TIÊU CHUẨN VIỆT
NAM
TCVN 6469
: 1998
PHỤ
GIA THỰC PHẨM - PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ CÁC CHỈ TIÊU NGOẠI QUAN VÀ VẬT LÝ
Food additives - Methods for evaluating appearance and physical properties
Lời nói đầu
TCVN 6469 : 1998 hoàn toàn phù hợp với phần I
của sách Hướng dẫn yêu cầu kỹ thuật cho những chú ý chung, thử nhận biết, dung
dịch thử và các tài liệu tham khảo khác của JECFA (Guide to specifications,
general notices, general analytical techniques, identification tests, test
solutions and other reference materials - JECFA - FAO FOOD and nutrition paper
- 5 rev 2).
TCVN 6469 : 1998 do ban kỹ thuật tiêu chuẩn
TCVN/TC/F4 Phụ gia thực phẩm biên soạn, Tổng cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng
đề nghị, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường ban hành.
PHỤ GIA THỰC PHẨM - PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH
GIÁ CÁC CHỈ TIÊU NGOẠI QUAN VÀ VẬT LÝ
Food additives -
Methods for evaluating appearance and physical properties
Tiêu chuẩn này qui định phương pháp để đánh
giá các chỉ tiêu ngoại quan và vật lý của phụ gia thực phẩm.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Phương pháp dưới đây sử dụng 100 ml mẫu.
Trong các trường hợp cần thiết hoặc muốn sử dụng lượng mẫu nhỏ hơn, có thể dùng
phương pháp của McCullough và các cộng sự [J.Chem. Ed 47, 57 (1970)] chỉ dùng
cho lượng mẫu 50 μl.
1.1 Định nghĩa
1.1.1 Dải chưng cất
Khoảng chênh lệch giữa nhiệt độ quan sát được
lúc bắt đầu có dịch cất khi chưng cất và nhiệt độ quan sát tại thời điểm đã cất
được một thể tích dịch cất được qui định, hay khi đã đạt đến điểm khô.
1.1.2 Điểm sôi ban đầu
Nhiệt độ biểu thị trên nhiệt kết ngay khi
giọt ngưng đầu tiên rơi khỏi đáy ống ngưng tụ.
1.1.3 Điểm khô
Điểm khô là nhiệt độ được ghi ngay khi giọt
cuối cùng của chất lỏng bay hơi khỏi điểm thấp nhất trong bình chưng cất, không
còn một chút chất lỏng nào trên thành bình.
1.2 Thiết bị, dụng cụ
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Dùng bình chưng cất đáy tròn 200 ml làm bằng
thuỷ tinh chịu nhiệt có đủ lượng mẫu thử (trên 100 ml). Nếu buộc phải dùng mẫu
ít hơn 100 ml, có thể sử dụng bình chưng cất nhỏ hơn có dung tích gấp đôi lượng
chất lỏng. Bình 200 ml có chiều dài tổng cộng bằng 17,9 cm và đường kính trong
của cổ bình bằng 2,1 cm. Gắn vào khoảng giữa cổ bình, cách đáy khoảng 12 cm,
một ống nhánh dài 12,7 cm có đường kính trong bằng 5 mm, nghiêng xuống dưới một
góc 750 so với phương thẳng đứng.
1.2.2 Thiết bị ngưng tụ
Dùng một ống ngưng bằng thuỷ tinh chịu nhiệt,
thẳng, dài 56 cm - 60 cm và được bao bọc bởi một lớp nước sao cho khoảng 40 cm
ống tiếp xúc với môi trường lạnh. Đáy (đầu dưới) của thiết bị ngưng tụ có thể được
uốn cong để đặt ống cung cấp hay nó có thể nối với một bộ phận khớp nối cong,
có tác dụng như ống cung cấp.
Chú thích - Mọi dụng cụ thí nghiệm thuỷ tinh
có các đầu nối thon được dùng nếu như dụng cụ này cho các kết quả tương đương
như kết quả thu được trong bình chưng cất và thiết bị ngưng tụ đã mô tả ở trên.
1.2.3 Bình hứng (thu)
Bình hứng là một bình hình trụ dung tích 100
ml có vạch chia 1 ml và đã được hiệu chuẩn "để chứa". Bình này dùng
để đong mẫu cũng như để hứng sản phẩm chưng cất.
1.2.4 Nhiệt kế
Nên dùng nhiệt kế nhúng một phần đã được
chuẩn hoá chính xác, với vạch chia độ thực tế nhỏ nhất (không lớn hơn 0,20)
để tránh việc cần phải nội suy. Các nhiệt kế thích hợp hiện có như sê-ri ASTM
37C tới 410C, và 1020C tới 1070C hay như loại
MCA R - 1 tới R - 4, hoặc tương đương.
1.2.5 Nguồn nhiệt
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Chú thích - Nhiệt độ qui định ở tiêu chuẩn
này là độ C (0C).
