|
BỘ TÀI CHÍNH
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 611/BC-BTC
|
Hà Nội, ngày 02 tháng 8 năm 2026
|
BÁO CÁO
VỀ
TÌNH HÌNH PHÂN BỔ, GIẢI NGÂN VỐN ĐẦU TƯ CÔNG 7 THÁNG NĂM 2026; CÁC KHÓ KHĂN, VƯỚNG
MẮC ẢNH HƯỞNG ĐẾN TIẾN ĐỘ GIẢI NGÂN VỐN ĐẦU TƯ CÔNG NĂM 2026; GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY
GIẢI NGÂN VỐN ĐẦU TƯ CÔNG NĂM 2026
Kính gửi: Chính phủ
Thực hiện quy định về chế độ báo cáo tình hình giải
ngân tại Luật Đầu tư công và Nghị định số 85/2025/NĐ-CP ngày 08/4/2025 của Chính
phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đầu tư công (sửa đổi tại
Nghị định số 275/2025/NĐ-CP ngày 18/10/2025);
Căn cứ chương trình Phiên họp thường kỳ tháng 7 năm
2026 của Chính phủ, trên cơ sở báo cáo của các bộ, cơ quan trung ương, địa phương,
Bộ Tài chính báo cáo Chính phủ tình hình phân bổ, giải ngân vốn đầu tư công 7
tháng năm 2026; Các khó khăn, vướng mắc ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân vốn đầu
tư công năm 2026; Giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công năm 2026 như sau:
I. TÌNH HÌNH PHÂN BỐ, GIẢI NGÂN VỐN KẾ
HOẠCH ĐẦU TƯ CÔNG 7 THÁNG NĂM 2026
1. Kế hoạch đầu tư công nguồn ngân
sách nhà nước năm 2026
a) Số vốn đã được Quốc hội phân bổ và Thủ tướng Chính phủ đã giao
cho các bộ, cơ quan trung ương, địa phương là 1.014.234,2 tỷ đồng[1]; bao gồm:
vốn ngân sách trung ương (NSTW) là 364.007,6 tỷ đồng[2] (vốn
trong nước là 346.343,5 tỷ đồng và vốn nước ngoài là 17.664,1 tỷ đồng) và vốn ngân sách địa phương
(NSĐP) là 650.226,6 tỷ đồng[3].
Tổng số vốn còn lại chưa phân bổ (so với số vốn Quốc hội
giao) thuộc thẩm quyền của Chính phủ là 83.216,4 tỷ đồng, bao gồm:
(1) 44.810,55 tỷ đồng sẽ bố trí cho các dự án khởi
công mới sau khi đã đánh giá được hiệu quả đầu tư và được giao kế hoạch đầu tư
công trung hạn giai đoạn 2026 -
2030.
(2) 9.900 tỷ đồng dự kiến bố trí cho các nhiệm vụ, dự
án thuộc các Chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG)[4].
(3) 9.877,95 tỷ đồng dự kiến bố trí cho các nhiệm vụ,
dự án khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số theo tổng hợp của Bộ
Khoa học và Công nghệ.
(4) 18.627,9 tỷ đồng từ nguồn điều chỉnh giảm kế hoạch
vốn năm 2026 của các bộ, cơ quan trung ương, địa phương để đưa về số vốn chưa
phân bổ chi tiết thuộc thẩm quyền Chính phủ.
b) Kế hoạch vốn cân đối NSĐP năm 2026 các địa phương
giao tăng so với kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao (theo số liệu cập nhật đến thời
điểm báo cáo) là 14.709,6 tỷ đồng.
c) Kế hoạch vốn các năm trước được phép kéo dài tính đến
thời điểm báo cáo[5] là 137.661,1 tỷ đồng; trong
đó: NSTW là 87.862,1 tỷ đồng, NSĐP là 49.799 tỷ đồng.
Tổng hợp chung, tổng kế hoạch giao năm 2026
đến thời điểm báo cáo (gồm: kế
hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, kế hoạch vốn cân đối địa phương giao tăng, kế
hoạch các năm trước chuyển sang) là 1.166.604,9 tỷ đồng.
2. Tình hình phân bổ chi tiết kế hoạch
vốn năm 2026 cho các nhiệm vụ, dự án
- Đến hết tháng 7, các bộ, cơ quan trung ương và địa
phương đã phân bổ, giao kế hoạch đầu tư vốn năm 2026 chi tiết cho danh mục nhiệm
vụ, dự án là 1.006.583 tỷ đồng (bao gồm: vốn NSTW là 341.646,8 tỷ đồng,
vốn NSĐP là 664.936,2 tỷ đồng). Nếu không tính kế hoạch vốn cân đối NSĐP các địa
phương giao tăng (14.709,6 tỷ đồng), tổng số vốn đã phân bổ chi tiết là
991.873,4 tỷ đồng, đạt 97,8% kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ giao (bao
gồm 5% tiết kiệm NSĐP cho đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng).
