|
ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH LAI CHÂU
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số:
77/2026/QĐ-UBND
|
Lai Châu, ngày 16
tháng 9 năm 2026
|
QUYẾT ĐỊNH
BAN HÀNH QUY CHẾ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THÔN, TỔ DÂN PHỐ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LAI CHÂU
Căn cứ Luật Tổ chức chính
quyền địa phương số 72/2025/QH15;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản
Quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 87/2025/QH15;
Căn cứ Luật Thực hiện dân chủ
ở cơ sở số 10/2022/QH15; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, Luật Công đoàn, Luật Thanh niên và Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở
số 97/2025/QH15;
Căn cứ Nghị định số
59/2023/NĐ-CP ngày 14 tháng 8 năm 2023 của Chính phủ quy định chi tiết một số
điều của Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở;
Căn cứ Nghị định số
185/2026/NĐ-CP ngày 26 tháng 5 năm 2026 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt
động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không
chuyên trách ở thôn, tổ dân phố;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở
Nội vụ;
Ủy ban nhân dân tỉnh Lai
Châu ban hành Quyết định ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân
phố trên địa bàn tỉnh Lai Châu.
Điều 1. Ban
hành kèm theo Quyết định này Quy chế tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố
trên địa bàn tỉnh Lai Châu.
Điều 2. Hiệu
lực thi hành
Quyết định này có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 10 năm 2026 và thay thế Quyết định số 24/2019/QĐ-UBND ngày 16
tháng 9 năm 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu ban hành Quy chế tổ chức và
hoạt động của thôn, bản, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh Lai Châu.
Điều 3. Tổ
chức thực hiện
Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân
tỉnh; Giám đốc Sở Nội vụ; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã, phường; Thủ trưởng
các cơ quan, đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
Nơi nhận:
- Như Điều 3;
- Bộ Nội vụ;
- Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật - Bộ Tư pháp;
- TT Tỉnh ủy;
- TT HĐND tỉnh;
- Chủ tịch, các PCT UBND tỉnh;
- Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh;
- Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh;
- Các Sở: Nội vụ, Tài chính, Tư pháp; Dân tộc và Tôn giáo;
- Báo và Phát thanh, Truyền hình tỉnh;
- Cổng Thông tin điện tử tỉnh;
- UBND các xã, phường;
- Lưu: VT, TH4.
|
TM. ỦY BAN NHÂN
DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Tống Thanh Hải
|
QUY CHẾ
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THÔN, TỔ DÂN PHỐ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
LAI CHÂU
(Ban hành kèm theo Quyết định số: 77/2026/QĐ-UBND ngày 16/9/2026 của Ủy ban
nhân dân tỉnh Lai Châu)
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1.
Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng
1. Phạm vi điều chỉnh
Quy chế này quy định về tổ chức,
hoạt động của thôn, tổ dân phố; quy trình thành lập, sắp xếp, tổ chức lại, giải
thể, đặt tên, đổi tên thôn, tổ dân phố; nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng thôn, Tổ
trưởng tổ dân phố trên địa bàn tỉnh Lai Châu.
2. Đối tượng áp dụng
a) Thôn, tổ dân phố trên địa
bàn tỉnh;
b) Trưởng thôn, tổ trưởng tổ
dân phố;
c) Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt
trận tổ quốc các xã, phường;
d) Các cơ quan, tổ chức, đơn vị
có liên quan.
Điều 2.
Thôn, tổ dân phố
1. Thôn, đội, bản,… gọi chung
là thôn; tổ dân phố, khu phố,… gọi chung là tổ dân phố.
2. Thôn, tổ dân phố là tổ chức tự
quản của cộng đồng dân cư có chung địa bàn cư trú trong một khu vực thuộc phạm
vi một đơn vị hành chính xã phường (xã, phường gọi chung là cấp xã); là nơi thực
hiện dân chủ trực tiếp và rộng rãi để phát huy các hình thức hoạt động tự quản
của cộng đồng dân cư; tổ chức để Nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước.
3. Thôn, tổ dân phố được tổ chức
tại cấp xã
a) Thôn được tổ chức ở xã;
b) Tổ dân phố được tổ chức ở
phường.
4. Trường hợp cần thiết do đặc
điểm lịch sử, văn hóa, dân tộc, phong tục, tập quán, mức độ đô thị hóa hoặc yêu
cầu quản lý thực tế của địa phương thì Hội đồng nhân dân cấp xã quyết định việc
tổ chức và sử dụng tên gọi thôn hoặc tổ dân phố phù hợp với thực tiễn địa
phương.
Điều 3.
Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố
1. Tổ chức của thôn, tổ dân phố
phải bảo đảm tinh gọn, hiệu quả; phù hợp với quy mô dân cư, đặc điểm địa bàn và
yêu cầu quản lý của chính quyền địa phương cấp xã.
2. Bảo đảm và đề cao tính tự quản
của cộng đồng dân cư; phát huy quyền làm chủ trực tiếp của Nhân dân trong tổ chức
đời sống cộng đồng, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa, phong tục, tập
quán tốt đẹp của địa phương.