1.2.6 Tấm chắn
Toàn bộ bếp và bộ phận lắp ráp bình chưng cất
cần được bảo vệ tránh các luồng khí bên ngoài. Có thể dùng bất kỳ một tấm chắn
hiệu quả nào cho mục đích này.
1.2.7 Giá đỡ bình chưng cất
Một tấm amiăng dầy 6,5 mm và có một lỗ tròn
10 cm được đặt trên một vòng thích hợp hay một giá đỡ phẳng và được lắp không
chặt vào bên trong tấm chắn để đảm bảo khí nóng từ nguồn nhiệt không tới được
các thành của cổ bình chưng cất. Một tấm amiăng thứ hai dầy 6,5 mm, có diện
tích tối thiểu bằng 225 cm2, có một lỗ tròn 30 mm, được đặt lên trên
tấm thứ nhất. Tấm này được dùng để giữ bình chưng cất 200 ml, bình này cần được
lắp chắc trên tấm đó sao cho nhiệt trực tiếp cấp vào bình chưng cất chỉ qua lỗ
hổng của tấm này.
1.3 Cách tiến hành
Chú thích - Qui trình này được dùng với các
chất lỏng chưng cất trên 500C, trong trường hợp này mẫu có thể đo và
thu được, và sử dụng thiết bị ngưng tụ nước, ở nhiệt độ phòng (200 - 300). Đối
với các chất có nhiệt độ sôi dưới 500C, làm lạnh chất lỏng xuống dưới
100C trước khi lấy mẫu, thu dịch cất trong bình cách thuỷ đã được làm lạnh dưới
100C và dùng nước đã được làm lạnh dưới 100C trong thiết
bị ngưng.
Đong 100 ml ± 0.5 ml chất lỏng trong ống đong
100 ml có chia vạch và chuyển mẫu này vào bình chưng cất bằng dụng cụ chống va
chạm. Không dùng phễu để chuyển hay để bất kỳ lượng mẫu nào đi vào trong ống
nhánh của bình chưng cất. Đặt bình chưng cất lên tấm amiăng được đỡ bằng vòng
hay đế phẳng, và định vị tấm chắn cho bình chưng cất và bếp đốt. Nối bình chưng
cất và ống ngưng, đặt ống đong có chia vạch dưới vòi ra của ống ngưng và lắp
nhiệt kế vào. Cần đặt nhiệt kế vào giữa cổ bình sao cho đỉnh của bầu nhiệt kế
(khi có bầu phụ) ở ngay phía dươí đáy của vòi ra của ống nhánh. Điều chỉnh
nhiệt độ đốt sao cho trong 5 phút - 10 phút có thể thu được giọt chất lỏng đầu
đầu tiên.
Đọc nhiệt kế ngay khi giọt chưng cất đầu tiên
rơi ra khỏi ống ngưng và ghi nhận đó là điểm sôi ban đầu. Tiếp tục chưng cất
với tốc độ 4 ml hay 5 ml dịch cất trong một phút, ghi ngay nhiệt độ khi giọt
chất lỏng cuối cùng bốc hơi khỏi đáy bình chưng cất (điểm khô) hoặc khi đã cất
được lượng dịch cất đã định. Hiệu chỉnh các số đọc nhiệt độ đã quan sát được
cho mọi biến thiên áp suất không khí từ áp suất khí quyển (760 mm Hg) bằng cách
cho 0,10 cho từng biến thiên 2,7 mm áp suất, cộng số hiệu chỉnh này nếu áp suất
thấp hơn 760 mm, hoặc trừ đi nếu áp suất cao hơn 760 mm. Khi dùng nhiệt kế hiệu
chỉnh nhiệt độ của nhiệt kế nhúng bằng công thức:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
trong đó
N là biểu thị nhiệt độ của nhiệt kế thuỷ ngân
kể từ đáy dưới của nút;
T là nhiệt độ chưng cất quan sát được;
t là nhiệt độ ghi được bởi một nhiệt kế phụ
bầu của nhiệt kế này được đặt ở giữa nhiệt kế thuỷ ngân; cộng thêm số hiệu
chỉnh vào số đọc quan sát trên nhiệt kế chính.
Cách khác, có thể áp dụng công thức hiệu
chỉnh đơn giản sau đây:
t = to - k
(760 - b)
trong đó
to là điểm sôi tại áp suất khí
quyển 760 mm thuỷ ngân;
b là áp suất quan sát được tính bằng milimet
thuỷ ngân;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Hệ số k phụ thuộc vào chất nghiên cứu. Nó được
cho sẵn trong các Sổ tay tra cứu và biến thiêm trong phạm vi 0,033 đến 0,057.
