|
CHÍNH
PHỦ
-------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số:
137/BC-CP
|
Hà
Nội, ngày 31 tháng 3 năm 2026
|
BÁO CÁO
KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU QUỐC GIA VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI NĂM
2025
Kính
gửi: Quốc hội
Thực hiện Điều 25 Luật
Bình đẳng giới và Thông báo số 577/TB-VPQH ngày 25 tháng 3 năm 2026 của Văn
phòng Quốc hội, Thông báo Kết luận của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội về kết quả thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới
năm 2025, Chính phủ báo cáo với những nội dung sau:
I.
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI NĂM 2025
1. Kết
quả thực hiện quản lý nhà nước về bình đẳng giới
1.1 Thông
tin, giáo dục, truyền thông về bình đẳng giới
Công tác thông tin,
giáo dục, truyền thông về bình đẳng giới tiếp tục được Chính phủ quan tâm, chỉ
đạo các bộ, ngành, địa phương tổ chức triển khai thực hiện, trong đó tập trung
truyền thông, tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước về bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ và phòng ngừa, ứng phó với
bạo lực trên cơ sở giới; nội dung, hình thức truyền thông đa dạng, tăng cường
thực hiện số hóa trong truyền thông nhằm tiếp cận tới nhiều tầng lớp Nhân dân.
Báo cáo từ các bộ, ngành, địa phương cho thấy công tác thông tin, giáo dục,
truyền thông về bình đẳng giới đã được các đơn vị nghiêm túc triển khai, trong
đó có những đơn vị triển khai hiệu quả với những
cách làm đổi mới, sáng tạo.[1]
1.2
Xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về bình đẳng
giới, các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới
Thực hiện quy định của
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và triển khai Quyết định số
1688/QĐ-TTg ngày 06 tháng 8 năm 2025 ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, ngày 16/3/2026
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 76/2026/NĐ-CP của Chính phủ, sửa đổi, bổ
sung một số điều của Nghị định số 125/NĐ/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính
phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bình đẳng giới. Bộ Công
an chủ trì tham mưu lãnh đạo Đảng, Nhà nước tổ chức thành công Lễ mở ký Công ước
Hà Nội, Hội nghị cấp cao Công ước Liên hợp quốc về chống tội phạm mạng. Công ước
Hà Nội tạo khung pháp lý toàn cầu để xử lý tội phạm mạng, đóng vai trò quan trọng,
hỗ trợ thiết thực cho công tác phòng, chống mua bán người tại Việt Nam trong kỷ
nguyên số. Để tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về bình đẳng giới,
Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Nội vụ tiến hành rà soát Luật Bình đẳng giới năm 2006[2].
Kết quả rà soát cho thấy các bộ, ngành, địa phương đã tổ chức triển khai các
văn bản quy phạm pháp luật về bình đẳng giới, chương trình, chiến lược, đề án về
bình đẳng giới đã được ban hành. Các chính sách của nhà nước về bình đẳng giới
được Chính phủ, các cấp, các ngành thực hiện nghiêm túc, bảo đảm bình đẳng giới
trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục, thông
tin truyền thông; chính sách bảo vệ, hỗ trợ người mẹ khi mang thai, sinh con và
nuôi con nhỏ; tạo điều kiện để nam, nữ chia sẻ công việc gia đình; hỗ trợ hoạt
động bình đẳng giới tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và
vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Kết quả thực hiện được cụ
thể trong triển khai các chương trình, chiến lược, đề án về bình đẳng
giới.
1.3
Thực hiện lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp
luật và xây dựng chính sách, chương trình, chiến lược, kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội
Quy định về thực hiện lồng
ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn
bản quy phạm pháp luật và xây dựng chính sách, chương trình, chiến lược, kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội được Chính phủ nghiêm túc triển khai. Nghị quyết số
01/NQ-CP ngày 08/01/2025 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện
Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự
toán ngân sách nhà nước năm 2025, Chính phủ đã lồng
ghép bình đẳng giới vào giải pháp thực hiện[3].
Luật Ban hành văn bản
quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số
87/2025/QH15, theo đó vấn đề bình đẳng giới được xác định là một
trong các nguyên tắc bắt buộc
trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) (khoản 4 Điều 5),
thay vì chỉ tiếp cận theo cách “lồng ghép giới” như trước đây thì việc đánh giá
tác động về giới (nếu có) được thực hiện trong giai đoạn đánh
giá tác động chính sách, trên cơ sở phân tích về cơ hội, điều kiện, năng lực thực
hiện và thụ hưởng quyền, lợi ích của mỗi giới.
Việc quy định nguyên tắc bảo đảm bình đẳng
giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật nhằm tăng cường trách nhiệm của
cơ quan chủ trì xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và các cơ quan liên quan
trong việc đánh giá tác động giới, quy định các biện pháp cần
thiết thực hiện bình đẳng giới, giải quyết các vấn
đề bất bình đẳng
giới, phân biệt đối xử về giới.
Chính phủ đã chỉ đạo
các bộ, ngành nghiêm túc thực hiện lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng
VBQPPL, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ. Năm 2025, có 45 hồ sơ đề
nghị xây dựng và dự án Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết đã có nội dung đánh giá tác
động giới hoặc bảo đảm yêu cầu về bình đẳng giới trong chính sách, dự thảo văn
bản như: Luật Giáo dục đại học (sửa đổi), Luật Thương mại điện tử, Luật Quản lý
phát triển đô thị, Luật Đường sắt,
Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, Luật Báo chí (sửa đổi), Luật Bảo
vệ dữ liệu cá nhân, Luật Viên chức, Luật Phòng bệnh...). Nhiều chính sách về
bình đẳng giới đã được lồng ghép trong nhiều lĩnh vực như: An ninh, Quốc phòng;
Y tế; Giáo dục và Đào tạo; Kinh tế - lao động; Nội vụ[4]...
1.4
Triển khai các chương trình, đề án nhằm thúc đẩy thực hiện bình đẳng giới theo
chức năng, nhiệm vụ được giao.
1.4.1 Chương
trình truyền thông về bình đẳng giới đến năm 2030.
Năm 2025, Chính phủ
giao Bộ Nội vụ sơ kết, đánh giá 5 năm triển khai thực hiện Chương trình giai đoạn
2021-2025.[5] Kết quả triển khai các Mục tiêu của
Chương trình như sau:
- Mục tiêu 1. Hằng năm,
các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân được truyền thông, phổ biến, cập
nhật thông tin về pháp luật, chính sách về bình đẳng giới.
Giai đoạn 2021-2025,
công tác truyền thông về bình đẳng giới đã đạt được những kết quả tích cực, nội
dung, hình thức, phương pháp truyền thông phong phú, đa dạng, tác động đến mọi
tầng lớp nhân dân (28.149 lớp tập huấn đã
được triển khai với 2.388.593 lượt người; 7.073 cuộc hội thảo được tổ chức với
328.221 lượt người; 44.572 buổi nói chuyện chuyên đề về bình đẳng giới với
3.051.957 lượt người; 4.943 Hội thi với 1.180.182 lượt người;
Tổ chức 10.247 Lễ phát động ở các cấp với
750.171 lượt người; 12.651.816 tờ rơi, tờ gấp về bình đẳng
giới được ban hành; 289.518 băng rôn, khẩu
hiệu, áp phích, phướn... được treo trên đường phố.
Phát sóng các nội dung về bình đẳng giới trên sóng truyền hình các cấp có khoảng
288.018 lượt, trên sóng phát thanh là 971.371 lượt, truyền thông lưu động
221.412 buổi, truyền thông trên Cổng thông tin điện tử của các cơ quan có khoảng
4.340.027 bài; Có 167.925 trường hợp phụ nữ khó khăn được thăm hỏi, động viên
trong dịp Tháng hành động).
- Mục tiêu 2. Đến
năm 2025 đạt 100% bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch, triển khai hoạt động
Tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng ngừa, ứng
phó với bạo lực trên cơ sở giới hằng năm.
Cơ bản các bộ, ngành, địa
phương đã chủ động ban hành Kế hoạch triển khai Chương trình, tuy nhiên việc thực
hiện chưa được triển khai đồng
bộ ở tất cả các
cơ quan, đơn vị[6]. Trong giai đoạn 2026-2030, Chính phủ
sẽ chỉ đạo bộ, ngành, địa phương thực hiện nhiệm vụ nghiêm túc, hiệu quả hơn nhằm
đạt mục tiêu chương trình đề ra.
- Mục tiêu 3. Phấn đấu
đến năm 2030, nhận thức về bình đẳng giới
của các nhóm đối tượng trong cộng đồng tăng từ 10-15% so với năm 2025.
Theo báo cáo của các tỉnh,
thành phố trước khi sáp nhập, nhiều địa phương đã đạt Mục tiêu này (Đắk Nông, Đắk
Lắk, Hà Giang, Khánh Hoà, Kiên Giang, Long An, Nam Định, Ninh Thuận, Quảng
Ngãi, Quảng Trị, Sơn La, Hà Nội...); các tỉnh
chưa có đánh giá (Vĩnh Long, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bắc Kạn, Bạc Liêu, Điện Biên, Hải
Dương, Lạng Sơn, Phú Thọ, Cao Bằng); có tỉnh đánh giá vượt Kế hoạch (Lào Cai);
các tỉnh đã thực hiện các cuộc khảo sát (Tỉnh Hà Nam, tỉnh
Ninh Bình; tỉnh Sóc Trăng; tỉnh Lâm Đồng). Như vậy, từ kết quả tổng hợp cho thấy,
ngoài một số ít địa phương có khảo sát để đánh
giá về kết quả thực hiện Mục tiêu, còn lại chủ yếu là
chưa có định lượng cụ thể thông qua các cuộc khảo sát hoặc thông qua các công cụ
đo lường.
- Mục tiêu 4. Phấn đấu
đến năm 2025 đạt ít nhất 70% cơ quan truyền thông áp dụng thí điểm và đến năm
2030 đạt 90% cơ quan truyền thông chính thức áp dụng Bộ chỉ số về giới trong
truyền thông
Đội ngũ phóng viên,
biên tập viên, người làm công tác truyền thông các cấp đã được tập huấn, nâng
cao năng lực về bình đẳng giới. Một số địa phương báo cáo đã áp dụng Bộ chỉ số
giới trong truyền thông (Hải Phòng, Cà Mau, Cần
Thơ, Điện Biên, Đồng Nai, Hà Tĩnh, Lai Châu, Lào
Cai, Thái Nguyên, Thanh Hoá,...). Đặc biệt, tỉnh Điện Biên đã
thống kê ở 02 cơ quan áp dụng Bộ chỉ số
về giới trong truyền thông[7] với kết quả trung bình,
tỷ lệ bài viết, phóng sự có các nội dung liên quan đến giới đạt 45% trên tổng
số bài đăng, nội dung đảm bảo sử dụng hình ảnh và ngôn ngữ phi định kiến giới ở
mức ≥ 60%; tỉnh Lào Cai, Ninh Bình đã theo dõi, rà soát
nội dung, hình ảnh, ngôn ngữ về bình đẳng giới
trong tin, bài, phóng sự trên báo chí, các ấn phẩm xuất bản và mạng Internet nhằm
phát hiện, ngăn chặn kịp thời các nội dung mang định kiến giới; thành phố Hồ
Chí Minh đã biên soạn và triển khai bộ công cụ tuyên truyền, truyền thông về Bộ
tiêu chí trên các trục đường chính, phướn, áp phích, băng rôn và trên các trang
thông tin điện tử, bản tin của các xã, phường. Tỉnh Phú Thọ đã lồng ghép Bộ chỉ
số vào tiêu chí xây dựng nội dung, kế hoạch tuyên truyền hằng năm của các cơ
quan báo chí địa phương và hệ thống truyền thông cơ sở.
- Mục tiêu 5. Đến năm
2025 đạt 95% và đến năm 2030 đạt 100% các hương ước, quy ước của cộng đồng đã được
thông qua không có sự phân biệt đối xử
về giới.
Mục tiêu này cơ bản đã
đạt được. Đa số các địa phương đã đạt được mục tiêu này, tuy nhiên, còn một số
tỉnh chưa đạt như Cao Bằng mới rà soát, sửa đổi được
90% số hương ước, quy ước, Cà Mau mới rà soát được
93%, tỉnh Đắk Lắk mới công nhận được ở 1.711/2.199 thôn, buôn, tổ dân phố. Một
số tỉnh đánh giá chưa đạt (Khánh Hoà) hoặc không có đánh giá (Bạc Liêu, nay là
tỉnh Cà Mau).
1.4.2 Chương trình
phòng ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới đến năm 2025.
Năm 2025, Chính phủ
giao Bộ Nội vụ tổng kết thực hiện Chương
trình, theo đó, 100% các bộ, ngành, địa phương đã ban hành kế hoạch và tổ chức
triển khai Chương trình, về cơ bản các mục tiêu, chỉ tiêu cốt lõi của Chương
trình đã đạt được những kết quả tích cực, cụ thể như sau:
- Chỉ
tiêu 1: Tối thiểu 50% người bị bạo lực
trên cơ sở giới tìm kiếm sự trợ giúp từ cơ quan cung cấp dịch vụ.
Các tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương đã thực hiện vượt chỉ tiêu này, trong đó, một số địa phương thực
hiện đạt tỷ lệ rất cao như Bến Tre (trước sáp nhập),
Tuyên Quang (đạt trên 85%), Đồng Nai (100%). Người bị bạo lực gia đình, bạo lực
trên cơ sở giới tìm kiếm sự trợ giúp từ cán bộ văn hóa - xã hội, công an các cấp,
đường dây nóng để hỗ trợ các dịch vụ cơ bản về tư vấn
tâm lý, pháp luật, thăm khám chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ sau khi bị bạo lực; hỗ
trợ vào các mô hình tạm lánh tại cơ sở như địa chỉ tin cậy hoặc liên hệ với đường
dây nóng hoặc số điện thoại cán bộ liên quan tại địa phương để được trợ giúp,
can thiệp kịp thời.
