Thơ là cực tăng trưởng,
đóng vai trò đô thị hạt nhân, động lực thúc đẩy phát triển toàn vùng Đồng bằng
sông Cửu Long.
3. Định hướng phát triển nông thôn
Xây dựng nông thôn mới phát triển toàn diện, hiện đại,
bền vững, xanh, sạch, đẹp gắn với quá trình đô thị hóa; có cơ sở hạ tầng, dịch
vụ xã hội đồng bộ và tiệm cận với khu vực đô thị; bảo đảm nhu cầu thiết yếu về nước
sạch của người dân và bảo vệ môi trường; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc; chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn và tổ chức sản xuất hợp lý, tiếp tục
mở rộng và nâng cao hiệu quả chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) trở thành
động lực phát triển bản địa, tạo sinh kế bền vững cho người dân; xã hội nông
thôn ổn định, dân trí được nâng cao; an ninh, trật tự được bảo đảm. Đầu tư
tương xứng vào tăng cường năng lực của chính quyền các xã, số hóa dịch vụ công
để bảo đảm đáp ứng yêu cầu đối với cấp cơ sở trong chính quyền địa phương 2 cấp.
Xây dựng các mô hình phân bố dân cư phù hợp với từng
vùng sinh thái tự nhiên và đặc điểm văn hóa, dân tộc, điều kiện kinh tế - xã hội.
Chủ động di dời, bố trí, sắp xếp lại các điểm dân cư đối với khu vực có nguy cơ
cao xảy ra thiên tai, sạt lở.
Đối với nông thôn ven đô, đẩy mạnh đô thị hóa, phát
triển nông nghiệp đô thị, từng bước hoàn thiện cơ sở hạ tầng, phát triển dịch vụ
xã hội có chất lượng tiệm cận với thành thị, hình thành các điểm dân cư tập
trung nông thôn xanh, sinh thái. Từng bước đưa phát triển đô thị về địa bàn
nông thôn.
Đối với nông thôn ở khu vực miền núi phía Bắc, một
số vùng ở Đồng bằng sông Hồng và các vùng miền khác, phát triển các khu dân cư
tập trung có quy mô thích hợp liên kết với đô thị; hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng
thiết yếu đối với nông thôn thuộc vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số
và miền núi.
Đối với nông thôn thuộc các vùng sản xuất nông nghiệp
tập trung tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, khu vực Tây Nguyên, định hướng phát
triển các khu dân cư nông thôn gắn với địa bàn sản xuất, các vùng chuyên canh,
cụm ngành chế biến - dịch vụ, liên kết hài hòa với các đô thị để bảo đảm cung cấp
dịch vụ cơ bản.
Phát triển toàn diện, bền vững vùng đồng bào dân tộc
thiểu số và miền núi; khai thác tiềm năng, phát huy hiệu quả lợi thế so sánh của
vùng, bảo vệ môi trường và không gian sinh sống của đồng bào dân tộc thiểu số.
Rút ngắn khoảng cách về phát triển và mức thu nhập giữa vùng đồng bào dân tộc
thiểu số và miền núi so với trung bình cả nước.
4. Tiếp tục thực hiện sắp xếp các đơn vị hành chính
đô thị và nông thôn, bảo đảm tính tổng thể, đồng bộ, phù hợp với quy hoạch và
yêu cầu phát triển, đáp ứng tiêu chuẩn của đơn vị hành chính theo quy định.”.
4. Bổ sung khoản 4 vào Điều 6 như sau:
“4. Khai thác hiệu quả vùng trời cho phát triển
kinh tế không gian tầm thấp. Thiết lập và quản lý các khu vực cấm bay, hạn chế
bay đối với tàu bay không người lái và các phương tiện bay siêu nhẹ tại các khu
vực liên quan đến quốc phòng, an ninh, khu vực trụ sở làm việc các cơ quan, khu
vực cảng hàng không, sân bay, khu vực biên giới, khu vực tập trung đông người
và các khu vực khác theo yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh.”.
5. Sửa đổi, bổ sung Điều 7 như sau:
“Điều 7. Định hướng phát triển và phân bố không
gian các ngành quan trọng
1. Phát triển nền công nghiệp có sức cạnh tranh quốc
tế cao, có khả năng tham gia sâu vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu;
thực hiện mục tiêu đến năm 2030 là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại,
nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế.
Nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh một số ngành công
nghiệp nền tảng như năng lượng, cơ khí chế tạo, luyện kim, vật liệu mới, hóa chất.
Tập trung phát triển một số ngành công nghiệp chiến lược, mũi nhọn như công
nghiệp điện tử, công nghiệp công nghệ số, công nghiệp ô tô, công nghiệp đường sắt,
công nghiệp đóng tàu, công nghiệp chế biến, chế tạo phục vụ nông nghiệp... Ưu
tiên phát triển, từng bước làm chủ công nghệ trong một số ngành công nghiệp mới
nổi như công nghiệp chíp bán dẫn, công nghiệp rô-bốt và tự động hóa, trí tuệ
nhân tạo, công nghiệp phục vụ kinh tế không gian tầm thấp, vật liệu tiên tiến,
vật liệu phục vụ công nghiệp cơ khí chế tạo, công nghiệp sinh học, công nghiệp
môi trường, năng lượng tái tạo, năng lượng mới. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp
hỗ trợ, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp đầu tư
nước ngoài. Phát triển các ngành công nghiệp xanh, gắn với mô hình kinh tế tuần
hoàn, sản xuất sạch hơn, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên, năng lượng.
Phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng,
hiện đại, gắn kết chặt chẽ và trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia, có sức
cạnh tranh quốc tế, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Bố trí không gian công nghiệp theo hướng gắn với hệ
thống đô thị, trung tâm dịch vụ để hình thành các hành lang kinh tế, các vùng động
lực. Mở rộng không gian phát triển công nghiệp về khu vực phía Tây của đường
cao tốc Bắc - Nam phía Đông, vùng trung du để giảm sức ép sử dụng quỹ đất tại
vùng đồng bằng và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu. Phát triển công
nghiệp khai thác, chế biến gắn với các vùng nguyên liệu, tài nguyên; mở rộng
các cụm công nghiệp gắn với các trung tâm phát triển ở khu vực nông thôn.
Hình thành và phát triển nhanh một số cụm liên kết
ngành công nghiệp chuyên môn hóa và các tổ hợp công nghiệp quy mô lớn, hiệu quả
cao phù hợp với lợi thế của mỗi vùng, địa phương. Tập trung phát triển hệ thống
khu công nghiệp, khu chế xuất theo hướng hiện đại; khu công nghiệp áp dụng chuyển
đổi số vận hành cơ sở hạ tầng, dịch vụ thông minh, khu công nghiệp sinh thái,
khu công nghiệp xanh; khuyến khích phát triển các khu công nghiệp chuyên ngành;
giảm dần các khu công nghiệp và cụm công nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp có
nguy cơ ô nhiễm môi trường cao. Phân bố các khu, cụm công nghiệp với quy mô hợp
lý, gắn kết sản xuất với dịch vụ công nghiệp; phát triển các tổ hợp công nghiệp
chuyên sâu trong các lĩnh vực. Hình thành các khu công nghiệp - dịch vụ - đô thị
hiện đại; bảo đảm sự kết nối đồng bộ giữa khu công nghiệp với hệ thống các công
trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội.