3. Hoạt động của thôn, tổ dân
phố phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, hương ước, quy ước của cộng đồng dân
cư; bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch; phân định rõ nhiệm vụ tự quản của cộng
đồng dân cư với nhiệm vụ hỗ trợ hoạt động quản lý nhà nước của chính quyền địa
phương cấp xã.
4. Hoạt động của thôn, tổ dân
phố phải bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố với
Bí thư Chi bộ, Trưởng Ban Công tác Mặt trận thôn, tổ dân phố trong tổ chức thực
hiện các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, thực hiện dân
chủ ở cơ sở, vận động Nhân dân, giám sát việc thực hiện các nội dung đã được cộng
đồng dân cư quyết định; phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng
tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở và các tổ chức tự quản trên địa bàn;
phát huy vai trò của Nhân dân trong bảo đảm an ninh, trật tự, bảo vệ môi trường,
xây dựng đời sống văn hóa và phát triển cộng đồng dân cư.
5. Tăng cường ứng dụng công nghệ
thông tin, chuyển đổi số trong tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố nhằm
nâng cao hiệu quả hoạt động tự quản của cộng đồng dân cư, tạo thuận lợi cho
Nhân dân trong tiếp cận thông tin, tham gia các hoạt động cộng đồng và phối hợp
với chính quyền địa phương cấp xã trong các hoạt động tại địa bàn.
Chương II
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
THÔN, TỔ DÂN PHỐ
Điều 4. Tổ
chức của thôn, tổ dân phố
1. Thôn có Trưởng thôn; tổ dân
phố có Tổ trưởng tổ dân phố là người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ
dân phố.
Ngoài chức danh Trưởng thôn, Tổ
trưởng tổ dân phố; thôn, tổ dân phố còn có các chức danh người tham gia hoạt động
ở thôn, tổ dân phố để hỗ trợ Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố hoặc thực hiện
các hoạt động tự quản của cộng đồng dân cư theo quyết định của Hội đồng nhân
dân tỉnh.
2. Việc bầu cử, cho thôi làm
nhiệm vụ Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố thực hiện theo quy định của Luật Thực
hiện dân chủ ở cơ sở và Mục 2 Chương II Nghị định số
59/2023/NĐ-CP quy định chi tiết một số Điều Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở.
Trong trường hợp thành lập, sắp
xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố, hoặc trường hợp khuyết Trưởng thôn, Tổ trưởng
tổ dân phố thì Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ định Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố
lâm thời để điều hành hoạt động của thôn, tổ dân phố cho đến khi bầu được Trưởng
thôn, Tổ trưởng tổ dân phố trong thời hạn không quá 06 tháng kể từ ngày có quyết
định chỉ định Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố lâm thời.
3. Nhiệm kỳ của Trưởng thôn, Tổ
trưởng tổ dân phố là 05 năm.
a) Trong trường hợp cần bảo đảm
thống nhất với thời điểm tổ chức lại thôn, tổ dân phố hoặc do tình huống bất khả
kháng như thiên tai, dịch bệnh không thể tổ chức bầu cử đúng thời hạn, Ủy ban
nhân dân cấp xã quyết định việc rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm kỳ hoạt động của
Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố nhưng không quá 06 tháng. Trường hợp phải rút
ngắn hoặc kéo dài quá 06 tháng thì Ủy ban nhân dân cấp xã báo cáo Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh xem xét, quyết định.
b) Nhiệm kỳ đầu tiên của Trưởng
thôn, Tổ trưởng Tổ dân phố sau khi thực hiện Quy chế này thống nhất lấy theo
nhiệm kỳ của chi bộ thôn, tổ dân phố là 2025-2030. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
xã quyết định công nhận lại Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố tại các thôn, tổ
dân phố không thực hiện sắp xếp theo nhiệm kỳ mới, trừ trường hợp phải sắp xếp,
cơ cấu lại, kiện toàn Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố.