2 Mầu sắc
(Theo thang màu Hazen Platin - Coban)
2.1 Thiết bị và dụng cụ
2.1.1 Các ống so sánh
Các ống Nessler dạng dài dung tích 100 ml,
trong suốt đến tận đáy, có nút thuỷ tinh. Cần lựa chọn các ống nghiệm này sao
cho vạch chia độ 100 ml nằm vào khoảng 275 mm - 295 mm kể từ đáy ống nghiệm.
2.1.2 Thiết bị so mầu
Thiết bị so mầu được cấu tạo cho phép so sánh
bằng mắt thường ánh sáng truyền qua các ống Nessler dạng dài dọc theo trục ống.
Thiết bị so mầu cần được cấu tạo sao cho ánh sáng trắng đi qua hay phản chiếu
từ tấm thuỷ tinh trắng và được chiếu với một cường độ đồng đều qua các ống
nghiệm từ thành bên.
2.1.3 Các chuẩn đối chiếu
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Đậy nút các ống và bịt kín các nút bằng các
vật liệu chống thấm nước như senlắc hay xi măng chống thấm.
Chuẩn màu Platin -
Coban (theo Hazen)
Số chuẩn mầu
Dung dịch TSC Pt – Co
ml
Số chuẩn mầu
Dung dịch TSC Pt – Co
ml
5
10
15
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
25
30
35
40
50
60
1
2
3
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
5
6
7
8
10
12
70
100
150
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
250
300
350
400
450
500
14
20
30
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
50
60
70
80
90
100
2.2 Cách tiến hành
Lấy 100ml mẫu cho vào một ống Nessler, lọc
mẫu nếu thấy đục. Đậy nút ống, đặt vào thiết bị so mầu và so với các mầu chuẩn.
2.3 Báo cáo
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Nếu do sự khác nhau về mầu sắc giữa mẫu và
chuẩn, ta không thể nhận được sự tương xứng nhất định, thì báo cáo theo dải mầu
nhận được sự tương xứng rõ ràng và báo cáo mẫu này là "ngoài dải
mầu".
3 Dải nóng chảy
Trước khi xác định dải nóng chảy của một
chất, cần phải làm khô mẫu trong các điều kiện được xác định về hao hụt khi sấy
khô được đề cập trong từng chuyên luận riêng. Nếu nhiệt độ không được xác định
trong chuyên luận thì làm khô mẫu 24 giờ trong bình hút ẩm.
Chuyển một lượng bột đã được sấy khô vào một
ống mao quản khô, dài khoảng 10 cm và bịt kín một đầu (độ dầy của thành ống
khoảng 0,10 mm - 0,15 mm, đường kính trong 0,9 mm - 1,1 mm) và nén bột vào ống
bằng cách gõ nhẹ ống trên bề mặt cứng để thành một cột nén chặt có chiều cao
khoảng 2 mm - 4 mm.
Gắn ống mao quản này và lượng chứa trong đó
với một nhiệt kế chuẩn sao cho đầu bịt kín của ống mao quản nằm ở mức giữa của
bầu, và gia nhiệt trong một thiết bị thích hợp có chứa chất lỏng thích hợp (paraphin
lỏng hay dầu silicon) và được lắp với một bộ phận khuấy và một nhiệt kế phụ.
Điều chỉnh sự gia tăng nhiệt độ trong thời kỳ đầu là 30 trong một
phút. Khi nhiệt độ đã nâng tới 50 dưới số nhỏ nhất của khoảng chảy
đối với chất đang thử nghiệm, thì tăng nhiệt chậm hơn, nếu không có sẵn các chỉ
dẫn nào khác, mức độ tăng nhiệt nên trong khoảng 10 - 20
trong một phút.
Trừ khi có các chỉ dẫn khác, đọc nhiệt độ tại
điểm cho thấy chất đang thử nghiệm hình thành các giọt nhỏ bám vào thành ống và
nhiệt độ tại đó chất thử nghiệm bị nóng chảy hoàn toàn, thì thấy tạo thành một
mặt cong rõ nét.
Đối với các số nhiệt độ đọc được dùng số hiệu
chỉnh được xác định như sau:
Trước khi bắt đầu xác định khoảng nóng chảy,
chỉnh nhiệt kế phụ sao cho bầu (nhiệt kế) sát với nhiệt kế chuẩn ở điểm nằm giữa
dải của cho dải nóng chảy dự kiến và bề mặt của vật liệu nung. Khi chất thử đã
nóng chảy, đọc nhiệt độ trên nhiệt kế phụ. Tính số hiệu chỉnh để cộng thêm vào
các số đọc nhiệt độ trên nhiệt kế chuẩn theo công thức:
0.00015 N (T - t)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
T là nhiệt độ đọc trên nhiệt kế chuẩn;
t là nhiệt độ đọc trên nhiệt kế phụ;
N là số các cấp chia trên thang chia của
nhiệt kế chuẩn giữa bề mặt của vật liệu nung và mức thuỷ ngân.