2. Phát triển khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn
trong nền kinh tế với chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh cao và hội nhập
quốc tế. Phát triển thương mại trong nước theo hướng hiện đại, văn minh, bền vững;
phát triển vững chắc thương mại quốc tế đồng bộ với sự phát triển của công nghiệp
hóa, khai thác tối đa lợi ích từ hợp tác và hội nhập quốc tế. Chú trọng xây dựng
thương hiệu hàng hóa Việt Nam. Phát triển hạ tầng thương mại đồng bộ, hiện đại,
phù hợp với đặc điểm và điều kiện từng vùng. Phát triển mạnh thương mại điện tử;
xây dựng Việt Nam trở thành thị trường thương mại điện tử lớn thứ hai trong khu
vực Đông Nam Á; phát triển đồng bộ hạ tầng số và hệ thống logistics hỗ trợ
thương mại điện tử.
Xây dựng các trung tâm dịch vụ, thương mại, tài
chính, ngân hàng mang tầm khu vực và thế giới tại các đô thị lớn, gắn với phát
triển các vùng động lực, các hành lang kinh tế. Phát triển các trung tâm tài
chính, khu thương mại tự do đủ sức cạnh tranh khu vực và quốc tế. Thúc đẩy phát
triển các sàn giao dịch hàng hóa, giao dịch tài sản thực và tài sản mã hóa.
Hình thành các trung tâm logistics lớn gắn với các cảng biển, cảng hàng không,
cửa khẩu quốc tế lớn. Hình thành các khu vực động lực phát triển du lịch, các
trung tâm du lịch cấp quốc gia, cấp vùng, các hành lang kết nối phát triển du lịch
để thúc đẩy, lan tỏa phát triển du lịch trên các vùng và cả nước. Chú trọng đầu
tư kết cấu hạ tầng du lịch, ưu tiên hạ tầng các khu du lịch quốc gia trọng điểm;
khai thác hiệu quả, bền vững tài nguyên du lịch; xây dựng các sản phẩm du lịch
hấp dẫn, giàu sức cạnh tranh gắn với phát triển các doanh nghiệp du lịch có
thương hiệu ở tầm khu vực và quốc tế; chú trọng xây dựng các hành lang di sản,
các sản phẩm du lịch trong hành lang di sản. Phấn đấu đến năm 2030, thu hút 45
- 50 triệu lượt khách du lịch quốc tế; tổng thu du lịch khoảng 13 - 14% GDP.
3. Phát triển nông nghiệp bền vững, hiện đại theo
chuỗi giá trị, cụm liên kết ngành, gắn với công nghiệp chế biến và phát triển
du lịch nông nghiệp, nông thôn. Phát triển kinh tế nông nghiệp có sức cạnh
tranh cao thuộc nhóm dẫn đầu khu vực và thế giới; phát triển các vùng sản xuất
hàng hóa, vùng chuyên canh nông nghiệp hữu cơ, vùng chăn nuôi tập trung an toàn
dịch bệnh với quy mô phù hợp, hiệu quả cao dựa trên lợi thế vùng, miền, địa
phương; bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia, thích ứng với biến đổi
khí hậu. Phát triển mạnh kinh tế nông nghiệp số, nông nghiệp thông minh, nông
nghiệp xanh, nông nghiệp tuần hoàn; đẩy mạnh áp dụng công nghệ, quy trình sản
xuất tiên tiến để phát triển các vùng, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
Bố trí không gian phát triển các vùng sản xuất nông
nghiệp gắn với hạ tầng đồng bộ, tập trung vào hạ tầng thủy lợi, giao thông,
logistics và chế biến nông sản, các trung tâm đầu mối về cung cấp vật tư đầu
vào, các khu nông nghiệp công nghệ cao, chuyển đổi số để nâng cao hiệu quả phát
triển tổng hợp, tăng cường liên kết giữa sản xuất, lưu thông, tiêu thụ sản phẩm.
Xây dựng các trung tâm đổi mới sáng tạo nông nghiệp vùng, đóng vai trò là hạt
nhân nghiên cứu, phát triển giống cây trồng, vật nuôi chất lượng cao; chuyển
giao công nghệ số, công nghệ chế biến và kết nối thị trường. Phát triển vùng Đồng
bằng sông Cửu Long trở thành trung tâm kinh tế nông nghiệp bền vững, năng động
và hiệu quả cao của quốc gia, khu vực và thế giới; phát triển các sản phẩm chủ
lực theo hướng tăng tỷ trọng thủy sản, trái cây và giảm tỷ trọng lúa gạo một
cách hợp lý. Vùng Đồng bằng sông Hồng phát triển nông nghiệp theo hướng hiệu quả
cao, hữu cơ, nông nghiệp phục vụ đô thị, gắn với xây dựng nông thôn mới. Tăng
diện tích trồng cây ăn quả, bảo vệ rừng và phát triển kinh tế lâm nghiệp, phát
triển dược liệu gắn với công nghiệp chế biến trên địa bàn khu vực Tây Nguyên,
vùng Trung du và miền núi phía Bắc. Đối với khu vực ven biển, phát triển nuôi
trồng thủy sản ven bờ kết hợp trồng và bảo vệ rừng ngập mặn. Tổ chức lại hoạt động
khai thác thủy sản theo hướng giảm khai thác gần bờ, đẩy mạnh khai thác tại các
vùng biển xa bờ phù hợp với từng vùng biển và khả năng phục hồi của hệ sinh
thái biển; bố trí lại sinh kế của cộng đồng ngư dân sang phát triển nuôi trồng,
chế biến thủy sản, dịch vụ du lịch. Đẩy mạnh nuôi trồng thủy sản trên biển theo
hướng công nghiệp quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao, công nghệ số và tự động
hóa.”.
6. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều
8 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:
“1. Phát triển đồng bộ mạng lưới các cơ sở giáo dục
đại học đáp ứng yêu cầu cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ nhu cầu
phát triển bền vững của đất nước; đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng, yêu cầu phát
triển kinh tế - xã hội của từng vùng, miền, địa phương. Tổ chức, sắp xếp lại
các cơ sở giáo dục, đào tạo gắn với nâng cao chất lượng đào tạo. Đầu tư hiện đại
hóa hạ tầng kỹ thuật, mở rộng không gian phát triển cho các cơ sở giáo dục đại
học hoạt động hiệu quả; phấn đấu 20% cơ sở được đầu tư hiện đại tương đương các
nước phát triển ở châu Á. Nâng tầm các cơ sở giáo dục đại học thực sự trở thành
các trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp của quốc gia và của các
vùng. Phát triển các cơ sở giáo dục đại học trọng điểm quốc gia; nâng cấp, xây
dựng một số đại học, trường đại học lớn và trường đại học sư phạm, đào tạo y
khoa trở thành trung tâm đào tạo chất lượng cao, có uy tín trong khu vực và thế
giới; phát triển 3 đến 5 đại học tinh hoa theo mô hình đại học nghiên cứu đẳng
cấp quốc tế, đào tạo nhân tài quốc gia. Khuyến khích quy hoạch, xây dựng các
khu đô thị công nghệ cao - đại học, tạo điều kiện cho việc di dời, mở rộng các
cơ sở giáo dục đại học. Khuyến khích phát triển các cơ sở giáo dục đại học tư
thục.
Phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp theo
hướng mở, linh hoạt, tạo cơ hội cho mọi người dân tiếp cận và thụ hưởng các dịch
vụ giáo dục nghề nghiệp, bảo đảm quy mô, cơ cấu, chất lượng đào tạo đáp ứng yêu
cầu thị trường lao động và hội nhập quốc tế. sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở
giáo dục nghề nghiệp bảo đảm tinh gọn, hiệu quả, đạt chuẩn. Xây dựng các trung
tâm đào tạo nghề chất lượng cao đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế, phù hợp với
phát triển các ngành nghề ưu tiên tại các trung tâm kinh tế lớn; ưu tiên đầu tư
hiện đại cho một số trường cao đẳng chất lượng cao đạt chuẩn quốc tế.
