Quy định phạt cọc và không phạt cọc trong giải quyết tranh chấp dân sự mới nhất 2026 (đề xuất)

Phan Thị Như Ý 897 lượt xem
17:32 | 09/04/2026
Quy định phạt cọc và không phạt cọc trong giải quyết tranh chấp dân sự mới nhất 2026 theo đề xuất ra sao? Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hiện nay gồm những gì?
Nội dung chính
  1. Quy định phạt cọc và không phạt cọc trong giải quyết tranh chấp dân sự mới nhất 2026 (đề xuất)
  2. Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hiện nay gồm những gì?
  3. Bên đặt cọc, bên ký cược có quyền và nghĩa vụ như thế nào?

Quy định phạt cọc và không phạt cọc trong giải quyết tranh chấp dân sự mới nhất 2026 (đề xuất)

Toà án nhân dân tối cao đang lấy ý kiến dự thảo Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết tranh chấp đặt cọc. https://cdn.thuvienphapluat.vn/uploads/DanLuat-BanAn/2026/3/du-thao-nq-dat-coc.pdf

Theo đó, tại Điều 6 Dự thảo Nghị quyết đề xuất phạt cọc và không phạt cọc như sau:

(1) Phạt cọc là một khoản tiền phạt ngoài tài sản đặt cọc mà bên vi phạm nghĩa vụ giao kết hoặc thực hiện hợp đồng phải trả cho bên còn lại theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật.

(2) Trường hợp các bên không thỏa thuận phạt cọc thì xử lý như sau:

- Nếu bên nhận đặt cọc từ chối giao kết, thực hiện hợp đồng thì ngoài việc phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc, bên nhận đặt cọc phải trả cho bên đặt cọc một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc.

- Nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc.

(3) Trường hợp bên đặt cọc và bên nhận đặt cọc thỏa thuận mức tiền phạt cọc vượt quá giá trị của hợp đồng nếu được giao kết hoặc thực hiện thì Tòa án quyết định theo mức mà các bên đã thỏa thuận.

(4) Trong trường hợp có tranh chấp về đặt cọc mà các bên không có thoả thuận khác về việc xử lý đặt cọc thì việc xử lý được thực hiện như sau:

- Trường hợp đặt cọc chỉ để bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng hoặc chỉ để bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng hoặc vừa để bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng vừa để bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng thì bên nào có lỗi làm cho hợp đồng không được giao kết hoặc không được thực hiện hoặc bị vô hiệu, thì phải chịu phạt cọc theo quy định tại khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015.

- Trường hợp đặt cọc chỉ để bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng, khi hợp đồng đã được giao kết, nếu trong quá trình thực hiện hợp đồng mới có sự vi phạm làm cho hợp đồng không được thực hiện hoặc mới phát hiện hợp đồng bị vô hiệu từng phần hoặc toàn bộ thì không phạt cọc. Việc giải quyết tranh chấp về vi phạm hợp đồng hoặc xử lý hợp đồng vô hiệu được thực hiện theo thủ tục chung.

- Trong các trường hợp được hướng dẫn tại điểm a khoản 4 Điều 6 Dự thảo Nghị quyết và khoản 3 Điều 3 Dự thảo Nghị quyết thì nếu cả hai bên cùng có lỗi hoặc trường hợp do sự kiện bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì không phạt cọc.

(5) Bồi thường thiệt hại và tính lãi suất khi xử lý vi phạm hợp đồng đặt cọc:

Phương án 1:

Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, Tòa án xem xét, quyết định tính lãi đối với khoản tiền đã nhận đặt cọc và khoản tiền phạt cọc theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự, áp dụng quy định về bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 419 của Bộ luật Dân sự đối với hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng đặt cọc.

Phương án 2:

- Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, Tòa án xem xét, quyết định phạt cọc theo quy định tại khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015 và Nghị quyết này mà không áp dụng quy định về bồi thường thiệt hại quy định tại Điều 419 Bộ luật Dân sự 2015 đối với hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng đặt cọc, không tính lãi đối với khoản tiền phạt cọc.