Điều 5. Hoạt
động của thôn, tổ dân phố
1. Hoạt động tự quản của thôn,
tổ dân phố
Hoạt động tự quản của thôn, tổ
dân phố do cộng đồng dân cư thảo luận, quyết định và tổ chức thực hiện trên cơ
sở tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật; hương ước, quy ước của thôn,
tổ dân phố; phong tục, tập quán, truyền thống và điều kiện thực tế của từng thôn,
tổ dân phố, gồm:
a) Bàn và quyết định chủ
trương, mức đóng góp của Nhân dân để xây dựng, sửa chữa, duy tu cơ sở hạ tầng,
các công trình phúc lợi công cộng phục vụ đời sống cộng đồng trong phạm vi
thôn, tổ dân phố theo quy định của pháp luật;
b) Thực hiện việc thu, chi và
quản lý các khoản đóng góp của Nhân dân trong cộng đồng dân cư ngoài các khoản
đóng góp do pháp luật quy định; quản lý, sử dụng các khoản kinh phí, tài sản do
cộng đồng dân cư được giao quản lý hoặc tiếp nhận từ các nguồn tài trợ, ủng hộ
hợp pháp khác, bảo đảm công khai, minh bạch;
c) Xây dựng, sửa đổi, bổ sung
hương ước, quy ước của thôn, tổ dân phố theo quy định của pháp luật trình Ủy
ban nhân dân cấp xã phê duyệt và tổ chức thực hiện sau khi được ban hành;
d) Tổ chức các hoạt động tự quản
trong cộng đồng dân cư bảo đảm giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phát
huy các giá trị văn hóa, phong tục, tập quán tốt đẹp và truyền thống đoàn kết
trong cộng đồng dân cư; bảo vệ môi trường; phòng, chống các tệ nạn xã hội; chăm
lo sức khỏe cộng đồng; khuyến khích các hoạt động tương trợ, giúp đỡ nhau phát
triển kinh tế, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân;
xây dựng đời sống văn hóa và phát triển cộng đồng;
đ) Tổ chức thực hiện việc bầu,
cho thôi làm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố; bầu, cho thôi làm thành viên
Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng theo quy định của
pháp luật;
e) Tham gia ý kiến đối với các
nội dung liên quan trực tiếp đến đời sống của cộng đồng dân cư do chính quyền địa
phương cấp xã lấy ý kiến theo quy định của Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở;
g) Biện pháp khuyến khích các
hoạt động tự quản, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng dân cư; phát huy
vai trò của các tổ chức tự quản, các tổ, nhóm cộng đồng trong việc xây dựng đời
sống văn hóa, phát triển kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội tại địa bàn;
h) Các công việc tự quản khác
trong nội bộ cộng đồng dân cư không trái với quy định của pháp luật, phù hợp với
thuần phong, mỹ tục và đạo đức xã hội.
2. Hoạt động phối hợp, hỗ trợ
chính quyền địa phương cấp xã tại địa bàn dân cư
Hoạt động phối hợp, hỗ trợ
chính quyền địa phương cấp xã được thực hiện trên cơ sở hướng dẫn của chính quyền
địa phương cấp xã; phù hợp với chức năng tự quản của cộng đồng dân cư, điều kiện
thực tế và quy định của pháp luật, gồm:
a) Tuyên truyền, vận động Nhân
dân thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các
phong trào, cuộc vận động do cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
tổ chức chính trị - xã hội phát động;
b) Tổng hợp, phản ánh ý kiến,
nguyện vọng, kiến nghị chính đáng của Nhân dân; tham gia trao đổi, phối hợp với
chính quyền địa phương cấp xã trong việc giải quyết các vấn đề liên quan trực
tiếp đến đời sống cộng đồng dân cư tại địa bàn;
c) Hỗ trợ chính quyền địa
phương cấp xã trong việc cung cấp, trao đổi thông tin liên quan đến cộng đồng
dân cư tại địa bàn để phục vụ công tác quản lý nhà nước theo quy định của pháp
luật;
d) Phối hợp công khai thông
tin, tạo điều kiện để Nhân dân tiếp cận thông tin, thực hiện thủ tục hành chính
và dịch vụ công, các chính sách liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp
của người dân;
đ) Tham gia, phối hợp thực hiện
các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới,
đô thị văn minh và các hoạt động cộng đồng khác trên cơ sở vận động, tạo sự đồng
thuận của Nhân dân và phù hợp với điều kiện thực tế của địa bàn;
e) Hỗ trợ triển khai chuyển đổi
số tại cộng đồng dân cư; tuyên truyền, hướng dẫn người dân sử dụng các nền tảng
số, dịch vụ công trực tuyến và các ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ đời sống
xã hội;
g) Xây dựng và thực hiện quy chế
phối hợp giữa Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố với Ban Công tác Mặt trận; các
tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức tự quản khác ở thôn, tổ dân phố nhằm
bảo đảm sự phối hợp thống nhất, hiệu quả trong tổ chức và hoạt động tại địa
bàn.
Điều 6. Hội
nghị của thôn, tổ dân phố
1. Hội nghị của thôn, tổ dân phố
là hình thức chủ yếu để Nhân dân trong thôn, tổ dân phố thực hiện quyền dân chủ
trực tiếp, bàn và quyết định hoặc tham gia ý kiến đối với các nội dung thuộc thẩm
quyền theo quy định của pháp luật. Hội nghị của thôn, tổ dân phố được tổ chức định
kỳ mỗi năm một lần vào cuối năm, khi cần có thể họp bất thường. Thành phần tham
dự hội nghị là đại diện hộ gia đình của thôn, tổ dân phố.
2. Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ
dân phố có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Ban Công tác Mặt trận thôn, tổ dân
phố chuẩn bị nội dung, triệu tập và tổ chức hội nghị của cộng đồng dân cư theo
đúng trình tự, thủ tục, bảo đảm công khai, dân chủ, khách quan và tạo điều kiện
thuận lợi để Nhân dân tham gia.
3. Nội dung hội nghị của cộng đồng
dân cư bao gồm các vấn đề thuộc phạm vi Nhân dân bàn và quyết định trực tiếp;
Nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định và các nội
dung khác theo quy định của pháp luật, hương ước, quy ước của thôn, tổ dân phố.