Nâng cao chất lượng giáo dục mầm non và phổ thông đạt
trình độ tiên tiến trong khu vực châu Á. Mở rộng và phân bố hợp lý mạng lưới cơ
sở giáo dục mầm non và phổ thông, đáp ứng nhu cầu xã hội về tiếp cận dịch vụ
giáo dục. Đầu tư xây dựng kiên cố hóa, hiện đại hóa trường, lớp học; bảo đảm đủ
cơ sở vật chất, trang thiết bị đạt chuẩn, đặc biệt chú trọng đầu tư các phòng học
thực hành, trải nghiệm tích hợp khoa học - công nghệ - kỹ thuật - nghệ thuật -
toán học (STEM/STEAM), không gian vui chơi, môi trường rèn luyện thể chất. Xây
dựng mạng lưới các cơ sở giáo dục chuyên biệt đối với người khuyết tật và hệ thống
trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập, đáp ứng nhu cầu được tiếp cận và
thụ hưởng các dịch vụ giáo dục có chất lượng cho người khuyết tật. Bảo đảm mỗi
tỉnh, thành phố có ít nhất một cơ sở giáo dục chuyên biệt tới cấp trung học phổ
thông. Phát triển các trường phổ thông dân tộc nội trú, cơ sở giáo dục thường
xuyên, trung tâm học tập cộng đồng. Hoàn thành xây dựng mạng lưới trường phổ
thông nội trú tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng khó khăn và biên giới
trước năm 2030.
Phát triển hệ thống trung tâm giáo dục quốc phòng
và an ninh có quy mô phù hợp với nhiệm vụ đào tạo theo từng địa bàn nhằm củng cố,
xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an
ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân.”.
b) Sửa đổi, bổ sung khoản 2 như sau:
“2. Xây dựng, nâng cấp và sắp xếp, phân bố không
gian mạng lưới cơ sở y tế phù hợp, bảo đảm mọi người dân được tiếp cận thuận lợi
đối với các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe chất lượng cao. Xây dựng hệ thống y
tế công bằng, chất lượng, hiệu quả và hội nhập; y tế dự phòng là then chốt, y tế
cơ sở là nền tảng; y tế chuyên sâu đồng bộ và cân đối với y tế cộng đồng; gắn kết
y học cổ truyền với y học hiện đại, quân y và dân y. Ưu tiên xây dựng, đầu tư đồng
bộ về nhân lực, cơ sở vật chất, thiết bị cho trạm y tế cấp xã đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ. Phát triển dược liệu, công nghiệp dược và thiết bị y tế, nâng cao
năng lực tự chủ về vắc-xin, thuốc, thiết bị y tế.
Bảo đảm mỗi vùng có ít nhất một bệnh viện chuyên
sâu mức kỹ thuật cao; mỗi tỉnh, thành phố có bệnh viện đạt cấp chuyên sâu và có
bệnh viện lão khoa hoặc bệnh viện đa khoa có chuyên khoa lão khoa. Xây dựng một
số cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ngang tầm khu vực và quốc tế; hình thành, phát
triển các trung tâm y tế chuyên sâu hiện đại, đáp ứng nhu cầu của Nhân dân và
góp phần thu hút du lịch chữa bệnh vào Việt Nam. Xây dựng trung tâm kiểm soát bệnh
tật quốc gia; xây dựng một số cơ sở nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, sản xuất
vắc-xin quốc gia. Phát triển các trung tâm kiểm nghiệm cấp vùng đạt tiêu chuẩn
khu vực và quốc tế, đáp ứng nhu cầu kiểm nghiệm, kiểm định, kiểm chuẩn về thuốc,
mỹ phẩm, thực phẩm, trang thiết bị y tế. Hình thành khu công nghiệp dược phẩm.”.
c) Sửa đổi, bổ sung khoản 3 như sau:
“3. Phát triển mạng lưới cơ sở văn hóa quốc gia gắn
với việc hình thành, phát triển các không gian văn hóa đáp ứng nhu cầu sáng tạo,
hưởng thụ văn hóa của Nhân dân, phát triển văn hóa thật sự là nền tảng tinh thần
của xã hội. Xây dựng các cơ sở văn hóa quốc gia trở thành những thương hiệu mạnh,
có sức cạnh tranh, bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị bản
sắc văn hóa dân tộc, đồng thời thúc đẩy sự phát triển các ngành công nghiệp văn
hóa của đất nước; xây dựng các công trình văn hóa ngang tầm khu vực và thế giới.
Xây dựng, nâng cấp các bảo tàng quốc gia theo hướng đồng bộ, hiện đại. Cải tạo,
nâng cấp các thư viện cấp quốc gia, thư viện công cộng cấp tỉnh, thư viện
chuyên ngành, thư viện đại học. Xây dựng, nâng cấp các cơ sở nghệ thuật biểu diễn
quốc gia tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh, thành phố theo hướng
đồng bộ, hiện đại đáp ứng yêu cầu tổ chức các sự kiện nghệ thuật quốc gia và quốc
tế. Đầu tư phát triển, tôn tạo, bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa,
nhất là các di sản được UNESCO công nhận; phát triển kinh tế di sản. Phát triển
nhanh, bền vững, hiệu quả các ngành công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí.
Hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp văn hóa, nghệ thuật sáng tạo. Xây dựng các
cụm, khu công nghiệp sáng tạo, tổ hợp văn hóa sáng tạo tầm cỡ quốc gia, quốc tế.
Xây dựng hệ thống thiết chế và tổ chức các hoạt động văn hóa theo hướng thiết
thực, hiệu quả, lấy địa bàn cơ sở, người dân làm trung tâm, đáp ứng được yêu cầu
sáng tạo, thụ hưởng văn hóa của Nhân dân. Hình thành kinh tế thể thao chuyên
nghiệp; phát triển mạng lưới cơ sở thể dục, thể thao quốc gia đồng bộ, hiện đại,
có một số công trình xây dựng đạt tiêu chuẩn quốc tế. Phát triển cơ sở thể dục,
thể thao cộng đồng.”.
d) Sửa đổi, bổ sung khoản 4 như sau:
“4. Xây dựng hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi
mới sáng tạo toàn diện. Hiện đại hóa hạ tầng nghiên cứu quốc gia; phát triển hệ
thống các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc
gia, tập trung cho công nghệ chiến lược. Hình thành và nâng cấp mạng lưới các
trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia, vùng và phòng thí nghiệm trọng điểm dùng
chung trở thành hạt nhân của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và nghiên cứu, phát
triển (R&D) quốc gia, thúc đẩy hợp tác viện nghiên cứu, trường, doanh nghiệp
trong nghiên cứu, phát triển và thương mại hoá sản phẩm công nghệ. Hình thành
và phát triển trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia tại Hà Nội,
Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ và các tỉnh, thành phố có điều kiện.
Hình thành các cụm liên kết đổi mới sáng tạo trên cơ sở liên kết các tổ chức
khoa học và công nghệ với các khu công nghệ cao, trung tâm tài chính, quỹ đầu
tư mạo hiểm, trường đại học, viện nghiên cứu.
Phát triển các tổ chức khoa học và công nghệ công lập
đa ngành, đa lĩnh vực, tăng dần mức độ tự chủ; sắp xếp tổ chức khoa học và công
nghệ công lập theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, nâng cao năng
lực nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và chuyển giao công nghệ; tập trung nguồn
lực đầu tư trọng tâm, trọng điểm để hình thành những đơn vị đầu tàu dẫn dắt
nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo theo các lĩnh vực công nghệ chiến lược.