- Chỉ tiêu 2: 100% trường
hợp có nhu cầu trợ giúp về bạo lực trên cơ sở
giới được trợ giúp bằng các hình thức khác nhau
Chỉ tiêu này được duy
trì thực hiện tốt trên diện rộng, đạt ở hầu hết
các địa phương[8] trong đó, nhiều địa phương đạt 100%,
đảm bảo mọi trường hợp có nhu cầu đều nhận được sự can thiệp cần thiết bằng các
hình thức như: tư vấn tâm lý, hỗ trợ pháp lý, thăm khám chăm sóc sức khỏe, tư vấn
pháp luật, đại diện ngoài tố tụng và tham gia tố tụng, hỗ trợ sau khi bị bạo lực
thông qua mạng lưới hỗ trợ rộng khắp và sự phối hợp liên ngành như: các mô hình
tạm trú an toàn[9], mạng lưới hòa giải cơ sở, Trung tâm
trợ giúp pháp lý nhà nước, các cơ sở khám chữa bệnh. Thông qua đó, hỗ trợ người
bị bạo lực trên cơ sở giới tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ thiết yếu và nhận được sự
can thiệp kịp thời, hỗ trợ ban đầu thiết thực ngay tại cộng đồng, được cung cấp
dịch vụ pháp lý miễn phí, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của người bị bạo lực trên cơ sở giới.
- Về duy trì, nhân rộng
và nâng cao hiệu quả các mô hình, cơ sở cung cấp dịch vụ phòng ngừa, ứng phó với
bạo lực trên cơ sở giới.
Giai đoạn 2021-2025,
các mô hình, cơ sở cung cấp dịch vụ phòng ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở
giới[10] (gọi tắt là mô hình) được thành lập,
phát triển mạnh mẽ, đa dạng và được các ngành, các cấp duy trì hoạt động nhằm
cung cấp các dịch vụ phòng ngừa và ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới, đảm bảo
tính sẵn có và chất lượng dịch vụ của địa chỉ tin cậy - nhà tạm lánh ở cộng đồng
đến gần hơn với người dân. Đến năm 2025, cả nước đã
có gần 7.000 mô hình, cơ sở cung cấp dịch vụ. Trong đó, có 10 mô hình Cung cấp
dịch vụ hỗ trợ nạn nhân của bạo lực trên cơ sở giới[11] tại
07 địa phương[12]; có 3.987 mô hình địa chỉ tin cậy -
nhà tạm lánh ở cộng đồng tại các địa phương; có 122 mô
hình thành phố, làng quê an toàn, thân thiện với phụ nữ và trẻ em gái tại; có
2.817 mô hình khác về phòng ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới.
1.4.3 Chương trình Tăng
cường sự tham gia bình đẳng của
phụ nữ trong các vị trí lãnh đạo quản lý ở các cấp hoạch định chính sách giai
đoạn 2021-2030
Năm 2025, Chính phủ
giao Bộ Nội vụ sơ kết 5 năm triển khai Chương trình giai đoạn 2021-2025. Các bộ,
ngành và địa phương đã ban hành Kế hoạch nhằm cụ thể
hóa các nội dung và triển khai một cách đồng bộ, có
hiệu quả nhằm giảm sự chênh lệch về vị trí, vai
trò, tạo điều kiện, cơ hội phát huy trình độ, năng lực
của nữ cán bộ, công chức, viên chức trong quy hoạch tạo nguồn, đào tạo, bồi
dưỡng, bố trí và sử dụng tại cơ quan, đơn vị; định kỳ hằng năm, các bộ, ngành,
địa phương đều triển khai rà soát, đánh giá và xác định
nhu cầu cán bộ nữ; thường xuyên rà soát, bổ sung quy hoạch cán bộ nhiệm kỳ 2021
- 2026 và công tác quy hoạch cán bộ nhiệm kỳ 2026 - 2031, trong đó, bảo đảm tỷ
lệ cán bộ nữ theo quy định và giới thiệu, tiến cử
các cán bộ nữ đảm bảo các điều kiện, tiêu chuẩn, có phẩm chất
đạo đức, năng lực công tác và triển vọng phát triển ở đơn vị mình phụ trách để
cấp có thẩm quyền xem xét, bổ sung quy hoạch giữ các chức danh lãnh đạo, quản
lý.
Hằng năm, căn cứ danh
sách cán bộ nữ được quy hoạch, các bộ, ngành và địa phương xây dựng kế hoạch và
tổ chức khóa đào tạo, bồi dưỡng đối với nữ lãnh đạo, quản
lý, công chức, viên chức để đảm bảo các điều kiện,
tiêu chuẩn về trình độ lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ.
Bộ Nội vụ tiếp tục triển khai Quyết định số 163/QĐ-TTg ngày 25/01/2016 của Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức
giai đoạn 2016 - 2026, trong đó có nội dung khuyến
khích cán bộ, công chức, viên chức nữ học tập
nâng cao trình độ, năng lực; trình Thủ tướng Chính phủ ban hành
Quyết định số 1641/QĐ-TTg ngày 28/12/2022 phê duyệt Đề án “Bồi
dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức lãnh đạo,
quản lý trẻ và cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ của chính quyền địa phương ở nước
ngoài giai đoạn 2023 - 2025”, theo đó, Bộ Nội vụ đã chủ trì, phối hợp với các bộ,
ngành, địa phương lựa chọn, cử cán bộ nữ (dưới 45 tuổi)
tham gia các khóa bồi dưỡng ở nước ngoài nhằm nâng cao kỹ năng
lãnh đạo, quản lý; kỹ năng làm việc trong môi trường quốc tế; nghiên cứu chuyên
sâu các mô hình, kinh nghiệm hay về công tác tạo nguồn và phát triển lãnh đạo nữ
ở trong và ngoài nước.[13]
1.4.4 Chiến lược phát
triển gia đình Việt Nam đến năm 2030 và Chương trình giáo dục đạo đức, lối
sống trong gia đình đến năm
2030.
Chính phủ đã chỉ đạo Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch sơ kết 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển gia
đình Việt Nam đến năm 2030 và Chương trình giáo dục đạo đức, lối sống trong gia
đình đến năm 2030. Sau 5 năm triển khai thực hiện, Chiến lược, Chương trình đã
đạt một số kết quả trọng tâm như:
- Công tác gia đình đã
nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của cấp ủy Đảng,
chính quyền các cấp. Việc ban hành đồng bộ các văn bản chỉ đạo,
từ quyết định của Thủ tướng Chính phủ đến các kế hoạch cụ
thể của bộ, ngành và địa phương đã tạo nên một hành lang pháp lý và cơ sở triển
khai thống nhất. Đặc biệt, sự tham gia tích cực của các tổ chức chính trị - xã
hội (Hội Phụ nữ liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Minh, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam) đã lồng ghép hiệu quả công tác gia đình vào
các phong trào xã hội, đặc biệt là phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống
văn hóa”.
- Hoạt động truyền
thông được đẩy mạnh, đa dạng hóa về hình thức (truyền thông số, loa phát thanh
cơ sở, sân khấu hóa) và nội dung (tập trung vào vai trò của nam giới, kỹ năng
làm cha mẹ, xử lý mâu thuẫn). Nhờ đó, nhận thức của người dân về vị trí, vai
trò của gia đình, các giá trị văn hóa ứng xử và tầm quan trọng của việc phòng,
chống bạo lực gia đình đã được nâng lên rõ rệt.
- Các mô hình về xây dựng
gia đình hạnh phúc, phòng, chống bạo lực gia đình đã được nhân rộng trên toàn
quốc, phát huy tính tự quản và sự tham gia chủ động của cộng đồng. Việc 100%
người bị bạo lực gia đình có nhu cầu hỗ trợ đều được hỗ trợ dịch vụ thiết yếu
cho thấy hệ thống ứng phó ban đầu đã được thiết lập và vận hành hiệu quả.
1.4.5 Thực hiện lồng
ghép giới trong triển khai một số chương trình mục tiêu quốc gia
- Chương trình xây dựng
nông thôn mới giai đoạn 2021-2025 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết
định số 263/QĐ-TTg ngày 22/02/2022, trong đó yêu cầu: “Tăng cường giải pháp nhằm
đảm bảo bình đẳng giới và phòng, chống bạo
lực trên cơ sở giới; tăng cường chăm sóc, bảo vệ trẻ em và hỗ trợ những người dễ
bị tổn thương trong các lĩnh vực của gia đình và đời sống xã hội” (Nội dung 06
thuộc “Nội dung thành phần số 08”). Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới
giai đoạn 2021-2025 được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số
318/QĐ-TTg ngày 08/3/2022, trong đó quy định: Chỉ tiêu 18.5 “Đảm bảo bình đẳng
giới và phòng, chống bạo lực gia đình; phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới;
phòng, chống xâm hại trẻ em; bảo vệ và hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên
địa bàn (nếu có). Qua tổng hợp kết quả thực hiện xây dựng nông thôn mới của các
địa phương cho thấy, đến tháng 5/2025, cả nước có 6.037/7.696 xã (78,4%) đã được
Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định công nhận đạt chuẩn nông thôn mới. Với 78,4%
số xã đạt chuẩn các chỉ tiêu, tiêu chí nông thôn mới có liên quan trực tiếp đến
lĩnh vực bình đẳng giới đã cho thấy vấn đề bình đẳng giới đã được quan tâm lồng
ghép thực chất, hiệu quả, gắn với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa
phương.
- Chương trình mục tiêu
quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025
Giai đoạn 2023-2025, đã
tổ chức tập huấn, nâng cao nhận thức về giới, bình đẳng giới và phòng ngừa, ứng
phó với bạo lực trên cơ sở giới, lồng ghép giới trong triển khai Chương trình mục
tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững cho gần 4.000 cán bộ làm công tác bình đẳng
giới, giảm nghèo. Công tác truyền thông về bình đẳng giới trong truyền thông về
giảm nghèo đa chiều đã được thực hiện thông qua việc nâng cao nhận
thức, trao quyền cho phụ nữ và xóa bỏ định kiến giới[14].
- Dự án 8 “Thực hiện
bình đẳng giới và giải quyết những vấn đề cấp thiết đối với phụ nữ và trẻ em”
thuộc Chương trình Mục tiêu quốc gia dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn
2021-2025.
Trong giai đoạn
2021-2025, Dự án đã đạt được một số kết quả quan trọng như: (i) Các tỉnh đã duy
trì, thành lập được 10.411/9.000 Tổ truyền thông cộng đồng (đạt 115,7%) với sự
tham gia của 274.628 thành viên là nam giới, nữ giới những người có uy tín, có
năng lực truyền thông trên địa bàn thôn/bản/ấp/buôn, 35/40 tỉnh, đạt và vượt chỉ
tiêu đề ra. (ii) Hỗ trợ 239/500 tổ nhóm sinh kế, tổ hợp tác, hợp tác xã ứng dụng
khoa học công nghệ (đạt 48% chỉ tiêu đặt ra giai đoạn
I), có 3.174 phụ nữ tham gia các hoạt động của tổ nhóm sinh kế; có 14/40 tỉnh,
đạt và vượt chỉ tiêu này. (iii) Thành lập, củng cố 2.312/1000 địa chỉ tin cậy
(đạt 231%), hỗ trợ, tư vấn cho trên 110 nghìn phụ nữ, trẻ em tại địa bàn
DTTS&MN, 33/40 tỉnh, đạt và vượt chỉ tiêu đề ra.
(iv) Các cấp Hội đã tổ chức tập huấn nâng cao năng lực cho 4.164/2.000 cán bộ nữ
DTTS (đạt 208%, vượt chỉ tiêu đề ra của giai đoạn 1), 30/40 tỉnh
đạt và vượt chỉ tiêu đề ra.
1.5 Bố
trí cán bộ làm công tác bình đẳng giới; Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán
bộ hoạt động về bình đẳng giới
Đội ngũ cán bộ làm công
tác bình đẳng giới cơ bản được các bộ, ngành, địa phương quan tâm bố trí, sắp xếp
thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ
nữ. Theo báo cáo của các bộ, ngành, địa phương, hiện nay có khoảng hơn 10 nghìn
người làm công tác bình đẳng giới (Người được phân công làm các công tác bình đẳng
giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ, bao gồm người làm công tác bình đẳng giới; vì sự
tiến bộ phụ nữ ở các bộ, ngành, cơ quan trung ương; địa phương; đội
ngũ cộng tác viên về bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ ở cấp xã và thôn, bản,
cụm dân cư) trong đó: Ở trung ương khoảng 1 nghìn người; địa phương khoảng 9
nghìn người. Các bộ, ngành, địa phương tiếp tục quan tâm đào tạo, tập huấn cho đội
ngũ làm công tác bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ ở các cấp.
Trong năm 2025 có khoảng hơn 500 các lớp tập huấn kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ
về bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ cho trên 50.000 người người tham
gia. So với năm 2024, số lượng các lớp tập huấn nghiệp vụ về bình đẳng giới giảm
cả về số lớp cũng như số người được tập huấn (năm 2024
là 3.000 lớp, 250.000 người); nguyên nhân do năm 2025 trong 9 tháng đầu năm,
các bộ ngành, địa phương tập trung thực hiện việc sáp nhập các cơ quan, địa
phương; sau khi sáp nhập, đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới các cấp, đặc
biệt ở địa phương có nhiều biến
động, phần lớn cán bộ làm công tác bình đẳng giới đều là mới, lần đầu tiếp nhận,
theo dõi công tác này nên gặp nhiều khó khăn trong công tác tham mưu triển khai
thực hiện. Trong 34 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, hiện nay chỉ có 8 địa
phương có cán bộ đã từng làm công tác bình đẳng giới cấp tỉnh (Điện Biên, Ninh Bình,
Thanh Hóa, Nghệ An, Đồng Nai, Đồng Tháp, Cần Thơ, An Giang).
1.6 Công
tác thống kê, thông tin, báo cáo về bình đẳng giới
Công tác thống kê,
thông tin, báo cáo về bình đẳng giới được thực hiện bảo đảm theo quy định.
Trong năm 2025, Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện các báo cáo trọng
tâm như: Báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới
giai đoạn 2021-2030; Báo cáo sơ
kết 5 năm thực hiện Chương trình truyền thông về bình đẳng giới đến năm 2030;
Báo cáo tổng kết thực hiện Chương trình phòng ngừa, ứng
phó với bạo lực trên cơ sở giới; Báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Chương trình
Tăng cường sự tham gia bình đẳng của phụ nữ trong các vị trí lãnh đạo quản lý ở
các cấp hoạch định chính sách giai đoạn 2021-2030; Báo cáo đánh giá rà soát Luật
Bình đẳng giới[15].