4. Việc triệu tập, thành phần
tham dự, điều kiện tiến hành hội nghị, hình thức biểu quyết, tỷ lệ biểu quyết
thông qua, việc lập biên bản, công nhận kết quả và công khai kết quả hội nghị
được thực hiện theo quy định của Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở và Mục 3 Chương II Nghị định số 59/2023/NĐ-CP.
Điều 7. Nhiệm
vụ, quyền hạn của Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố
1. Nhiệm vụ trong tổ chức, điều
hành hoạt động của thôn, tổ dân phố
a) Chủ trì hội nghị thôn, tổ
dân phố; tổ chức hội nghị định kỳ của cộng đồng dân cư theo quy định của pháp
luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở. Tổ chức để cộng đồng dân cư bàn, quyết định
đối với các nội dung thuộc phạm vi Nhân dân bàn và quyết định; tổ chức để Nhân
dân tham gia ý kiến đối với các nội dung thuộc phạm vi phải lấy ý kiến Nhân dân
theo quy định của Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở;
b) Tổ chức thực hiện và theo
dõi việc thực hiện các quyết định của cộng đồng dân cư đã được Nhân dân trong
thôn, tổ dân phố thông qua; tổng hợp, báo cáo Ủy ban nhân dân cấp xã về kết quả
thực hiện;
c) Tổ chức triển khai các hoạt
động tự quản của cộng đồng dân cư theo quy định của pháp luật và hương ước, quy
ước của thôn, tổ dân phố;
d) Phối hợp với Ban Công tác Mặt
trận và các tổ chức chính trị - xã hội ở thôn, tổ dân phố, lực lượng tham gia bảo
vệ an ninh, trật tự ở cơ sở và các tổ chức tự quản khác trong tổ chức các hoạt
động của cộng đồng dân cư, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa
bàn;
đ) Đại diện cho thôn, tổ dân phố
trong các quan hệ liên quan đến hoạt động của cộng đồng dân cư theo quy định của
pháp luật;
e) Báo cáo kết quả hoạt động của
thôn, tổ dân phố trước hội nghị thôn, tổ dân phố theo định kỳ hằng năm hoặc khi
cần thiết.
2. Nhiệm vụ theo quy định của
pháp luật và nhiệm vụ do chính quyền cấp xã giao
a) Tuyên truyền, vận động Nhân
dân thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; hương ước,
quy ước của cộng đồng dân cư; thực hiện dân chủ ở cơ sở và các phong trào, cuộc
vận động tại địa bàn;
b) Nắm tình hình đời sống cộng
đồng dân cư; tập hợp, phản ánh với chính quyền địa phương cấp xã các kiến nghị,
nguyện vọng chính đáng của Nhân dân; báo cáo kịp thời các vấn đề phát sinh tại
địa bàn; tham gia hòa giải ở cơ sở, giữ gìn đoàn kết trong cộng đồng dân cư;
c) Tuyên truyền, vận động Nhân
dân tham gia phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn an ninh, trật tự, bảo vệ môi
trường, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc;
thực hiện xóa bỏ hủ tục, phong tục, tập quán lạc hậu, xây dựng đời sống văn hóa
và phát triển cộng đồng dân cư tại địa bàn;
d) Phối hợp với Ban Công tác Mặt
trận, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức tự quản khác ở thôn, tổ dân phố
và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc hỗ trợ triển khai nhiệm
vụ quản lý nhà nước của chính quyền địa phương cấp xã tại địa bàn;
đ) Phối hợp với Ban Thanh tra
nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng, Ban Công tác Mặt trận và các tổ chức,
cá nhân có liên quan trong việc tổ chức cho Nhân dân tham gia giám sát các công
trình, dự án, các khoản đóng góp của Nhân dân và việc thực hiện dân chủ ở cơ sở
tại địa bàn;
e) Tổ chức tuyên truyền vận động
Nhân dân tham gia thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, tổ chức phòng thủ dân sự và bảo
đảm an ninh, trật tự tại địa bàn theo quy định của pháp luật;
g) Khuyến khích, hỗ trợ Nhân
dân tiếp cận, sử dụng các nền tảng số, tiện ích số và dịch vụ công trực tuyến
phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương; phối hợp cung cấp thông tin cần
thiết phục vụ hoạt động quản lý nhà nước theo quy định của pháp luật;
h) Phối hợp tuyên truyền, vận động
Nhân dân thực hiện tốt chính sách dân tộc, chính sách tín ngưỡng, tôn giáo; kịp
thời nắm bắt, phản ánh tình hình dân tộc, tôn giáo phát sinh tại địa bàn với
chính quyền cấp xã để xem xét, giải quyết theo quy định;
i) Thực hiện các nhiệm vụ khác
theo quy định của pháp luật hoặc phối hợp với chính quyền địa phương cấp xã thực
hiện nhiệm vụ của địa phương.