Câu "khoảng tan chảy ao - bo"
có nghĩa là nhiệt độ đúng (đã hiệu chỉnh) ít nhất tại đó quan sát thấy vật liệu
thử tạo thành các giọt nhở ở ao, và vật liệu này phải hoàn toàn nóng
chảy ở nhiệt độ bo đã hiệu chỉnh.
4 Xác định độ pH
4.1 Phương pháp đo điện thế
Độ pH của một dung dịch nước có thể được xác
định chính xác theo phương pháp đo điện thế bằng pH kế.
Xác định theo thực nghiệm pH của nước có thể
được tính theo công thức:
pH = pH0 +
[(E - E0) / 0,0591]
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
pH là giá trị đối với dung dịch
cần đo;
pH0 là giá trị đối với
dung dịch đệm chuẩn;
E là giá trị điện thế đối với
dung dịch cần đo;
E0 là giá trị điện thế
của dung dịch đệm chuẩn;
0,0591 là giá trị ở 250 của
hằng số Nernst.
Phương trình này không áp dụng được đối với
các dung môi khác ngoài nước, hoặc đối với các dung môi hỗn hợp bao gồm nước.
Tuy nhiên, pH kế cho các số đo có thể suy ra cho các hệ dung môi khác, trên cơ
sở hiệu chuẩn với các dung dịch đệm chuẩn trong nước và trong khi các số độ pH
không có ý nghĩa về mặt nhiệt động học, thì chúng lại có ích trong việc thiết
lập các chỉ tiêu kỹ thuật.
Phép đo pH bằng cách dùng pH kế là việc so
sánh số đo trên máy của một dung dịch chưa biết với các số đo trên máy của các
dung dịch đệm chuẩn có các giá trị pH đã biết trước một cách chính xác. Phương
pháp đo thông thường chỉ sử dụng một dung dịch đệm chuẩn và xấp xỉ độ nghiêng
điện cực, thông thường thực hiện bằng một bộ phận bù nhiệt, phép đo pH chính
xác tới ± 0,05 đơn vị pH hoặc yêu cầu cao hơn, thì sử dụng hai dung dịch đệm
chuẩn, bao hàm (nếu có thể được) khoảng pH dự kiến. Tất cả các mẫu và dung dịch
đệm chuẩn cần phải có cùng một nhiệt độ.
Cần chú ý đặc biệt đến việc lựa chọn và bảo
quản điện lực thuỷ tinh và điện cực so sánh. Điện cực thuỷ tinh thường nhạy cảm
đối với các ca-tion kim loại kiềm ở các giá trị pH lớn hơn 9, dẫn tới cái gọi
là sai số kiềm. Nên dùng các điện cực có sai số kiềm nhỏ khi trong môi trường
kiềm. Bảo quản các điện cực này trong nước cất khi không dùng để tránh bị khô.
Có thể dùng các điện cực "kiểu - dòng chảy" để đo pH nếu đưa ra được
cơ sở chắc chắn về phép đo này.
Việc đo pH của "các dung dịch đệm
cao" (nước cất hay các dung dịch của các hợp chất hữu cơ không ion hoá
trong nước cất) là một phép đo rất khó thực hiện. Thêm 0,3 ml dung dịch kali
clorua bão hoà vào 100 ml nước cất sẽ làm dễ hơn do có một lượng điện phân nhỏ.
Tuy nhiên, thường phải bảo vệ dung dịch cân đo tránh khỏi cacbon dioxit (CO2)
trong không khí bằng cách sử dụng một lớp phủ nitơ trong khi đo. Đo pH các lượng
thử liên tiếp từ nước hay các dung dịch thử, trong khi khuấy mạnh, cho đến khi
các kết quả thu được qua hai lần đo kế tiếp nhau nằm trong phạm vi sai số 0,1
đơn vị pH.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Dùng pH kế thích hợp và theo hướng dẫn của
nhà sản xuất. Sau mỗi lần dùng điện cực, tráng rửa các điện cực này bằng nước
cất hay nước đã được khử ion và cẩn thận thấm khô chúng bằng vải mềm, sạch, dễ
thấm nước. Lấy môi trường lỏng mới liên kết điện cực so sánh. Tráng cốc đựng
mẫu 3 lần mỗi dung dịch đo mới.
Chọn hai dung dịch đệm chuẩn1 trong
khoảng trên và dưới điểm pH dự kiến của dung dịch thử, nếu có thể. Làm nóng
hoặc làm lạnh các dung dịch chuẩn này khi cần để có chênh lệch trong khoảng 20
so với nhiệt độ của mẫu thử và trước hết đặt bộ bù nhiệt tới nhiệt độ đó. Nhúng
các cực điện vào dung dịch đệm chuẩn thứ nhất, và theo chỉ dẫn của nhà sản
xuất, điều chỉnh bộ phận chuẩn hoá tương ứng (núm, công tắc hay phím bấm) cho
đến khi số đọc đúng giá trị của dung dịch đệm chuẩn đó. Lặp lại quá trình này
với các lượng mới từ dung dịch đệm chuẩn thứ nhất cho đến khi số đo của hai lần
liên tiếp có phạm vi sai số ± 0,02 đơn vị pH mà không cần chỉnh núm điều khiển.