Đến thời hạn thỏa thuận, công ty B không bàn giao trang trại cho công ty A và đơn phương chấm dứt hợp đồng. Công ty A khởi kiện yêu cầu công ty B trả cho công ty A tiền phạt cọc, tiền lãi chậm trả tiền phạt cọc và tiền bồi thường thiệt hại là các chi phí phát sinh mà công ty A phải thanh toán do việc không được nhận bàn giao trang trại đúng hạn. Trong trường hợp này, Tòa án chỉ chấp nhận yêu cầu phạt cọc của công ty A. Đối với các chi phí phát sinh mà công ty A phải bỏ ra do công ty B vi phạm hợp đồng xây dựng thì công ty B vẫn phải bồi thường thiệt hại.

- Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, người nhận đặt cọc vi phạm và có nghĩa vụ phải trả tiền đã nhận đặt cọc thì người đặt cọc không có quyền yêu cầu tính lãi của số tiền đã đặt cọc kể từ thời điểm vi phạm.

Trên đây là nội dung đáng chú ý về đề xuất quy định phạt cọc và không phạt cọc trong giải quyết tranh chấp dân sự tại dự thảo Nghị quyết của Tòa án nhân dân tối cao.

Có thể thấy, việc phân định rõ các trường hợp áp dụng phạt cọc, không phạt cọc cũng như cách xử lý bồi thường, lãi suất sẽ góp phần thống nhất thực tiễn xét xử và hạn chế tranh chấp phát sinh.

Tuy nhiên cần lưu ý đây vẫn đang là nội dung dự thảo, do đó các quy định chính thức có thể tiếp tục được hoàn thiện trong thời gian tới.

Đề xuất quy định phạt cọc và không phạt cọc trong giải quyết tranh chấp dân sự mới nhất 202

Đề xuất quy định phạt cọc và không phạt cọc trong giải quyết tranh chấp dân sự mới nhất 2026 (Hình từ Internet)

Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hiện nay gồm những gì?

Theo Điều 292 Bộ luật Dân sự 2015, biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hiện nay bao gồm:

- Cầm cố tài sản.

- Thế chấp tài sản.

- Đặt cọc.

- Ký cược.

- Ký quỹ.

- Bảo lưu quyền sở hữu.

- Bảo lãnh.

- Tín chấp.

- Cầm giữ tài sản.

Bên đặt cọc, bên ký cược có quyền và nghĩa vụ như thế nào?

Theo khoản 1 Điều 38 Nghị định 21/2021/NĐ-CP, bên đặt cọc, bên ký cược có quyền và nghĩa vụ như sau:

- Yêu cầu bên nhận đặt cọc, bên nhận ký cược ngừng việc khai thác, sử dụng hoặc xác lập giao dịch dân sự đối với tài sản đặt cọc, tài sản ký cược; thực hiện việc bảo quản, giữ gìn để tài sản đặt cọc, tài sản ký cược không bị mất giá trị hoặc giảm sút giá trị;

- Trao đổi, thay thế tài sản đặt cọc, tài sản ký cược hoặc đưa tài sản đặt cọc, tài sản ký cược tham gia giao dịch dân sự khác trong trường hợp được bên nhận đặt cọc, bên nhận ký cược đồng ý;

- Thanh toán cho bên nhận đặt cọc, bên nhận ký cược chi phí hợp lý để bảo quản, giữ gìn tài sản đặt cọc, tài sản ký cược.

Chi phí hợp lý quy định tại điểm này là khoản chi thực tế cần thiết, hợp pháp tại thời điểm chi mà trong điều kiện bình thường bên nhận đặt cọc, bên nhận ký cược phải thanh toán để đảm bảo tài sản đặt cọc, tài sản ký cược không bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng;

- Thực hiện việc đăng ký quyền sở hữu tài sản hoặc thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật để bên nhận đặt cọc, bên nhận ký cược được sở hữu tài sản đặt cọc, tài sản ký cược quy định tại điểm b khoản 2 Điều 38 Nghị định 21/2021/NĐ-CP;

- Quyền, nghĩa vụ khác theo thỏa thuận hoặc do Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan quy định.

Logo Thư viện Pháp luật
Phan Thị Như Ý Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Bài viết mới nhất

Bài viết mới nhất