|
BAN
CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
*
|
ĐẢNG
CỘNG SẢN VIỆT NAM
---------------
|
|
Số 30-NQ/TW
|
Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2026
|
NGHỊ QUYẾT
HỘI NGHỊ LẦN THỨ TƯ
BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHOÁ XIV
VỀ TIẾP TỤC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÁC CẤP VÀ
ĐỔI MỚI CĂN BẢN, TOÀN DIỆN CÔNG TÁC CÁN BỘ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC
TRONG KỶ NGUYÊN MỚI
I- TÌNH
HÌNH VÀ NGUYÊN NHÂN
Qua các nhiệm kỳ, nhất là
sau 8 năm thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19/5/2018 của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khoá XII, công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ đạt nhiều
kết quả quan trọng. Các quan điểm, nguyên tắc lớn của Đảng về cán bộ, công tác
cán bộ được khẳng định, trong đó nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp,
toàn diện được bảo đảm. Đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược có bước
trưởng thành, phát triển; công tác tạo nguồn, chuẩn bị cán bộ cấp chiến lược,
người đứng đầu, cán bộ kế cận chủ động hơn; đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển,
rèn luyện cán bộ qua thực tiễn được quan tâm; nhận thức, trách nhiệm của các cấp
uỷ, tổ chức đảng và người đứng đầu được nâng lên; thể chế, quy định, quy trình
từng bước được hoàn thiện; các khâu trong công tác cán bộ ngày càng nền nếp,
liên thông hơn; phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền
lực, kỷ luật, kỷ cương được tăng cường.
Tuy nhiên, công tác cán bộ
vẫn còn một số hạn chế, bất cập. Mục tiêu tổng quát thực hiện chưa đầy đủ, đồng
đều, vững chắc; kết quả giữa các cấp, ngành, lĩnh vực, địa bàn còn chênh lệch.
Chất lượng, cơ cấu còn bất cập, trong đó cán bộ cấp cơ sở chưa đồng đều; thiếu
cán bộ có năng lực nổi trội, chuyên gia giỏi ở một số lĩnh vực chiến lược. Năng
lực dự báo, tư duy chiến lược, quản trị hiện đại, chuyển đổi số và tổ chức thực
hiện của một bộ phận cán bộ chưa theo kịp yêu cầu. Vẫn còn tình trạng cán bộ né
tránh, đùn đẩy, sợ sai, sợ trách nhiệm; một số cán bộ, đảng viên giữ chức vụ vi
phạm, bị xử lý kỷ luật. Đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, kết quả chưa được sử dụng
thực chất, xuyên suốt; việc lượng hoá, kiểm chứng sản phẩm, kết quả, hiệu quả
còn hạn chế. Công tác tạo nguồn có nơi chưa chủ động; nguồn cán bộ kế cận ở một
số vị trí, lĩnh vực chưa dồi dào; cơ chế phát hiện, thu hút, trọng dụng, sử dụng
nhân tài chưa đủ mạnh; chính sách đãi ngộ chưa thực sự tương xứng với năng lực
và đóng góp của cán bộ; dữ liệu cán bộ còn phân tán.
Những hạn chế, bất cập
trên chủ yếu do nguyên nhân chủ quan. Một số cấp uỷ, tổ chức đảng và người đứng
đầu chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của công tác cán bộ; công tác nghiên cứu
lý luận, tổng kết thực tiễn chưa theo kịp yêu cầu; việc giải quyết các mối quan
hệ lớn trong công tác cán bộ chưa đồng bộ, kịp thời. Phương thức quản lý còn
chia cắt theo từng khâu, từng cấp và từng nhiệm kỳ; chưa theo kịp yêu cầu quản
trị hiện đại và thay đổi tổ chức bộ máy; thẩm quyền chưa gắn chặt với trách nhiệm
giải trình và hệ quả của quyết định. Công tác kiểm tra, giám sát ở một số nơi
chưa thường xuyên, thiếu chủ động.
Đất nước đang bước vào kỷ
nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, thực hiện Nghị quyết Đại
hội XIV của Đảng và các nghị quyết chiến lược, hướng tới các mục tiêu phát triển
đất nước đến năm 2030, năm 2045 và tầm nhìn phát triển trong 100 năm tiếp theo.
Yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện; vận hành hiệu
quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa
phương 2 cấp; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế
đòi hỏi đổi mới căn bản, toàn diện công tác cán bộ và tạo bước phát triển mới về
chất của đội ngũ cán bộ.
II-
QUAN ĐIỂM
1. Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng;
công tác cán bộ là "then chốt của then chốt", quyết định trực tiếp
năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính
trị. Kiên định nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công
tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân
chủ.
2. Quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng, tư tưởng Hồ Chí
Minh về cán bộ và công tác cán bộ; lấy sự trung thành với Đảng, Tổ quốc, Nhân
dân, tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân làm giá trị cốt lõi; lấy bản
lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, liêm chính và khát vọng cống hiến làm nền tảng;
lấy năng lực, thực tài, khả năng tổ chức thực hiện làm trọng yếu; lấy sản phẩm,
kết quả, uy tín và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo chủ yếu. Kết hợp chặt
chẽ đức với tài, trong đó đức là gốc, thực tài là trọng, sản phẩm, kết quả, hiệu
quả và cống hiến là thước đo.