Tráng rửa các điện cực, thấm khô và nhúng vào
cốc chứa một lượng dung dịch đệm chuẩn thứ hai có độ pH thấp hơn, giữ nguyên
điểm đặt núm điều khiển đã chuẩn hoá. Theo các chỉ dẫn của nhà sản xuất, chỉnh
bộ điều khiển độ nghiêng (núm, phím hay thiết bị bù nhiệt độ) cho đến khi đọc được
giá trị pH chính xác của dung dịch đệm này.
Lặp lại bước chuẩn hoá với cả hai dung dịch
đệm chuẩn cho đến khi các giá trị pH của 2 dung dịch này nằm trong phạm vi sai
số ± 0,02 đơn vị pH cho cả hai dung dịch chuẩn mà không cần phải chỉnh bất kỳ
một núm hay phím chỉnh nào2. Khi đó có thể tiến hành đo độ pH của
dung dịch thử3.
Luôn luôn chuẩn lại pH kế, thậm chí ngay cả
khi bộ khuếch đại bị tháo ra trong thời gian ngắn.
4.3 Tài liệu tham khảo
Food Chemicals Codes, 3rd Edition
(1981) National Academy Press, 531 - 2, EC Diêctive 81/712/EEC, July 1981.
5 Chỉ số khúc xạ
Chỉ số khúc xạ của một chất trong suốt là tỷ
số giữa tốc độ ánh sáng trong không khí và tốc độ ánh sáng trong chất đó trong
cùng một điều kiện. Nó bằng tỷ số của sin góc đến tạo bởi một tia trong không khí
và sin của góc khúc xạ tạo bởi một tia trong chất đang thử. Các giá trị chỉ số
khúc xạ xác định theo đường D của natri (589 nm) trừ khi có các qui định khác.
Việc xác định phải thực hiện ở nhiệt độ qui định trong mỗi chuyên luận riêng,
hoặc ở nhiệt độ 250 nếu như không qui định nhiệt độ khác. Hằng số vật lý này được
dùng để nhận biết, và phát hiện các tạp chất trong các dầu dễ bay hơi và các
chất lỏng khác. Có thể dùng khúc xạ kế Abbé hay khúc xạ kế khác, có độ chính
xác tương đương hay cao hơn, tuỳ theo mục đích của người thử nghiệm.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
6.1 Phạm vi áp dụng
Phương pháp này thiết lập để xác định điểm
đông đặc của các hoá phẩm sử dụng trong ngành thực phẩm có nhiệt nóng chảy đáng
kể. Nó có thể áp dụng cho các hoá chất có điểm đông đặc trong khoảng - 200
đến + 1500.
Điểm đông đặc là một hằng số thực nghiệm, được
xác định là nhiệt độ tại đó pha lỏng của một chất gần như cân bằng với một phần
tương đối nhỏ của pha rắn. Nó được đo bằng cách ghi lại nhiệt độ lớn nhất đạt được
trong qui trình làm nguội có kiểm soát sau khi xuất hiện một pha rắn.
Điểm đông đặc khác với điểm băng ở chỗ khái
niệm điểm băng áp dụng cho nhiệt độ cân bằng giữa trạng thái rắn và trạng thái
lỏng của các hợp chất thuần khiết. Một số hợp chất hoá học có hai nhiệt độ, tại
đó có thể có một nhiệt độ cân bằng giữa trạng thái rắn và lỏng tuỳ theo dạng
tinh thể của chất rắn hình thành.
6.2 Thiết bị, dụng cụ
Thiết bị được ghi ở hình 1 và bao gồm các bộ
phận được mô tả trong các mục sau.
6.2.1 ống chứa mẫu
Sử dụng một ống nghiệm thuỷ tinh chuẩn có
kích thước 25 mm x 150 mm có miệng được lắp với một nút li-e có khoan lỗ để giữ
nhiệt kế ở đúng vị trí và cho phép khuấy bằng dụng cụ khuấy.
6.2.2 Nhiệt kế
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
6.2.3 Dụng cụ khuấy
Dụng cụ khuấy bao gồm một dây thép không rỉ đường
kính 1 mm, được uốn cong thành ba vòng nối tiếp, cách nhau 25 mm. Cần phải làm
sao cho que khuấy này dễ di động trong khoảng trống nhiệt kế và thành trong của
ống chứa mẫu. Cán của que khuấy phải có một độ dài thích hợp, được thiết kế để
dễ cho qua lỗ khoan trong nút li-e giữ nhiệt kế. Việc khuấy có thể thực hiện
bằng tay hay máy, với thao tác 20 - 30 vòng khuấy trong một phút.