3. Quyền hạn
a) Đại diện cho thôn, tổ dân phố
trong các quan hệ liên quan đến hoạt động của cộng đồng dân cư theo quy định của
pháp luật; là người đại diện cho cộng đồng dân cư ký hợp đồng về xây dựng công
trình do Nhân dân trong thôn, tổ dân phố đóng góp kinh phí và đã được hội nghị
thôn, tổ dân phố thông qua;
b) Được mời tham gia các cuộc họp
của chính quyền địa phương cấp xã liên quan đến việc triển khai các công việc
liên quan trực tiếp đến cộng đồng dân cư;
c) Căn cứ quy định của Hội đồng
nhân dân cấp tỉnh về số lượng, chức danh người tham gia hoạt động ở thôn, tổ
dân phố, Trưởng thôn, Tổ trưởng Tổ dân phố lựa chọn người tham gia hoạt động ở
thôn, tổ dân phố sau khi thống nhất với Bí thư Chi bộ, Trưởng ban Công tác Mặt
trận ở thôn, tổ dân phố. Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định công nhận và cho
thôi làm người tham gia hoạt động ở thôn, tổ dân phố; trừ trường hợp pháp luật,
Điều lệ Đảng, Điều lệ Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội có quy
định khác;
d) Phân công nhiệm vụ giải quyết
công việc cho người tham gia hoạt động ở thôn, tổ dân phố hỗ trợ Trưởng thôn, Tổ
trưởng tổ dân phố thực hiện nhiệm vụ quy định tại Điều này;
đ) Thực hiện các quyền hạn khác
theo quy định của pháp luật.
4. Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ
dân phố khi thôi thực hiện nhiệm vụ phải có trách nhiệm bàn giao đầy đủ công việc
đang thực hiện, hồ sơ, tài liệu, sổ sách, tài chính, tài sản (nếu có) và các nội
dung liên quan cho người kế nhiệm hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã theo quy định.
Điều 8.
Tiêu chuẩn của Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố
1. Là công dân Việt Nam cư trú
thường xuyên tại địa bàn xã, phường từ 21 tuổi trở lên, ưu tiên người trong độ
tuổi lao động theo quy định; có đủ sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ và chức
trách được giao.
2. Có phẩm chất đạo đức tốt,
gương mẫu; có uy tín trong cộng đồng dân cư; được Nhân dân tín nhiệm; bản thân và
gia đình gương mẫu về đạo đức, lối sống, chấp hành tốt chủ trương của Đảng,
pháp luật của Nhà nước.
3. Có kiến thức văn hóa, năng lực,
kinh nghiệm và phương pháp vận động, tổ chức Nhân dân thực hiện tốt các công việc
tự quản của cộng đồng dân cư và triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ do cấp ủy,
chính quyền địa phương cấp xã giao.
4. Có trình độ văn hóa Trung học
phổ thông, trình độ chuyên môn từ Trung cấp trở lên.
5. Có khả năng ứng dụng công
nghệ thông tin phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ; có khả năng lập kế hoạch, tổng hợp,
thống kê, báo cáo và thực hiện các nhiệm vụ theo quy định.
6. Không trong thời gian bị xử
lý kỷ luật, bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang chấp hành bản án, quyết định
của Tòa án.
7. Đối với những nơi có yếu tố
đặc thù, không thể lựa chọn được người đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn theo quy định
tại Điều này thì có thể xem xét lựa chọn người có tiêu chuẩn thấp hơn; tuy
nhiên, người được lựa chọn phải bảo đảm đáp ứng tối thiểu các tiêu chuẩn quy định
tại khoản 1, khoản 2, khoản 3 và khoản 6 của Điều này.
Chương
III
THÀNH LẬP, SẮP XẾP, TỔ
CHỨC LẠI, GIẢI THỂ, ĐẶT TÊN, ĐỔI TÊN THÔN, TỔ DÂN PHỐ
Điều 9.
Nguyên tắc thành lập, sắp xếp, tổ chức lại, giải thể, đặt tên, đổi tên thôn, tổ
dân phố
1. Tuân thủ quy định của pháp luật;
bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch; kế thừa và phát huy các giá trị lịch sử,
văn hóa, phong tục, tập quán tốt đẹp, phù hợp với điều kiện tự nhiên, đặc điểm
địa bàn, quy mô dân cư và điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương; bảo đảm
các điều kiện thiết yếu phục vụ tổ chức và hoạt động của cộng đồng dân cư.
Chính quyền địa phương cấp xã có trách nhiệm bảo đảm các điều kiện cần thiết
cho tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố.
2. Việc thành lập thôn, tổ dân
phố phải phù hợp với đặc điểm, điều kiện tự nhiên, trình độ phát triển kinh tế
- xã hội, đặc điểm văn hoá, truyền thống; điều kiện đặc thù của từng đơn vị
hành chính cấp xã sau sắp xếp và mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp.
3. Thực hiện sắp xếp, tổ chức lại
đối với các thôn, tổ dân phố khi chưa bảo đảm tiêu chí theo quy định của pháp
luật hoặc theo yêu cầu quản lý, phát triển kinh tế - xã hội, đô thị hóa, phân bố
dân cư và yêu cầu tổ chức hoạt động của cộng đồng dân cư.