1.7 Thanh
tra, kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính về bình đẳng giới
Theo tổng hợp báo cáo từ
các bộ, ngành, địa phương, năm 2025 có 236 cuộc thanh tra, kiểm tra việc thực
hiện chính sách, pháp luật về bình đẳng giới[16], trong đó phát hiện:
74 vụ vi phạm chính sách pháp luật về bình đẳng giới[17]; 103
người vi phạm bị xử lý[18]; có 24 khiếu nại, tố cáo về bạo lực
gia đình, trong đó 9 vụ khiếu nại, tố cáo đã được xử lý, 15 vụ đang được
xử lý[19]. Số
cuộc thanh tra, kiểm tra, tính cả các cuộc lồng ghép nội dung thanh tra, kiểm
tra về bình đẳng giới năm 2025 (236 cuộc) giảm so với năm 2024 (509 cuộc). Tuy
nhiên số vụ việc vi phạm chính sách pháp luật về bình
đẳng giới được phát hiện năm 2025 lại cao hơn năm 2024 (74 trường hợp so với 30
trường hợp).
Mặc dù đã đạt được một
số kết quả nhất định, song công tác thanh tra, kiểm tra về bình đẳng giới vẫn
còn những hạn chế. Phần lớn các cuộc thanh tra, kiểm tra được các bộ, ngành, địa
phương báo cáo thực hiện theo hình thức lồng ghép trong các chương trình thanh
tra, kiểm tra chung, ít thực hiện thanh tra, kiểm tra chuyên đề riêng về bình đẳng
giới. Do đó, số liệu thống kê chưa đầy đủ,
chưa phản ánh rõ số cuộc, vụ việc, cá nhân được kiểm tra cũng
như số vụ việc và đối tượng bị xử lý riêng trong lĩnh vực này. Trong 9 tháng đầu
năm 2025, các bộ, ngành, địa phương tập trung thực hiện sáp nhập, sắp xếp, kiện
toàn tổ chức bộ máy, nên việc ổn định nhân sự và phân công nhiệm vụ còn gặp khó
khăn, ảnh hưởng nhất định đến tiến độ và hiệu quả triển khai công tác thanh
tra, kiểm tra về bình đẳng giới. Hiện nay, hệ thống thanh tra nhà nước chủ yếu
gồm Thanh tra Chính phủ và Thanh tra tính, không còn thanh tra bộ, sở, ngành, điều
này giúp giảm tình trạng nhiều đoàn thanh tra cùng kiểm tra một đối tượng, một
nội dung; hạn chế trùng lặp giữa thanh tra trung ương và địa phương. Tuy nhiên,
cũng làm giảm tính thanh tra chuyên sâu theo ngành, lĩnh vực, thanh tra cấp tỉnh
khó bao quát đầy đủ chuyên môn sâu của tất cả các ngành.
Để
công tác thanh tra, kiểm tra thực hiện chính sách, luật pháp về bình đẳng giới ở
các cấp đạt hiệu quả, Chính phủ sẽ chỉ đạo Cơ quan thanh tra các cấp phối
hợp với cơ quan quản lý quản lý nhà nước
chuyên ngành xây dựng chuyên đề thanh tra về bình đẳng
giới hoặc lồng ghép nội dung thanh tra về bình đẳng giới
vào kế hoạch thanh tra hàng năm, tăng cường công tác kiểm tra của các cơ quan
quản lý nhà nước chuyên ngành ở các cấp, đồng thời
tăng cường cơ chế tiếp nhận phản ánh, kiến nghị, tố cáo của người
dân nói chung, người lao động trong các cơ quan, tổ chức cùng với sự
tham gia giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục được phát huy nhằm
phát hiện sớm các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới.
1.8 Bố
trí kinh phí cho hoạt động bình đẳng giới
Ngân sách nhà nước ưu
tiên bố trí kinh phí cho các chương trình, đề án về Phòng chống bạo lực trên cơ
sở giới, phụ nữ khởi nghiệp, nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác bình đẳng
giới. Ngân sách trung ương đảm bảo kinh phí bố trí
trong dự toán chi thường xuyên của các Bộ, cơ quan trung ương và bổ sung có mục
tiêu cho các địa phương để thực hiện các nhiệm vụ, chương trình, đề
án, các chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG) có nội dung về bình
đẳng giới. Ngân sách địa phương đảm bảo kinh
phí thực hiện các nhiệm vụ, đề án, chương trình về bình đẳng giới giao cho các
cơ quan, đơn vị ở địa phương và vốn đối ứng cho các Chương
trình mục tiêu quốc gia, cụ thể:
a. Kinh phí bố trí
trong dự toán chi thường xuyên của các Bộ, cơ quan trung ương được giao chủ
trì năm 2025 là: 14.350 triệu đồng. (Phụ lục kèm theo).
b. Kinh phí bố trí
trong dự toán của các Chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG)[20]
để thực hiện các dự án; nội dung, nội dung thành phần có liên quan đến BĐG, phụ
nữ, trẻ em gái của các bộ, cơ quan trung ương, địa phương:
- CTMTQG Giảm nghèo bền
vững: 724.252 triệu đồng (Các Bộ, cơ quan trung ương: 230.857 triệu đồng; địa
phương: 493.395 triệu đồng);
- CTMTQG Phát triển
kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi: 42.772 triệu đồng
(Các Bộ, cơ quan trung ương: 10.195 triệu đồng; địa phương: 32.577 triệu đồng).
- CTMTQG Xây dựng nông
thôn mới: 59.463 triệu đồng là dự toán bố trí cho địa phương (Phụ lục kèm
theo)
c. Kinh phí các tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương bố trí cho công tác bình đẳng giới và vì sự tiến
bộ của phụ nữ từ nguồn chi thường xuyên và huy động năm 2025
- Kinh phí từ nguồn chi
thường xuyên: 38.319,2 triệu đồng
- Kinh phí huy động:
10.568 triệu đồng
1.9 Hợp
tác quốc tế về bình đẳng giới
Thực hiện Luật Bình
đẳng giới; Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030; các cam kết
quốc tế của Việt Nam về quyền con người, quyền
phụ nữ (Công ước CEDAW, Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền
vững), trong năm 2025, Chính phủ đã tăng cường, tích cực triển khai nhiều
hoạt động hợp tác quốc tế về bình đẳng giới với các tổ chức quốc tế, đối
tác song phương và đa phương.
Năm 2025, Việt Nam tiếp
tục phối hợp chặt chẽ với các cơ quan Liên hợp quốc
như UN Women, UNICEF, UNFPA trong triển khai các chương trình, dự án thúc đẩy
bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực trên cơ sở
giới. Các hoạt động hợp tác tập trung vào hỗ trợ xây dựng, rà soát chính sách,
pháp luật về bình đẳng giới; tổ chức các hoạt động truyền thông, nâng cao nhận
thức cộng đồng; tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng
giới; triển khai các mô hình hỗ trợ nạn nhân bạo lực trên cơ sở giới tại cộng đồng.
Thông qua hợp tác, Việt Nam tiếp tục tham gia tích cực các diễn đàn, cơ chế của
Liên hợp quốc, góp phần thực hiện các cam kết quốc tế và nâng cao vị thế của Việt
Nam trong thúc đẩy bình đẳng giới.[21] Hoạt động hợp tác quốc tế về bình đẳng
giới của Chính phủ đã góp phần mang lại nhiều kết quả tích cực cho công tác
bình đẳng giới, nâng cao vai trò, uy tín và hình ảnh của Việt Nam trên trường
quốc tế.
Ngày 9/4/2024, Hội đồng
Kinh tế - Xã hội Liên hợp quốc (ECOSOC) nhất trí bầu Việt Nam vào Hội đồng chấp
hành UN Women nhiệm kỳ 2025-2027. Với việc được bầu vào Hội đồng Chấp hành, kể
từ tháng 1/2025 đến hết năm 2027, Việt Nam sẽ tham gia điều phối xây dựng và
triển khai các định hướng lớn của UN Women, bảo đảm các chiến lược và hoạt động
của cơ quan này nhất quán với các mục tiêu và chính sách tổng thể của Liên hợp
quốc về thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ.
2. Việc
thực hiện các giải pháp đã đề ra để khắc phục những hạn chế của năm 2024
Thực hiện văn bản số
376/BC-UBVHXH15 ngày 04/5/2025 của Ủy ban Văn hóa và Xã hội về Báo cáo thẩm tra
Báo cáo của Chính phủ về kết quả thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới
năm 2024, theo đó, Chính phủ đã triển khai để khắc phục một số tồn tại hạn chế
như sau:
- Việc đánh giá kết quả
thực hiện của các Chương trình về bình đẳng giới
Năm 2025, Chính phủ đã
chỉ đạo các bộ đánh giá cụ thể kết quả thực hiện các Chiến lược, chương trình đề
án về bình đẳng giới và các chương trình liên quan: Sơ kết 5 năm thực hiện Chiến
lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030[22];
Sơ kết 5 năm Chương trình Truyền thông về bình đẳng giới đến năm 2030[23];
Tổng kết Chương trình phòng ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới
2021-2025; Sơ kết 5 năm triển khai Chương trình Tăng cường sự tham gia bình đẳng
của phụ nữ trong các vị trí lãnh đạo quản lý ở các cấp
hoạch định chính sách giai đoạn 2021-2030; Chiến lược
phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2030 và Chương trình giáo dục đạo đức, lối
sống trong gia đình đến năm 2030[24]; Chương trình phòng, chống bạo lực
gia đình trong tình hình mới đến năm 2025; Đề án hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp giai
đoạn 2017-2025[25]; Đề án Kiểm soát mất cân bằng
giới tính khi sinh giai đoạn 2016 - 2025[26]. Các báo cáo đã đánh
giá cụ thể kết quả thực hiện các mục tiêu, giải pháp của các chương trình, đề
án.[27]
- Về
lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong các văn bản quy phạm pháp luật
Năm 2025, việc lồng
ghép bình đẳng giới trong các văn bản quy phạm pháp luật dã được phân tích,
đánh giá cụ thể hơn (Chi tiết tại mục 1.3 Việc thực hiện lồng
ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và trong
xây dựng chính sách, chương trình, chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội và mục 1.4.5 Thực hiện lồng ghép giới trong triển khai một
số chương trình mục tiêu quốc gia) của báo cáo.
Để nâng cao hiệu quả
công tác lồng ghép vấn đề bình đẳng giới vào xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
và chương trình phát triển kinh tế - xã hội của các bộ, ngành, địa phương Chính
phủ sẽ chỉ đạo các bộ: Tư pháp, Tài Chính, Nội vụ và các cơ quan liên quan
hoàn thiện hướng dẫn lồng ghép giới, trong đó nêu cao trách nhiệm phối hợp giữa
cơ quan chủ trì soạn thảo với cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới, các tổ
chức chính trị - xã hội và các chuyên gia trong quá trình xây dựng, thẩm định
và hoàn thiện hồ sơ chính sách; nâng cao chất lượng đánh giá tác động chính
sách, chú trọng phân tích tác động về giới ngay từ giai đoạn đề nghị xây dựng
Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết để kịp thời phát hiện và
xử lý các nguy cơ bất bình đẳng giới trong chính sách; tăng cường tập huấn,
hướng dẫn nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật ở
các bộ, ngành, địa phương về phương pháp phân tích và đánh giá tác động giới.
Các cơ quan soạn thảo, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật thực hiện rà soát,
đánh giá, nhận diện vấn đề giới
trong đánh giá tác động chính sách một cách toàn diện, không chỉ dừng lại ở
những nhận định trung tính hay không có sự phân biệt đối xử về giới. Hội đồng
nhân dân các cấp phát huy vai trò, trách nhiệm lồng ghép giới khi xem xét, quyết
định các chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã
hội và phân bổ ngân sách hàng năm của địa phương.
- Về
đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới
Năm 2025, các bộ,
ngành, địa phương thực hiện việc sáp nhập các cơ quan và đơn vị hành chính cấp
tỉnh; thực hiện chính quyền địa phương hai cấp; do đó đội ngũ cán bộ làm công
tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ phụ nữ các cấp có nhiều biến động. Cơ bản,
các cơ quan, địa phương, đơn vị đã bố trí cán bộ, tuy nhiên, hiện nay phần lớn
người làm công tác này đều mới, chưa có nhiều kinh nghiệm cũng chuyên môn nghiệp
vụ, kỹ năng quản lý nhà nước về bình đẳng giới.
Để khắc phục khó khăn
nêu trên, năm 2026 Chính phủ sẽ chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương quan tâm bố trí;
tập huấn, bồi dưỡng cán bộ một cách bài bản, đồng bộ, có lộ trình, hệ thống: Rà
soát, kiện toàn đầu mối tham mưu về bình đẳng giới; tổ chức tập
huấn cho đội ngũ công chức, tập trung vào hệ thống chính sách pháp luật về bình
đẳng giới, kỹ năng lồng ghép giới trong xây dựng kế hoạch, kỹ năng truyền thông
và phòng ngừa, ứng phó bạo lực trên cơ sở giới, kiến thức, kỹ năng thống kê giới;
cán bộ tham mưu cần bồi dưỡng chuyên sâu về xây dựng, theo dõi, đánh giá chỉ
tiêu; cán bộ cơ sở chú trọng kỹ năng tuyên truyền, vận
động, xử lý tình huống thực tế; đa dạng hóa hình thức
đào tạo (trực tiếp, trực tuyến, hướng dẫn qua tài liệu, chia sẻ kinh nghiệm thực
tiễn), kết hợp “cầm tay chỉ việc” thông qua hỗ trợ chuyên môn của cấp trên; xây
dựng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên
nòng cốt để duy trì hoạt động thường xuyên, giảm phụ thuộc vào tập huấn ngắn hạn.
- Về kinh phí cho công
tác bình đẳng giới
Năm 2025, kinh phí bố
trí cho công tác bình đẳng giới cơ bản đáp ứng cho nhiệm vụ quản lý nhà nước về
bình đẳng giới ở trung ương và cấp tỉnh. Tuy nhiên, ở
cấp xã, kinh phí dành cho công tác này còn hạn chế[28], có
xã, phường không có kinh phí để triển khai,[29] các hoạt động được thực
hiện chủ yếu được lồng ghép từ nguồn kinh phí khác.[30]
Theo Luật Ngân sách nhà
nước năm 2025, Hội đồng nhân dân các cấp quyết định phân bổ dự toán ngân sách cấp
mình. Do đó, kinh phí chi thường xuyên ngân sách địa phương phân bổ cho từng
nhiệm vụ, Đề án, Chương trình liên quan đến bình đẳng giới của cấp xã thuộc thẩm
quyền của Hội đồng nhân dân cấp xã.