- Số vốn chưa phân bổ chi tiết là 22.360,8 tỷ đồng vốn
NSTW (chiếm 2,3% kế hoạch vốn Thủ tướng
Chính phủ giao) của 08 bộ, cơ quan trung ương và 28 địa phương,
chủ yếu mới được giao bổ sung kế hoạch vốn từ đầu tháng 6, tháng 7 năm 2026 cần
thời gian hoàn thiện các thủ tục đầu tư (trong đó có: 13.883,7 tỷ đồng/15.100
tỷ đồng giao vốn thực hiện các CTMTQG[6]; 3.448,2 tỷ đồng bổ sung cho một
số bộ, địa phương từ nguồn điều chỉnh giảm kế hoạch vốn năm 2026 của các bộ, cơ
quan trung ương, địa phương[7]). Ngoài ra, một số đề xuất điều chỉnh
giảm kế hoạch vốn do không còn nhu cầu để điều chuyển cho bộ, cơ quan trung
ương và địa phương có nhu cầu sử dụng.
(Nguyên nhân chi tiết chưa phân bổ của các bộ, cơ quan
trung ương và địa phương tại Phụ lục II kèm theo)
3. Tình hình giải ngân kế hoạch đầu
tư công vốn NSNN năm 2026
a) Về giải ngân vốn kế hoạch năm trước kéo dài sang
năm 2026
Giải ngân từ đầu năm đến hết ngày 31/7/2026 là 41.011,9
tỷ đồng, đạt 29,8% kế hoạch kéo dài năm trước chuyển sang tính đến thời điểm
báo cáo (137.661,1 tỷ đồng).
b) Về giải ngân vốn kế hoạch năm 2026
- - Giải ngân từ đầu năm đến hết ngày 31/7/2026 là 425.312
tỷ đồng, đạt 41,9% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao; trong đó: vốn NSTW
là 117.554,1 tỷ đồng, đạt 32,3%, vốn NSĐP là 307.757,9 tỷ đồng, đạt 47,3%. So với cùng kỳ năm 2025[8],
kết quả giải ngân cao hơn 3,6% về tỷ lệ và 86.813,2 tỷ đồng về số
tuyệt đối. So với mức giải ngân đột
biến trong tháng 6, tốc độ giải ngân trong tháng 7 chậm hơn do cần tiếp tục
tích lũy khối lượng sau khi đã tập trung giải ngân cao trong cuối tháng 6.
Ngoài ra, tiến độ thi công các dự án tại một số địa bàn tạm thời bị gián đoạn
do diễn biến thời tiết không thuận lợi với các đợt mưa lớn kéo dài trên diện rộng,
song cơ bản vẫn duy trì ở mức ổn định so với diễn biến giải ngân những tháng đầu
năm[9].
Tỷ lệ giải ngân đến hết ngày 31/7/2026 của cả nước là 43,8%
kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao (972.074,7 tỷ đồng) nếu không tính
5% kế hoạch vốn đầu tư công NSĐP (tương đương 32.5113 tỷ đồng) thực hiện tiết
kiệm để dự kiến đầu tư cho đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng và số kế hoạch
vốn Thủ tướng Chính phủ mới giao bổ sung trong tháng (9.6483 tỷ đồng).
- Kết quả tính đến hết ngày 31/7/2026[10], so
với kế hoạch Thủ tướng Chính phủ
giao, có 09 bộ, cơ quan trung ương và 23 địa phương có tỷ lệ giải
ngân đạt trên bình quân chung cả nước (bao gồm: Ngân hàng Chính sách xã hội; Tổng
công ty đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam; Ngân hàng Phát triển Việt
Nam; Bộ Công Thương; Bộ Ngoại Giao; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Quốc phòng; Bộ
Công an; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Hà Tĩnh;
Thành phố Hà Nội; Điện Biên; Thái Nguyên; Tây Ninh; Bắc Ninh; Thành phố Đồng
Nai; Nghệ An; Lạng Sơn; Thành phố Đà Nẵng; Khánh Hòa; Quảng Ninh; Lào Cai;
Thành phố Hải Phòng; Tuyên Quang; Cà Mau; Thanh Hóa; Quảng Trị; Sơn La; Đồng
Tháp; Thành phố Hồ Chí Minh; Phú Thọ; Lai Châu).
