Cấm nhân viên làm việc cho đối thủ trong thời gian 12 tháng từ khi nghỉ việc có đúng quy định không?

— 263 lượt xem
13:52 | 24/06/2025
Có được cấm nhân viên làm việc cho đối thủ trong thời gian 12 tháng từ khi nghỉ việc không? Thực tiễn xét xử bản án liên quan đến thỏa thuận cam kết bảo mật và không cạnh tranh.
Nội dung chính
  1. Cấm nhân viên làm việc cho đối thủ trong thời gian 12 tháng từ khi nghỉ việc có đúng quy định không?
  2. Thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng lao động liên quan đến thỏa thuận cam kết bảo mật và không cạnh tranh

Cấm nhân viên làm việc cho đối thủ trong thời gian 12 tháng từ khi nghỉ việc có đúng quy định không?

Theo khoản 1 Điều 35 Hiến pháp 2013 quy định công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc.

Căn cứ tại điểm a khoản 1 Điều 5 Bộ luật lao động năm 2019 quy định như sau:

Điều 5. Quyền và nghĩa vụ của người lao động

1. Người lao động có các quyền sau đây:

a) Làm việc; tự do lựa chọn việc làm, nơi làm việc, nghề nghiệp, học nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp; không bị phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, quấy rối tình dục tại nơi làm việc;

...

Đồng thời, tại khoản 1 Điều 10 Bộ luật Lao động 2019 cũng quy định người lao động có quyền được tự do lựa chọn việc làm, làm việc cho bất kỳ người sử dụng lao động nào và ở bất kỳ nơi nào mà pháp luật không cấm.

Ngoài ra, người sử dụng lao động không được cản trở, gây khó khăn hoặc làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động theo quy định tại khoản 6 Điều 9 Luật Việc làm 2013. Đồng thời, người sử dụng lao động phải thực hiện nguyên tắc về việc làm tại khoản 1 Điều 4 Luật việc làm 2013 quy định bảo đảm quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm và nơi làm việc.

Như vậy, theo các quy định nêu trên thì người lao động có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc cho bất kỳ người sử dụng lao động nào và ở bất kỳ nơi nào mà pháp luật không cấm. Do đó, hành vi cấm nhân viên làm việc cho đối thủ trong thời gian 12 tháng từ khi nghỉ việc là không đúng quy định pháp luật.

Tuy nhiên, để bảo vệ quyền lợi cho người sử dụng lao động trong trường hợp công việc mà người lao động làm có liên quan trực tiếp đến bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ thì quyền tự do làm việc sẽ bị giới hạn theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Lao động 2019, được hướng dẫn bởi Chương II Thông tư 10/2020/TT-BLĐTBXH, cụ thể như sau:

Điều 21. Nội dung hợp đồng lao động

...

2. Khi người lao động làm việc có liên quan trực tiếp đến bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ theo quy định của pháp luật thì người sử dụng lao động có quyền thỏa thuận bằng văn bản với người lao động về nội dung, thời hạn bảo vệ bí mật kinh doanh, bảo vệ bí mật công nghệ, quyền lợi và việc bồi thường trong trường hợp vi phạm.

...

Theo đó, pháp luật cho phép người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận bằng văn bản về nội dung, thời hạn bảo vệ bí mật kinh doanh, bảo vệ bí mật công nghệ, quyền lợi và việc bồi thường trong trường hợp vi phạm trong trường hợp công việc của người lao động đó liên quan trực tiếp đến bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ của doanh nghiệp.

Trường hợp người lao động chỉ làm công việc bình thường, không liên quan trực tiếp đến bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ của doanh nghiệp thì doanh nghiệp không được cấm nhân viên làm việc cho đối thủ trong thời gian 12 tháng từ khi nghỉ việc bởi điều này xâm phạm đến quyền tự do việc làm của người lao động.

 

Cấm nhân viên làm việc cho đối thủ trong thời gian 12 tháng từ khi nghỉ việc có đúng quy định không? (Hình từ Internet)

Thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng lao động liên quan đến thỏa thuận cam kết bảo mật và không cạnh tranh

Tham khảo Bản án 03/2023/LĐ-PT ngày 10/01/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử với nội dung như sau:

Tóm tắt nội dung vụ án: Ông Nguyễn Đình D là kỹ thuật viên thuộc Đội kỹ thuật dự án của Công ty Cổ phần Công nghệ TT (viết tắt Công ty TT), trực tiếp thực hiện các công việc của Công ty theo phạm vi công việc đã thỏa thuận trong Hợp đồng kinh tế giữa Công ty TT và Công ty TNHH lọc hóa dầu NS tại dự án Nhà máy lọc hóa dầu NS. Nhằm bảo vệ bí mật kinh doanh của Công ty và giữ chân nhân sự, ngày 30/9/2019, ông D và Công ty TT đã ký Hợp đồng lao động và Thỏa thuận cam kết bảo mật thông tin và không cạnh tranh. Sau khi nghỉ việc tại Công ty Cổ phần Công nghệ TT (Công ty TT) từ ngày 01/3/2021, ông Nguyễn Đình D không được làm việc hoặc cộng tác cho bất kỳ cá nhân/đơn vị/doanh nghiệp/công ty dưới bất kỳ hình thức nào để làm việc hoặc thực hiện bất kỳ dự án nào tại Nhà máy lọc hóa dầu NS trong vòng 12 tháng kể từ ngày nghỉ việc. Tuy nhiên, ngày 15/6/2021, ôông D đã ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH lọc hóa dầu NS và làm việc tại dự án Nhà máy lọc hóa dầu NS. Công ty TT cho rằng hành vi của ông D đã vi phạm “Thỏa thuận cam kết bảo mật thông tin và không cạnh tranh” và “Hợp đồng lao động” mà hai bên đã ký trước đó. Đến ngày 16/9/2022, Công ty TT tiếp tục cung cấp tài liệu bổ sung chứng minh ông D hiện đang đảm nhiệm công việc và vị trí tương tự như khi còn làm việc tại Công ty TT, bao gồm cả việc đại diện ký xác nhận nghiệm thu công việc tại Nhà máy lọc hóa dầu NS. Từ đó, Công ty TT khởi kiện và yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Đình D bồi thường số tiền 251.800.000 đồng do hành vi vi phạm cam kết đã ký.