Phát triển các tổ chức khoa học và công nghệ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến
lược, chính sách theo mô hình chuyên sâu, có năng lực khoa học xuất sắc, tiệm cận
trình độ khu vực và quốc tế. Đầu tư trọng điểm để hình thành các tổ chức khoa học
và công nghệ thực hiện vai trò gắn kết các chuỗi giá trị, cụm liên kết ngành,
các hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo ở các vùng, địa phương.
Phát triển các tổ chức khoa học và công nghệ thuộc các tập đoàn, tổng công ty
nhà nước trở thành các viện nghiên cứu chuyên sâu, cung cấp các công nghệ dẫn dắt,
tạo lợi thế cạnh tranh, phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Khuyến khích các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp lớn ngoài nhà nước hình
thành các đơn vị nghiên cứu và phát triển.”.
đ) Sửa đổi, bổ sung khoản 5 như sau:
“5. Tổ chức lại, sáp nhập, hợp nhất các cơ quan báo
chí của các tỉnh, thành phố và của các Bộ, ngành trung ương theo hướng hội tụ,
đa phương tiện, đa nền tảng; đẩy mạnh phát triển kinh tế báo chí. Hình thành
các nhà xuất bản lớn, phân bố hợp lý hệ thống phát hành xuất bản phẩm.”.
7. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều
9 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:
“1. Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông
đồng bộ, thông minh trên cơ sở phát huy ưu thế của các phương thức vận tải, bảo
đảm kết nối rộng khắp tới mọi địa bàn lãnh thổ đất nước, giảm thiểu chi phí
logistics, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; quan tâm đúng mức phát
triển giao thông đường sắt, đường thủy nội địa.
Định hướng tổ chức không gian hệ thống giao thông
quốc gia: hình thành các hành lang trục dọc quốc gia Bắc - Nam với đủ 5 phương
thức vận tải. Đối với khu vực phía Bắc, hình thành các hành lang hướng tâm kết
nối với Hà Nội, các hành lang Đông - Tây để kết nối khu vực miền núi phía Tây với
các cảng biển khu vực phía Đông. Đối với khu vực miền Trung, hình thành các trục
Đông - Tây kết nối khu vực phía Tây với các cảng biển khu vực phía Đông và liên
kết đối ngoại với các nước Lào, Campuchia. Đối với khu vực phía Nam, hình thành
các hành lang theo trục Đông - Tây và Bắc - Nam, khai thác lợi thế về vận tải
đường thủy nội địa và các cảng biển, cảng hàng không lớn, kết nối giao thông quốc
tế. Hình thành các tuyến vành đai và các trục hướng tâm từ các tỉnh lân cận kết
nối với Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
Định hướng phát triển của các loại hình kết cấu hạ
tầng giao thông:
- Đường bộ: hoàn thành xây dựng đường bộ cao tốc Bắc
- Nam phía Đông và các tuyến đường bộ cao tốc kết nối với các trung tâm kinh tế
lớn, cực tăng trưởng gắn với các vùng động lực như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí
Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ, kết nối các cảng biển đặc biệt, cảng hàng không quốc tế,
các cửa khẩu quốc tế có nhu cầu xuất nhập khẩu hàng hóa lớn, các tuyến kết nối
quốc tế quan trọng; mở rộng quy mô các tuyến có lưu lượng vận tải lớn bảo đảm
đáp ứng nhu cầu, giảm nhanh tình trạng ùn tắc trên các tuyến quan trọng. Đẩy
nhanh xây dựng các tuyến cao tốc gắn với hình thành các hành lang kinh tế Đông
- Tây, một số đoạn của cao tốc Bắc - Nam phía Tây. Đẩy nhanh tiến trình đầu tư
một số tuyến cao tốc, đường ven biển, quốc lộ quan trọng đáp ứng yêu cầu phát
triển các hành lang kinh tế, nhu cầu kết nối vùng, liên vùng, kết nối thông suốt
trên địa bàn đơn vị hành chính mới sau sáp nhập, kết nối hạ tầng cửa ngõ (cảng
biển, cảng hàng không quốc tế) để mở ra không gian phát triển mới và tạo sức bật
mới thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
- Đường sắt: xây dựng một số đoạn đường sắt tốc độ
cao trên trục Bắc - Nam. Xây dựng đường sắt kết nối quốc tế, đường sắt kết nối
với cảng biển cửa ngõ quốc tế khu vực Hải Phòng - Quảng Ninh, Thành phố Hồ Chí
Minh và cửa khẩu quốc tế quan trọng; hoàn thành xây dựng tuyến đường sắt Lào
Cai - Hà Nội - Hải Phòng, sớm triển khai các tuyến Biên Hoà - Vũng Tàu, Lạng
Sơn - Hà Nội, Hải Phòng - Hạ Long - Móng Cái. Đầu tư xây dựng các tuyến đường sắt
đầu mối, đường sắt kết nối Cảng hàng không quốc tế Long Thành. Đẩy nhanh xây dựng
đường sắt đô thị tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh; nghiên cứu kéo dài các
tuyến để kết nối với các tỉnh lân cận. Đầu tư đường sắt Thành phố Hồ Chí Minh -
Cần Thơ; đường sắt tốc độ cao Hà Nội - Quảng Ninh; nghiên cứu xây dựng đường sắt
Viêng Chăn (Lào) - Vũng Áng (Việt Nam).
- Cảng biển: nâng cấp, xây dựng các cảng biển cửa
ngõ có chức năng trung chuyển container quốc tế tại Lạch Huyện (Hải Phòng) và
Cái Mép - Thị Vải (Thành phố Hồ Chí Minh). Xây dựng cảng trung chuyển quốc tế Cần
Giờ (Thành phố Hồ Chí Minh), cảng Liên Chiểu (Đà Nẵng), Nam Đồ Sơn (Hải Phòng),
Hòn Khoai (Cà Mau), Vân Phong (Khánh Hòa), Trần Đề (Cần Thơ)...
- Cảng hàng không: xây dựng Cảng hàng không quốc tế
Long Thành; mở rộng, nâng cấp cảng hàng không quốc tế Nội Bài, Tân Sơn Nhất;
xây dựng, mở rộng các cảng hàng không quốc tế gắn với các vùng động lực như cảng
hàng không quốc tế Cần Thơ, Gia Bình, Cát Bi, Phú Quốc. Phấn đấu đến năm 2030,
có khoảng 92 - 95% dân số có thể tiếp cận tới cảng hàng không trong phạm vi 100
km.
Trên cơ sở định hướng và nhu cầu phát triển kinh tế
- xã hội của vùng, địa phương, nghiên cứu, đề xuất xây dựng các sân bay chuyên
dùng gắn với các vùng sản xuất, trung tâm du lịch quy mô lớn; tận dụng, phục hồi
nhanh các sân bay cũ, sân bay quân sự phục vụ lưỡng dụng.
- Đường thủy nội địa: đầu tư, nâng cấp đồng bộ các
tuyến sông chính để vận tải hàng hóa, container, hàng hóa chuyên dụng, khối lượng
lớn trên các tuyến đường thủy nội địa tại vùng Đồng bằng sông Hồng và vùng Đồng
bằng sông Cửu Long. Ưu tiên đầu tư và khai thác hiệu quả hành lang vận tải thủy
ven biển từ Quảng Ninh đến An Giang.”.
b) Sửa đổi, bổ sung khoản 2 như sau:
“2. Phát triển hạ tầng năng lượng đáp ứng yêu cầu bảo
đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia, cung cấp đầy đủ năng lượng ổn định,
có chất lượng cao cho tăng trưởng kinh tế từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn tới;
đồng thời đáp ứng nhu cầu năng lượng cho phát triển các ngành kinh tế mới và
yêu cầu chuyển đổi sang sử dụng năng lượng sạch trong các lĩnh vực. Phát triển
ngành năng lượng hài hòa giữa các phân ngành với hạ tầng đồng bộ và thông minh,
đạt trình độ tiên tiến của khu vực ASEAN. Nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng.