Trong đó, một số bộ và địa phương đạt tỷ lệ giải ngân
tốt với khối lượng vốn lớn (lũy kế giải ngân 7 tháng trên 15 nghìn tỷ đồng)
như: Bộ Quốc phòng (26,5 nghìn tỷ đồng), Bộ Công an (22,7 nghìn tỷ
đồng), Thành phố Hà Nội (76,2 nghìn tỷ đồng), Thành phố Hồ Chí Minh (63,7 nghìn tỷ
đồng), Thành phố Hải Phòng (19 nghìn tỷ đồng), Tây Ninh (17 nghìn tỷ đồng),
Hưng Yên (16 nghìn tỷ đồng).
Còn 24 bộ, cơ quan trung ương và 11 địa
phương có tỷ lệ giải ngân dưới bình
quân chung cả nước (trong đó, 10 bộ, cơ quan trung ương có tỷ lệ giải ngân dưới
10% và chưa giải ngân (gồm: Liên minh Hợp tác
xã Việt Nam; Bộ Dân tộc và Tôn giáo; Kiểm toán Nhà nước; Bộ Khoa học và Công
nghệ; Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; Thông tấn xã Việt Nam; Ủy
ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh; Tòa án nhân dân tối cao; Đài Truyền hình Việt Nam)).
(Chi tiết tình hình phân bổ
và giải ngân kế hoạch đầu tư công vốn NSNN 7 tháng năm 2026 tại các Phụ lục kèm
theo)
II. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TRONG VIỆC THỰC
HIỆN KẾ HOẠCH ĐẦU TƯ CÔNG 7 THÁNG NĂM 2026
1. Công tác chỉ đạo điều hành kế hoạch
đầu tư công năm 2026 của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ được triển khai quyết
liệt, kịp thời, liên tục; tiếp tục xác định giải ngân đầu tư công là một trong
những nhiệm vụ chính trị trọng tâm, là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng
- Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các nhiệm
vụ, giải pháp điều hành về công tác giải ngân quyết liệt, đồng bộ thông qua: (1) Các Phiên họp Chính phủ thường kỳ;
Hội nghị toàn quốc đẩy mạnh phân bổ
và giải ngân; Phiên họp của Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện các Chương trình mục
tiêu quốc gia (tổ chức ngày 9/7/2026); (2) Ban hành các Nghị quyết, Công điện,
Chỉ thị[11] và nhiều văn bản chỉ đạo liên quan
khác về đôn đốc, đẩy mạnh tiến độ các dự án và giải ngân vốn đầu tư công. Bám
sát chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2026 và Hội
nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương, tại Nghị quyết số 180/NQ-CP ngày
6/7/2026 Chính phủ đã chỉ đạo các nhiệm vụ cụ thể giao các bộ, ngành, địa
phương để cụ thể hóa phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm theo tiến
độ từng tháng, quý, xác định rõ cơ
quan chủ trì, người chịu trách nhiệm và công khai kết quả thực hiện.
- Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
1129/QĐ-TTg ngày 24/6/2026 phê duyệt phương án chấm điểm các bộ, cơ quan trung
ương và địa phương về thực hiện giải ngân
kế hoạch đầu tư công; nhằm lượng hóa, so sánh những nỗ lực trong công tác chỉ đạo,
điều hành của từng bộ, địa phương đối với công tác giải ngân vốn đầu tư công. Kết
quả chấm điểm là một trong các tiêu chí để
đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công, nhận diện, cảnh báo công tác giải
ngân hằng tháng, quý; biểu dương các bộ, cơ quan trung ương và địa phương giải
ngân tốt và đôn đốc, nhắc nhở các bộ, cơ quan trung ương
và địa phương giải ngân chưa tốt; thông qua đó để thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư
công.
- Chính phủ tiếp tục hoàn thiện thể chế về đầu tư công
và đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đã ban hành Nghị định số
224/2026/NĐ-CP ngày 24/6/2026 quy định chi tiết
một số điều và biện pháp thi hành Luật Chuyển đổi số (có hiệu lực thi hành từ
ngày 01/7/2026), trong đó đã bổ sung nhiêu cơ chế mới góp phần hoàn thiện hành
lang pháp lý, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong
quá trình chuẩn bị đầu tư, triển khai các dự án chuyển đổi số, tạo điều kiện đẩy
nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân các dự án.
- Bên cạnh những tác động của tình hình xung đột kéo dài tại Trung
Đông đến giá năng lượng, nguyên vật liệu và chuỗi cung ứng toàn cầu, trong
tháng 7/2026, nhiều địa phương tiếp tục chịu ảnh hưởng của mưa lớn, lũ quét, sạt
lở đất, gây khó khăn cho công tác giải
phóng mặt bằng, tổ chức thi công và tiến độ thực hiện một số dự án đầu tư công.