Hình 1 - Thiết bị xác
định điểm đông
6.2.4 Lớp áo không khí
Sử dụng một ống nghiệm thuỷ tinh tiêu chuẩn
38 mm x 200 mm miệng được đậy bằng nút li-e có khoan lỗ để có thể dễ dàng lắp
ống chứa mẫu qua miệng ống.
6.2.5 Bình làm lạnh
Dùng một cốc có mỏ dung tích 2 lít hay một
bình thích hợp tương tự để làm bình làm lạnh. Đổ đầy một dung dịch làm lạnh
thích hợp như glyxcerin hay dầu mỏ, nước, nước và nước đá, hay đá - cồn tuyệt
đối vào bình.
6.3 Lắp ráp
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
6.4 Chuẩn bị mẫu
Điểm đông đặc thường được xác định trên các
hoá phẩm ngay sau khi giao nhận. Tuy nhiên, một vài chất có thể hút ẩm và cần được
sấy khô đặc biệt; điều này nếu có sẽ được đề cập trong tài liệu chuyên biệt.
Các sản phẩm bình thường đông đặc ở nhiệt độ phòng phải cho nóng chảy rất cẩn
thận ở nhiệt độ trên điểm đông đặc dự kiến khoảng 100. Cần quan sát cẩn thận để
tránh gia nhiệt theo cách phân huỷ hay chưng cất bất kỳ một lượng mẫu nào.
6.5 Cách tiến hành
Chỉnh nhiệt độ của bình làm lạnh tới dưới
điểm đông đặc dự kiến khoảng 50. Lắp nhiệt kế và que khuấy vào nút li-e sao cho
nhiệt kế ở giữa và bầu nhiệt kế nằm cách đáy ống chứa mẫu khoảng 20 mm. Chuyển
một lượng mẫu vừa đủ, đã nóng chảy từ trước, nếu cần, vào trong ống chứa mẫu,
đổ đầy khoảng 90 mm khi ở trạng thái tan chảy. Đặt nhiệt kế và que khuấy vào
ống chứa mẫu và chỉnh nhiệt kế sao cho đường nhúng ngập sẽ ở bề mặt của chất
lỏng và đáy của bầu nhiệt kế sẽ cách đáy của ống chứa mẫu là 20 ± 4 mm. Khi
nhiệt độ của mẫu cao hơn khoảng 50, so với điểm đông đặc dự kiến, đặt tổ hợp
ống mẫu vào lớp áo khí.
Để cho mẫu nguội dần trong khi khuấy ở tốc độ
20 - 30 lần khuấy/một phút, sao cho que khuấy không chạm vào nhiệt kế. Khuấy
mẫu liên tục trong khi vẫn đang tiến hành thử nghiệm.
Đầu tiên nhiệt độ sẽ dần dần giảm, sau đó sẽ
trở nên không đổi khi bắt đầu tinh thể hoá và tiếp tục trong các điều kiện cân
bằng, và cuối cùng lại bắt đầu hạ dần. Một số chất đông chậm, dưới (0,50) điểm đông
đặc; khi tinh thể hoá bắt đầu, nhiệt độ sẽ tăng và giữ không đổi khi các điều
kiện cân bằng đã được lập. Các chất khác có thể nguội sớm hơn 0,50 và gây ra
khoảng lệch so với sự thay đổi độ nhiệt thông thường của mẫu. Nếu nhiệt độ tăng
quá 0,50 sau khi quá trình tinh thể hoá ban đầu xuất hiện, lặp lại thí nghiệm
và rắc vào chất đã tan chảy các tinh thể nhỏ của mẫu ở các khoảng nhiệt độ
0,50, khi nhiệt độ tiến đến điểm đông đặc dự kiến. Các tinh thể dùng để rắc có
thể thu nhận được bằng cách cho đóng băng trực tiếp một lượng mẫu nhỏ trong một
ống nghiệm trong bình làm lạnh. Nên dùng các hạt của pha ổn định từ mẫu đã xác
định trước đây.
Quan sát và ghi lại các số đo nhiệt độ tại
các khoảng cách nhiệt độ đều đặn cho đến khi nhiệt độ nâng lên từ giá trị nhỏ
nhất, do đông lạnh chậm, tới giá trị lớn nhất, và rồi cuối cùng lại hạ thấp.
Nhiệt độ lớn nhất đo được là điểm đông đặc. Cần tiến hành đọc nhiệt độ cách
nhau 10 giây để lập nhiệt độ ở mức tối đa và tiếp tục cho đến khi lập được
nhiệt độ hạ thấp.