Để bảo đảm nguồn lực
tài chính cho việc triển khai các hoạt động bình đẳng giới tại cấp xã một cách ổn
định, hiệu quả, trong thời gian tới địa phương cần tập trung thực hiện một số
giải pháp sau:
Tăng cường lồng ghép giới
trong công tác lập kế hoạch và phân bổ ngân sách. Các nội dung về bình đẳng giới
cần được tích hợp ngay từ khâu xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của
địa phương; bảo đảm các chương trình, dự án đều có dự trù kinh phí thực hiện mục
tiêu bình đẳng giới.
Nâng
cao trách nhiệm và tính chủ động của chính quyền cấp
xã. Ủy ban nhân dân cấp xã cần chủ động bố trí và sử dụng kinh phí cho hoạt động
bình đẳng giới; đồng thời gắn trách nhiệm của người đứng đầu
với kết quả thực hiện. Hội đồng nhân dân cùng cấp tăng cường giám sát việc phân
bổ và sử dụng ngân sách, bảo đảm đúng mục tiêu, hiệu quả.
- Về
thu thập số liệu thống kê về bình đẳng giới
Công tác thống kê, báo
cáo số liệu về giới vẫn còn nhiều khó khăn, chậm khắc phục. Các chỉ tiêu, chỉ số
về bình đẳng giới liên quan đến nhiều lĩnh vực, thực hiện lồng ghép trong nhiều
hoạt động nên khó phân tách; có những chỉ tiêu phụ thuộc vào Tổng điều tra 10
năm 1 lần hoặc điều tra giữa kỳ 5 năm/lần hoặc kết quả điều tra được các cơ
quan chuyên môn công bố. Nhiều địa
phương, cơ sở vẫn chưa thực sự hiểu đúng, đủ, chính xác
về các chỉ tiêu thống kê, dẫn đến báo cáo số liệu chưa phản
ánh chính xác tình hình thực tế.
Việc thiếu số liệu thống
kê giới định kỳ hàng năm phục vụ công tác hoạch định chính sách và đánh giá
chính xác hiệu quả của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn
2021-2030 do một số nguyên nhân sau.[31]
+ Chưa xây dựng cơ sở dữ
liệu thống kê giới tập trung. Hiện tại chỉ tiêu thống kê giới đã có nhiều số
liệu, tuy nhiên, số liệu nằm rải rác ở các Bộ, ban, ngành và chưa có quy chế,
công cụ cụ thể để thu thập, tổng hợp dữ liệu thống kê giới vào một hệ thống tập
trung.
+ Một số lĩnh vực liên
quan đến bình đẳng giới cần thu thập qua điều tra thống kê nhưng thiếu nguồn lực
thực hiện.
Để khắc
phục tồn tại, hạn chế nêu trên, Chính phủ sẽ chỉ đạo Bộ Nội vụ và Bộ Tài Chính phối
hợp xây dựng Bộ chỉ tiêu thống kê phát triển giới nhằm bảo đảm
các chỉ tiêu phù hợp với Chiến lược quốc gia về Bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030;
xây dựng chế độ báo cáo thống kê để thu thập, tổng hợp các chỉ
tiêu thống kê thuộc Bộ chỉ tiêu từ các bộ, ban, ngành liên quan và từ đó nghiên
cứu xây dựng cơ sở dữ liệu thống kê về giới của quốc gia. Hằng năm, Bộ Nội vụ,
Bộ Tài chính phối hợp chặt chẽ với các Bộ ngành liên quan thực hiện đánh
giá, rà soát số liệu thống kê liên quan đến bình đẳng giới
đảm bảo nguồn thông tin thu thập tổng hợp,
chính xác phục vụ đánh giá các mục tiêu, chỉ tiêu
quốc gia về bình đẳng giới.
- Về việc thực hiện mục
tiêu bình đẳng giới
Nội dung này được
đánh giá cụ thể ở từng mục tiêu, chỉ tiêu tại mục Kết quả thực hiện Chiến lược
quốc gia về bình đẳng giới năm 2025 tại phần II. Kết quả thực hiện
Chiến lược năm 2025.
3. Phương
hướng năm 2026
Để tổ chức thực hiện hiệu
quả chính sách, pháp luật về bình đẳng giới năm 2026, Chính phủ triển khai các
nhiệm vụ trọng tâm sau:
3.1. Nâng cao chất lượng,
hiệu quả trong tổ chức thực hiện thi hành pháp luật về bình đẳng giới
- Tiếp tục nâng cao vai
trò, trách nhiệm của các bộ ngành, các địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội
và các tổ chức khác trong thi hành pháp luật về bình đẳng giới.
- Tăng cường công tác
phổ biến, giáo dục pháp luật về bình đẳng giới, đưa nội dung bình đẳng giới vào
chương trình giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên và đào tạo nghề, tạo nền
tảng nhận thức bền vững cho thế hệ trẻ. Đẩy mạnh truyền thông, giáo dục pháp luật
về bình đẳng giới, tạo sự đồng thuận xã hội và thúc đẩy chuyển biến tư duy,
hành vi về vai trò giới.
- Đẩy mạnh công tác
thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật về bình đẳng giới; xử lý
nghiêm các hành vi vi phạm về phân biệt đối xử
giới, quấy rối tình dục tại nơi làm việc, định kiến giới trong tuyển
dụng, bổ nhiệm...
- Bảo đảm nguồn lực cho
tổ chức thực thi chính sách bình đẳng giới; tăng cường lồng ghép giới trong các
chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình phát triển kinh tế - xã hội các cấp;
huy động nguồn lực xã hội hóa, bao gồm sự tham gia của các tổ chức quốc tế,
doanh nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp...
- Nâng cao năng lực cho
đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới các cấp về: kỹ năng lồng ghép giới,
đánh giá tác động giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, các chiến lược,
chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, địa phương, bộ,
ngành. Kiện toàn Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam các cấp; củng
cố, xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách về bình đẳng giới tại địa phương, có
năng lực phối hợp đa ngành và tiếp cận cộng đồng hiệu quả; khuyến khích phát
huy vai trò của mạng lưới tuyên truyền viên, cộng tác viên bình đẳng giới, hòa
giải viên cơ sở.
- Thúc đẩy sự tham gia
của toàn xã hội vào tổ chức thực thi chính sách bình đẳng giới; phát huy vai
trò phản biện và giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội, nhất là của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam; các tổ chức xã hội khác;
đưa bình đẳng giới trở thành một tiêu chí thi đua, đánh
giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, địa phương.
3.2. Tiếp tục nghiên cứu,
hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới
Chính phủ đang xem xét đề
nghị của Bộ Nội vụ bổ sung vào chương trình lập pháp năm 2026 của Chính phủ nội
dung Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 04 Luật: Bộ luật Lao động, Luật Lưu
trữ, Luật Bình đẳng giới, Luật Hoạt động chữ thập đỏ. Trong đó đề nghị sửa đổi,
bổ sung một số nội dung quy định tại Luật Bình đẳng giới 2006 gồm: (1) Sửa đổi,
bổ sung quy định về phân định thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Cụ
thể phân quyền cho Thủ tướng Chính phủ trong lĩnh vực bình đẳng
giới (nội dung về phân cấp, phân quyền quy định tại Nghị định số 128/2025/NĐ-CP
ngày 11/6/2025 quy định về phân quyền, phân cấp trong quản lý nhà nước lĩnh vực
nội vụ); (2) Bổ sung trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới;
trách nhiệm của bộ, cơ quan ngang bộ; trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp
trong việc thực hiện quản lý nhà nước về Bình đẳng giới.
Về sửa
đổi, bổ sung tổng thể Luật Bình đẳng giới năm 2006: Năm 2025, Chính phủ chỉ đạo
Bộ Nội vụ tiến hành nghiên cứu, rà soát Luật Bình đẳng giới sau 19 năm kể từ
ngày luật có hiệu lực thi hành. Trên cơ sở đề xuất của các Bộ, ngành, cơ quan
Trung ương, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Chính phủ
chỉ đạo Bộ Nội vụ sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành, cơ quan, địa phương
và các tổ chức liên quan tiếp tục nghiên cứu, đánh giá, đề xuất với Chính phủ dự
kiến đưa nhiệm vụ sửa đổi, bổ sung Luật Bình đẳng giới năm 2006 vào Chương
trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội năm 2028.
- Nghiên cứu phương
pháp và tính thử nghiệm chỉ số bình đẳng giới cấp tỉnh ở Việt Nam nhằm nhận diện
chính xác thực trạng, ưu điểm, hạn chế và những khó khăn, thách thức riêng của
từng tình, thành phố trong việc thúc đẩy bình
đẳng giới.
- Nghiên cứu, xây dựng
quy chế phối hợp liên ngành về công tác bình đẳng giới áp dụng đồng bộ từ Trung
ương đến cơ sở.
- Thủ tướng Chính phủ
ban hành Chương trình Phòng ngừa và ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới giai đoạn
2026-2030.
II. KẾT
QUẢ THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI NĂM 2025, GIAI ĐOẠN
2021-2025
NĂM 2025
1.
Các giải pháp thực hiện Chiến lược
Kết quả các giải pháp
thực hiện chiến lược đã được báo cáo chung trong phần tình hình thực hiện chính
sách pháp luật về bình đẳng giới.
2.
Kết quả thực hiện các chỉ tiêu của mục tiêu năm 2025
2.1
Mục tiêu 1: Trong lĩnh vực chính trị
Chỉ
tiêu: Đến năm 2025 đạt 60% và đến năm
2030 đạt 75% các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương các cấp có
lãnh đạo chủ chốt là nữ
Theo kết quả báo cáo của
các bộ, ngành, địa phương, tính đến tháng 01/2026 chỉ
tiêu này đạt được như sau:
- Tỷ lệ các bộ, cơ quan
ngang bộ có nữ lãnh đạo chủ chốt là nữ là 12/17 (đạt 70,6%) vượt chỉ tiêu đề ra
đến năm 2025.[32]
Cơ quan quản lý nhà nước;
chính quyền địa phương cấp tỉnh, xã:
- Tỷ lệ cơ quan quản lý
nhà nước, chính quyền địa phương cấp tỉnh (Ủy ban nhân dân và Hội đồng nhân
dân) có lãnh đạo chủ chốt là nữ: 28/34 (82,35%).[33]
- Tỷ
lệ cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương cấp xã (Ủy ban nhân dân và
Hội đồng nhân dân) có lãnh đạo chủ chốt
là nữ: 43,3%.[34]
Như vậy, đối với mục
tiêu về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị, ở cấp trung ương, tỷ lệ các bộ,
cơ quan ngang bộ có lãnh đạo chủ chốt là nữ
12/17 (70,6%), vượt chỉ tiêu đề ra. Ở địa phương, cấp tỉnh đạt
82,35%, vượt chỉ tiêu đề ra nhưng cấp xã mới chỉ đạt
43,3%, chưa đạt chỉ tiêu đề ra.
2.2.
Mục tiêu 2: Trong lĩnh vực kinh tế, lao động
- Chỉ
tiêu 1: Tăng tỷ lệ lao động nữ làm công hưởng lương lên đạt 50% vào năm 2025 và
khoảng 60% vào năm 2030
Theo số liệu ước tính từ
kết quả điều tra lao động việc làm của Cục
Thống kê, Bộ Tài chính, đến năm 2025 lệ lao động nữ làm công hưởng lương là:
52,1% (năm 2024, chỉ tiêu này đạt 50,09%); lao động nam là: 57%; chung cả nước
là: 54,7%. Như vậy, chỉ tiêu này vượt mục tiêu đề ra.
- Chỉ
tiêu 2: Giảm tỷ trọng lao động nữ làm việc trong khu vực nông nghiệp trong tổng
số lao động nữ có việc làm xuống dưới 30% vào năm 2025 và dưới 25% vào năm 2030
Theo kết
quả Điều tra lao động việc làm năm
2025, số liệu chỉ tiêu này là 24,7%.[35]
Đạt chỉ tiêu đề ra đến năm 2025 và 2030 (đến năm 2025 giảm xuống dưới 30%; đến
năm 2030 giảm xuống dưới 25%).
- Chỉ
tiêu 3: Tỷ lệ nữ giám đốc/chủ
doanh nghiệp, hợp tác xã đạt
ít nhất 27% vào năm 2025 và 30% vào năm 2030.
Theo Thông tư số 10/2019/TT-BKHĐT
ban hành ngày 30/7/2019 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định về bộ chỉ
tiêu thống kê phát triển giới quốc gia (Thông tư số 10/2019/TT-BKHĐT), chỉ tiêu
“Tỷ lệ nữ giám đốc/chủ doanh nghiệp, hợp tác xã” có kỳ
công bố là 5 năm và được thu thập, tổng
hợp từ Tổng điều tra kinh tế. Số liệu của chỉ
tiêu này năm 2025 chưa có do cuộc Tổng điều tra kinh tế năm 2026 hiện đang
trong giai đoạn thu thập thông tin.[36] Vì vậy, đến nay vẫn sử dụng kết quả
của Tổng điều tra kinh tế năm 2021, theo đó, tỷ lệ nữ giám đốc/chủ
doanh nghiệp, hợp tác xã năm 2020 là 28,2%.[37]
2.3
Mục tiêu 3: Trong đời sống gia đình và phòng ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ
sở giới
- Chỉ
tiêu 1: Giảm số giờ trung bình
làm công việc nội trợ và chăm sóc trong gia đình
không được trả công của phụ nữ còn 1,7 lần vào năm 2025 và 1,4 lần vào năm 2030
so với nam giới.
Theo số liệu ước tính từ
kết quả điều tra lao động việc làm của Cục Thống kê, Bộ Tài chính, đến năm 2025
số giờ trung bình làm công việc nội trợ và chăm sóc trong gia đình không được
trả công của phụ nữ là 15,21 giờ/tuần; của nam giới là 9,02 giờ/tuần; số giờ
trung bình của phụ nữ /nam giới là 1,68 lần (từ năm 2021-2024 chỉ tiêu này lần
lượt là: 1,94 lần; 1,78 lần, 1,78 lần, 1,8 lần). Như vậy, chỉ tiêu này có xu hướng
giảm dần và vượt mục tiêu đề ra đến năm 2025.