Trước tình hình đó, Thủ tướng Chính phủ, các Phó thủ tướng Chính phủ đã tổ chức
nhiều đoàn công tác để kịp thời chỉ đạo các bộ, cơ quan trung ương và địa
phương chủ động theo dõi sát diễn biến tình hình, triển khai các giải pháp ổn định
kinh tế vĩ mô, bảo đảm nguồn cung nguyên, nhiên, vật liệu, đồng thời tập trung
tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu
tư công, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2026.
2. Các bộ, cơ quan trung ương
và địa phương đã chủ động xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện các nhiệm vụ
trọng tâm đã được Chính phủ giao, tăng cường quản lý, sử dụng hiệu quả vốn đầu
tư công theo quy định
Cơ bản thực hiện nghiêm các chế độ báo cáo hiện hành về
giải ngân đầu tư công định kỳ hằng tuần,
tháng, thường xuyên cập nhật tình hình thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn đầu
tư công, kịp thời tổng hợp các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện để
có giải pháp tháo gỡ, đẩy nhanh tiến độ giải ngân;
thành lập các Tổ công tác của đơn vị ngay từ
đầu năm để tháo gỡ khó khăn vướng mắc, thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công năm
2026; đôn đốc, yêu cầu chủ đầu tư triển khai quyết liệt các nhiệm vụ đảm bảo thực
hiện và giải ngân vốn đầu tư công năm 2026 ngay sau khi bố trí vốn cho các nhiệm vụ, dự án; đề cao trách nhiệm
người đứng đầu, phân công lãnh đạo đơn vị chỉ đạo xây dựng Kế hoạch giải ngân
chi tiết, tổ chức theo dõi tiến độ thực hiện dự án ngay từ đầu năm. Duy trì kỷ
luật, kỷ cương trong đầu tư công, hằng tuần, hằng tháng tổ chức đánh giá thực
trạng, xác định nguyên nhân khách quan, chủ quan, trách nhiệm của các cá nhân
có liên quan và người đứng đầu, rút ra bài học kinh nghiệm để triển khai kế hoạch
được tốt hơn.
3. Thực hiện phương hướng, chỉ
đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính đã và đang triển khai một
số các nhiệm vụ để nâng cao chất lượng phân bổ và giải ngân đầu tư công
- Chủ động thực hiện các biện pháp điều hành để đáp ứng
nhu cầu vốn theo kế hoạch năm 2026 cho các bộ, cơ quan trung ương và địa phương; đảm bảo ưu tiên nguồn vốn
cho các dự án hạ tầng chiến lược, liên vùng, có khả năng giải ngân lớn và tác động
lan tỏa mạnh. Tổng hợp nhu cầu điều chỉnh kế hoạch vốn của các bộ, cơ quan
trung ương và địa phương để báo cáo cấp có thẩm quyền phương án xử lý đối với kế
hoạch vốn chưa phân bổ chi tiết, điều chuyển
cho các bộ, cơ quan trung ương và địa phương có nhu cầu sử dụng.
- Ban hành văn Bản đôn đốc các cơ quan trung ương và địa phương khẩn trương nhập, phân
bổ và giải ngân kế hoạch vốn[12]; kiểm tra ngay phương án phân bổ chi
tiết, điều chỉnh kế hoạch vốn năm 2026 của các cơ quan trung ương và địa phương
để kịp thời phê duyệt dự toán cho các dự án đủ điều kiện; chủ động có ý kiến, đề
nghị điều chỉnh lại phương án phân bổ cho phù hợp đối với các dự án chưa đủ điều
kiện thực hiện hoặc có vướng mắc.
- Về triển khai phương án chấm điểm giải ngân kế hoạch
vốn đầu tư công:
Sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số
1129/QĐ-TTg ngày 24/6/2026, Bộ Tài chính đã tích cực nghiên cứu và hoàn thành xây
dựng hệ thống công nghệ thông tin phục vụ chấm
điểm giải ngân vốn đầu tư công; đồng thời có văn bản số 10950/BTC-PTHT ngày
24/7/2026 hướng dẫn cách thức chấm điểm để các bộ, cơ quan trung ương và địa
phương triển khai thực hiện.
Căn cứ kết quả giải ngân tháng 7/2026, Bộ Tài chính sẽ
chạy thử phương án chấm điểm của kỳ tháng 7, gửi các bộ, cơ quan trung ương và
địa phương kết quả chấm điểm để phối hợp rà soát và tiếp tục hoàn thiện hệ thống,
kịp thời xử lý khó khăn, vướng mắc trong quá trình
sử dụng hệ thống hoặc báo cáo cấp thẩm quyền
trong trường hợp vượt thẩm quyền. Kết quả chấm
điểm thử của kỳ báo cáo tháng 7 và tháng 8 sẽ được Bộ Tài chính tổng hợp, báo
cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong kỳ họp Chính phủ tháng 8.