Phát triển đồng bộ, hợp lý và đa dạng hóa các loại
hình năng lượng; ưu tiên khai thác, sử dụng triệt để và hiệu quả các nguồn năng
lượng tái tạo, năng lượng mới, năng lượng sạch; thực hiện chuyển đổi năng lượng
quốc gia theo hướng sử dụng nguồn nhiên liệu xanh, sạch. Thúc đẩy triển khai
các dự án điện khí, khí tự nhiên hoá lỏng (LNG); ưu tiên phát triển nhiệt điện
sử dụng nguồn khí trong nước; khuyến khích chuyển đổi nhiên liệu đối với các
nhà máy nhiệt điện than. Phát triển mạnh các nguồn năng lượng tái tạo, nâng tỷ
trọng năng lượng tái tạo chiếm khoảng 25 - 30% trong tổng cung năng lượng sơ cấp;
ưu tiên phát triển điện gió, điện mặt trời phù hợp với khả năng bảo đảm an toàn
hệ thống với giá thành điện hợp lý; đẩy mạnh các nguồn điện từ xử lý rác thải
đô thị, chất thải rắn và sinh khối. Phát triển năng lượng hydrogen, amoniac;
khai thác điện gió ngoài khơi, điện mặt trời gắn với sản xuất hydrogen,
amoniac. Nghiên cứu, phát triển năng lượng địa nhiệt, sóng biển, thủy triều, hải
lưu... Triển khai các dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2. Phát
triển điện hạt nhân theo các quy mô linh hoạt, các nhà máy điện hạt nhân lắp
ráp module nhỏ. Hình thành Trung tâm công nghiệp năng lượng quốc gia tích hợp
khí, khí hóa lỏng, điện, lọc, hóa dầu, năng lượng tái tạo tại các địa phương có
lợi thế.
Cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới lưới điện truyền tải
500 kV liên vùng đồng bộ với phát triển nguồn điện, bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả.
Phát triển lưới điện thông minh để tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo ở quy
mô lớn, đáp ứng yêu cầu vận hành hệ thống điện an toàn, ổn định và kinh tế.
Nghiên cứu kết nối năng lượng với các nước trong khu vực Đông Nam Á; phát triển
các nguồn điện từ năng lượng tái tạo và sản xuất năng lượng mới phục vụ xuất khẩu.
Tăng cường hoạt động điều tra cơ bản về dầu khí. Đẩy
mạnh công tác tìm kiếm thăm dò, phát triển mỏ và khai thác dầu khí nhằm gia
tăng trữ lượng và sản lượng khai thác dầu khí tại các khu vực tiềm năng, nước
sâu, xa bờ gắn với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển. Phát triển
công nghiệp khí; đầu tư hạ tầng kỹ thuật phục vụ nhập khẩu, dự trữ và tiêu thụ
LNG. Đẩy mạnh khai thác than trong nước trên cơ sở bảo đảm an toàn, hiệu quả,
tiết kiệm và thân thiện với môi trường; mở rộng tìm kiếm, thăm dò, nâng cao chất
lượng công tác đánh giá trữ lượng và tài nguyên. Tăng cường năng lực nhập khẩu
và chế biến than quốc gia. Đầu tư xây dựng hệ thống kho dự trữ dầu thô, xăng dầu,
khí đốt và than phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và an ninh năng
lượng quốc gia cả trên đất liền và trên biển.”.
c) Sửa đổi, bổ sung khoản 3 như sau:
“3. Tạo đột phá trong phát triển hạ tầng thông tin
và truyền thông, ưu tiên đầu tư, hiện đại hóa hạ tầng số hiện đại, dung lượng
siêu lớn, băng thông siêu rộng ngang tầm các nước tiên tiến, trở thành hạ tầng
chiến lược, thiết yếu; có khả năng cung cấp các dịch vụ thông tin và truyền
thông tin cậy với giá cả phù hợp; bảo đảm an toàn thông tin mạng; đáp ứng yêu cầu
chuyển đổi số trong xây dựng Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số và tạo nền tảng
khai thác hiệu quả không gian số làm không gian phát triển mới.
Phát triển mạng bưu chính đồng bộ, hiện đại, trở
thành một trong những hạ tầng thiết yếu của quốc gia và của nền kinh tế số.
Phát triển hạ tầng viễn thông, Internet quốc gia đáp ứng yêu cầu dự phòng, kết
nối, an toàn, bền vững, tập trung phát triển hệ thống truyền dẫn dữ liệu qua vệ
tinh, mạng cáp quang băng thông rộng tốc độ cao phủ sóng toàn quốc, mạng thông
tin di động 5G, 6G và các thế hệ tiếp theo; phát triển thêm các tuyến cáp quang
biển và trên đất liền. Đầu tư, xây dựng trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây;
thu hút doanh nghiệp nước ngoài đặt trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây tại Việt
Nam. Xây dựng các trung tâm dữ liệu gắn với các vùng động lực, cực tăng trưởng,
hành lang kinh tế; phát triển các cụm trung tâm dữ liệu quốc gia tại khu vực
phía Bắc và khu vực phía Nam; hoàn thành và phát huy hiệu quả Trung tâm dữ liệu
quốc gia, đầu tư xây dựng các trung tâm dữ liệu vùng; bảo đảm kết nối liên
thông, tích hợp, chia sẻ và khai thác, phục vụ hiệu quả công tác quản lý nhà nước,
tạo nền tảng phát triển kinh tế số, xã hội số. Hình thành các trung tâm dữ liệu
hỗ trợ các ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Chuyển dịch đầu tư xây dựng hệ thống truyền
dẫn trục quốc gia từ tập trung phát triển theo trục Bắc - Nam sang mở rộng phát
triển theo trục Đông - Tây, nâng cao năng lực dự phòng và phân tải cho mạng đường
trục quốc gia. Phát triển các vệ tinh VINASAT của Việt Nam.
Hoàn thiện các nền tảng số quy mô quốc gia để vận
hành thông suốt đáp ứng được yêu cầu Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số. Đẩy mạnh
chuyển đổi số toàn diện mô hình quản trị quốc gia dựa trên công nghệ số và dữ
liệu số. Phát triển hạ tầng vật lý số đồng bộ, hiện đại, tích hợp cảm biến và ứng
dụng công nghệ số vào các hệ thống hạ tầng thiết yếu, tạo nền tảng quản lý
thông minh, vận hành hiệu quả; phấn đấu số lượng kết nối Internet vạn vật (IoT)
đạt mức cao của thế giới. Phát triển hạ tầng tiện ích số và công nghệ số như dịch
vụ đồng bộ, hiện đại phục vụ hình thành xã hội số toàn diện.
Phát triển nhanh, bền vững ngành công nghiệp công
nghệ số; tiếp tục phát triển các khu công nghệ số tập trung quy mô lớn và thành
viên chuỗi khu công viên phần mềm. Thu hút đầu tư, phát triển mạnh các khu công
nghệ số tập trung tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần
Thơ và một số vùng có lợi thế về công nghiệp công nghệ số để hình thành các cụm
liên kết ngành, nhóm sản phẩm chuyên môn hóa, hiệu quả cao.”.
d) Sửa đổi, bổ sung khoản 4 như sau:
“4. Phát triển hệ thống thủy lợi theo hướng đa mục
tiêu, bảo đảm tưới, tiêu, cấp, thoát nước cho nông nghiệp, dân sinh, các ngành
kinh tế, góp phần phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững, bảo đảm
an ninh nguồn nước, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai, thích ứng với biến
đổi khí hậu, đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh các tình huống thiên tai cực đoan
diễn ra với cường độ mạnh và tần suất cao hơn.