3. Xây dựng đội ngũ cán bộ
phải xuất phát từ mục tiêu, lý tưởng, đường lối của Đảng và yêu cầu phát triển
đất nước; là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo thống nhất
của Đảng, có sự tham gia và giám sát của Nhân dân; phải được tiến hành chủ động,
khoa học, có tầm nhìn dài hạn. Gắn xây dựng đội ngũ cán bộ với xây dựng, chỉnh
đốn Đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền, tổ chức bộ máy và mô hình
phát triển. Chủ động chuẩn bị đội ngũ có đủ năng lực dẫn dắt phát triển, bảo đảm
tính kế thừa, chuyển tiếp liên tục giữa các thế hệ. Xác định nhân tài và nhân lực
chất lượng cao là nguồn lực chiến lược đặc biệt của quốc gia.
4. Đổi mới căn bản, toàn diện công tác cán bộ; chuyển mạnh từ
quản lý riêng lẻ từng khâu, từng nhiệm kỳ sang quản trị thống nhất, đồng bộ, liên
thông, xuyên suốt. Lựa chọn đúng cán bộ phải gắn với xây dựng tập thể lãnh đạo
mạnh; bố trí, sử dụng đúng người, đúng việc, đúng thời điểm, thực hiện nghiêm
cơ chế "có vào, có ra, có lên, có xuống". Gắn chặt nhiệm vụ chính trị,
tổ chức bộ máy, vị trí việc làm và yêu cầu năng lực với toàn bộ quá trình phát
triển cán bộ.
5. Giải quyết hài hoà, đồng bộ các mối quan hệ giữa phát triển,
trọng dụng, khuyến khích, bảo vệ cán bộ với kiểm soát quyền lực, phòng, chống
tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực; giữa giữ vững kỷ luật, kỷ cương với
sàng lọc cán bộ; giữa ổn định, kế thừa với đổi mới, phát triển; giữa bảo đảm sự
lãnh đạo thống nhất của Đảng với đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; giữa vai trò tập
thể với trách nhiệm cá nhân. Quyền hạn phải đi đôi với trách nhiệm giải trình
và trách nhiệm đối với hệ quả của quyết định.
III- MỤC
TIÊU VÀ ĐỘT PHÁ
1. Mục
tiêu
1.1. Mục tiêu tổng
quát
Xây dựng đội ngũ cán bộ
các cấp đồng bộ, chất lượng cao, cơ cấu hợp lý, nhất là cán bộ cấp chiến lược,
cấp cơ sở và người đứng đầu; tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc, Nhân dân;
có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức cách mạng, liêm chính, trách nhiệm, thực
tài, uy tín, khát vọng cống hiến; hội tụ "Đủ đức - Đủ sức - Đủ tài, Đủ
tâm, Đủ tầm"; có tư duy đổi mới, tầm nhìn chiến lược, năng lực kiến tạo
phát triển và tổ chức thực hiện; làm chủ khoa học, công nghệ, chuyển đổi số,
đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Đổi mới căn bản, toàn diện
công tác cán bộ theo hướng khoa học, dân chủ, công tâm, khách quan, công khai,
minh bạch, chuyên nghiệp, hiện đại; hình thành phương thức quản trị đội ngũ thống
nhất, liên thông, xuyên suốt, dựa trên vị trí việc làm, năng lực, kết quả thực
hiện nhiệm vụ và dữ liệu được kiểm chứng; gắn thẩm quyền với trách nhiệm giải
trình và kiểm soát quyền lực. Chủ động phát hiện, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng,
rèn luyện, trọng dụng, sử dụng và sàng lọc cán bộ; hình thành nguồn cán bộ mở,
động, nhiều độ tuổi, nhiều phương án; chuẩn bị từ sớm, từ xa, bảo đảm tính kế
thừa, chuyển tiếp liên tục, vững chắc giữa các thế hệ.
1.2. Mục tiêu đến
năm 2030
Đến năm 2030, cơ bản xây dựng
đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược, cấp cơ sở và người đứng
đầu có phẩm chất, năng lực, uy tín, cơ cấu hợp lý, đúng vị trí việc làm, đáp ứng
yêu cầu vận hành tổ chức bộ máy và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện đồng bộ thể chế, pháp luật về vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh,
yêu cầu năng lực và cơ chế đánh giá, sử dụng, sàng lọc cán bộ. Hình thành hai
hướng phát triển tương xứng giữa cán bộ lãnh đạo, quản lý và chuyên gia, cán bộ
có chuyên môn sâu; có cơ chế, chính sách đủ mạnh, linh hoạt để thu hút, trọng dụng
và giữ chân nhân tài. Từng bước mở rộng liên thông nguồn nhân lực chất lượng
cao giữa khu vực công và khu vực tư; phấn đấu đưa Việt Nam vào nhóm quốc gia đứng
đầu khu vực về năng lực cạnh tranh nhân tài. Hoàn thiện dữ liệu cán bộ phục vụ
trực tiếp các quyết định về cán bộ và kiểm soát quyền lực.