- Thực hiện việc công khai tình hình giải ngân vốn đầu
tư công của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương hằng tuần, hằng tháng trên
Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính,
Cổng Thông tin điện tử Chính phủ và một số các phương tiện thông tin đại chúng
(như Thời báo Tài chính, Báo điện tử Chính phủ). Việc công khai kết quả giải
ngân là cơ sở để các cơ quan trung ương và địa phương thường xuyên nắm bắt được
tiến độ giải ngân chung của cả nước, các đơn vị giải ngân tốt, các đơn vị giải
ngân chưa tốt, từ đó để triển khai các giải pháp đôn đốc, chỉ đạo, điều hành.
- Chỉ đạo Kho bạc Nhà nước thực hiện giải ngân ngay sau khi có đủ điều kiện để bảo đảm
tiến độ thực hiện dự án; đảm bảo phân cấp, phân quyền triệt để đến chủ đầu tư
trong đề xuất giải ngân vốn theo đúng quy định tại Nghị định số 254/2025/NĐ-CP
ngày 26/9/2025 của Chính phủ về quản lý, thanh toán, quyết toán dự án sử dụng vốn
đầu tư công.
III. CÁC KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC ẢNH HƯỞNG
ĐẾN TIẾN ĐỘ GIẢI NGÂN VỐN ĐẦU TƯ CÔNG TRONG NĂM 2026
Trên cơ sở báo cáo của các bộ, cơ quan trung ương và địa
phương, Bộ Tài chính tổng hợp các khó khăn, vướng mắc chính còn tồn tại ảnh hưởng
đến tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công trong 7 tháng đầu năm 2026, cụ thể như sau:
1. Về tình hình nguồn cung và biến động giá nguyên vật
liệu[13]
- Đối với các vật liệu xây dựng chủ yếu (như xi măng,
gạch ốp lát, vật liệu xây,...) năng lực sản xuất trong nước cơ bản đáp ứng nhu
cầu thị trường; một số lĩnh vực còn dư địa công suất khá lớn.
Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng khan hiếm một số loại vật liệu xây dựng chủ yếu như
đất đắp, cát, đá..., trong khi nhu cầu thi công tăng cao do đồng loạt triển
khai nhiều dự án nên ảnh hưởng lớn đến tính chủ động trong tổ chức thực hiện và
đẩy nhanh tiến độ thi công của các nhà thầu xây lắp.
- Giá cả nhiều loại nguyên vật liệu xây dựng, giá xăng
dầu trong nước tăng mạnh, trong nhiều trường hợp chủ đầu tư phải thực hiện điều
chỉnh, đàm phán lại hợp đồng, làm phát sinh thêm
thủ tục, kéo dài thời gian và ảnh hưởng đến tiến độ chung. Bên cạnh đó, còn ảnh
hưởng đến tâm lý và năng lực tài chính của nhà thầu khi chi phí đầu vào tăng
cao nhưng giá trị hợp đồng không được điều chỉnh kịp thời, một số thi công cầm
chừng do càng làm càng lỗ, kéo dài tiến độ để chờ giá vật liệu giảm.
2. Về công tác giải phóng mặt bằng (GPMB)[14]
Khó khăn trong công tác GPMB vẫn nút thắt trong việc triển khai các dự án tại một
số địa phương, chủ yếu liên quan đến:
(i) Một số dự án gặp khó khăn do điều chỉnh quy hoạch,
phát sinh bổ sung diện tích giải phóng mặt bằng, phải di dời đường dây điện
trung thế 35kV; vướng mắc về quy hoạch cục bộ tỷ lệ 1/2000 (bản đồ quy hoạch
chung, quy hoạch phân khu chưa được phê duyệt), dẫn đến chưa đủ cơ sở pháp lý để
triển khai các bước chuẩn bị đầu tư; vướng mắc do một số hộ dân chưa đồng thuận
bàn giao mặt bằng; công tác bố trí tái định
cư còn chậm, một số khu tái định cư chưa hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng
xã hội cần thiết nên các hộ dân chưa đồng ý di dời, ảnh hưởng đến tiến độ bàn
giao mặt bằng sạch cho dự án; dự án chưa được địa phương giao đất để đầu tư;
(ii) Một số địa phương chưa hoàn thiện việc xác định
giá đất cụ thể tính tiền bồi thường nên chưa thể hoàn tất thủ tục bồi thường giải
phóng mặt bằng, ảnh hưởng lớn đến tiến độ thực hiện công trình.