7 Khối lượng riêng
Khối lượng riêng là tỷ số của khối lượng mẫu
với khối lượng của một thể tích tương đương vật liệu chuẩn. Khối lượng riêng (
dtt ) có nghĩa là tỷ số của khối lượng của mẫu "to"
đối với khối lượng của một thể tích tương đương của nước tại to. Trừ khi các
khái niệm khác được xác định, khối lượng riêng có nghĩa d2020.
Khối lượng riêng được xác định bằng một trong số các phương pháp sau, nếu không
có các chỉ dẫn khác bắt buộc.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Bình đo tỷ trọng (tỷ trọng kế) là một bình
làm bằng thuỷ tinh có dung tích thông thường là 10 ml đến 100 ml. Tỷ trọng kế
có nút thuỷ tinh tròn có lắp nhiệt kế và có một ống bên khắc vạch mức và một
nắp thuỷ tinh tròn. Cân tỷ trọng kế đã được rửa sạch và làm khô từ trước và ghi
lại khối lượng W của nó. Tháo nút và nắp đậy, đổ đầy mẫu vào tỷ trọng kế, giữ ở
nhiệt độ thấp hơn khoảng 10 đến 30 so với nhiệt độ đã xác định, và đậy nút lại,
cẩn thận không để có các bọt khí. Nâng dần dần nhiệt độ cho đến khi nhiệt kế chỉ
tới nhiệt độ đã định. Lấy ra lượng mẫu quá vạch mức theo ống bên, lắp lại nắp
và cẩn thận lau chùi bên ngoài. Cân và ghi khối lượng W1. Sử dụng
cùng một tỷ trọng kế, tiến hành xác định tương tự như trên với nước. Cân tỷ
trọng kế chứa nước ở nhiệt độ đã định và ghi lại khối lượng W2. Tính
toán khối lượng riêng theo công thức sau:

7.2 Đo bằng cân Mohr - Westphal
Giữ cân nằm ngang, gắn ống thuỷ tinh trong đó
có một nhiệt kế được buộc bằng dây vào đầu tay đòn cân. Nhúng ống thuỷ tinh vào
nước chứa trong bình trụ, đặt con mã lớn nhất trên tay đòn cân tại mức 10, và
chỉnh cân bằng cách di chuyển đai ốc ở nhiệt độ xác định.
Sau đó, nhúng ống thuỷ tinh vào trong mẫu,
chỉnh cân bằng cách treo các con mã lên tay đòn cân và đọc khối lượng riêng tại
các vạch đặt các con mã. Cần phải tạo độ dài của phần dây được nhúng trong mẫu
bằng với phần được nhúng trong nước bằng cách thay đổi chiều cao của mẫu trong
bình trụ.
7.3 Đo bằng thuỷ kế (Hydrometer)
Sử dụng một thuỷ kế có độ chính xác cần thiết
cho việc sử dụng ở nhiệt độ xác định.
Làm sạch thuỷ kế bằng rượu. Lắc mẫu đều và
cho vào thuỷ kế sau khi các bọt đã biến mất. Tại nhiệt độ định trước, khi thuỷ
kế đã ổn định, đọc khối lượng riêng ở phía trên của mặt cong. Tuy nhiên, trong
trường hợp thuỷ kế bất kỳ nào, đã có các chỉ dẫn đặc biệt cho nó, thì phải tuân
theo các chỉ dẫn đó.
7.4 Đo bằng Tỷ trọng kế loại Sprengel - Owtwald
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Hình 2 - Tỷ trọng kế
Pycnometer Sprengel - Owtwald
Cân tỷ trọng kế, đã làm sạch và sấy khô từ trước
(W). Nhúng ống cong vào trong mẫu được giữ ở nhiệt độ thấp hơn 3 - 50
so với nhiệt độ qui định, gắn một ống cao su vào đầu ống thẳng và hút mẫu nhẹ
nhàng cho đến trên vạch mức, cẩn thận không làm tạo bọt. Nhúng tỷ trọng kế vào
trong một bình cách thuỷ được giữ ở nhiệt độ qui định khoảng 15 phút, và bằng
cách gắn một miếng giấy lọc vào đầu ống cong, chỉnh đầu của mẫu tới vạch dấu.
Lấy tỷ trọng kế từ bình cách thuỷ ra, và lau thành ngoài. Cân và ghi lại trọng
lượng W1. Dùng cùng một tỷ trọng kế, tiến hành xác định tương tự như
trên đối với nước. Cân tỷ trọng kế chứa nước ở nhiệt độ đã định và ghi lại khối
lượng W2. Tính toán khối lượng riêng theo công thức sau:

8 Độ quay cực riêng
8.1 Độ quay quang học của các hoá phẩm nói
chung được biểu thị bằng độ, hoặc là theo "độ quay cực" (được quan
sát) hay "đơn vị quay" (tính toán trên cơ sở nồng độ riêng của 1 g
chất hoà tan trong 1 ml dung dịch, đo trong các điều kiện xác định).