1.3. Tầm nhìn đến
năm 2045
Xây dựng đội ngũ cán bộ
các cấp đồng bộ, toàn diện, chất lượng cao, cơ cấu hợp lý, kế thừa và phát triển
liên tục; nhất là cán bộ cấp chiến lược, cán bộ cấp cơ sở và người đứng đầu có
bản lĩnh chính trị, trí tuệ, tầm nhìn chiến lược, năng lực quản trị hiện đại và
hội nhập quốc tế, ngang tầm yêu cầu của một nước phát triển, thu nhập cao.
Phương thức quản trị đội ngũ cán bộ thống nhất, liên thông, hiện đại; cơ chế
phát hiện, tạo nguồn, trọng dụng và sàng lọc vận hành nền nếp, thực chất; nguồn
kế cận được chuẩn bị thường xuyên, nhiều thế hệ, nhiều phương án; dữ liệu trở
thành nền tảng phục vụ quyết định cán bộ và kiểm soát quyền lực.
(Các chỉ tiêu cụ thể
nêu tại Phụ lục kèm theo).
2. Ba
đột phá trọng tâm trong công tác cán bộ
- Đột phá về đánh giá, lựa
chọn, sử dụng và sàng lọc cán bộ: Chuyển căn bản từ đánh giá còn nặng về hồ sơ,
quy trình, thủ tục sang đánh giá bằng phẩm chất, năng lực, sản phẩm, kết quả,
hiệu quả và uy tín; lấy đánh giá thực chất làm nền tảng, sử dụng đúng người,
đúng việc.
- Đột phá về tạo nguồn,
phát triển đội ngũ cán bộ và trọng dụng nhân tài: Chuyển từ nguồn khép kín, chuẩn
bị nhân sự theo từng chức danh sang phát hiện, tạo nguồn mở, chủ động đào tạo,
bồi dưỡng phát triển đội ngũ cán bộ kế cận nhiều thế hệ, nhiều phương án và trọng
dụng thực tài, giá trị cống hiến.
- Đột phá về thể chế và
phương thức quản trị: Chuyển từ quản lý cán bộ phân tán theo từng khâu sang quản
trị đội ngũ thống nhất, đồng bộ, liên thông, xuyên suốt, dựa trên vị trí việc
làm, yêu cầu năng lực, dữ liệu có kiểm chứng, trách nhiệm giải trình và kiểm
soát quyền lực.
IV- NHIỆM
VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1.
Tăng cường giáo dục, rèn luyện; xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị,
đạo đức cách mạng, văn hoá phụng sự và trách nhiệm nêu gương
Tăng cường công tác giáo dục
chính trị, tư tưởng, đạo đức cách mạng, bảo đảm thiết thực, hiệu quả. Đưa việc
học tập và thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trở
thành nền tảng của mỗi cán bộ, đảng viên. Chuyển mạnh từ học tập, nhận thức
sang tự giác tu dưỡng, rèn luyện, tự soi, tự sửa và hành động; cụ thể hoá yêu cầu
chung thành chuẩn mực phù hợp với từng chức danh, vị trí, lĩnh vực, nhiệm vụ.
Xây dựng đội ngũ cán bộ có
bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng; đạo đức
cách mạng trong sáng, liêm chính, khiêm tốn, trung thực, trách nhiệm; có tư duy
đổi mới, chủ động phát hiện, giải quyết vấn đề; phương pháp làm việc khoa học,
sâu sát thực tiễn; có trách nhiệm với dân, gần dân, trọng dân, hiểu dân, học
dân, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Đặt lợi ích quốc gia - dân tộc,
lợi ích của Đảng, Nhà nước và Nhân dân lên trên hết, trước hết; kiên quyết khắc
phục chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng vụ lợi, cơ hội, thực dụng.
Xây dựng văn hoá trong Đảng,
văn hoá chính trị theo hướng kỷ cương, liêm chính, chuyên nghiệp, tận tụy, phụng
sự; đề cao tính tiên phong, nêu gương, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý và
người đứng đầu. Gắn giáo dục, rèn luyện, nêu gương với kiểm tra, giám sát và
đánh giá cán bộ; chủ động phòng ngừa, phát hiện từ gốc, chấn chỉnh từ sớm, từ
xa các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự
diễn biến", "tự chuyển hoá".
2.
Hoàn thiện đồng bộ thể chế, pháp luật; xây dựng hệ thống vị trí việc làm, chức
danh, tiêu chuẩn và khung năng lực
Hoàn thiện đồng bộ thể chế,
pháp luật về công tác cán bộ theo nguyên tắc thống nhất, liên thông, rõ thẩm
quyền, rõ trách nhiệm, dễ thực hiện, dễ kiểm tra, giám sát. Tinh gọn quy trình,
thủ tục, hồ sơ; bãi bỏ khâu trung gian, trùng lặp, hình thức.
Hoàn thiện đồng bộ chức
năng, nhiệm vụ, vị trí việc làm, cơ cấu chức danh, tiêu chuẩn và yêu cầu năng lực
toàn hệ thống; bảo đảm thống nhất từ nhiệm vụ của tổ chức đến vị trí việc làm,
lựa chọn, bố trí, sử dụng, đánh giá cán bộ. Mỗi vị trí phải xác định rõ nhiệm vụ,
thẩm quyền, trách nhiệm, sản phẩm chủ yếu và yêu cầu năng lực; không vì một hoặc
một số cá nhân mà đặt ra tổ chức, vị trí.