- Chỉ
tiêu 2: Đến năm 2025 đạt 80% và đến 2030 đạt 90% người bị bạo lực gia đình,
bạo lực trên cơ sở giới
được phát hiện được tiếp cận ít
nhất một trong các dịch vụ hỗ trợ cơ bản; đến năm 2025 đạt 50% và đến năm 2030
đạt 70%) người gây bạo lực
gia đình, bạo lực trên cơ sở giới được phát hiện ở mức chưa bị truy cứu trách
nhiệm hình sự được tư
vấn, tham vấn
Theo báo cáo của Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch, thông tin về bạo lực như sau:[38]
- Tổng số hộ gia đình
có hành vi bạo lực gia đình: Năm 2025: 1.941 hộ; năm 2024: 2.223 hộ (giảm 282 hộ)
- Tổng số vụ bạo lực
gia đình: Năm 2025: 2.074 vụ; năm 2024 là: 2.329
người (giảm 255 vụ)
- Tổng số người có hành
vi bạo lực gia đình: năm 2025: 2.038 người; năm 2024 là: 2.269 người (giảm 231
người). Trong đó: Phụ nữ: 263 người; năm 2024 là: 258 người (tăng 5 người); nam
giới 1.775 người; năm 2024 là: 2.011 người (giảm 236 người).
- Tỷ lệ người gây bạo lực
gia đình, bạo lực trên cơ sở giới được phát hiện ở mức chưa bị truy cứu trách
nhiệm hình sự được tư vấn, tham vấn:
2.046/2038 (100%) (Có những người được tư vấn, tham vấn hơn 1 lần).
- Tổng số người bị bạo
lực gia đình: Năm 2025: 2.048 người; năm 2024 là 2278 người (giảm 230 người),
trong đó: Phụ nữ: 1.669 người; năm 2024 là: 1.991 người (giảm 322 người); nam
giới: 379 người; năm 2024 là: 287 người (tăng 92 người).
- Tổng số người bị bạo
lực được hỗ trợ: 1.854 người/2.048 người (đạt 90,5%), vượt chỉ tiêu đề ra đến
năm 2025 (80%).
Như vậy, so với năm
2024, số hộ có bạo lực gia đình; số người gây bạo lực gia đình; số người bị bạo
lực gia đình đều giảm so với năm 2025. Tuy nhiên, số người gây bạo lực là phụ nữ
lại tăng (05 người); số người gây bạo lực là nam giới giảm (236 người), số người
bị bạo lực là nữ giảm (322 người); số người bị bạo lực là nam tăng (92 người).
So với năm 2024, tình
hình bạo lực gia đình năm 2025 có chuyển biến tích cực khi số hộ có bạo lực gia
đình, số người gây bạo lực và số người bị bạo lực đều giảm. Điều này cho thấy
công tác tuyên truyền, phòng ngừa và can thiệp về phòng, chống bạo lực gia đình
đã bước đầu phát huy hiệu quả, góp phần nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi
trong gia đình, cộng đồng. Cơ cấu giới trong các vụ việc có sự thay đổi đáng
lưu ý. Số người gây bạo lực là nam giới giảm 236
người, trong khi số người gây bạo lực là phụ nữ tăng 05 người. Mặc dù mức tăng
không lớn, song cho thấy bạo lực gia đình có xu hướng đa dạng hơn về chủ thể
thực hiện, đòi hỏi công tác truyền thông và tư vấn cần tiếp cận toàn diện,
không chỉ tập trung vào một giới, về phía người bị bạo lực, số nữ bị bạo lực giảm
322 người - đây là tín hiệu tích cực đối với mục tiêu bảo vệ phụ nữ và thúc đẩy
bình đẳng giới. Tuy nhiên, số nam giới bị bạo lực tăng 92 người, có thể phản
ánh sự thay đổi trong nhận thức và việc mạnh dạn tố giác, khai báo của nam giới,
đồng thời cho thấy cần quan tâm hơn đến các hình thức bạo lực hai chiều trong
gia đình.
- Chỉ
tiêu 3: Từ năm 2025 trở đi, 100% số nạn nhân bị mua bán trở về được phát hiện
có nhu cầu hỗ trợ được hưởng các dịch vụ hỗ trợ và tái hòa nhập cộng đồng.
Theo báo cáo của Bộ Y tế,[39]
năm 2025, số người được xác định là nạn nhân bị mua bán là 136 người. Trong đó,
có 136 người quốc tịch Việt Nam. Về dân
tộc: 49 người dân tộc Kinh, 87 người dân tộc thiểu số (Mông, Thái, Dao, Khơ Mú,
Tày)... Về giới tính: 75 người là nữ, 61 người là
nam. Về độ tuổi: dưới 16 tuổi có 32 người, từ đủ
16 tuổi đến dưới 18 tuổi có 9 người; từ đủ 18 tuổi trở
lên có 95 người. Về trình độ học vấn: 30 người trình độ trung học
phổ thông, 57 người trình độ trung học cơ sở, 14 người trình độ tiểu học, 35
người trình độ khác (chưa biết chữ hoặc chưa xác định được trình độ). Về hình thức bóc lột: 11 người bị bóc lột tình dục, 104 người bị cưỡng
bức lao động, 21 người bị bóc lột các hình thức khác. Về địa điểm bị mua bán: 30 người bị mua bán trong nước, 106 người bị
mua bán ra nước ngoài.
Năm 2025, số người được
hỗ trợ là 179 người (bao gồm những người là nạn nhân/người đang trong quá trình
xác định là nạn nhân/và người dưới 18 tuổi đi cùng). Trong đó, có 176 người quốc
tịch Việt Nam, 02 người quốc tịch Campuchia, 01 người chưa xác định được quốc tịch,
về dân tộc: 47 người dân tộc Kinh, 132 người dân tộc thiểu số như: Mông, Thái,
Dao, Khơ Mú, Tày;... Về giới tính: 116 người là nữ, 63 người là
nam giới. Về độ tuổi: dưới 16 tuổi có 46 người, từ đủ 16
tuổi đến dưới 18 tuổi có 13 người; từ đủ 18 tuổi trở lên có 120 người. Các lực
lượng chức năng đã hỗ trợ 100% người được hỗ trợ. (Đạt chỉ tiêu đề ra)
- Chỉ
tiêu 4: Đến năm 2025 có 70% và năm 2030
có 100% cơ sở trợ giúp xã hội công lập triển khai các hoạt động trợ giúp, phòng
ngừa và ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới.
Hiện nay, mạng lưới các
cơ sở chăm sóc xã hội đã được hình thành và phát triển trên phạm vi cả nước với
425 cơ sở (trong đó có 195 cơ sở công lập và 230 cơ sở ngoài công lập). Mạng lưới
các cơ sở bảo trợ xã hội đã tiếp nhận, nuôi dưỡng và chăm sóc nhiều nhóm đối tượng
khác nhau, trong đó, số đối tượng là người lớn và trẻ em khuyết tật,
người tâm thần chiếm tỷ lệ lớn 46,5%, số đối tượng là trẻ em mồ côi và bị bỏ
rơi chiếm tỷ lệ 19,3%, số đối tượng là người già cô đơn chiếm
tỷ lệ 10,3%, số đối tượng là trẻ em và người lớn nhiễm HIV/AIDS chiếm tỷ lệ
1,4%. Tính đến nay, 100% cơ sở trợ giúp xã hội công lập đã triển khai nhiệm vụ,
hoạt động trợ giúp, phòng ngừa và ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới trợ giúp
cho đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp là nạn nhân của bạo lực gia đình, nạn nhân bị
xâm hại tình dục, nạn nhân bị buôn bán, nạn nhân bị cưỡng bức lao động theo quy
định.[40]
2.4.
Mục tiêu 4: Trong lĩnh vực y tế
- Chỉ
tiêu 1: Tỷ số giới tính khi sinh ở mức 111 bé trai/100 bé gái sinh ra sống vào
năm 2025 và 109 bé trai/100
bé gái sinh ra sống vào năm 2030
Đến
năm 2025, ước tỷ số giới tính khi sinh là 111 trẻ trai/100 trẻ gái sinh ra sống,
như vậy, ước tỷ số giới tính khi sinh giảm 0,4 điểm % so với năm 2024, đạt chỉ
tiêu kế hoạch đề ra.[41] Theo Thông cáo báo chí về tình hình
lao động, việc làm quý IV và năm 2025 ngày 06/01/2026 của
Cục Thống kê, Bộ Tài chính: Tỷ số giới tính khi sinh (SRB) của Việt Nam năm
2025 là 110 bé trai/100 bé gái, giảm so với năm 2024 (111,4). Có sự khác
nhau về số liệu thống kê do việc thu thập số liệu phụ thuộc
vào nguồn số liệu, thời điểm, thời kì thu thập, phương pháp
thống kê. Từ các kết quả thống kê cho thấy chỉ tiêu này đã đạt mục tiêu đề
ra đến năm 2025.
- Chỉ
tiêu 2: Tỷ lệ tử vong bà mẹ liên quan đến thai sản giảm còn 42/100.000 trẻ sinh
sống vào năm 2025 và xuống dưới 42/100.000 vào năm 2030
Chỉ tiêu này được thu
thập và công bố 10 năm/lần theo Tổng điều tra dân số và nhà ở (quy định tại
Thông tư 10/2019/TT-BKHĐT ngày 30/7/2019 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
(trước đây) quy định Bộ chỉ tiêu thống kê
giới quốc gia. Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 cho thấy tỷ số tử
vong mẹ ở Việt Nam là 46/100.000 trẻ đẻ sống, qua
theo dõi số ca tử vong mẹ được báo cáo trong hệ thống thống kê y tế cho thấy
xu hướng tử vong mẹ tiếp tục giảm trong những năm vừa qua và ước năm 2025 còn khoảng
42/100.000 trẻ đẻ sống. Như vậy, theo ước tính đến năm 2025 chỉ
tiêu này đạt mục tiêu đề ra.[42]
- Chỉ
tiêu 3: Tỷ suất sinh ở vị thành niên giảm từ 23 ca sinh/1.000 phụ nữ xuống
18/1.000 vào năm 2025 và dưới 18/1.000 vào năm 2030.
Năm 2025 chưa thống kê
được chỉ tiêu này.
Tuy nhiên, theo báo cáo
của Bộ Y tế[43], tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi của
phụ nữ từ 15-19 tuổi cũng có thể coi như đại diện cho tỷ suất sinh ở vị thành
niên. Theo kết quả Điều tra Dân số giữa kỳ 2024, tỷ suất
sinh ở lứa tuổi 15-19 trên toàn quốc là 30‰, đã có xu hướng giảm so với năm
2019 (35‰ theo Tổng Điều tra Dân số và nhà ở).
- Chỉ
tiêu 4: Tỷ lệ tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương có
ít nhất một cơ sở y
tế cung cấp thí điểm dịch vụ
chăm sóc sức khoẻ dành cho người đồng tính, song tính
và chuyển giới đạt 40% vào năm 2025 và
70% vào năm 2030
Hiện nay, tất cả các cơ
sở khám chữa bệnh đều thực hiện thăm khám và chăm sóc sức khỏe đối với mọi người
dân, không có sự phân biệt người đồng tính, song tính và chuyển giới.
Mặc dù có một số tỉnh
(Lâm Đồng, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Khánh Hòa, Ninh Bình) triển khai dịch vụ chăm
sóc sức khỏe dành cho người đồng tính, song tính và chuyển
giới; tuy nhiên, hiện nay chưa có căn cứ pháp lý để
thực hiện chỉ tiêu thí điểm dịch vụ chăm sóc sức khỏe dành cho người đồng tính,
song tính và chuyển giới. Luật Chuyển đổi giới tính đang được xây dựng, chưa được
Quốc hội thông qua; Luật Khám bệnh, chữa bệnh và Nghị định số 96/2023/NĐ-CP của
Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Khám, bệnh chữa bệnh không có
quy định[44]. Về chỉ tiêu này, Bộ Y tế có đề xuất
không đưa chỉ tiêu này vào Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới
giai đoạn 2026-2030.[45]
2.5.
Mục tiêu 5: Trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo
- Chỉ
tiêu 1: Nội dung về giới, bình đẳng giới được đưa
vào chương trình giảng dạy trong hệ thống giáo dục quốc dân và được giảng dạy
chính thức ở các trường sư phạm từ năm 2025 trở đi
Ngày 12 tháng 12 năm
2023, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số 4247/QĐ-BGDĐT phê duyệt Đề
án “Đưa việc giảng dạy nội dung về giới, bình đẳng giới vào chương trình đào tạo
giáo viên trình độ cao đẳng ngành Giáo dục Mầm non và trình độ đại
học giai đoạn 2024 - 2030”[46]
Việc ban hành Đề án đã
tạo cơ sở chính sách và định hướng thống nhất để lồng ghép
nội dung về giới, bình đẳng giới trong đào tạo giáo viên, đáp ứng yêu cầu thực
hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới
từ năm 2025 trở đi. Các cơ sở đào tạo sư phạm đã bước đầu
rà soát, điều chỉnh chương trình, tích hợp nội dung về giới, bình đẳng giới vào
các học phần liên quan.
- Chỉ
tiêu 2: Tỷ lệ trẻ em trai và trẻ em gái dân tộc thiểu số hoàn thành giáo dục tiểu
học đạt trên 90% vào năm 2025 và khoảng 99% vào năm 2030; tỷ lệ hoàn thành cấp
trung học cơ sở đạt khoảng 85%) vào năm 2025 và 90%) vào năm 2030
Năm học 2024-2025, tỷ lệ
trẻ em trai và trẻ em gái dân tộc thiểu số hoàn thành giáo dục tiểu học đạt
98,6%. Chỉ tiêu này vượt chỉ tiêu đề ra đến năm 2025 và tiệm cận chỉ tiêu đến
năm 2030.
Tỷ lệ học sinh hoàn
thành cấp trung học cơ sở đạt 91,7%. Chỉ tiêu này vượt chỉ
tiêu đề ra đến năm 2025 và năm 2030.[47]
So với năm 2024, các chỉ
tiêu này không có sự biến động, đều vượt mục tiêu đề ra đến năm 2025.
