Tội rửa tiền đi tù bao nhiêu năm? Tổng hợp bản án tội rửa tiền 2026?

08:32 | 10/09/2026
Căn cứ theo Điều 324 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bởi khoản 122 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017, phạm tội rửa tiền có thể bị xử phạt từ 01 đến 15 năm tù.
Nội dung chính
  1. Phạm tội rửa tiền đi tù bao nhiêu năm?
  2. Tổng hợp bản án tội rửa tiền 2026

Phạm tội rửa tiền đi tù bao nhiêu năm?

Căn cứ theo Điều 324 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bởi khoản 122 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017, mức xử phạt tội rửa tiền được quy định như sau:

Điều 324. Tội rửa tiền
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào giao dịch tài chính, ngân hàng hoặc giao dịch khác nhằm che giấu nguồn gốc bất hợp pháp của tiền, tài sản do mình phạm tội mà có hoặc biết hay có cơ sở để biết là do người khác phạm tội mà có;
b) Sử dụng tiền, tài sản do mình phạm tội mà có hoặc biết hay có cơ sở để biết là do người khác thực hiện hành vi phạm tội mà có vào việc tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động khác;
c) Che giấu thông tin về nguồn gốc, bản chất thực sự, vị trí, quá trình di chuyển hoặc quyền sở hữu đối với tiền, tài sản do mình phạm tội mà có hoặc biết hay có cơ sở để biết là do người khác phạm tội mà có hoặc cản trở việc xác minh các thông tin đó;
d) Thực hiện một trong các hành vi quy định tại các điểm a, b và c khoản này đối với tiền, tài sản biết là có được từ việc chuyển dịch, chuyển nhượng, chuyển đổi tiền, tài sản do người khác thực hiện hành vi phạm tội mà có.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Phạm tội 02 lần trở lên;
d) Có tính chất chuyên nghiệp;
đ) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;
e) Tiền, tài sản phạm tội trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
g) Thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;
h) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:
a) Tiền, tài sản phạm tội trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an toàn hệ thống tài chính, tiền tệ quốc gia.
4. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Như vậy, người phạm tội rửa tiền có thể bị phạt tù từ 01 đến 15 năm. Mức phạt cao nhất được áp dụng trong các trường hợp:

- Tiền, tài sản phạm tội trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

- Thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên;

- Gây ảnh hưởng xấu đến an toàn hệ thống tài chính, tiền tệ quốc gia.

Lưu ý: Người chuẩn bị phạm tội rửa tiền cũng có thể bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm theo quy định.

tội rửa tiền đi tù bao nhiêu năm

Tội rửa tiền đi tù bao nhiêu năm? Tổng hợp bản án tội rửa tiền 2026? (hình từ internet)

Tổng hợp bản án tội rửa tiền 2026

Bản án về tội rửa tiền số 21/2025/HSST ngày 16/06/2025

- Cấp xét xử: Sơ thẩm

- Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân Huyện Như Xuân - Thanh Hóa

- Tóm tắt nội dung:

Sau khi chiếm đoạt tài sản của bị hại, các bị cáo đã sử dụng tài khoản ngân hàng của chị T4 đặt mua 01 chiếc điện thoại Iphone 15 pro max 256GB, trị giá 29.790.000 đồng tại cửa hàng T5 ở phường T, thị xã M, tỉnh Sơn La . Để có thể chuyển tài sản này thành tiền sử dụng được và che dấu được nguồn gốc dòng tiền, M câu kết với Nguyễn Thị M1 (vợ M), vợ chồng Hoàng Trọng C, Lê Thị H8 là chủ cửa hàng điện thoại di động Cường H1 và Vũ Kiều O, nhân viên của cửa hàng Thế giới di động xuất chiếc điện thoại ra khỏi cửa hàng, bán ra ngoài thị trường, thu lại được số tiền 27.500.000 đồng. Số tiền này, M lấy 26.000.000 đồng để chuyển trả một phần cho nhóm đối tượng đã cung cấp thông tin tài khoản, một phần sử dụng cá nhân, chi trả công cho Phạm Văn B và một số người khác; số tiền 1.500.000 đồng còn lại, M, M1, C, H11 và O chia nhau hưởng lợi.

Bản án về tội rửa tiền số 81/2025/HSST ngày 24/04/2025

- Cấp xét xử: Sơ thẩm

- Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân Quận Nam Từ Liêm - Hà Nội

- Tóm tắt nội dung:

Trần Đức S thường xuyên mua bán đồng USDT trên sàn giao dịch Binance và qua nhóm OTC (nhóm chợ đen). S đã nhiều lần làm việc với Cơ quan công an và được giải thích về nguồn tiền trong các giao dịch mua bán USDT qua nhóm OTC nên S biết nguồn tiền này có liên quan đến các hành vi vi phạm pháp luật như lừa đảo, đánh bạc...nhưng vẫn thực hiện các giao dịch để hưởng lợi cao. Vào ngày 17/11/2023, S đã giao dịch bán 8070 USDT cho đối tượng Đặng Huy H sử dụng tài khoản Telegram “Alex” qua việc H chuyển cho S 200.000.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng MBbank số 04694862495xx mang tên LE TOAN D đến tài khoản ngân hàng Vietcombank số 10404774xx mang tên TRAN DUC S.

Hành vi trên của bị cáo Trần Đức S đã đủ yếu tố cấu thành “Tội rửa tiền”, với giá trị tài sản mà bị cáo phạm tội buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 324 Bộ luật hình sự.