Đổi mới căn bản tiêu chuẩn
cán bộ theo hướng coi trọng phẩm chất, năng lực thực tiễn, kết quả, sản phẩm,
uy tín và triển vọng phát triển; không nặng về bằng cấp, thâm niên, hồ sơ. Tiêu
chuẩn phải rõ, thực chất, có khả năng kiểm chứng; không vì cơ cấu mà hạ thấp
tiêu chuẩn; không đặt ra tiêu chuẩn hình thức làm thu hẹp nguồn cán bộ. Tiêu
chuẩn là điều kiện cần; năng lực thực tiễn, kết quả thực hiện nhiệm vụ, khả
năng đáp ứng yêu cầu vị trí, uy tín của cán bộ là căn cứ quan trọng để đánh giá
mức độ phù hợp của cán bộ.
Hoàn thiện đồng bộ phân cấp,
phân quyền trong công tác cán bộ phù hợp với năng lực từng cấp, ngành, lĩnh vực,
địa bàn; gắn với nguồn lực, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực. Cấp
trên không làm thay việc đã phân cấp; tập trung kiểm tra, giám sát, hậu kiểm và
cảnh báo rủi ro.
3. Đổi
mới căn bản công tác đánh giá cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ và kiểm soát quyền
lực
Xác định rõ chủ thể, thẩm
quyền, trách nhiệm trong đánh giá cán bộ; phát huy trách nhiệm của cấp uỷ, tổ
chức đảng, tập thể lãnh đạo, người đứng đầu và cơ quan tham mưu. Kiểm soát quy
trình, chất lượng đánh giá và trách nhiệm giải trình; bảo đảm nguyên tắc tập
trung dân chủ, đúng thẩm quyền, đồng thời đề cao trách nhiệm cá nhân, nhất là
người đứng đầu; không để trách nhiệm tập thể làm mờ trách nhiệm cá nhân hoặc
ngược lại; xử lý nghiêm việc đánh giá sai lệch, thiên vị, can thiệp trái quy định.
Đổi mới nội dung đánh giá
bảo đảm toàn diện, thực chất về phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, liêm
chính, kỷ luật; năng lực thực tiễn; sản phẩm, kết quả, hiệu quả; mức độ cống hiến,
uy tín trong tổ chức và trước Nhân dân. Kết quả đánh giá cá nhân người đứng đầu
phải gắn với kết quả của cơ quan, đơn vị, chất lượng đội ngũ, năng lực sử dụng
cán bộ, phát triển cán bộ, chuẩn bị nguồn kế cận, kiểm soát quyền lực, quản lý
nguồn lực và tạo chuyển biến bền vững cho tổ chức.
Đổi mới phương thức đánh
giá bảo đảm công tâm, khách quan, xuyên suốt, đa chiều, có phân hoá và kiểm chứng;
lấy kết quả thực tiễn làm thước đo chủ yếu. Kết hợp định tính với định lượng,
quá trình với sản phẩm, kết quả và tác động; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công
nghệ, sử dụng dữ liệu, thông tin có kiểm chứng; đặt kết quả đánh giá trong
tương quan với thẩm quyền, nguồn lực, điều kiện, hoàn cảnh và độ khó của nhiệm
vụ. Không tuyệt đối hoá chỉ số hoặc thành tích nhất thời.
Kết quả đánh giá phải được
tích lũy, kiểm chứng và sử dụng thực chất, trực tiếp trong các quyết định về
cán bộ. Cán bộ nổi trội được giao nhiệm vụ lớn, khó và tạo điều kiện phát triển;
cán bộ không đáp ứng yêu cầu phải kịp thời sắp xếp lại, cho từ chức, miễn nhiệm
hoặc thay thế, không chờ hết nhiệm kỳ, thời hạn bổ nhiệm; đối với cán bộ còn hạn
chế nhưng có khả năng khắc phục, cần xác định rõ yêu cầu, thời hạn và tổ chức
đánh giá lại.
Đổi mới công tác bảo vệ
chính trị nội bộ theo hướng chủ động, phòng ngừa từ sớm, từ xa, khách quan;
nâng cao chất lượng nắm tình hình, thẩm định, kết luận tiêu chuẩn chính trị; nắm
chắc lịch sử chính trị, chú trọng vấn đề chính trị hiện nay; bảo vệ nền tảng tư
tưởng, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, bí mật của Đảng, Nhà nước và sự đoàn kết,
thống nhất trong Đảng.
Kiểm soát quyền lực,
phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực từ sớm, từ xa, xuyên suốt
toàn bộ công tác cán bộ; phòng ngừa, phát hiện, xử lý nghiêm minh, không có
vùng cấm, không có ngoại lệ các hành vi chạy chức, chạy quyền, cục bộ, lợi ích
nhóm, lợi dụng quan hệ thân hữu, xung đột lợi ích và thao túng công tác cán bộ.
Kiểm soát cả quy trình và hệ quả của quyết định cán bộ.