3. Về điều kiện thời tiết[15]: Trong tháng 7/2026, điều kiện
thời tiết tại nhiều địa phương không thuận lợi đã ảnh hưởng đến tiến độ triển
khai một số dự án đầu tư công. Tại một số địa phương thuộc khu vực miền núi
phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên, các đợt mưa lớn kéo dài làm gián đoạn thi
công, nước lũ dâng cao gây ngập và sạt lở khiến giao thông bị chia cắt, hạn chế
khả năng huy động nhân lực, máy móc, vận chuyển vật liệu, đồng thời làm chậm
công tác nghiệm thu khối lượng hoàn thành
và thanh toán vốn.
4. Về công tác cán bộ, nguồn nhân lực[16]
- Nhu cầu nhân công tăng lên theo số lượng và quy mô
công trình dự án đầu tư công hiện nay, dẫn tới tình trạng thiếu hụt cục bộ và cạnh
tranh lao động tại một số ngành lĩnh vực, địa bàn, nhất là nhân công xây dựng
trực tiếp thi công hiện trường; chi phí thuê nhân công tăng; mất cân bằng giữa
nhân công khu vực công với khu vực tư nhân do mức lương chi trả tại khu vực tư
thường cao hơn.
- Một số xã, phường, nhất là địa bàn miền núi, biên giới
vẫn còn tình trạng thiếu cán bộ phụ
trách đầu tư công do đã chuyển công tác hoặc nghỉ theo chủ trương tinh giản biên
chế, cán bộ phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ.
- Một số ban quản lý dự án, chủ đầu tư và nhà thầu
chưa chủ động, thiếu quyết liệt trong tổ chức thi công, năng lực hạn chế.
5. Về công tác xây dựng, phân bổ kế hoạch và triển
khai các thủ tục đầu tư dự án (bao gồm cả các dự án ODA)[17]
- Việc lập kế hoạch của một số bộ ngành, địa phương
chưa sát với nhu cầu và khả năng thực hiện, cùng với chất lượng chuẩn bị đầu tư
các dự án chưa tốt, dẫn tới phải điều chỉnh kế hoạch vốn giữa các dự án nhiều lần
hoặc đề xuất hoàn trả kế hoạch vốn, làm chậm tiến độ triển khai và giải ngân vốn.
- Đối với các dự án khởi công mới, những tháng đầu năm
tập trung lập, thẩm
định, phê duyệt
hồ sơ, tổ chức lựa chọn nhà thầu nên nguồn vốn này giải ngân chậm; đồng thời, một
số địa phương chậm hoàn thiện các thủ tục đầu tư liên quan, còn lúng túng trong
việc phân bổ vốn, hoàn thiện thủ tục đầu tư trong năm đầu của kỳ trung hạn
2026-2030. Một số dự án lớn, có kế hoạch vốn 2026 nhiều, lại gặp khó khăn trong
quá trình thực hiện vì dự án có nhiều vướng mắc, phức tạp, khó, cần phải có sự
tham vấn từ trung ương, các cấp, các ngành của tỉnh nên mất nhiều thời gian, vốn
chưa thể giải ngân ngay.
- Đối với dự án ODA:
(i) Thời gian giải ngân từ khi Nhà tài trợ nhận được hồ sơ kéo dài ảnh hưởng đến
dòng tiền về nhà thầu; (ii) Dự án sử dụng vốn World Bank quy trình giải ngân, hạch
toán, quyết toán phức tạp, phải làm việc đồng thời với Kho bạc Nhà nước, Bộ Tài
chính và Ngân hàng Thế giới (IDA); công tác lựa chọn nhà thầu phải tuân thủ Quy
chế đấu thầu của WB và xin cấp thư không phản
đối nên kéo dài thời gian thực hiện; (iii) Quy định hiện hành yêu cầu dự án sử
dụng vốn vay ODA phải có tài sản đảm bảo, đơn vị sự nghiệp công lập gặp khó
khăn trong việc bố trí tài sản đảm bảo cho khoản vay, ảnh hưởng đến tiến độ đàm
phán, ký kết Hiệp định vay; (iv) Biến động tỷ giá USD/VND ảnh hưởng gián tiếp đến
tiến độ giải ngân do phát sinh chi phí điều chỉnh hợp đồng.
