Người mua căn hộ chung cư có thể tự đi làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở hay không?

Bùi Thị Như Ý 168 lượt xem
18:00 | 08/03/2025
Người mua căn hộ chung cư đã thanh toán 95% giá trị hợp đồng với chủ đầu tư thì có thể tự đi thực hiện thủ tục cấp sổ hay không? Trường hợp không thanh toán 5% còn lại chủ đầu tư sẽ phải giải quyết thế nào khi đã được cấp sổ?
Nội dung chính
  1. Người mua căn hộ chung cư có thể tự đi làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở hay không?
  2. Khi khách hàng đã được cấp giấy chứng nhận nhưng không thanh toán 5% giá trị hợp đồng còn lại phải giải quyết thế nào?

Người mua căn hộ chung cư có thể tự đi làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở hay không?

Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 16 Luật Kinh doanh bất động sản 2023 có đề cập về việc thực hiện giao dịch kinh doanh nhà ở, công trình xây dựng có sẵn yêu cầu các bên ký kết hợp đồng mua bán, thuê mua nhà ở, công trình xây dựng, phần diện tích sàn xây dựng trong công trình xây dựng được thỏa thuận để một bên thực hiện nộp hồ sơ đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với nhà ở, công trình xây dựng, phần diện tích sàn xây dựng trong công trình xây dựng đó.

Trường hợp mua, thuê mua nhà ở, công trình xây dựng, phần diện tích sàn xây dựng trong công trình xây dựng của chủ đầu tư dự án thì chủ đầu tư có trách nhiệm làm thủ tục để cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho bên mua, thuê mua, trừ trường hợp bên mua, thuê mua tự nguyện làm thủ tục cấp giấy chứng nhận.

Tại tại khoản 3 Điều 17 Luật Kinh doanh bất động sản 2023 cũng có đề cập trách nhiệm của chủ đầu tư dự án bất động sản trong thời hạn 50 ngày kể từ ngày bàn giao nhà ở cho bên mua hoặc kể từ thời điểm bên thuê mua nhà ở đã thanh toán đủ tiền theo thỏa thuận thì phải nộp hồ sơ đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai cho bên mua, thuê mua, trừ trường hợp bên mua, thuê mua tự nguyện làm thủ tục cấp giấy chứng nhận.

Ngoài ra tại khoản 8 Điều 39 Luật Nhà ở 2023 quy định nghĩa vụ của chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại trong thời hạn 50 ngày, kể từ ngày bàn giao nhà ở cho người mua hoặc kể từ ngày bên thuê mua đã thanh toán đủ tiền theo thỏa thuận thì phải nộp hồ sơ đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận cho người mua, người thuê mua nhà ở, trừ trường hợp người mua, thuê mua tự nguyện làm thủ tục đề nghị cấp Giấy chứng nhận. 

Đồng thời, tại khoản 2 Điều 162 Luật Nhà ở 2023 quy định về trình tự, thủ tục thực hiện giao dịch về nhà ở thì các bên thỏa thuận để một bên thực hiện nộp hồ sơ đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đối với nhà ở đó; trường hợp mua, thuê mua nhà ở của chủ đầu tư dự án thì chủ đầu tư có trách nhiệm làm thủ tục để cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận cho bên mua, bên thuê mua, trừ trường hợp bên mua, bên thuê mua tự nguyện làm thủ tục đề nghị cấp Giấy chứng nhận. 

Như vậy theo những quy định được trích dẫn trên thì trách nhiệm của chủ đầu tư dự án nhà chung cư là phải thực hiện nộp hồ sơ đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận cho bên mua trong thời hạn 50 ngày kể từ ngày bàn giao nhà ở cho bên mua hoặc kể từ thời điểm bên thuê mua nhà ở đã thanh toán đủ tiền theo thỏa thuận. Tuy nhiên, cũng có trường hợp ngoại lệ nếu bên mua thỏa thuận tự nguyện làm thủ tục cấp Giấy thì vẫn thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận theo quy định pháp luật.

Khi khách hàng đã được cấp giấy chứng nhận nhưng không thanh toán 5% giá trị hợp đồng còn lại phải giải quyết thế nào?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 424 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về hủy bỏ hợp đồng do chậm thực hiện nghĩa vụ, cụ thể trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ mà bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trong một thời hạn hợp lý nhưng bên có nghĩa vụ không thực hiện thì bên có quyền có thể hủy bỏ hợp đồng.

Hậu quả của việc hủy bỏ hợp đồng thì hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên không phải thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận. Ngoài ra các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận sau khi trừ chi phí hợp lý trong thực hiện hợp đồng và chi phí bảo quản, phát triển tài sản.

Đồng thời, cũng có thể tham khảo thêm Điều 152 Luật Đất đai 2024 đề cập những trường hợp thu hồi, hủy giấy chứng nhận đã cấp thì việc hủy bỏ hợp đồng mua bán căn hộ chung cư không phải là một trong những trường hợp này.

Việc khách hàng đã được cấp giấy chứng nhận nhưng không thanh toán 5% giá trị hợp đồng còn lại của hợp đồng thì chủ đầu tư có thể hủy bỏ hợp đồng do chậm thực hiện nghĩa vụ nhưng sẽ không thể thu hồi giấy chứng nhận đã cấp cho người mua căn hộ, nếu chủ đầu tư muốn cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận đã cấp thì phải khởi kiện đến Tòa án, lúc này có quyết định hoặc bản án của Tòa án thì mới dựa trên văn bản này để thực hiện thu hồi giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà ở. 

Bùi Thị Như Ý
Bùi Thị Như Ý Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Bài viết mới nhất

Bài viết mới nhất

Hồ sơ, thủ tục thành lập khu logistics tích hợp ngoài khu thương mại tự do như nào?
Hồ sơ, thủ tục thành lập khu logistics tích hợp ngoài khu thương mại tự do như nào?

Khu logistics tích hợp là khu chức năng có ranh giới địa lý xác định, gắn liền với các đầu mối giao thông đa phương thức; được thành lập theo mô hình hệ sinh thái, ứng dụng khoa học, công nghệ hiện đại để thực hiện các dịch vụ logistics kết hợp với hoạt động sản xuất, gia công hàng hóa và hoạt động thương mại số, thương mại điện tử, vậy hồ sơ, thủ tục thành lập khu logistics tích hợp ngoài khu thương mại tự do được quy định như nào?