4. Đổi
mới công tác phát hiện, tạo nguồn; quy hoạch; đào tạo, bồi dưỡng; luân chuyển;
lựa chọn, bố trí, sử dụng, sàng lọc cán bộ và thẩm quyền, trách nhiệm của người
đứng đầu
Phát hiện nguồn cán bộ từ
sớm, từ xa, từ thực tiễn; chủ động tạo nguồn mở, động, nhiều thế hệ, nhiều
phương án; không để nguồn khép kín. Mở rộng phạm vi phát hiện, thu hút người có
phẩm chất, tài năng, uy tín, triển vọng cả trong và ngoài khu vực công, bao gồm
người Việt Nam ở nước ngoài. Hoàn thiện cơ chế liên thông nguồn nhân lực chất
lượng cao trong khu vực công, giữa khu vực công và khu vực tư, trong nước và
ngoài nước; đa dạng hoá phương thức huy động, sử dụng theo nhiệm vụ, chương
trình, đề án, dự án, không nhất thiết gắn với biên chế, chức vụ hoặc hình thức
làm việc toàn thời gian.
Quy hoạch phải mở, động,
tinh, thực chất, gắn với nhu cầu từng vị trí, lĩnh vực; chuyển từ quy hoạch
khép kín theo chức danh sang chủ động chuẩn bị đội ngũ cho các nhiệm vụ và năng
lực chiến lược của tương lai. Tạo nguồn dồi dào, đa dạng, gồm nguồn sẵn có, nguồn
kế cận và nguồn chiến lược dài hạn, không để thiếu hụt hoặc đứt gãy. Quy hoạch
phải gắn với giao việc, bố trí, rèn luyện, thử thách và đánh giá, sàng lọc
trong suốt quá trình chuẩn bị cán bộ.
Đổi mới căn bản công tác
đào tạo, bồi dưỡng xuyên suốt quá trình phát triển cán bộ; kết hợp đào tạo
trong nhà trường, rèn luyện qua thực tiễn, cập nhật kiến thức mới và tự học suốt
đời; gắn đào tạo, bồi dưỡng với quy hoạch, bố trí, sử dụng và đánh giá, nhưng
không coi bằng cấp, chứng chỉ là căn cứ quyết định nhân sự. Chuyển mạnh hình thức
đào tạo từ truyền đạt lĩnh hội kiến thức sang hình thành bản lĩnh chính trị,
phương pháp tư duy, năng lực dự báo, hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện.
Xây dựng nội dung đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí việc làm; chú trọng tư duy chiến
lược, quản trị quốc gia hiện đại, khoa học, công nghệ, ngoại ngữ và hội nhập quốc
tế.
Phân tuyến cán bộ theo cấp,
ngành, lĩnh vực, địa bàn để xây dựng lộ trình phát triển gắn với vị trí việc
làm, kết quả và tiềm năng. Tăng cường điều động, luân chuyển có mục tiêu theo
chiều ngang và chiều dọc, gắn với rèn luyện và kiểm chứng năng lực cán bộ;
không nhất thiết theo thứ bậc chức vụ; kết hợp bố trí cán bộ không phải là người
địa phương. Căn cứ kết quả thực tiễn, mức độ trưởng thành, tinh thần tiên phong
và năng lực được kiểm chứng để tiếp tục đào tạo, bố trí, sử dụng hoặc điều chỉnh
lộ trình phát triển phù hợp; không luân chuyển hình thức.
Đổi mới, tinh gọn quy
trình giới thiệu, lựa chọn, bầu cử, bổ nhiệm, bố trí, sử dụng, bảo đảm dân chủ,
khách quan; rõ trách nhiệm của chủ thể nhận xét, giới thiệu, tiến cử, thẩm định
và người đứng đầu, cấp có thẩm quyền; gắn trách nhiệm của từng chủ thể với chất
lượng, kết quả, hệ quả của quyết định cán bộ. Bố trí cán bộ phải bảo đảm cơ cấu
hợp lý, năng lực và sở trường, đúng người, đúng việc; đồng thời xây dựng tập thể
lãnh đạo đoàn kết, thống nhất, bổ sung cho nhau. Kịp thời điều chuyển, bố trí lại,
miễn nhiệm, cho từ chức, thay thế cán bộ không đáp ứng yêu cầu; đào tạo lại, bố
trí phù hợp cán bộ còn khả năng phát triển; ưu tiên cơ chế, điều kiện để phát
triển cán bộ trẻ có phẩm chất, năng lực, triển vọng để đào tạo, rèn luyện, thử
thách và phát triển.
Có cơ chế vượt trội trong
tuyển dụng, bổ nhiệm, sử dụng đội ngũ cán bộ có phẩm chất, tài năng, năng lực nổi
trội, nhất là những ngành, lĩnh vực chiến lược, địa bàn trọng yếu, đặc thù, khó
khăn.
5. Xây
dựng đồng bộ đội ngũ cán bộ các cấp; trọng tâm là cán bộ cấp chiến lược, cán bộ
cấp cơ sở, người đứng đầu; thu hút, trọng dụng nhân tài
Xây dựng đội ngũ cán bộ
các cấp có số lượng, chất lượng, cơ cấu hợp lý, đồng bộ giữa các cấp, ngành; khắc
phục căn bản tình trạng vừa thừa, vừa thiếu, mất cân đối; chủ động dự báo nhu cầu,
nhận diện các ngành, lĩnh vực, vị trí và năng lực chiến lược cần thiết; các vị
trí lãnh đạo, quản lý trọng yếu phải có nguồn kế cận nhiều độ tuổi, nhiều
phương án thay thế.