Theo nội dung vụ án trên và căn cứ vào quy định pháp luật có liên quan thì “Thỏa thuận cam kết bảo mật thông tin và không cạnh tranh”, “Hợp đồng lao động” giữa Công ty TT và Anh Nguyễn Đình D là trái với quy định phpas luật tại khoản 1 Điều 35 Hiến pháp 2013; điểm a khoản 1 Điều 5 Bộ luật lao động năm 2019; khoản 1 Điều 4, khoản 6 Điều 9 Luật việc làm 2013.

Ngoài ra, nguyên đơn là Công nghệ TT không có tài liệu, chứng cứ nào xác định bị đơn là Nguyễn Đình D đã cung cấp, sử dụng hoặc làm lộ bí mật thông tin kinh doanh, gây thiệt hại cho Công ty TT, do đó Bản án sơ thẩm buộc anh D bồi thường thiệt hại là xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của anh D; xác định tiền án phí anh D phải chịu và tiền tạm ứng án phí trả lại cho nguyên đơn là không đúng.

Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc Anh Nguyễn Đình D phải có trách nhiệm bồi thường cho Công ty TT số tiền 251.800.000đ.

Ngày 04/10/2022 Anh Nguyễn Đình D làm đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm xét xử lại theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TT.

Tòa án cấp phúc thẩm nhận định:  Mặc dù giữa Công ty Cổ phần Công nghệ TT (Công ty TT) và ông Nguyễn Đình D đã có ký kết "Thỏa thuận cam kết bảo mật thông tin và không cạnh tranh" và "Hợp đồng lao động", tuy nhiên, Tòa án cấp phúc thẩm nhận định các thỏa thuận này trái với quy định tại Điều 35 của Hiến pháp về quyền lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc của công dân; trái với quy định tại Điều 5, Điều 10 Bộ luật lao động năm 2019 về quyền tự do lựa chọn việc làm, làm việc cho bất kỳ người sử dụng lao động nào và ở bất kỳ nơi nào mà pháp luật không cấm của người lao động. Đồng thời, Công ty TT không xuất trình được tài liệu chứng minh Anh Nguyễn Đình D đã sử dụng hoặc đã làm lộ bí mật gì của Công ty TT; trên thực tế Công ty TT và Công ty TNHH lọc hóa dầu NS không cùng ngành nghề kinh doanh, không là đối thủ cạnh tranh. Bản án sơ thẩm căn cứ vào các tài liệu Công ty TT xuất trình để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TT, buộc anh D phải bồi thường thiệt hại cho Công ty TT là không có cơ sở, gây thiệt hại quyền và lợi ích hợp pháp của anh D. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của anh D và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã NS, áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TT..

Tòa án cấp phúc thẩm quyết định: Chấp nhận kháng cáo của Anh Nguyễn Đình D và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã NS. Sửa Bản án lao động sơ thẩm số 01/2022/LĐ-ST ngày 27/9/2022 của Tòa án nhân dân thị xã NS như sau: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần Công nghệ TT.

Như vậy, từ những phân tích và lập luận nêu trên, Tòa án phúc thẩm xét kháng cáo của bị đơn là có cơ sở, cho rằng việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông D bồi thường là không có căn cứ pháp lý, gây ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của ông D. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông D và kháng nghị của Viện kiểm sát, sửa bản án sơ thẩm và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TT là hoàn toàn phù hợp.

Logo Thư viện Pháp luật
— Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Bài viết mới nhất

Bài viết mới nhất

Bài Viết Bản Án
Cách viết bản kiểm điểm cá nhân dành cho học sinh các cấp mới nhất 2026 và mẫu bản kiểm điểm 2026

Bản kiểm điểm là văn bản do chính các nhân viết để nhìn nhận lỗi, phân tích nguyên nhân và cam kết sửa chữa khi vi phạm nội quy, quy chế hoặc làm sai trong công việc, học tập. Một bản kiểm điểm tốt có 6 phần: thông tin cá nhân, mô tả vi phạm, nguyên nhân, nhận thức lỗi, biện pháp khắc phục và lời cam kết. Dưới đây, là file mẫu bản kiểm điểm 2026 và hướng dẫn cách viết bản kiểm điểm cá nhân dành cho học sinh các cấp mới nhất 2026.