Bản án về tội rửa tiền số 549/2024/HS-PT ngày 110/7/2024

- Cấp xét xử: Phúc thẩm

- Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

- Tóm tắt nội dung:

Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2020 đến tháng 6/2021, bị cáo Nguyễn Phát T theo sự yêu cầu của anh ruột là bị cáo Nguyễn H đã chấp nhận việc được H bổ nhiệm làm kế toán trưởng Công ty TNHH T3 Case và các pháp nhân khác do Hoàng thành l1, đứng tên Giám đốc để nhận tiền chuyển khoản và giao tiền lại cho đối tượng tên D. T đã được H đưa đến Ngân hàng P và Ngân hàng C lập tài khoản cá nhân để thực hiện các giao dịch nhận tiền, rút tiền từ các tài khoản này. Toàn bộ khoản tiền rút được T giao lại cho H và sau đó xoá tài khoản để tránh bị phát hiện. Khi thực hiện thành công, H cho T mỗi lần 20.000.000 đồng.

Với tổng số tiền đã được xác định, bị cáo bị truy tố và xét xử về tội “Rửa tiền” theo điểm a khoản 3 Điều 324 Bộ luật hình sự với vai trò giúp sức tích cực là đúng người, đúng tội. Án sơ thẩm đã xét xử hành vi của bị cáo với hình phạt nghiêm khắc là cần thiết để đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.

Bản án về tội rửa tiền số 789/2023/HS-PT ngày 29/09/2023

- Cấp xét xử: Phúc thẩm

- Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

- Tóm tắt nội dung:

Trong khoảng thời gian từ tháng 8 đến tháng 9/2021, A1 và O1 đã liên lạc và thống nhất với E về việc thành lập các Công ty rồi mở tài khoản Ngân hàng tại Việt Nam, không phát sinh hoạt động kinh doanh mà chỉ để nhằm một mục đích duy nhất là nhận nguồn tiền do A1, O1

lừa đảo ở nước ngoài chuyển về, E sẽ được nhận 20% trên tổng số tiền chuyển về Việt Nam, còn 80% sẽ chuyển cho A1, O1.

E bàn bạc thống nhất với H về việc tìm người đứng tên pháp nhân Công ty và mở tài khoản ngân hàng để nhận tiền, sẽ trả công cho người đó 10% trên tổng số tiền rút được. H tiếp tục bàn bạc, thống nhất với V để V thuê D, T, B1 đứng tên làm Giám đốc các Công ty, thỏa thuận như sau: Sau khi rút tiền thành công thì đối với 10% được giữ lại chia nhau thì H hưởng 4%, V hưởng 6%; V sẽ chia cho người đứng tên Giám đốc Công ty 2% số tiền. Các Bị cáo tiến hành thành lập 17 Công ty và thực hiện 02 lần phạm tội qua 02 Công ty.

Tòa án cấp sơ thẩm xác định E, H, V, D, T đã phạm tội “Rửa tiền” quy định tại điểm a Khoản 3 Điều 324 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Bản án về tội rửa tiền số 580/2023/HS-PT ngày 22/08/2023

- Cấp xét xử: Phúc thẩm

- Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

- Tóm tắt nội dung:

Nguyễn Quốc H đã sử dụng Facebook đưa ra thông tin giả tạo mua bán hàng thực phẩm đông lạnh để lừa đảo chiếm đoạt 2.212.273.000 đồng của 39 bị hại. Ngoài ra, H còn sử dụng tài khoản của A (vợ của H) hoặc tài khoản của H1 để nhận tiền lừa đảo của bị hại nhằm cố ý gây khó khăn, trở ngại cho việc làm rõ nguồn gốc, bản chất thực sự; vị trí, quá trình di chuyển đối với tiền do H phạm tội mà có để sử dụng vào việc đánh bạc, mở đại lý vé số và tiêu xài cá nhân.

Bị cáo H1 biết được tiền do H phạm tội mà có nhưng vẫn mặc nhiên giúp sức cho H sử dụng tài khoản của H1 để giao dịch 1.305.138.000 đồng trong tổng số tiền chiếm đoạt của 39 bị hại, nhằm mục đích khấu trừ tiền H cầm cố tài sản cho H1 và lấy phí dịch vụ.

Hành vi của bị cáo H bị Toà án cấp sơ thẩm xét xử tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 và tội “Rửa tiền” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 324 Bộ luật Hình sự; Bị cáo H1 bị Toà án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Rửa tiền” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 324 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.

Xem thêm các bản án về tội RỬA TIỀN: TẠI ĐÂY

Logo Thư viện Pháp luật
Nguyễn Yến Phương Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Trách nhiệm hình sự Xem thêm

Nghị quyết 04/2026: Miễn trách nhiệm hình sự với bị cáo vi phạm pháp luật đất đai ngay tại phiên tòa trong trường hợp nào?
Nghị quyết 04 2026: Miễn trách nhiệm hình sự với bị cáo vi phạm pháp luật đất đai ngay tại phiên tòa trong trường hợp nào?

Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP đã hướng dẫn về việc miễn trách nhiệm hình sự với bị cáo vi phạm pháp luật đất đai ngay tại phiên tòa khi Toà án xét xử vụ án vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực quy định tại Nghị quyết 29/2026/QH16. Dưới đây là thông tin chi tiết.

Bài viết mới nhất