- Chỉ
tiêu 3: Tỷ lệ nữ học
viên, học sinh, sinh viên được tuyển mới thuộc hệ thống giáo dục nghề nghiệp đạt
trên 30% vào năm 2025 và 40% vào năm 2030
Thống kê từ số liệu báo
cáo từ các địa phương, tỷ lệ nữ học viên, học sinh, sinh viên được tuyển
mới thuộc hệ thống giáo dục nghề nghiệp năm 2025 đạt khoảng
37,9% (năm 2024 là 34%), vượt chỉ tiêu đề ra đến năm 2025.
- Chỉ
tiêu 4: Tỷ lệ nữ thạc sĩ trong tổng số người có trình độ
thạc sĩ đạt không
dưới 50%) từ năm 2025 trở đi. Tỷ lệ nữ tiến sĩ trong tổng số người có
trình độ
tiến sĩ đạt 30% vào năm 2025 và 35% vào
năm 2030
+ Theo số liệu Điều tra
Biến động dân số và Kế hoạch hóa gia đình năm
2025, Tỷ lệ nữ thạc sĩ trong tổng số
người có trình độ thạc sĩ là 43,5%, chưa đạt chỉ tiêu đề
ra. Theo kết quả thống kê chỉ tiêu này năm 2020 là 44,2% (năm 2025 giảm 0,7% so
với năm 2020).
+ Năm 2025, chưa thống
kê được chỉ tiêu tỷ lệ nữ tiến sĩ trong tổng số người có trình độ tiến sĩ. Theo
quy định tại Thông tư số 10/2019/TT-BKHĐT, chỉ tiêu này được tính toán từ các
cuộc điều tra Biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình hằng năm, Điều tra dân
số và nhà ở giữa kỳ và Tổng điều tra dân số và nhà ở. Tuy nhiên, cỡ mẫu của cuộc
điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình nhỏ,
chưa đủ đại diện để tính toán và công bố chỉ tiêu
tỷ lệ nữ tiến sĩ trong tổng số người có trình độ tiến sĩ. Do đó chỉ tiêu này chỉ
tính toán được theo chu kỳ 5 năm/ lần vào các năm tiến hành Điều tra dân số và
nhà ở giữa kỳ hoặc Tổng điều tra dân số và nhà ở.[48]
Để thu hẹp khoảng cách
giới trong đào tạo sau đại học, bảo đảm tính
bền vững của chỉ tiêu này, trong thời gian tới cần thực hiện đồng bộ các giải
pháp như: tăng cường các cơ chế hỗ trợ phụ nữ
tham gia đào tạo sau đại học như học bổng, hỗ
trợ học phí, tạo điều kiện về thời gian và hình thức đào tạo linh hoạt (bán thời
gian, trực tuyến). Đồng thời, lồng ghép chỉ tiêu về tỷ lệ nữ trong chiến lược
phát triển nguồn nhân lực của từng ngành,
đơn vị; nâng cao nhận thức về vai trò học tập suốt đời của phụ nữ và khuyến
khích chia sẻ trách nhiệm gia đình để phụ nữ
có điều kiện nâng cao trình độ.
2.6.
Mục tiêu 6: Trong lĩnh vực thông tin, truyền thông
- Chỉ
tiêu 1: Phấn đấu đạt
60% vào năm 2025 và 80% vào năm 2030 dân số được
tiếp cận kiến thức cơ bản về bình đẳng giới
Thống kê từ số liệu báo
cáo của các địa phương, đến năm 2025 khoảng 72,6% dân số được tiếp cận kiến thức
cơ bản về bình đẳng giới (năm 2024 là 64,8%). Như vậy chỉ
tiêu này đã vượt so với chỉ tiêu đề ra đến năm 2025 là 60% và có xu hướng tăng
qua các năm.
- Chỉ
tiêu 2: Từ năm 2025 trở đi 100% tổ chức Đảng,
chính quyền, cơ quan hành chính, ban, ngành, đoàn thể các cấp được phổ biến, cập
nhật thông tin về bình đẳng giới và cam kết
thực hiện bình đẳng giới
Thống kê từ số liệu báo
cáo của các bộ, ngành, địa phương, đến năm 2025 100% tổ chức Đảng, chính quyền,
cơ quan hành chính, ban, ngành, đoàn thể các cấp được phổ biến, cập nhật thông
tin về bình đẳng giới và cam kết thực hiện bình đẳng giới. Như vậy chỉ tiêu này
đạt mục tiêu đề ra đến năm 2025.
- Chỉ
tiêu 3. Từ năm 2025 trở đi 100% xã, phường, thị trấn mỗi quý có ít nhất 04 tin,
bài về bình đẳng giới trên hệ thống thông tin cơ sở.
Thống kê từ số
liệu báo cáo của các địa phương, năm 2025 tỷ lệ này đạt khoảng 99,09%, tiệm cận
mục tiêu đề ra.[49] Năm 2024, chỉ tiêu này đạt 95%, theo
chiều hướng, chỉ tiêu này sẽ đạt trong giai đoạn 2026-2030.
- Chỉ
tiêu 4: Duy trì đạt 100% đài
phát thanh và đài
truyền hình ở Trung ương và địa phương có chuyên mục,
chuyên đề nâng cao nhận thức về bình đẳng giới hằng tháng.
Thống kê từ số liệu báo
cáo của các địa phương, năm 2025 tỷ lệ này đạt khoảng 99,8%.[50]
GIAI ĐOẠN 2021-2025
Phụ lục kết quả các mục
tiêu, chỉ tiêu giai đoạn 2021-2025 kèm theo.
3.
Kết quả đạt được, tồn tại, hạn chế, nguyên nhân
3.1
Kết quả đạt được
Đến năm 2025, có 13/20
chỉ tiêu đã đạt và vượt mục tiêu Chiến lược đề ra đến năm 2025, cụ thể:
- Có 7/20 chỉ tiêu đã
vượt mục tiêu đề ra: (1) Tỷ lệ lao động nữ làm công hưởng lương (đạt
52,1%, mục tiêu đề ra là 50%); (2) Số giờ trung bình làm công việc nội
trợ và chăm sóc trong gia đình không được trả công của phụ nữ so với nam giới
(đạt 1,68 lần, mục tiêu đề ra là 1,7 lần); (3) Tỷ lệ người bị bạo lực
gia đình, bạo lực trên cơ sở giới được phát hiện được tiếp
cận ít nhất một trong các dịch vụ hỗ trợ cơ bản trong năm (đạt 91,1%, mục tiêu
đề ra là 80%); Tỷ lệ người gây bạo lực gia đình, bạo lực trên cơ sở giới được
phát hiện ở mức chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự được tư vấn, tham vấn (đạt
100%, mục tiêu đề ra là 50%); (4)
Tỷ lệ cơ sở trợ giúp xã hội công lập triển khai các hoạt động trợ giúp, phòng
ngừa và ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới (đạt 100%, mục tiêu đề ra là 70%);
(5) Tỷ số giới tính khi sinh (đạt
110 trẻ em trai/100 trẻ em gái, mục tiêu đề ra là 111/110); (6) Tỷ lệ trẻ
em trai và trẻ em gái dân tộc thiểu số
hoàn thành giáo dục tiểu học (đạt 98,6%, mục tiêu đề
ra là 90%); Tỷ lệ trẻ em trai và trẻ em gái dân tộc thiểu số
hoàn thành giáo dục cấp trung học cơ sở (đạt 91,7%, mục tiêu đề ra là 85%); (7)
Tỷ lệ dân số được tiếp cận kiến thức cơ bản về
bình đẳng giới (đạt 72,6%, mục tiêu đề ra là 60%).
- Có 06 chỉ tiêu đạt mục
tiêu đề ra: (1) Tỷ trọng
lao động nữ làm việc trong khu vực nông nghiệp trong tổng số lao động nữ có việc
làm (đạt 24,7%, mục tiêu đề ra là dưới 30%; (2) Tỷ lệ nạn nhân bị mua
bán trở về được phát hiện có nhu cầu hỗ trợ được hưởng các dịch vụ hỗ trợ và
tái hòa nhập cộng đồng (đạt 100%, mục tiêu đề ra là 100%); (3) Tỷ lệ tử
vong bà mẹ liên quan đến thai sản (đạt 42/100.000, mục tiêu đề ra là
42/100.000); (4) Nội dung về giới, bình đẳng giới được đưa vào chương
trình giảng dạy trong hệ thống giáo dục quốc dân và được giảng dạy chính thức ở
các trường sư phạm từ năm 2025 trở đi; (5)
Tỷ lệ nữ học viên, học sinh, sinh viên được tuyển mới thuộc hệ thống giáo dục
nghề nghiệp (đạt 37,7%, mục tiêu đề ra là >30%); (6) Tỷ lệ tổ chức Đảng,
chính quyền, cơ quan hành chính, ban, ngành, đoàn thể các cấp được phổ biến, cập
nhật thông tin về bình đẳng giới và cam kết thực hiện bình đẳng giới (đạt
100%).
3.2
Tồn tại, hạn chế, nguyên nhân
a. Tồn tại, hạn chế
- Trong 7 chỉ tiêu chưa
đạt được hoàn toàn hoặc chưa thu thập được số liệu trong năm 2025 nhưng đã tiệm
cận được chỉ tiêu Chiến lược đề ra.
Cụ thể:
+ Trong lĩnh vực chính
trị đã đạt ở 2/3 chỉ số với tỷ lệ cao hơn so với năm 2024. Ở
cấp trung ương, tỷ lệ các bộ, cơ quan ngang bộ có lãnh đạo chủ chốt là nữ 12/17
(70,6%), vượt chỉ tiêu đề ra. Ở địa phương, cấp tỉnh đạt 82,35%, vượt chỉ
tiêu đề ra nhưng cấp xã mới chỉ đạt 43,3%, chưa đạt chỉ tiêu đề ra.
+ Có 04 chỉ tiêu chưa đạt
mục tiêu đề ra hoặc chưa tính toán được số liệu: (1) Số địa phương có cơ sở y tế
cung cấp thí điểm dịch vụ chăm sóc sức khỏe dành cho người đồng tính, song tính
và chuyển giới (đạt 14,7% mục tiêu đề ra là 40%); (2) Tỷ lệ xã, phường, thị trấn
mỗi quý có ít nhất 04 tin, bài về bình đẳng giới trên hệ thống thông tin cơ sở
(đạt 99,09%, mục tiêu đề ra là 100%); (3) Tỷ lệ đài phát thanh và đài truyền
hình ở địa phương có chuyên mục, chuyên đề nâng cao nhận thức về bình đẳng giới
hàng tháng (đạt 99,8%, mục tiêu đề ra là 100%);
(4) Tỷ lệ nữ thạc sĩ trong tổng số người có trình độ thạc sĩ là 43,5%, chưa đạt
chỉ tiêu đề ra không dưới 50%; tỷ lệ nữ tiến sĩ trong tổng số người có trình độ
tiến sĩ: chưa tính toán được từ cuộc điều tra nói trên do số quan
sát nhỏ, không đảm bảo suy rộng.
Còn 02 chỉ tiêu chưa
thu thập được số liệu năm 2025: (1) Tỷ lệ nữ giám đốc/chủ
doanh nghiệp, hợp tác xã; (2) Tỷ suất sinh ở vị thành niên.
- Việc lồng ghép các mục
tiêu, chỉ tiêu về bình đẳng giới vào kế hoạch phát triển kinh tế
- xã hội hằng năm và 5 năm ở cấp quốc gia cũng như hướng dẫn lồng ghép các mục
tiêu, chỉ tiêu về bình đẳng giới vào việc xây dựng và đánh
giá kết quả thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội của ngành, địa phương còn chung chung, chưa cụ thể.
- Công tác thống kê,
thông tin, báo cáo vẫn còn gặp một số khó khăn do thiếu các công cụ theo dõi,
kiểm tra, đánh giá việc thi hành pháp luật, chiến lược, chương trình, kế hoạch
về bình đẳng giới, thông tin về giới ở nhiều lĩnh vực còn thiếu và chưa đồng bộ.
Một số chỉ tiêu của Chiến lược được thu thập, đánh giá thông qua các cuộc Tổng điều
tra, khảo sát định kỳ 10 năm, 05 năm và 02 năm/lần nên khó khăn trong việc thu
thập số liệu báo cáo, đánh giá hằng năm.
- Nguồn kinh phí bố trí
cho công tác bình đẳng giới còn thấp, chủ yếu thực hiện lồng
ghép, đặc biệt ở cấp xã. Đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới ở nhiều địa
phương thường xuyên biến động, hạn chế cả về số lượng, chất lượng.
- Công tác thanh tra,
kiểm tra và xử lý vi phạm về bình đẳng giới chưa thật sự được quan tâm. Thanh
tra, kiểm tra chủ yếu được thực hiện thông qua lồng ghép, số cuộc thanh tra
chuyên đề còn ít; việc phát hiện, xử lý vi phạm chưa phản ánh với thực tiễn xã
hội.
b. Nguyên nhân
- Nguyên nhân khách
quan
Giai đoạn 2021-2025 việc
triển khai Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030 gặp rất
nhiều khó khăn do đại dịch Covid-19, gây ra nhiều hệ lụy cho công tác bình
đẳng giới. Theo báo cáo về khoảng cách giới toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế Thế
giới (WEF) năm 2021, ước tính đại dịch COVID-19 đã làm chậm tiến trình thu hẹp khoảng
cách giới tương đương “một thế hệ” (từ 99,5 năm tới 135,6 năm); Sự biến đổi khí
hậu, thiên tai và các vấn đề ảnh hưởng tiêu cực đến sinh kế và gánh nặng công
việc gia đình của người dân, đặc biệt là phụ nữ; Những bất ổn về tình hình thế
giới như chiến tranh, xung đột, các khủng hoảng kinh tế dẫn đến sự thay đổi của
thị trường lao động toàn cầu có thể làm trầm trọng thêm khoảng cách giới trong
việc làm, thu nhập và khả năng tiếp cận công nghệ.
- Nguyên nhân
chủ quan
+ Trách nhiệm, quyết
tâm chính trị của người đứng đầu các cơ quan đơn vị
cũng như năng lực đánh giá, phân tích, nhận diện các vấn đề về giới để lập kế
hoạch lồng ghép giới vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở các cấp, ngành
còn chưa cao; một số cấp ủy, chính quyền các cấp còn thiếu
quan tâm tới công tác bình đẳng giới và cán bộ nữ, chưa có cơ chế ưu đãi, khuyến
khích đủ mạnh trong tạo nguồn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm cán bộ nữ.