Độ quay cực thông thường được biểu thị bằng [α]tx
, trong đó t biểu thị nhiệt độ C tại đó độ quay được xác định, và x biểu thị đường
phổ đặc trưng hay bước sóng của ánh sáng sử dụng. Các đường phổ thường được
dùng nhiều nhất là đường D của natri (cặp đôi tại bước sóng 589 và 589,6 nm) và
đường vàng - xanh lục của thuỷ ngân tại 546,1 nm). Khối lượng riêng và năng lượng
quay biến đổi đáng kể theo nhiệt độ.
Độ chính xác và độ tập trung của các phép đo
độ quay quang học sẽ tăng nếu như chúng được thực hiện đúng theo các chỉ dẫn
chung dưới đây.
Nguồn chiếu sáng cần được trợ giúp bởi một hệ
thống lọc có thể truyền ánh sáng đơn sắc. Các phân cực kế chính xác nói chung được
thiết kế để điều tiết các đĩa có thể đổi lẫn nhau để cách ly đường D khỏi ánh
sáng natri hay đường 546,1 nm khỏi phổ thuỷ ngân. Với các phân cực kế không được
thiết kế như vậy, có thể sử dụng các cuvét chứa các chát lỏng có mầu thích hợp
làm chức năng lọc [xem "Kỹ thuật hoá học hữu cơ", A. Weissberger. Tập
1, phần ll, chỉnh lý lần thứ 3 (1960 nhà xuất bản Interscience, New York)].
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các ống phân cực kế cần được đổ đầy để tránh
tạo ra hay để lại các bọt khí, các bọt này gây ảnh hưởng đến đường đi của chùm
tia sáng. ảnh hưởng do các bọt được giảm thiểu nhờ các ống trong đó lỗ khoan được
mở rộng ở một đầu. Tuy nhiên với các ống có đường kính đồng đều, như các ống tương
đối nhỏ hay rất nhỏ, cần phải thận trọng khi đổ đầy một cách thích hợp. Vào lúc
đổ đầy, các ống và chất lỏng hay dung dịch cần ở cùng nhiệt độ, không cao hơn
nhiệt độ đã xác định cho phép thử, để không làm thành các bột do việc làm lạnh
và làm co các chất.
Trong các ống kín có tấm bịt ở đầu có thể
tháo ra, được lắp với các miếng đệm và các nắp, các nắp này cần vặn chặt đủ để
đảm bảo bịt kín chống rò rỉ giữa tấm bịt đầu và thân ống. áp suất dư trên tấm
có thể tạo nên ứng suất gây nhiễu cho các số đo. Trong khi xác định độ quay cực
riêng của một chất có năng lượng quay thấp, cần nới lỏng các nắp và cố định lại
chúng giữa các lần đọc kế tiếp trong phép đo độ quay cực và cả điểm Zê-rô (điểm
số không). Các chênh lệch xuất hiện từ ứng suất trên tấm đặt đầu ống nói chung
sẽ bộc lộ và có thể tiến hành các hiệu chỉnh thích hợp để loại trừ chúng.
8.2 Cách tiến hành
Trong trường hợp một chất rắn, hoà tan chất
này vào một dung môi thích hợp. Lấy một phần riêng của dung môi cho thử nghiệm
đối chứng. Tiến hành ít nhất năm lần đọc độ quay cực của dung dịch hoặc của bản
thân chất đó nếu nó là chất lỏng, ở nhiệt độ 250 hay nhiệt độ qui định trong
chuyên luận. Thay dung dịch trên bằng phần trăm dung môi được giữ lại (hoặc,
trong trường hợp một chất lỏng, dùng ống nghiệm rỗng), thực hiện cùng số lần
đọc, và dùng giá trị trung bình làm giá trị mẫu trắng. Giá trị góc quay chính
xác sẽ nhận được bằng cách trừ bớt giá trị mẫu trắng trong giá trị trung bình
của góc quay đã quan sát được, nếu như hai số này có cùng dấu hoặc cộng thêm
vào nếu như chúng ngược dấu.
8.3 Tính toán
Tính độ quay cực riêng của một chất lỏng hay
của một chất rắn trong dung dịch bằng cách áp dụng một trong các công thức sau:
(I) Đối với các chất lỏng: [α]tx
= (a/ld);
(II) Đối với các chất rắn: [α]tx
= (100a)/lpd) = 100a/lc);
trong đó
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
l là chiều dài ống phân cực kế, tính bằng
đềximét (dm);
d là tỷ trọng (trọng lượng riêng) của chất
lỏng hay dung dịch tại nhiệt độ làm thử nghiệm;
p là nồng độ của dung dịch, được tính bằng số
gam chất thử trong 100 g dung dịch;
c là nồng độ của dung dịch, được tính bằng số
gam chất thử trong 100 ml dung dịch; Nên tính nồng độ p và c trên cơ sở chất
khô hay khan, trừ các trường hợp đặc biệt.