Xây dựng đội ngũ cán bộ cấp
chiến lược tiêu biểu về bản lĩnh chính trị, đạo đức, liêm chính, trí tuệ, tư
duy hệ thống, tầm nhìn dài hạn; có năng lực dự báo, hoạch định chiến lược, kiến
tạo phát triển, ứng phó khủng hoảng và bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Từng
bước hình thành đội ngũ cán bộ có khả năng tham gia giải quyết những vấn đề khu
vực, quốc tế.
Xây dựng đội ngũ cán bộ cấp
cơ sở gần dân, sát dân, hiểu dân, trọng dân, học dân; có năng lực thực thi công
vụ, quản trị địa bàn, dân vận, đối thoại với Nhân dân, xử lý tình huống từ sớm
và chuyển đổi số.
Xây dựng người đứng đầu
các cấp, nhất là người đứng đầu cấp uỷ, thực sự là hạt nhân lãnh đạo, trung tâm
đoàn kết và chủ thể chịu trách nhiệm cao nhất; có bản lĩnh, liêm chính, tầm
nhìn xa, năng lực tổ chức thực hiện; dám quyết định, dám chịu trách nhiệm; có
khả năng khơi thông, tháo gỡ các điểm nghẽn trong thực hiện nhiệm vụ; có trách
nhiệm phát hiện, lựa chọn, giao việc, đánh giá, sử dụng người có năng lực, phát
triển cán bộ và chuẩn bị nguồn kế cận; được trao thẩm quyền gắn với trách nhiệm
về chất lượng đội ngũ, kết quả của cơ quan, đơn vị và hệ quả của quyết định cán
bộ thuộc phạm vi quản lý.
Đổi mới mạnh mẽ cơ chế
phát hiện, thu hút, sử dụng, trọng dụng nhân tài trong và ngoài hệ thống chính
trị, nhất là trong các lĩnh vực chiến lược. Việc phát hiện, thu hút, trọng dụng,
sử dụng và phát triển nhân tài phải xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ, những vấn đề
lớn, khó, chiến lược của đất nước; gắn việc sử dụng người tài với nhiệm vụ xứng
tầm, thẩm quyền, nguồn lực và sản phẩm, kết quả cần đạt. Việc trọng dụng phải
căn cứ vào phẩm chất, năng lực thực chất, tài năng, sản phẩm và giá trị cống hiến;
xây dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh, công bằng để nhân tài phát huy, cống
hiến, đồng thời góp phần xây dựng năng lực bền vững của tổ chức, phát triển đội
ngũ kế cận và chuyển giao tri thức. Hình thành hai hướng phát triển tương xứng
giữa cán bộ lãnh đạo, quản lý và chuyên gia, cán bộ chuyên môn sâu; bảo đảm người
giỏi chuyên môn được ghi nhận và đãi ngộ tương xứng.
Quan tâm xây dựng đội ngũ
trí thức, chuyên gia, nhà khoa học; cán bộ trong lực lượng vũ trang; đội ngũ
nghiên cứu, tham mưu chiến lược; đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp;
nhóm cán bộ đặc thù. Chủ động phát triển cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người
dân tộc thiểu số; tạo cơ hội công bằng trong đào tạo, giao việc và phát triển.
6. Đổi
mới chính sách, tạo động lực, đãi ngộ, tôn vinh và bảo vệ nhân tài, cán bộ dám
đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung
Đổi mới đồng bộ chính sách
cán bộ theo vị trí việc làm, trách nhiệm, kết quả và mức độ cống hiến. Thực hiện
cải cách tiền lương, thu nhập và tiền thưởng, bảo đảm công bằng, thực chất theo
mức độ hoàn thành nhiệm vụ; đãi ngộ tương xứng đối với cán bộ có kết quả, sản
phẩm, đóng góp nổi trội. Phân định rõ chính sách đãi ngộ theo kết quả, cống hiến
với chính sách hỗ trợ do điều kiện công tác khó khăn, nguy hiểm, rủi ro. Hoàn
thiện chính sách về môi trường, điều kiện làm việc, nhà ở, chăm sóc sức khoẻ và
phát triển nghề nghiệp. Có cơ chế, chính sách hỗ trợ phù hợp đối với thân nhân
cán bộ, công khai, không tạo đặc quyền, đặc lợi.
Hoàn thiện và vận hành hiệu
quả cơ chế, chính sách đãi ngộ, tôn vinh và bảo vệ nhân tài, cán bộ dám đổi mới,
dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Với nhiệm vụ mới,
khó, phức tạp, chưa có tiền lệ, phải rõ mục tiêu, thẩm quyền, phạm vi và cơ chế
kiểm soát. Phân biệt hành vi vụ lợi, cố ý làm trái với thiếu sót, rủi ro khách
quan; xem xét trách nhiệm trong bối cảnh, thông tin và điều kiện thực tế tại thời
điểm quyết định.
7.