+ Đội ngũ cán bộ làm
công tác bình đẳng giới các cấp vẫn còn hạn chế về số lượng, chất lượng; thường
xuyên luân chuyển, thiếu ổn định; sau khi sáp nhập các tỉnh, thành phố và thực
hiện chính quyền địa phương hai cấp, đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác bình
đẳng giới phần lớn là cán bộ mới; chưa được đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến
thức về chính sách, luật pháp bình đẳng giới, điều này cũng ảnh hưởng trực tiếp
tới công tác tham mưu, triển khai công tác bình đẳng giới ở các cấp, ngành.
+ Kinh phí thường xuyên
của các bộ, ngành, địa phương bố trí cho công tác bình đẳng giới còn thấp, nhiều
bộ ngành, địa phương chưa bố trí dòng ngân sách riêng, chưa đáp ứng việc triển
khai các nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra trong Chiến lược và các Chương trình.
4. Phương
hướng giai đoạn 2026 - 2030
Để tổ chức triển khai
Chiến lược giai đoạn 2026-2030 hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tiễn, Chính
phủ thực hiện các giải pháp sau:
- Giao Bộ Nội vụ phối hợp
với các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan liên quan tiếp tục rà soát, đánh
giá tình hình, kết quả thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu, giải pháp, đề xuất
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định điều chỉnh
cho phù hợp với giai đoạn 2026-2030. Thời gian dự kiến trong quý 4 năm 2026.
- Giao Bộ Nội vụ và Bộ
Tài chính phối hợp xây dựng Bộ chỉ tiêu thống kê phát
triển giới nhằm bảo đảm các chỉ tiêu phù hợp với Chiến lược quốc gia về Bình đẳng
giới giai đoạn 2021-2030;
- Giao Bộ Tài chính tổng
kết, đánh giá việc thực hiện Bộ chỉ tiêu
thống kê phát triển giới hiện tại theo Thông tư số 10/2019/TT-BKHĐT, đồng thời
phối hợp chặt chẽ với Bộ Nội vụ trong việc xây dựng Bộ chỉ tiêu mới và các công
việc liên quan.
- Các Bộ, ngành; Ủy ban
nhân dân các cấp xây dựng Kế hoạch thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng
giới giai đoạn 2026-2030 và triển khai đầy đủ, nghiêm
túc các nội dung theo Kế hoạch.
- Chú trọng nâng cao
năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới các cấp; tăng thêm kinh
phí cho công tác bình đẳng giới nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ giai đoạn
2026-2030.
- Duy trì cơ chế phối hợp
liên ngành chặt chẽ trong việc triển khai Chiến lược, đảm bảo sự tham gia đồng
bộ của các Bộ, ngành trung ương và địa phương.
- Tăng cường công tác thanh
tra, kiểm tra, giám sát, việc thực hiện chính sách, pháp luật về bình đẳng giới
nói chung và Chiến lược giai đoạn 2026-2030.
- Tăng cường hợp tác quốc
tế trong lĩnh vực bình đẳng giới. Tiếp tục tham gia tích cực vào các diễn đàn
quốc tế đa phương về bình đẳng giới; đề cao chủ trương, chính sách, nỗ lực của
Việt Nam trong việc đảm bảo bình đẳng giới, đặc biệt
nâng cao vai trò của phụ nữ trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội.
III.
KIẾN NGHỊ
Đối với Quốc hội, Ủy
ban Thường vụ quốc hội
1. Thực hiện pháp luật
về bình đẳng giới trong thời gian tới; việc sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp
luật về bình đẳng giới.
- Tăng cường giám sát
việc thực hiện chính sách, pháp luật về bình đẳng giới, phòng chống bạo lực gia
đình,
trong đó chú ý đến việc đảm bảo lồng ghép vấn đề
bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, kết quả thực hiện các
mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.
- Xem xét sửa đổi Luật
Bình đẳng giới 2006 để phù hợp với các công ước, điều ước quốc tế mà Việt Nam
tham gia; phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, quy định về phân
cấp, phân quyền hiện nay.
- Tiếp tục quan tâm phê
duyệt, phân bổ kinh phí hợp lý để thực hiện bình đẳng giới và các nội dung về
bình đẳng giới trong các Chương trình, Kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã
hội trong quá trình xem xét, thông qua ngân sách, các chương trình đầu tư công.
2. Thực hiện Chiến lược quốc
gia về bình đẳng giới giai đoạn 2026-2030
- Quan tâm chỉ đạo lồng
ghép mục tiêu bình đẳng giới trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế
- xã hội và các chương trình mục tiêu quốc gia, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ
trong triển khai Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2026-2030.
- Ưu tiên bảo đảm nguồn
lực thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2026-2030.
Chính phủ trân trọng
báo cáo Quốc hội./.
|
Nơi nhận:
- Như trên;
- Văn phòng Quốc hội (15b);
- Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội;
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
- Các bộ, cơ quan ngang bộ;
- UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương;
- Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
- Ủy ban quốc gia VSTBPN Việt Nam;
- Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam;
- VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTg, TGĐ Cổng
TTĐT,
các Vụ: QHĐP, TKBT, TH;
- Lưu: VT, KGVX (2b).
|
TM.
CHÍNH PHỦ
TUQ. THỦ TƯỚNG
BỘ TRƯỞNG BỘ NỘI VỤ
Đỗ Thanh Bình
|
PHỤ
LỤC I
KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA VỀ BÌNH ĐẲNG
GIỚI GIAI ĐOẠN 2021-2025
(Kèm theo Báo cáo số 137/BC-CP
ngày 31 tháng 3 năm 2026 của Chính phủ)
|
TT
|
Mục
tiêu
|
Chỉ
tiêu
|
Mục
tiêu theo kế hoạch đề ra đến năm 2025
|
Kết
quả đạt được năm 2021
|
Kết
quả đạt được năm 2022
|
Kết
quả đạt được năm 2023
|
Kết
quả đạt được năm 2024
|
Kết
quả đạt được năm 2025
|
Ghi
chú
|
|
1
|
Mục
tiêu 1: Trong lĩnh vực chính trị
|
1.1. Tỷ lệ các bộ, cơ
quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có lãnh đạo chủ chốt là nữ
|
60%
|
12/30(40%)
|
15/30
(50%)
|
14/30
(46,67%)
|
14/30
(46,67%)
|
13/22
(59,16%)
|
Tiệm
cận
|
|
1.2. Tỷ lệ chính quyền
địa phương cấp tỉnh có lãnh đạo chủ chốt là nữ
|
60%
|
37,70%
|
-
|
47/63
(74,6%)
|
48/63
(76%)
|
28/34
(82,35%)
|
Vượt
|
|
1.3. Tỷ lệ chính quyền
địa phương cấp xã có lãnh đạo chủ chốt là nữ
|
60%
|
24,94%
|
-
|
|
45,39%
|
43,3%
|
Chưa
đạt
|
|
2
|
Mục
tiêu 2: Trong lĩnh vực kinh tế,
lao động
|
2.1. Tỷ lệ lao động nữ
làm công hưởng lương
|
50%
|
43,4%
|
49,04%
|
50,09%
|
50,09%
|
52,1%
|
Vượt
|
|
2.2. Tỷ
trọng lao động nữ làm việc trong khu vực
nông nghiệp trong tổng số lao động nữ có việc làm
|
Dưới
30%
|
28,7%
|
28,45%
|
26,22%
|
25,5%
|
24,7
|
Đạt
|
|
2.3. Tỷ lệ nữ giám đốc/
chủ doanh nghiệp, hợp tác xã
|
27%
|
27,2%
|
28,2%
(số liệu điều tra năm 2021)
|
28,2%
(số liệu điều tra năm 2021)
|
28,2%
(số liệu điều tra năm 2021)
|
Chưa
thu thập được
|
|
|
3
|
Mục
tiêu 3: Trong đời sống gia đình và phòng ngừa,
ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới
|
3.1. Số giờ
trung bình làm công việc nội trợ và chăm sóc
trong gia đình không được trả công của phụ nữ so với nam giới
|
1,7
|
1,96h/ngày
(gấp 1,94 lần so với nam giới)
|
2,34h/ngày
(gấp 1,78 lần so với nam giới)
|
2,3h/ngày
(gấp 1,8 lần so với nam giới)
|
2,2h/ngày
(gấp 1,8 lần so với nam giới)
|
1,68
|
Vượt
|
|
3.2.1 Tỷ lệ người bị
bạo lực gia đình, bạo lực trên cơ sở giới được phát hiện được tiếp cận ít nhất
một trong các dịch vụ hỗ trợ cơ bản trong năm
|
80%
|
-
|
97,07%
|
74,6%
|
100%
|
(1055/1158)
91,1%
|
Vượt
|
|
3.2.2. Tỷ
lệ người gây bạo lực gia đình, bạo lực trên cơ sở giới được phát hiện ở mức
chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự được tư vấn, tham vấn.
|
50%
|
-
|
74,3%
|
100%
(Theo báo cáo của Bộ Văn hóa - Thể thao và du lịch)
|
81,07%
(Theo tổng hợp từ số liệu báo cáo của địa phương)
|
(1273/1149)100%
|
Vượt
|
|
3.3. Tỷ lệ nạn nhân bị
mua bán trở về được phát hiện có
nhu cầu hỗ trợ được hưởng các dịch vụ hỗ trợ và tái hòa nhập cộng đồng
|
100%
|
100%
|
100%
|
100%
|
100%
|
100%
|
Đạt
|
|
3.4. Tỷ lệ cơ sở trợ
giúp xã hội công lập triển khai các hoạt động trợ giúp, phòng ngừa và ứng phó
với bạo lực trên cơ sở giới
|
70%
|
-
|
100%
|
100%
|
100%
|
100%
|
Vượt
|
|
4
|
Mục
tiêu 4: Trong lĩnh vực y tế
|
4.1. Tỷ số giới tính
khi sinh
|
111/100
|
112/100
|
111,5/100
|
113,6/100
|
111,4/100
|
110/100
|
Vượt
|
|
4.2. Tỷ lệ tử vong bà
mẹ liên quan đến thai sản
|
42/100.000
|
46/100.000
(Điều tra năm 2019)
|
46/100.000
(Điều tra năm 2019)
|
46/100.000
(Điều tra năm 2019)
|
43/100.000
(theo ước tính của Bộ Y tế)
|
42/100.000
|
Đạt
|
|
4.3. Tỷ suất sinh ở vị
thành niên
|
18/1000
|
17.7‰
|
15,9‰
|
15,4‰
|
30‰
|
Chưa
thu thập được
|
|
|
4.4. Số địa phương có
cơ sở y tế cung cấp thí điểm dịch
vụ chăm sóc sức khỏe dành cho người đồng
tính, song tính và chuyển giới
|
40%
|
0
|
0
|
9/63
(14%)
|
9/63
(14%)
|
5/34
(14,7%)
|
Chưa
đạt
|
|
5
|
Mục
tiêu 5: Trong lĩnh vực giáo dục đào tạo
|
5.1. Nội dung về giới,
bình đẳng giới được đưa vào chương trình giảng
dạy trong hệ thống giáo dục quốc dân và được
giảng dạy chính thức ở các trường sư phạm từ năm 2025 trở
đi.
|
|
|
|
Bộ
Giáo dục và Đào tạo dã ban hành và triển khai Đề án
|
Bộ
Giáo dục và Đào tạo đã ban hành và triển khai Đề án
|
Bộ
Giáo dục và Đào tạo đã ban hành và triển khai Đề án
|
Đạt
|
|
5.2.1. Tỷ
lệ trẻ em trai và trẻ em gái dân tộc thiểu số hoàn thành giáo dục tiểu học
|
90%
|
94,1%
|
98%
|
96%
|
98,6%
|
98,6
|
Vượt
chỉ tiêu đến năm 2025 và tiệm cận 2030
|
|
5.2.2. Tỷ lệ trẻ em
trai và trẻ em gái dân tộc thiểu số
hoàn thành giáo dục cấp trung học cơ sở
|
85%
|
82,3%
|
89%
|
90%
|
91,7%
|
91,7%
|
Vượt
chỉ tiêu đến năm 2025 và 2030
|
|
5.3. Tỷ lệ nữ học
viên, học sinh, sinh viên được tuyển mới thuộc hệ thống giáo dục nghề nghiệp
|
>30%
|
34,5%
|
-
|
41%
|
34%
|
37,7
%
|
Đạt
|
|
5.4.1. Tỷ lệ nữ thạc
sĩ trong tổng số người có trình độ thạc sĩ.