Việc sắp xếp, tổ chức lại thôn,
tổ dân phố cần xem xét kỹ lưỡng các yếu tố về vị trí địa lý, địa hình, phong tục,
tập quán, dân tộc, tôn giáo, đặc điểm dân cư, trình độ phát triển kinh tế - xã
hội và nguyện vọng của Nhân dân tại địa phương; bảo đảm thực hiện tốt công tác
quân sự, quốc phòng, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo sự đồng thuận
trong Nhân dân, thuận lợi cho đời sống, sinh hoạt của người dân và nâng cao hiệu
quả quản lý, phục vụ Nhân dân của chính quyền cơ sở.
4. Việc giải thể thôn, tổ dân
phố thực hiện trong các trường hợp cần thiết do thay đổi các yếu tố địa lý, địa
hình, do sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố hoặc do thực hiện phương án bồi
thường, tái định cư.
5. Việc xác định loại hình
thôn, tổ dân phố theo quy định tại Điều 2 Quy chế này và đặt
tên thôn, tổ dân phố được thực hiện đồng thời trong quy trình thành lập, sắp xếp,
tổ chức lại thôn, tổ dân phố. Việc đổi tên thôn, tổ dân phố thực hiện trong trường
hợp trùng tên thôn, tổ dân phố trong cùng một đơn vị hành chính cấp xã hoặc
theo nguyện vọng của Nhân dân ở thôn, tổ dân phố.
Điều 10.
Tiêu chuẩn của thôn, tổ dân phố
1. Quy mô số hộ gia đình
Thôn phải có từ 150 hộ gia đình
trở lên, tổ dân phố phải có từ 300 hộ trở lên.
2. Trường hợp Hội đồng nhân dân
cấp xã quyết định việc tổ chức và sử dụng tên gọi theo quy định tại khoản 4 Điều 2 Quy chế này thì áp dụng tiêu chuẩn quy mô số hộ
gia đình tương ứng với loại hình thôn hoặc tổ dân phố theo quy định tại khoản 1
Điều này.
3. Quy mô số hộ gia đình đối với
thôn, tổ dân phố có yếu tố đặc thù
a) Không áp dụng tiêu chuẩn quy
mô dân số tại khoản 1 Điều này đối với các trường hợp sau: Thôn, tổ dân phố thuộc
địa bàn miền núi, xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số, thôn đặc biệt khó
khăn, thôn ở địa bàn có địa hình chia cắt phức tạp, giao thông đi lại khó khăn,
dân cư sinh sống phân tán; thôn, tổ dân phố ở địa bàn biên giới hoặc thuộc khu
vực quy hoạch giải phóng mặt bằng, di dân, tái định cư.
b) Ủy ban nhân dân cấp xã báo
cáo Ủy ban nhân dân tỉnh các trường hợp có yếu tố đặc thù quy định tại điểm a
khoản này để báo cáo cấp có thẩm quyền cho chủ trương thành lập thôn, tổ dân phố
mới.
Điều 11.
Thành lập thôn, tổ dân phố trong các trường hợp đặc biệt
1. Trường hợp thành lập phường
từ xã thì Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm rà soát, xây dựng phương án sắp
xếp; tổ chức lại thôn theo loại hình tổ dân phố để lấy ý kiến Nhân dân đồng thời
trong hồ sơ Đề án thành lập phường. Hội đồng nhân dân cấp xã quyết định việc sắp
xếp; tổ chức lại và sử dụng tên gọi tổ dân phố trên địa bàn kể từ ngày Nghị quyết
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thành lập phường có hiệu lực thi hành.
Trường hợp cần thiết do yếu tố lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán hoặc yêu cầu
thực tiễn của địa phương thì Hội đồng nhân dân cấp xã được quyết định tiếp tục
sử dụng tên gọi truyền thống theo quy định tại khoản 4 Điều 2
Quy chế này.
Trường hợp khi xây dựng hồ sơ Đề
án thành lập phường từ xã mà chưa xây dựng được phương án sắp xếp, tổ chức lại
để bảo đảm tiêu chuẩn quy mô số hộ gia đình của tổ dân phố quy định tại Quy chế
này thì phải xây dựng kế hoạch, lộ trình cụ thể thực hiện sắp xếp, tổ chức lại
sau khi thành lập phường.
2. Trường hợp khu vực dân cư mới
hình thành chưa đủ điều kiện để thành lập thôn, tổ dân phố theo quy định thì Ủy
ban nhân dân cấp xã trình Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định việc
ghép cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố hiện có cho phù hợp, bảo đảm thuận lợi
trong công tác quản lý của chính quyền địa phương cấp xã và các hoạt động của
thôn, tổ dân phố.
3. Đối với thôn, tổ dân phố đã
hình thành từ lâu do xâm canh, xâm cư trong cùng một đơn vị hành chính cấp tỉnh
nhưng không làm thay đổi địa giới đơn vị hành chính cấp xã thì Ủy ban nhân dân
cấp xã có liên quan thống nhất thực hiện việc chuyển giao cộng đồng dân cư để
thuận tiện cho hoạt động quản lý và sinh hoạt của cộng đồng dân cư. Sau khi thực
hiện việc chuyển giao:
a) Ủy ban nhân dân cấp xã nơi
có thôn, tổ dân phố trước khi chuyển giao trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết
định giải thể thôn, tổ dân phố hoặc điều chỉnh phạm vi quản lý của thôn, tổ dân
phố có liên quan;
b) Ủy ban nhân dân cấp xã nơi
tiếp nhận thôn, tổ dân phố trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định việc
thành lập thôn, tổ dân phố mới nếu bảo đảm tiêu chí, điều kiện theo quy định của
Quy chế này; trường hợp không bảo đảm tiêu chí, điều kiện thì thực hiện việc
ghép vào thôn, tổ dân phố hiện có theo quy định tại khoản 2 Điều này.