Hoàn thiện chuyển đổi số, quản trị dữ liệu, ứng dụng khoa học, công nghệ; xây dựng
cơ quan và đội ngũ làm công tác tổ chức, cán bộ ngang tầm nhiệm vụ
Xác định dữ liệu là hạ tầng
quan trọng của phương thức quản trị, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ. Xây
dựng cơ sở dữ liệu cán bộ thống nhất, đồng bộ, liên thông theo thẩm quyền; chuẩn
hoá, số hoá, xác thực hồ sơ, bảo đảm dữ liệu "đúng, đủ, sạch, sống",
an toàn, cập nhật, rõ nguồn, rõ trách nhiệm quản lý. Kết nối dữ liệu về tổ chức
bộ máy, biên chế, vị trí việc làm, cán bộ, đảng viên và các lĩnh vực liên quan;
khai thác dữ liệu phục vụ đánh giá, dự báo, phát hiện nguồn và kiểm soát quyền
lực.
Đẩy mạnh ứng dụng khoa học,
công nghệ và trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm trong công tác cán bộ. Công nghệ
và dữ liệu chỉ là công cụ hỗ trợ, không thay thế thẩm định của tổ chức và trách
nhiệm quyết định của cấp có thẩm quyền; bảo đảm an ninh, an toàn, bảo mật dữ liệu
và trách nhiệm giải trình.
Hoàn thiện thể chế giám
sát của cơ quan quản lý cán bộ, gắn với dữ liệu và kết quả đánh giá để kịp thời
phát hiện, chấn chỉnh vi phạm. Xây dựng cơ quan tham mưu và đội ngũ làm công
tác tổ chức, cán bộ, nhất là cán bộ tham mưu chiến lược "trung thành,
trung thực, gương mẫu, trong sáng, tinh thông"; nâng cao năng lực nghiên cứu,
phân tích dữ liệu, dự báo; lấy chất lượng đội ngũ và chất lượng quyết định cán
bộ làm thước đo chất lượng tham mưu.
8.
Phát huy dân chủ, tăng cường giám sát, phản biện xã hội; phát huy vai trò của
cán bộ, đảng viên và Nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ
Phát huy thực chất quyền
làm chủ của Nhân dân, vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội và trách nhiệm tham gia xây dựng Đảng của
cán bộ, đảng viên, Nhân dân; coi đây là nội dung quan trọng để xây dựng đội ngũ
cán bộ, đánh giá uy tín, phòng ngừa vi phạm và kiểm soát quyền lực. Mở rộng dân
chủ gắn với giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương và bảo vệ bí mật công tác
cán bộ.
Hoàn thiện cơ chế giám
sát, phản biện xã hội đối với chủ trương, quy định, cơ chế, chính sách về công
tác cán bộ và việc rèn luyện, nêu gương, thực thi quyền lực của cán bộ, nhất là
người đứng đầu. Tăng cường đối thoại, lắng nghe và đánh giá mức độ hài lòng của
Nhân dân; thông tin đã được kiểm chứng phải được sử dụng thực chất trong đánh
giá, sử dụng cán bộ. Cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị và người đứng đầu chịu
trách nhiệm tiếp thu, giải trình và khắc phục những hạn chế, khuyết điểm được
phát hiện qua giám sát.
V- TỔ
CHỨC THỰC HIỆN
1. Bộ Chính trị lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện Nghị quyết;
ban hành Chương trình hành động; chỉ đạo sơ kết, tổng kết.
2. Ban Tổ chức Trung ương là cơ quan thường trực tham mưu giúp
Bộ Chính trị, Ban Bí thư; tham mưu sơ kết, tổng kết theo giai đoạn, nhiệm kỳ gắn
với mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045; chủ trì, phối hợp với các
cơ quan liên quan tham mưu cụ thể hoá Nghị quyết; theo dõi, đôn đốc, kiểm tra
và định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
3. Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban Tổ chức
Trung ương giúp Bộ Chính trị, Ban Bí thư hướng dẫn, tổ chức nghiên cứu, học tập,
quán triệt, tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết
4. Các cơ quan tham mưu, giúp việc của Trung ương Đảng, các cơ
quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội theo chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao có trách nhiệm cụ thể hoá và tổ chức thực
hiện Nghị quyết. Uỷ ban Kiểm tra Trung ương và các cơ quan có chức năng tăng cường
kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết; kịp thời xử lý vi phạm.
5. Các tỉnh uỷ, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Trung ương, cấp uỷ,
tổ chức đảng và người đứng đầu các cấp trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, chịu trách
nhiệm tổ chức thực hiện Nghị quyết; xây dựng kế hoạch phù hợp thực tiễn, bảo đảm
thiết thực, khả thi. Rà soát vị trí việc làm và kiện toàn đội ngũ cán bộ; giao
nhiệm vụ rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm; bảo đảm điều kiện thực
hiện cho cấp cơ sở.
6. Các cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị thường xuyên kiểm
tra, đánh giá kết quả thực hiện; kịp thời tháo gỡ khó khăn, xem xét trách nhiệm
đối với nơi thực hiện chậm, hình thức, không đạt yêu cầu. Kết quả thực hiện Nghị
quyết là căn cứ quan trọng để đánh giá cấp uỷ, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo
và người đứng đầu.
7. Nghị quyết này phổ biến đến chi bộ.
|
Nơi nhận:
- Các tỉnh uỷ,
thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Trung ương;
- Các ban, cơ quan, đơn vị sự nghiệp của Đảng ở Trung ương;
- Đảng uỷ các bộ, ngành, cơ quan, tổ chức chính trị-xã hội ở Trung ương;
- Các đồng chí Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng;
- Lưu Văn phòng Trung ương Đảng.
|
T/M BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
TỔNG BÍ THƯ
Tô Lâm
|
PHỤ LỤC
CÁC CHỈ TIÊU CỤ THỂ ĐẾN NĂM 2030 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2045
(Kèm theo Nghị quyết số 30-NQ/TW, ngày 15/10/2026 của Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa XIV)
1.