|
50%
|
44,2%
|
46%
(Tính riêng trong ngành giáo dục)
|
47%
(Tính riêng trong ngành giáo dục)
|
45,2%
|
43,5%
|
Chưa
đạt
|
|
5.4.2. Tỷ lệ nữ tiến
sĩ trong tổng số người có trình độ
tiến sĩ
|
30%
|
28%
|
38%
(Tính
riêng trong ngành giáo dục)
|
39%
(Tính
riêng trong ngành giáo dục)
|
-
|
Chưa
thu thập được
|
|
PHỤ LỤC II
KINH PHÍ CHI THƯỜNG XUYÊN CỦA CÁC BỘ, CƠ QUAN TRUNG ƯƠNG ĐƯỢC
GIAO CHỦ TRÌ THỰC HIỆN NĂM 2025
(Kèm theo Báo cáo số 137/BC-CP
ngày 31 tháng 3 năm 2026 của Chính phủ)
|
TT
|
NGUỒN
KINH PHÍ
|
SỐ
TIỀN (triệu đồng)
|
CƠ
QUAN CHỦ TRÌ
|
|
1
|
Kinh phí đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức của Bộ Nội vụ theo Quyết định số 2282/QĐ-TTg
ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt Chương trình "Tăng cường sự tham gia bình đẳng của phụ nữ trong
các vị trí lãnh đạo và quản lý ở các cấp hoạch định chính sách giai đoạn
2011-2030"
|
2.000
|
Bộ Nội vụ
|
|
2
|
Kinh phí Đoàn công
tác liên ngành của Việt Nam tham dự phiên đối
thoại và bảo vệ Báo cáo quốc gia lần thứ 9 về việc thực hiện Công ước của
Liên hợp quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ
(Công ước CEDAW)
|
1.600
|
Bộ Nội vụ
|
|
3
|
Kinh phí tổng kết Đề
án "Bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức lãnh đạo, quản
lý trẻ và cán bộ lãnh đạo, quản lý là nữ của chính quyền địa phương ở nước
ngoài giai đoạn 2023 - 2025" theo Quyết định số
1641/QĐ-TTg ngày 28 tháng 12 năm 2022 của Thủ
tướng Chính phủ
|
300
|
Bộ Nội vụ
|
|
4
|
Kinh phí bố trí cho Đề án “Hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp giai đoạn
2017 - 2025” theo Quyết định số 939/QĐ-TTg ngày 30 tháng 6 năm 2017 của Thủ
tướng Chính phủ:
|
5.000
|
Trung ương Hội LHPNVN
|
|
5
|
Kinh phí bố trí cho Đề
án “Hỗ trợ hợp tác xã do phụ nữ tham gia quản lý, tạo việc làm cho lao động nữ
đến năm 2030” theo Quyết định số 01/QĐ-TTg
ngày 03 tháng 01 năm 2023 của Thủ tướng Chính phủ
|
1.000
|
Trung ương Hội LHPNVN
|
|
6
|
Kinh phí bố trí thực
hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới năm 2025
|
2.500
|
Bộ Nội vụ
|
|
7
|
Kinh phí bố
trí thực hiện Chương trình truyền thông về bình đẳng giới năm 2025
|
300
|
Bộ Nội vụ
|
|
8
|
Kinh phí bố trí cho
Chương trình phòng ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới năm 2025
|
650
|
Bộ Nội vụ
|
|
9
|
Kinh phí hoạt động của
Văn phòng Ủy ban quốc gia vì sự phát triển của phụ nữ Việt Nam
|
1.000
|
Bộ Nội vụ
|
|
|
Cộng
|
14.350
|
|
PHỤ LỤC III
TỔNG HỢP KINH PHÍ THƯỜNG XUYÊN NSTW CHO CÁC BỘ, CƠ QUAN TRUNG
ƯƠNG VÀ ĐỊA PHƯƠNG THỰC HIỆN CÁC DỰ ÁN, NỘI DUNG THÀNH PHẦN CÓ NỘI DUNG BÌNH ĐẲNG
GIỚI TRONG CÁC CTMTQG
(Kèm theo Báo cáo số 137/BC-CP
ngày 31 tháng 3 năm 2026 của Chính phủ)
Đơn
vị tính: Triệu
đồng
|
STT
|
NỘI
DUNG
|
CÁC
BỘ, CƠ QUAN TRUNG ƯƠNG
|
ĐỊA
PHƯƠNG
|
CẢ
NƯỚC
|
|
|
|
Năm
2021
|
Năm
2022
|
Năm
2023
|
Năm
2024
|
Năm
2025
|
Năm
2021
|
Năm
2022
|
Năm
2023
|
Năm
2024
|
Năm
2025
|
Năm
2021
|
Năm
2022
|
Năm
2023
|
Năm
2024
|
Năm
2025
|
|
|
TỔNG
CỘNG 03 CTMTQC
|
500
|
205.721
|
672.580
|
658.042
|
241.052
|
23.030
|
1.516.078
|
5.364.040
|
7.151.725
|
585.435
|
23.530
|
1.721.799
|
6.036.620
|
7.809.766
|
826.487
|
|
A
|
(TMT
giảm nghèo bền vững giai đoạn
2021-2025
|
500
|
172.650
|
569.640
|
558.924
|
230.857
|
6.107
|
1.248.159
|
4.479.256
|
6.206.718
|
493.395
|
6.607
|
1.420.809
|
5.048.896
|
6.765.642
|
724.252
|
|
A1
|
Dự án 2 - (mã CTMT
00472) Đa dạng hóa sinh kế, phát triển mô hình giảm nghèo
|
|
73.300
|
260.435
|
210.702
|
52.528
|
4.373
|
641.833
|
2.269.792
|
3.260.328
|
219.686
|
4.373
|
715.133
|
2.530.227
|
3.471.030
|
272.214
|
|
|
Dự toán
giao trong năm phân bổ trên
TABMIS
|
|
73.300
|
220.650
|
44.400
|
|
4.373
|
637.520
|
1.799.926
|
2.267.027
|
13.047
|
4.373
|
710.820
|
2.020.576
|
2.311.427
|
13.047
|
|
|
Kinh phí
năm trước chuyển
sang
|
|
|
39.785
|
166.302
|
52.528
|
|
4.313
|
469.866
|
993.301
|
206.640
|
0
|
4.313
|
509.651
|
1.159.603
|
259.168
|
|
A2
|
Dự án
3 - (mã CTMT 00473) Hỗ trợ phát
triển sx
cải thiện dinh dưỡng
|
500
|
6.450
|
42.900
|
44.359
|
19.325
|
110
|
277.677
|
1.214.498
|
1.762.734
|
113.184
|
610
|
284.127
|
1.257.398
|
1.807.093
|
132.509
|
|
|
Dự toán
giao trong năm phân bổ trên
TABMIS
|
500
|
5.950
|
42.900
|
20.167
|
14.540
|
110
|
271.956
|
1.008.668
|
1.228.975
|
1.818
|
610
|
277.906
|
1.051.568
|
1.249
.142
|
16.358
|
|
|
Kinh phí
năm trước chuyển
sang
|
|
500
|
|
24.192
|
4.785
|
|
5.721
|
205.830
|
533.758
|
111.366
|
0
|
6.221
|
205.830
|
557.951
|
116.151
|
|
A3
|
Dự án
6 - (mã CTMT 00476) Truyền thông
và giảm nghèo về
thông tin
|
|
49.600
|
165.020
|
195.526
|
84.172
|
513
|
89.031
|
479.173
|
585.603
|
68.546
|
513
|
138.631
|
644.193
|
781.129
|
152.718
|
|
|
Dự toán
giao trong năm phân bổ trên
TABMIS
|
|
49.600
|
143.591
|
135.378
|
3.100
|
513
|
89.031
|
428.803
|
372.559
|
7.849
|
513
|
138.631
|
572.394
|
507.937
|
10.949
|
|
|
Kinh phí
năm trước chuyển
sang
|
|
|
21.429
|
60.148
|
81.072
|
|
|
50.370
|
213.045
|
60.697
|
0
|
0
|
71.799
|
273.193
|
141.768
|
|
A4
|
Dự án
7 - (mã CTMT
00477) Nâng cao năng
lực và giám sát đánh
giá chương trình
|
|
43.300
|
101.285
|
108.337
|
74.832
|
1.111
|
239.618
|
515.793
|
598.053
|
91.979
|
1.111
|
282.918
|
617.078
|
706.390
|
166.811
|
|
|
Dự toán
giao trong năm phân bổ trên
TABMIS
|
|
43.300
|
79.050
|
57
632
|
700
|
1.111
|
239.618
|
407.118
|
390.905
|
3.633
|
1.111
|
282.918
|
486.168
|
448.537
|
4.333
|
|
|
Kinh phí
năm trước chuyển
sang
|
|
|
22.235
|
50.705
|
74.132
|
|
|
108.676
|
207.148
|
88.346
|
0
|
0
|
130.910
|
257.853
|
162.478
|
|
B
|
CTMT
phát triển kinh tế-xã hội
vùng đồng bào DTTS & MN giai đoạn
2021-2030, giai đoạn 1: 2021-2025
|
|
4.500
|
23.900
|
15.661
|
10.195
|
16.923
|
72.792
|
168.444
|
227.459
|
32.577
|
16.923
|
77.292
|
192.344
|
243.120
|
42.772
|
|
B1
|
Nội
dung thành phần số 8 - (mã
CTMT 00498) Đẩy
mạnh và nâng cao chất
lượng các dịch vụ hành
chính công;.... tăng
cường giải pháp nhằm
đảm bảo
bình đẳng
giới và phòng chống bạo lực
trên cơ sở giới
|
|
4.500
|
23.900
|
15.661
|
10.195
|
16.923
|
72.792
|
168.444
|
227.459
|
32.577
|
16.923
|
77.292
|
192.344
|
243.120
|
42.772
|
|
|
Dự toán
giao trong năm phân bổ trên
TABMIS
|
|
4.500
|
21.900
|
7.925
|
|
16.923
|
64.792
|
132.995
|
170.612
|
1.423
|
16.923
|
69.292
|
154.895
|
178.537
|
1.423
|
|
|
Kinh phí
năm trước chuyển
sang
|
|
|
2.000
|
7.736
|
10.195
|
|
8.000
|
35.450
|
56.848
|
31.154
|
0
|
8.000
|
37.450
|
64.583
|
41.349
|
|
C
|
CTMTQG
Nông thôn mới
|
|
28.571
|
79.041
|
83.457
|
0
|
0
|
195.127
|
716.339
|
717.547
|
59.463
|
0
|
223.698
|
795.380
|
801.004
|
59.463
|
|
C1
|
Dự án 8
(mã CTMT
00518) Thực hiện bình
đẳng giới và giải
quyết những vấn đề cấp
thiết đối với phụ nữ và trẻ em
|
|
28.571
|
79.041
|
83.457
|
0
|
0
|
195.127
|
716.339
|
717.547
|
59.463
|
0
|
223.698
|
795.380
|
801.004
|
59.463
|
|
|
Dự toán
giao trong năm phân bổ trên
TABMIS
|
|
28.571
|
76.924
|
76.924
|
|
|
195.127
|
574.842
|
371.849
|
29
|
0
|
223.698
|
651.766
|
448.773
|
29
|
|
|
Kinh phí
năm trước chuyển
sang
|
|
|
2.117
|
6.533
|
|
|
|
141.497
|
345.698
|
59.434
|
0
|
0
|
143.614
|
352.231
|
59.434
|
(Ghi
chú: 1.
Số liệu tổng hợp là số
đã hạch toán
trên hệ thống
TABMIS
của Kho bạc Nhà nước 2. Dự toán giao
trong năm phân bổ
trên TABMIS bao gồm số giao đầu
năm sẽ
bổ sung trong năm, sẽ điều chỉnh
trong năm tính
đến hết ngày
31/12/2025)
PHỤ LỤC IV
DANH SÁCH CÁC CƠ QUAN GỬI BÁO CÁO KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC MỤC
TIÊU QUỐC GIA VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI NĂM 2025
(Kèm theo Báo cáo số 137/BC-CP
ngày 31 tháng
3 năm 2026 của Chính phủ)
|
STT
|
Tên
bộ/ ngành
|
Đã
gửi báo cáo
|
Chưa
gửi báo cáo
|
Ghi
chú
|
|
1
|
Bộ Quốc phòng
|
x
|
|
|
|
2
|
Bộ Công an
|
x
|
|
|
|
3
|
Bộ Ngoại giao
|
x
|
|
|
|
4
|
Bộ Tư pháp
|
x
|
|
|
|
5
|
Bộ Nội vụ
|
x
|
|
|
|
6
|
Bộ Tài chính
|
x
|
|
|
|
7
|
Bộ Công thương
|
x
|
|
|
|
8
|
Bộ Nông nghiệp và Môi
trường
|
x
|
|
|
|
9
|
Bộ Xây dựng
|
x
|
|
|
|
10
|
Bộ Giáo dục và Đào tạo
|
x
|
|
|
|
11
|
Bộ Y
tế
|
x
|
|
|
|
12
|
Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch
|
x
|
|
|
|
13
|
Bộ Khoa học và Công
nghệ
|
x
|
|
|
|
14
|
Bộ Dân tộc và Tôn
giáo
|
x
|
|
|
|
15
|
Văn phòng Chính phủ
|
x
|
|
|
|
16
|
Thanh tra Chính phủ
|
x
|
|
|
|
17
|
Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam
|
x
|
|
|
|
18
|
Đài Truyền hình Việt
Nam
|
x
|
|
|
|
19
|
Đài Tiếng nói Việt
Nam
|
x
|
|
|
|
20
|
Thông tấn xã Việt Nam
|
x
|
|
|
|
21
|
Viện Hàn lâm Khoa học
và Công nghệ Việt Nam
|
x
|
|
|
|
22
|
Viện Hàn lâm Khoa học
và Xã hội Việt Nam
|
x
|
|
|
|
23
|
Trung ương,
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
|
x
|
|
|
PHỤ LỤC V
DANH SÁCH ĐỊA PHƯƠNG BÁO CÁO KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU
QUỐC GIA VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI NĂM 2025
(Kèm theo Báo cáo số 137/BC-CP
ngày 31 tháng
3 năm 2026 của Chính phủ)
|
STT
|
Tên
tỉnh/ thành phố
|
Đã
gửi báo cáo
|
Chưa
gửi báo cáo
|
Ghi
chú
|
|
1
|
Lai Châu
|
x
|
|
|
|
2
|
Điện Biên
|
x
|
|
|
|
3
|
Sơn La
|
x
|
|
|
|
4
|
Cao Bằng
|
x
|
|
|
|
5
|
Lào Cai
|
x
|
|
|
|
6
|
Tuyên Quang
|
x
|
|
|
|
7
|
Lạng Sơn
|
x
|
|
|
|
8
|
Thái Nguyên
|
x
|
|
|
|
9
|
Phú Thọ
|
x
|
|
|
|
10
|
Hà Nội
|
x
|
|
|
|
11
|
Bắc Ninh
|
x
|
|
|
|
12
|
Hưng Yên
|
x
|
|
|
|
13
|
Quảng Ninh
|
x
|
|
|
|
14
|
Hải
Phòng
|
x
|
|
|
|
15
|
Ninh Bình
|
x
|
|
|
|
16
|
Thanh Hoá
|
x
|
|
|
|
17
|
Nghệ An
|
x
|
|
|
|
18
|
Hà Tĩnh
|
x
|
|
|
|
19
|
Quảng Trị
|
x
|
|
|
|
20
|
Thừa Thiên Huế
|
x
|
|
|
|
21
|
Đà Nẵng
|
x
|
|
|
|
22
|
Quảng Ngãi
|
x
|
|
|
|
23
|
Khánh Hoà
|
x
|
|
|
|
24
|
Gia
Lai
|
x
|
|
|
|
25
|
Đắk
Lắk
|
x
|
|
|
|
26
|
Hồ Chí Minh
|
x
|
|
|
|
27
|
Đồng Nai
|
x
|
|
|
|
28
|
Lâm Đồng
|
x
|
|
|
|
29
|
Tây Ninh
|
x
|
|
|
|
30
|
Vĩnh Long
|
x
|
|
|
|
31
|
Đồng Tháp
|
x
|
|
|
|
32
|
Cần Thơ
|
x
|
|
|
|
33
|
An Giang
|
x
|
|
|
|
34
|
Cà Mau
|
x
|
|
|