6. Về các dự án khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, Chuyển
đổi số[18]
Dự án ngành khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển
đổi số có tính chất đặc thù, sử dụng công nghệ tiên tiến mà trong nước chưa làm chủ được công nghệ
(ví dụ như dự án Trung tâm Nghiên cứu khoa học và Công nghệ hạt nhân) nên chưa chủ
động được về tiến độ, dẫn đến việc triển khai một số nội dung còn chậm. Bên cạnh
đó, việc nghiên cứu, lựa chọn giải pháp công nghệ, đồng bộ các tiêu chuẩn, quy
chuẩn quốc tế với hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn của Việt Nam và hoàn thiện báo
báo nghiên cứu khả thi của dự án cần nhiều thời
gian để đề xuất giải pháp công nghệ
phù hợp nhất, đảm bảo dự án đầu tư có hiệu quả, tránh lãng phí nguồn lực NSNN.
IV. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN, GIẢI NGÂN
CÁC DỰ ÁN QUAN TRỌNG QUỐC GIA, TRỌNG ĐIỂM NGÀNH GIAO THÔNG VẬN TẢI; CÁC CÔNG
TRÌNH, DỰ ÁN QUAN TRỌNG QUỐC GIA LĨNH VỰC ĐƯỜNG SẮT.
1. Tình hình phân bổ và giải ngân
- Tổng kế hoạch vốn NSNN năm 2026 được Bộ Xây dựng và
các địa phương phân bổ chi tiết cho các dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm
ngành giao thông Vận tải; các công trình trọng điểm, dự án quan trọng quốc gia lĩnh
vực đường sắt (gọi tắt là các dự án giao thông trọng điểm) là 244.9573 tỷ
đồng, trong đó vốn NSTW là 195.356,7 tỷ đồng và vốn NSĐP là 49.665,8 tỷ đồng, số vốn NSTW còn lại chưa phân bổ chi tiết
là 913,375 tỷ đồng do chưa hoàn thiện thủ tục đầu tư theo quy định (dự án Cao tốc
Bắc Kạn - Cao Bằng).
- Giải ngân các dự án giao thông trọng điểm đến hết
ngày 31/7/2026 là 77.069,1 tỷ đồng, đạt 31,5% kế hoạch đã phân bổ,
trong đó NSTW là 52.685,5 tỷ đồng, đạt 27,0% kế hoạch đã phân bổ và NSĐP là
24.631,3 tỷ đồng, đạt 49,6% kế hoạch đã phân bổ.
Riêng đối với 02 dự án quan trọng quốc gia thuộc lĩnh
vực đường sắt được giao kế hoạch vốn lớn (khoảng 92 nghìn tỷ đồng, chiếm 76,3%
kế hoạch vốn năm 2026 của Bộ Xây dựng), việc giải ngân 02 dự án này tác động
quan trọng đến tỷ lệ giải ngân của Bộ Xây dựng và giải ngân các dự án trọng điểm
quốc gia song tiến độ giải ngân chậm. Cụ thể: Dự án đường sắt tốc độ cao trên
trục Bắc - Nam (gọi tắt là dự án đường sắt tốc độ cao) giải ngân khoảng
1.068,8 tỷ đồng, đạt 2,3% kế hoạch của dự án (56.846,1 tỷ đồng); Dự án đầu tư
xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng (gọi tắt là dự án Lào
Cai - Hà Nội - Hải Phòng) đã giải ngân 1.353,4 tỷ đồng, đạt
3,8% kế hoạch của dự án (35.825,4 tỷ đồng).
Nếu không tính kế hoạch vốn và giải ngân của 02 dự án
đường sắt thì kết quả ước giải ngân của các dự án giao thông trọng điểm đạt khoảng
48,9% kế hoạch, cao hơn bình quân chung của cả nước (41,9%). Tuy nhiên, vẫn còn nhiều dự án giải ngân rất thấp (22
dự án, dự án thành phần có tỷ lệ giải ngân dưới 5% kế hoạch (trong đó, có 13 dự
án/dự án thành phần chưa giải ngân kế hoạch vốn)).
2. Khó khăn, vướng mắc ảnh hưởng tiến độ giải ngân
- Dự án cao tốc Cao Bằng - Bắc Kạn chưa hoàn thành phê
duyệt đầu tư dự án nên chưa giao được kế hoạch vốn để khởi công dự án.
- Do công tác GPMB tại một số dự án còn chậm, nguồn vật
liệu gặp nhiều khó khăn cũng như biến động tăng giá
nhiên liệu trong tháng 2, tháng 3/2026 làm tăng chi phí sản xuất đã ảnh hưởng đến
công tác huy động nguồn lực và tổ chức thi công của các nhà thầu, dẫn đến tiến
độ thực hiện một số gói thầu chưa đáp ứng yêu cầu đề ra.