Điều 12.
Trình tự, thủ tục, hồ sơ thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố
1. Căn cứ nguyên tắc thành lập,
sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố; tiêu chuẩn của thôn, tổ dân phố theo quy
định tại Quy chế này, Ủy ban nhân dân cấp xã xây dựng Đề án thành lập, sắp xếp,
tổ chức lại thôn, tổ dân phố trình Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định.
2. Ủy ban nhân dân cấp xã có
trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến Nhân dân về Đề án thành lập, sắp xếp, tổ chức lại
thôn, tổ dân phố bằng hình thức phù hợp theo quy định của pháp luật về thực hiện
dân chủ ở cơ sở; tổng hợp, tiếp thu, giải trình đầy đủ ý kiến tham gia của Nhân
dân để hoàn thiện hồ sơ trình Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét, quyết định.
3. Hồ sơ thành lập, sắp xếp, tổ
chức lại thôn, tổ dân phố gồm:
a) Tờ trình của Ủy ban nhân dân
cấp xã;
b) Đề án thành lập, sắp xếp, tổ
chức lại thôn, tổ dân phố, gồm các nội dung chủ yếu sau: Sự cần thiết; hiện trạng
quy mô số hộ gia đình; phương án thành lập, sắp xếp, tổ chức lại; tên gọi của
thôn, tổ dân phố; điều kiện bảo đảm tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố;
phương án bố trí, giải quyết đối với người hoạt động không chuyên trách và các
nội dung có liên quan;
c) Báo cáo tổng hợp, tiếp thu,
giải trình ý kiến của Nhân dân;
d) Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng
nhân dân cấp xã.
4. Trên cơ sở hồ sơ do Ủy ban
nhân dân cấp xã trình, Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét, ban hành Nghị quyết về
việc thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố tại kỳ họp gần nhất.
Điều 13.
Trình tự, thủ tục, hồ sơ giải thể, đổi tên thôn, tổ dân phố; ghép cụm dân cư
vào thôn, tổ dân phố hiện có
1. Trường hợp giải thể thôn, tổ
dân phố
a) Ủy ban nhân dân cấp xã xây dựng
Tờ trình kèm theo Danh sách các hộ gia đình thuộc thôn, tổ dân phố thực hiện giải
thể;
b) Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức
lấy ý kiến Nhân dân đối với Tờ trình về việc giải thể thôn, tổ dân phố bằng
hình thức phù hợp theo quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở; tổng
hợp, giải trình, tiếp thu đầy đủ ý kiến tham gia của Nhân dân; hoàn thiện hồ sơ
trình Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét, quyết định;
c) Hồ sơ giải thể thôn, tổ dân
phố, gồm: Tờ trình kèm theo Danh sách các hộ gia đình thuộc thôn, tổ dân phố thực
hiện giải thể; báo cáo tổng hợp, giải trình, tiếp thu đầy đủ ý kiến tham gia của
Nhân dân trình Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét, quyết định; dự thảo Nghị quyết
của Hội đồng nhân dân cấp xã về việc giải thể thôn, tổ dân phố;
d) Trên cơ sở hồ sơ do Ủy ban
nhân dân cấp xã trình, Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét ban hành Nghị quyết về
giải thể thôn, tổ dân phố tại kỳ họp gần nhất.
2. Trường hợp đổi tên thôn, tổ
dân phố
a) Ủy ban nhân dân cấp xã lập
Phương án đổi tên thôn, tổ dân phố, trong đó nêu rõ lý do của việc đổi tên
thôn, tổ dân phố; tên của thôn, tổ dân phố sau khi đổi tên;
b) Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức
lấy ý kiến Nhân dân về Phương án đổi tên thôn, tổ dân phố bằng hình thức phù hợp
theo quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở; tổng hợp, giải trình,
tiếp thu đầy đủ ý kiến tham gia của Nhân dân; hoàn thiện hồ sơ trình Hội đồng
nhân dân cấp xã xem xét, quyết định;
c) Hồ sơ đổi tên thôn, tổ dân
phố, gồm: Tờ trình và Phương án đổi tên thôn, tổ dân phố; báo cáo tổng hợp, tiếp
thu, giải trình ý kiến của Nhân dân; dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp
xã về việc đổi tên thôn, tổ dân phố;
d) Trên cơ sở hồ sơ trình của Ủy
ban nhân dân cấp xã, Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét, ban hành Nghị quyết về đổi
tên thôn, tổ dân phố tại kỳ họp gần nhất.