Nâng cấp công trình đầu mối, hệ thống kênh chính để
bảo đảm năng lực thiết kế của các hệ thống thủy lợi liên tỉnh. Xây dựng các
công trình tạo nguồn, dẫn nguồn nước ổn định đáp ứng các yêu cầu thay đổi lớn về
mức bảo đảm, số lượng, chất lượng nước cấp ở các khu vực phát triển nhanh đô thị,
công nghiệp, du lịch, dịch vụ có sử dụng nước tạo nguồn từ công trình thủy lợi.
Xây dựng giải pháp điều tiết nguồn nước trên dòng chính các sông có khó khăn về
diễn biến hạ thấp đáy sông, mực nước sông phức tạp và nguy cơ xâm nhập mặn cao.
Hoàn thành xây dựng và nâng cấp các công trình thủy
lợi, hồ chứa nước trọng yếu bảo đảm an ninh nguồn nước phục vụ sản xuất và đời
sống nhân dân. Xây dựng các hồ chứa lớn tại vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây
Nguyên; nghiên cứu, xây dựng hệ thống giữ nước cho Đồng bằng sông Cửu Long; triển
khai chương trình phòng, chống lũ lụt, sạt lở vùng trung du và miền núi. Thực
hiện các giải pháp khôi phục dòng chảy và môi trường các dòng sông bị ô nhiễm,
giải quyết tình trạng hạ thấp mực nước sông để các công trình thủy lợi có thể
chủ động lấy nước phục vụ sản xuất tại vùng Đồng bằng sông Hồng.
Xây dựng công trình kiểm soát nguồn nước tại các cửa
sông lớn để chủ động kiểm soát mặn, trữ ngọt, bổ sung nước ngọt ra vùng ven biển
phục vụ dân sinh, nuôi trồng thủy sản và sản xuất nông nghiệp. Xây dựng, củng cố
hệ thống công trình phòng, chống lũ, chống ngập lụt bảo vệ các đô thị, đặc biệt
là các đô thị lớn; đồng thời bổ sung năng lực tiêu úng cho các khu vực đang chuyển
nhanh từ nông nghiệp sang đô thị, công nghiệp và phát triển hạ tầng khác. Củng
cố, nâng cấp hệ thống đê biển toàn quốc.”.
8. Sửa đổi, bổ sung Điều 12 như sau:
“Điều 12. Định hướng sử dụng đất quốc gia
1. Việc xác định chỉ tiêu sử dụng đất phải phù hợp
với nhu cầu sử dụng đất, tránh lãng phí trong phân bổ, quản lý; sử dụng hiệu quả
nguồn lực đất đai để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng
yêu cầu phát triển đột phá của các ngành lĩnh vực, địa phương để thực hiện mục
tiêu tăng trưởng kinh tế cao của cả nước; bảo đảm quốc phòng, an ninh, gắn với
bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu.
2. Ưu tiên bố trí quỹ đất cho phát triển hệ thống kết
cấu hạ tầng đồng bộ, phát triển công nghiệp, dịch vụ, đô thị, thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế; trong đó chú trọng nhu cầu phát triển tại các vùng động lực quốc gia,
cực tăng trưởng, các hành lang kinh tế. Bảo đảm quỹ đất đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao về giáo dục, y tế, xã hội, văn hóa, thể dục, thể thao, nhà ở xã hội,
nhà ở cho công nhân khu công nghiệp; quỹ đất cho mục đích quốc phòng, an ninh.
3. Quản lý diện tích đất trồng lúa đáp ứng đủ nhu cầu
an ninh lương thực quốc gia và có một phần dành cho xuất khẩu. Trong phạm vi diện
tích phù hợp, cho phép linh hoạt chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên đất
trồng lúa nhưng không làm thay đổi tính chất, điều kiện sử dụng đất trồng lúa để
có thể chuyển đổi trở lại trồng lúa khi cần thiết. Kiểm soát chặt chẽ việc chuyển
đổi đất trồng lúa, nhất là đất chuyên trồng lúa nước sang đất phi nông nghiệp,
trên cơ sở đánh giá năng suất, hiệu quả của các khu vực đất trồng lúa, đi đôi với
việc bảo đảm lợi ích của người trồng lúa và địa phương trồng lúa.
4. Quản lý chặt chẽ đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc
dụng, bảo vệ diện tích và phục hồi rừng tự nhiên gắn với bảo tồn đa dạng sinh học,
bảo vệ cảnh quan, môi trường sinh thái. Phát triển và nâng cao chất lượng rừng
trồng, nhất là rừng trồng gỗ lớn.
5. Tiếp tục thực hiện khai hoang, phục hóa, lấn biển,
đưa diện tích đất chưa sử dụng vào sử dụng; hạn chế tình trạng suy thoái đất; cải
tạo, phục hồi diện tích đất bị thoái hóa gắn với bảo vệ môi trường và phát triển
bền vững.”.
9. Sửa đổi, bổ sung Điều 14 như sau:
“Điều 14. Giải pháp, nguồn lực thực hiện quy hoạch
1. Về huy động vốn đầu tư
Tiếp tục cơ cấu lại ngân sách nhà nước, bảo đảm tỷ
lệ hợp lý giữa chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển theo hướng tăng dần
cho chi đầu tư phát triển. Cơ cấu lại chi đầu tư công theo hướng trọng tâm, trọng
điểm, nâng cao hiệu quả, hiệu lực phân bổ, giải ngân vốn đầu tư công. Ưu tiên đầu
tư công cho mạng lưới hạ tầng quy mô lớn mang tính liên vùng, liên tỉnh và kết
nối các vùng động lực quốc gia, các hành lang kinh tế, kết nối mạng lưới giao
thông khu vực, quốc tế; đầu tư các công trình có sức lan tỏa cao, giải quyết
nhu cầu thiết yếu, các nút thắt của vùng, mang lại hiệu quả kinh tế và hiệu quả
xã hội cao cho toàn vùng. Phát huy vai trò dẫn dắt của đầu tư công để kích hoạt,
huy động, thu hút mọi nguồn lực xã hội; huy động và sử dụng nguồn lực theo
phương thức đối tác công tư, mô hình “lãnh đạo công - quản trị tư”, “đầu tư
công - quản lý tư”, “đầu tư tư - sử dụng công”... để huy động và sử dụng hiệu
quả mọi nguồn lực cho nền kinh tế. Tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho
các dự án đầu tư đang tồn đọng, chậm triển khai.
Đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước để nâng
cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thông qua thu hút thêm nguồn lực từ các
khu vực kinh tế khác, tăng cường năng lực quản trị, cải thiện công nghệ để
doanh nghiệp phát triển sau cổ phần hoá. Tiền thu được từ cổ phần hoá, thoái vốn
nhà nước tập trung đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng trọng điểm, quan trọng
của quốc gia, của địa phương.
Hoàn thiện chính sách thu ngân sách nhà nước đối với
đất đai, tài sản, tài nguyên; có cơ chế phù hợp để khai thác nguồn lực từ đất
đai cho phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội. Tăng cường nguồn thu cho
ngân sách nhà nước từ đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất
theo quy hoạch và tại các khu vực phát triển đô thị theo định hướng giao thông
công cộng (TOD) để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị. Sử dụng hiệu quả các
công cụ trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương để tăng cường
huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển.
Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện,
nâng cao hơn nữa chất lượng môi trường đầu tư, kinh doanh, tạo điều kiện thuận
lợi cho các thành phần kinh tế đầu tư, kinh doanh, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh,
bình đẳng, minh bạch. Thành lập Cổng đầu tư một cửa quốc gia để thu hút, xúc tiến
và giải quyết các thủ tục đầu tư theo mô hình một cửa. Hoàn thiện khung khổ luật
pháp, chính sách phát triển các loại thị trường vốn, nhất là thị trường chứng
khoán, thị trường vốn đầu tư mạo hiểm nhằm huy động nguồn vốn trung và dài hạn
cho đầu tư, thúc đẩy khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo. Thành lập, vận hành hiệu quả
Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng để thu hút
dòng vốn quốc tế cho phát triển các dịch vụ tài chính tại Việt Nam, tạo đột phá
trong huy động nguồn lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nghiên cứu, áp dụng
khung pháp lý chuyên biệt đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế số, nhất
là công nghệ tài chính, tài sản mã hóa, trí tuệ nhân tạo, thương mại điện tử,
các ngành công nghệ mới. Huy động nguồn lực trong Nhân dân thúc đẩy sản xuất
kinh doanh; phát triển các kênh đầu tư thay thế để huy động vàng trong Nhân dân
vào nền kinh tế.
Đổi mới mạnh mẽ chính sách thu hút đầu tư nước
ngoài và chuẩn bị đồng bộ các điều kiện như thể chế, hạ tầng, nhân lực để tăng
hiệu quả đầu tư nước ngoài phục vụ cho các mục tiêu phát triển. Định hướng thu
hút các doanh nghiệp lớn có công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, hệ thống quản
lý hiện đại, các tập đoàn đa quốc gia hàng đầu thế giới đầu tư vào địa bàn các
vùng động lực, hình thành những cụm liên kết ngành, tạo sức lan tỏa lớn, thúc đẩy
phát triển khu vực kinh tế trong nước. Tăng cường thu hút đầu tư gián tiếp, đặc
biệt là các quỹ đầu tư quốc tế.
Huy động vốn vay nước ngoài với điều kiện, lãi suất
ưu đãi, phù hợp, hiệu quả, tập trung cho một số lĩnh vực chủ chốt; ưu tiên đầu
tư cho các dự án trực tiếp thúc đẩy tăng trưởng gắn với phát triển bền vững, có
hiệu ứng lan tỏa như thích ứng với biến đổi khí hậu, năng lượng sạch, nâng cao
chất lượng môi trường, văn hóa, giáo dục và đào tạo, y tế, khoa học, công nghệ
và đổi mới sáng tạo.
2. Về cơ chế, chính sách
Xây dựng, hoàn thiện thể chế pháp luật gắn với tổ
chức thi hành pháp luật nghiêm minh, hiệu quả, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực
hiện quy hoạch. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với bảo đảm nguồn lực và nâng
cao năng lực thực hiện nhiệm vụ; đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát. Tổ chức
vận hành hiệu quả chính quyền địa phương 2 cấp.
Xây dựng cơ chế, chính sách cho các địa phương tại
các vùng động lực quốc gia có nguồn lực để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng vùng
cũng như các công trình hạ tầng kết nối giữa các trung tâm phát triển của địa
phương với hệ thống hạ tầng quốc gia. Ưu tiên hình thành, phát triển tại các
vùng động lực: khu thương mại tự do, khu công nghệ cao và mô hình khu chức năng
khác, phù hợp với xu thế chung của thế giới, được áp dụng cơ chế, chính sách đặc
thù, tạo môi trường hấp dẫn vượt trội để tăng cường thu hút nguồn lực đầu tư chất
lượng cao.
Có chính sách nâng cao phúc lợi xã hội toàn dân; bảo
đảm mọi người dân được tiếp cận, thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản, thiết yếu
có chất lượng, ưu tiên các đối tượng chính sách, đối tượng yếu thế. Xây dựng cơ
chế, chính sách thúc đẩy tạo việc làm bền vững, nâng cao tỷ lệ lao động có việc
làm chính thức trong nền kinh tế. Quan tâm đầu tư các vùng miền núi, vùng đặc
biệt khó khăn; hỗ trợ, tạo điều kiện để đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận bình
đẳng nguồn lực, cơ hội phát triển.
Xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù chăm lo phát
triển văn hóa, giáo dục, đào tạo, y tế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; tạo
sinh kế, việc làm, sắp xếp ổn định dân cư vững chắc cho đồng bào dân tộc thiểu
số, nhất là vùng biên giới. Triển khai có hiệu quả các chương trình, dự án phát
triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều
kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Từng bước phát triển khu vực khó khăn
thông qua xây dựng hạ tầng kết nối khu vực khó khăn với các hành lang kinh tế,
kết nối các khu vực biên giới khó khăn với phát triển các khu kinh tế cửa khẩu.
Hoàn thiện cơ chế, chính sách về văn hóa đáp ứng yêu cầu phát triển để văn hóa
thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội; đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng
khoa học, công nghệ trong lĩnh vực văn hóa.
3. Về khoa học, công nghệ và môi trường
Lựa chọn và tập trung hỗ trợ triển khai nghiên cứu ứng
dụng phát triển công nghệ cho một số ngành, lĩnh vực then chốt. Nâng cao tiềm lực
và trình độ khoa học, công nghệ trong nước để có thể triển khai các hướng
nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ mới, tập trung ưu tiên phát triển
công nghệ chiến lược, công nghệ có khả năng ứng dụng cao. Xây dựng và thực thi
cơ chế, chính sách đột phá, ưu tiên nguồn lực phát triển hạ tầng khoa học, công
nghệ, các cơ sở nghiên cứu và phát triển các ngành công nghệ cao, công nghệ chiến
lược, công nghệ lõi, công nghệ nguồn, công nghệ số. Tiếp tục có cơ chế, chính
sách ưu đãi, đầu tư và khai thác có hiệu quả các khu công nghệ cao, khu nông
nghiệp ứng dụng công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung, trung tâm đổi mới
sáng tạo cấp quốc gia theo mô hình tiên tiến trên thế giới.
Tăng cường các biện pháp quản lý, cải tạo và phục hồi
chất lượng môi trường không khí, nước, đất tại các đô thị lớn, lưu vực sông, biển.
Thực hiện các giải pháp để giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường không khí ở
các đô thị lớn, đặc biệt là Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh. Quản lý chất thải rắn,
trọng tâm là quản lý tốt chất thải rắn sinh hoạt, chất thải nhựa. Rà soát, kiểm
soát chặt chẽ các nguồn thải lớn; tăng cường các biện pháp phòng ngừa các nguy
cơ xảy ra sự cố môi trường; chủ động giám sát các đối tượng, dự án tiềm ẩn nguy
cơ gây ô nhiễm, sự cố môi trường. Tăng cường bảo tồn thiên nhiên và đa dạng
sinh học.
4. Về phát triển nguồn nhân lực
Phát triển nguồn nhân lực bền vững, bảo đảm cân đối
tổng thể, hài hòa với định hướng phân bố dân cư. Xây dựng chính sách, giải pháp
đột phá về nguồn nhân lực để tăng nhanh tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ.