Chỉ tiêu đến năm 2030
- Phấn đấu 100% vị trí
lãnh đạo, quản lý được xác định rõ tiêu chuẩn chức danh, chức trách, thẩm quyền,
trách nhiệm, sản phẩm chủ yếu, yêu cầu năng lực và căn cứ kiểm chứng.
- Phấn đấu 100% cán bộ giữ
chức vụ lãnh đạo, quản lý được giao nhiệm vụ và đánh giá định kỳ chủ yếu trên
cơ sở phẩm chất, sản phẩm, kết quả, hiệu quả, uy tín, trách nhiệm cá nhân và dữ
liệu được kiểm chứng, số hoá.
- Phấn đấu 100% vị trí
lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược và người đứng đầu các cấp có nguồn kế cận được
chuẩn bị nhiều lớp; có ít nhất 2 phương án gắn với kế hoạch phát hiện, đào tạo,
bồi dưỡng, rèn luyện, thử thách và kiểm chứng qua thực tiễn.
- Phấn đấu 100% hồ sơ cán
bộ thuộc diện quản lý được chuẩn hoá, số hoá, cập nhật, xác thực, quản lý thống
nhất và tái sử dụng theo thẩm quyền; cơ bản hình thành phương thức quản trị đội
ngũ dựa trên dữ liệu, phục vụ trực tiếp các quyết định về cán bộ và kiểm soát
quyền lực.
- 100% trường hợp không
hoàn thành nhiệm vụ, uy tín giảm sút hoặc không đáp ứng yêu cầu vị trí phải được
xem xét, xử lý kịp thời theo quy định; không chờ hết nhiệm kỳ hoặc thời hạn bổ
nhiệm mới xem xét bố trí lại, miễn nhiệm, cho từ chức hoặc thay thế.
- Bảo đảm cơ cấu cán bộ hợp
lý, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; tiếp tục nâng tỉ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ
là người dân tộc thiểu số, chuyên gia, nhà khoa học, nhân tài phù hợp với mô
hình tổ chức, bộ máy mới của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương 2 cấp.
Phấn đấu ít nhất 15% cấp uỷ viên là nữ và có cán bộ nữ trong ban thường vụ; ít
nhất 10% cán bộ trẻ tham gia cấp uỷ; ít nhất 10% và hướng tới 15% cán bộ có
trình độ về khoa học, công nghệ trong cấp uỷ. Tỉ lệ cấp uỷ viên là người dân tộc
thiểu số bảo đảm phù hợp với đặc điểm, cơ cấu dân tộc và điều kiện cụ thể của từng
địa phương, cơ quan, đơn vị.
- Tạo chuyển biến rõ về
năng lực số, khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế của đội ngũ cán bộ; cán bộ
lãnh đạo, quản lý có khả năng ứng dụng công nghệ, khai thác dữ liệu phục vụ
lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện; cán bộ ở vị trí có yêu cầu hội nhập sử
dụng được ngoại ngữ đáp ứng trực tiếp yêu cầu công việc. Chỉ tiêu cụ thể do cấp
có thẩm quyền xác định phù hợp yêu cầu thực tiễn.
- Việt Nam thuộc nhóm 3 nước
đứng đầu Đông Nam Á về Chỉ số năng lực cạnh tranh nhân tài toàn cầu (GTCI).
2. Tầm
nhìn đến năm 2045
- Hệ thống vị trí, chức
danh, tiêu chuẩn và yêu cầu năng lực được vận hành đồng bộ, hiện đại, làm nền tảng
cho quản trị đội ngũ cán bộ.
- Nguồn kế cận được chuẩn
bị chủ động, thường xuyên, nhiều lớp, nhiều phương án; bảo đảm tính kế thừa,
chuyển tiếp liên tục giữa các thế hệ.
- Dữ liệu trở thành nền tảng
phục vụ dự báo, hỗ trợ việc ra quyết định về cán bộ, trách nhiệm giải trình và
kiểm soát quyền lực.
- Cơ chế sàng lọc vận hành
thường xuyên, kịp thời, gắn trực tiếp với kết quả đánh giá, uy tín và mức độ
đáp ứng yêu cầu vị trí.
- Đội ngũ cán bộ phát triển
đồng bộ, toàn diện, chất lượng cao, cơ cấu hợp lý, kế thừa và phát triển liên tục;
đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và chuyên gia, cán bộ chuyên môn sâu phát triển
song song, đồng bộ.
- Đội ngũ cán bộ có khả
năng làm chủ khoa học, công nghệ, dữ liệu, chuyển đổi số; có năng lực hội nhập
quốc tế ngang tầm yêu cầu phát triển của đất nước.
- Phấn đấu Việt Nam thuộc
nhóm 20 quốc gia dẫn đầu về Chỉ số năng lực cạnh tranh nhân tài toàn cầu và là
điểm đến hấp dẫn của nhân tài trong khu vực và trên thế giới.