3. Trường hợp ghép cụm dân cư
vào thôn, tổ dân phố hiện có
a) Ủy ban nhân dân cấp xã lập
Phương án ghép cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố hiện có, trong đó nêu rõ sự cần
thiết của việc ghép cụm dân cư; phạm vi cụm dân cư được ghép; số hộ gia đình;
thôn, tổ dân phố tiếp nhận;
b) Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức
lấy ý kiến Nhân dân tại cụm dân cư được ghép và thôn, tổ dân phố tiếp nhận bằng
hình thức phù hợp theo quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở; tổng
hợp, giải trình, tiếp thu đầy đủ ý kiến tham gia của Nhân dân; hoàn thiện hồ sơ
trình Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét, quyết định;
c) Hồ sơ ghép cụm dân cư vào
thôn, tổ dân phố, gồm: Tờ trình của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc ghép cụm dân
cư vào thôn, tổ dân phố hiện có; phương án ghép cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố
hiện có; báo cáo tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến của Nhân dân;
d) Trên cơ sở hồ sơ trình của Ủy
ban nhân dân cấp xã, Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét, ban hành Nghị quyết ghép
cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố hiện có.
Chương IV
TỔ CHỨC THỰC HIỆN VÀ ĐIỀU
KHOẢN THI HÀNH
Điều 14.
Trách nhiệm các sở, ban, ngành
1. Sở Nội vụ
a) Xây dựng kế hoạch, chương
trình bồi dưỡng nghiệp vụ cho Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố.
b) Chủ trì, phối hợp với Sở Tài
chính và các cơ quan liên quan tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng
nhân dân tỉnh quyết định mức phụ cấp, hỗ trợ và các chế độ, chính sách khác đối
với người hoạt động không chuyên trách và người tham gia hoạt động ở thôn, tổ
dân phố theo quy định của pháp luật.
c) Hướng dẫn, đôn đốc, theo
dõi, kiểm tra việc thực hiện Quy chế này, định kỳ tổng hợp các kiến nghị, đề xuất
của Ủy ban nhân dân cấp xã báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, bổ sung, điều
chỉnh phù hợp với tình hình thực tế.
2. Sở Dân tộc và Tôn giáo
Phối hợp với Sở Nội vụ và Ủy ban
nhân dân các xã, phường hướng dẫn thực hiện các quy định của Quy chế này đối với
vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; tham gia tuyên truyền, phổ biến
chính sách dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo; phát huy vai trò của người có uy tín
trong đồng bào dân tộc thiểu số và các chức sắc, chức việc tôn giáo trong xây dựng
khối đại đoàn kết toàn dân tộc và xây dựng cộng đồng dân cư.
3. Sở Tài chính
Phối hợp với Sở Nội vụ và các
cơ quan liên quan tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh bố trí kinh phí thực hiện chế độ,
chính sách và kinh phí hoạt động của thôn, tổ dân phố theo quy định; hướng dẫn,
kiểm tra việc quản lý, sử dụng kinh phí theo quy định của pháp luật.
Điều 15.
Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã
1. Tổ chức triển khai thực hiện
Quy chế này; hướng dẫn, kiểm tra việc tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố
theo quy định của pháp luật.
2. Quản lý hoạt động của thôn,
tổ dân phố; bảo đảm các điều kiện cần thiết để Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố
thực hiện nhiệm vụ theo quy định.
3. Tổ chức xây dựng Đề án thành
lập, sắp xếp, tổ chức lại, giải thể, đặt tên, đổi tên thôn, tổ dân phố; ghép cụm
dân cư vào thôn, tổ dân phố hiện có; tổ chức lấy ý kiến Nhân dân và trình Hội đồng
nhân dân cấp xã xem xét, quyết định theo quy định.
4. Thực hiện việc chỉ định Trưởng
thôn, Tổ trưởng tổ dân phố lâm thời; công nhận, cho thôi làm người tham gia hoạt
động ở thôn, tổ dân phố và thực hiện các nhiệm vụ khác thuộc thẩm quyền theo
quy định của pháp luật.
5. Xây dựng và tổ chức thực hiện
kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ
năng công tác và khả năng ứng dụng công nghệ thông tin cho Trưởng thôn, Tổ trưởng
tổ dân phố, từng bước chuẩn hóa và nâng cao chất lượng đội ngũ Trưởng thôn, Tổ
trưởng tổ dân phố.
6. Định kỳ 06 tháng, hằng năm
hoặc theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền báo cáo tình hình tổ chức, hoạt động
của thôn, tổ dân phố và việc thực hiện Quy chế này.
Điều 16.
Điều khoản thi hành
1. Trong trường hợp các văn bản
quy phạm pháp luật được viện dẫn để áp dụng trong Quy chế này được sửa đổi, bổ
sung hoặc thay thế thì thực hiện theo quy định của văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc
văn bản thay thế đó.
2. Thủ trưởng các sở, ban ngành
tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm triển khai thực hiện Quy
chế này. Trong quá trình thực hiện nếu có vấn đề phát sinh, vướng mắc, các cơ
quan, đơn vị kịp thời phản ánh về Ủy ban nhân dân tỉnh (qua Sở Nội vụ) để theo
dõi, điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với quy định của Nhà nước và tình hình thực
tế của địa phương./.