Xây dựng chính sách hỗ trợ, nâng cao năng lực cơ sở đào tạo các ngành ưu tiên gắn
với ứng dụng công nghệ tiên tiến, các ngành khoa học nền tảng cho phát triển
khoa học, công nghệ; huy động nguồn lực trong nước và quốc tế trong đào tạo và
đào tạo lại nguồn nhân lực. Tập trung đào tạo nhân lực chất lượng cao theo chuẩn
quốc tế, nhất là các ngành mũi nhọn về khoa học, công nghệ, quản trị thông
minh, khoa học cơ bản và các lĩnh vực ưu tiên, mới nổi như trí tuệ nhân tạo, an
ninh mạng, chuỗi khối, điện tử, chíp bán dẫn, công nghệ số, công nghệ sinh học,
môi trường, năng lượng (bao gồm cả năng lượng nguyên tử), vật liệu tiên tiến,
rô-bốt và tự động hóa.
Xây dựng các chính sách ưu đãi để thu hút nguồn
nhân lực chất lượng cao, các nhà khoa học giỏi, chuyên gia trình độ cao cho các
ngành ưu tiên và các địa phương trong các vùng động lực; thu hút và sử dụng hiệu
quả trí tuệ, nguồn lực của người Việt Nam ở nước ngoài. Đổi mới chính sách thu
hút nhân lực, đặc biệt là trí thức trẻ, cán bộ khoa học kỹ thuật về công tác
lâu dài và phát triển nguồn nhân lực tại chỗ ở các vùng khó khăn, nhất là ở
vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
5. Về hợp tác quốc tế
Tăng cường hợp tác với các quốc gia, vùng lãnh thổ,
tổ chức quốc tế, tổ chức tài chính, cơ quan tài trợ để huy động nguồn lực tài
chính cho các dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, dự án hỗ trợ kỹ thuật và
nâng cao năng lực để tăng cường kết nối kinh tế trong và ngoài khu vực ASEAN.
Thực hiện hiệu quả các hiệp định song phương và đa
phương về phát triển kết cấu hạ tầng, đặc biệt đối với hạ tầng giao thông để tạo
thuận lợi cho vận tải hành khách và hàng hóa qua lại biên giới, vận tải liên quốc
gia, vận tải đa phương thức trong khuôn khổ ASEAN, Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng
(GMS) và với các nước trên thế giới.
Chủ động, tích cực hợp tác với các quốc gia, vùng
lãnh thổ trên thế giới để thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư, nhất là
tạo điều kiện tiếp cận thuận lợi hơn nữa với các thị trường lớn, quan trọng cho
hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Thực hiện hiệu quả các Hiệp định thương mại tự
do (FTA), nhất là các FTA thế hệ mới mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là thành viên, phát huy tối đa lợi ích mà các FTA mang lại.
Đẩy mạnh hợp tác quốc tế hiệu quả, thực chất với
các quốc gia có trình độ khoa học và công nghệ, chuyển đổi số phát triển để
nhanh chóng nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và chuyển
đổi số của quốc gia, nhất là trong các công nghệ chiến lược.
Chủ động và tham gia tích cực các điều ước quốc tế,
cơ chế hợp tác song phương, đa phương, đẩy mạnh hợp tác quốc tế về tài nguyên
nước trên nguyên tắc tôn trọng luật pháp quốc tế và lợi ích của từng quốc gia
có liên quan trong việc khai thác, sử dụng và quản lý nguồn nước xuyên biên giới.
Chủ động và tham gia tích cực vào các điều ước quốc
tế, thỏa thuận quốc tế về biến đổi khí hậu, tận dụng các nguồn lực hỗ trợ của
quốc tế dành cho ứng phó với biến đổi khí hậu.”.
10. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 15 như sau:
“1. Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 -
2030, tầm nhìn đến năm 2050 (sau đây gọi là Quy hoạch tổng thể quốc gia) được
thông qua tại Nghị quyết này là căn cứ để lập, điều chỉnh các quy hoạch trong hệ
thống quy hoạch theo quy định của Luật Quy hoạch.
Việc triển khai các chương trình, dự án quan trọng quốc gia phải bảo đảm phù hợp
với yêu cầu thực tiễn phát triển của đất nước và mục tiêu, định hướng đã được
xác định tại Nghị quyết này.”.
11. Sửa đổi, bổ sung Phụ lục
Danh mục dự kiến các dự án quan trọng quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến
năm 2050 như tại Phụ lục kèm theo Nghị quyết này.
12. Thay cụm từ, bổ sung cụm từ,
bỏ cụm từ tại một số điều, khoản sau đây:
a) Thay cụm từ “Bắc Trung Bộ và duyên hải miền
Trung” tại điểm b khoản 4 Điều 5 bằng cụm từ “miền Trung”;
b) Thay cụm từ “Bình Thuận” tại điểm
b khoản 4 Điều 5 bằng cụm từ “Lâm Đồng”;
c) Bỏ cụm từ “Bà Rịa - Vũng Tàu -” tại điểm c khoản 4 Điều 5;
d) Thay cụm từ “Tiền Giang” tại điểm
d khoản 4 Điều 5 bằng cụm từ “Đồng Tháp”;
đ) Thay cụm từ “Kiên Giang” tại điểm
d khoản 4 Điều 5 và khoản 5 Điều 9 bằng cụm từ “An Giang”;
e) Thay cụm từ “thành phố Phú Quốc” tại điểm d khoản 4 Điều 5 bằng cụm từ “đặc khu Phú Quốc”;
g) Thay cụm từ “Bà Rịa - Vũng Tàu” tại khoản 5 Điều 9 bằng cụm từ “Thành phố Hồ Chí Minh”;
h) Bổ sung cụm từ “. Khai thác thị trường tín chỉ
các-bon” vào sau cụm từ “giảm phát thải khí nhà kính của các ngành, lĩnh vực” tại
khoản 3 Điều 10;
i) Bổ sung cụm từ “, vùng kinh tế - xã hội” vào sau
cụm từ “vùng lãnh thổ” tại khoản 2 Điều 11;
k) Bổ sung cụm từ “; bảo đảm an ninh mạng, an ninh
dữ liệu” vào sau cụm từ “an ninh truyền thống và phi truyền thống” tại khoản 3 Điều 11.
Điều 2. Điều khoản thi hành
Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày thông
qua.
Nghị quyết này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10 tháng 12 năm 2025.
|
|
CHỦ TỊCH QUỐC HỘI
Trần Thanh Mẫn
|
PHỤ LỤC
DANH MỤC DỰ KIẾN CÁC DỰ ÁN QUAN TRỌNG CỦA QUỐC GIA THỜI KỲ
2021 - 2030, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2050
(Kèm theo Nghị quyết số 252/2025/QH15 ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội)
|
TT
|
Dự án
|
Phân kỳ thực hiện
|
|
Giai đoạn 2021 - 2030
|
Giai đoạn 2031 - 2050
|
|
1
|
Đường bộ cao tốc Bắc -
Nam phía Đông
|
X
|
|
|
2
|
Đường bộ cao tốc Bắc -
Nam phía Tây
|
X
|
X
|
|
3
|
Đường bộ cao tốc Đông -
Tây
|
X
|
X
|
|
4
|
Cảng hàng không quốc tế
Long Thành
|
X
|
X
|
|
5
|
Đường vành đai vùng Thủ
đô Hà Nội, vành đai Thành phố Hồ Chí Minh
|
X
|
|
|
6
|
Đường sắt tốc độ cao
trên trục Bắc - Nam
|
X
|
X
|
|
7
|
Đường sắt đô thị Hà Nội,
đường sắt đô thị Thành phố Hồ Chí Minh
|
X
|
X
|
|
8
|
Các tuyến đường sắt kết
nối với cảng biển cửa ngõ quốc tế
|
X
|
X
|
|
9
|
Các nhà máy điện hạt
nhân
|
X
|
X
|