+ Các dự án (có kế hoạch hoàn thành trong năm 2025) đã
thông xe kỹ thuật dịp 19/12/2025 (Tuyên Quang - Hà Giang, DATP 3, 5 Vành đai 3
Thành phố Hồ Chí Minh) và các dự án có kế hoạch hoàn thành năm 2026 theo chỉ đạo
của Thủ tướng Chính phủ (Hữu Nghị - Chi Lăng,
Đồng Đăng - Trà Lĩnh, DATP 2, 3, 4 Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng, Cao Lãnh - An Hữu), hiện nay khối lượng còn
lại lớn nhưng tiến độ thi công còn chậm, trong khi thời tiết đã vào mùa mưa; cần
quyết liệt chỉ đạo các nhà thầu tăng cường máy móc thiết bị, bổ sung mũi thi
công, tăng ca thi công cũng như chủ động
về nguồn vật liệu,... mới có thể hoàn thành theo kế hoạch.
+ Một số dự án khởi công trong năm 2025, công tác triển
khai thi công còn chậm như: DATP 1, 3 Quy Nhơn - Pleiku, Tân Phú - Bảo Lộc, Bảo
Lộc - Liên Khương, Dầu Giây - Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh
- Mộc Bài, Thành phố Hồ Chí Minh - Long Thành, DATP3 Vành đai 4 vùng Thủ đô Hà
Nội, Thành phố Hồ Chí Minh - Thủ Dầu Một - Chơn Thành, Gia Nghĩa - Chơn Thành,
Ninh Bình - Hải Phòng (triển khai theo phương thức PPP), Chợ Mới - Bắc Kạn.
- Đối với 02 dự án đường sắt: Trên cơ sở nhu cầu vốn
và khả năng giải ngân thực tế, Bộ Xây dựng đề nghị giảm 72.092 tỷ đồng kế
hoạch vốn năm 2026 của Bộ Xây dựng (bao gồm: 63.217 tỷ đồng điều chỉnh
giảm do chưa có nhu cầu sử dụng và không có khả năng giải ngân của 02 dự án đường
sắt[19] và điều chuyển 8.875 tỷ đồng
cho 12 địa phương để thực hiện các dự án độc lập bồi thường, hỗ trợ tái định cư
của dự án đường sắt tốc độ cao), làm giảm quy mô vốn đầu tư công đưa vào nền
kinh tế, qua đó ảnh hưởng tới mục tiêu giải ngân đầu tư công và mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2026 nếu
không có các giải pháp điều chuyển, bổ sung kịp thời sang các dự án có khả năng
giải ngân cao.
V. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN, GIẢI NGÂN CÁC
DỰ ÁN PHỤC VỤ HỘI NGHỊ APEC 2027
Tổng số dự án triển khai thực hiện phục vụ Hội nghị
APEC 2027 tại đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang theo Quyết định số 948/QĐ-TTg
ngày 17/5/2025 của Thủ tướng Chính phủ là 21 dự án, trong đó 10 dự án có sử dụng
vốn đầu tư công (gồm 09 dự án có hỗ trợ vốn ngân sách trung ương (NSTW); 01 dự
án sử dụng vốn ngân sách địa phương (NSĐP)) và 11 dự án thực hiện theo phương
thức đối tác công tư và đầu tư kinh doanh. Tình hình triển khai thực hiện các dự
án như sau:
1. Đối với 9 dự án đầu tư công có hỗ trợ vốn NSTW:
Theo báo cáo của tỉnh An Giang[20], nhu
cầu vốn NSTW cho 09 dự án khoảng 11.050 tỷ đồng, đến nay NSTW đã bố trí 11.045,996
tỷ đồng (đạt tỷ lệ 99,9%), trong đó kế hoạch 2025[21] bố
trí 2.751 tỷ đồng, kế hoạch 2026[22] bố trí 8.294,996 tỷ đồng.
Lũy kế giải ngân nguồn vốn NSTW đến ngày 27/7/2026 từ 4.956,98/ 11.045,996 tỷ đồng đạt tỷ
lệ 44,88%.
2. Đối với nhóm các dự án tái định cư trên địa bàn thành phố Phú
Quốc tại Mục I.2 Phụ lục ban hành kèm theo
Quyết định số 948/QĐ-TTg: gồm 04 dự án thành phần: (1) Khu tái định cư An Thới; (2) Khu tái định cư Hồ Cửa Cạn:
(3) Khu tái định cư Hồ Suối lớn; (4) Khu tái định cư Hàm Ninh.
Vốn ngân sách địa phương bố trí cho các dự án đến hết
kế hoạch năm 2026 là 3.354,44 tỷ đồng, lũy kế giải ngân đến hết ngày 27/7/2026
là 2.320,53 tỷ đồng, đạt 69,18% kế hoạch.
3. Đối với 11 dự án đầu tư theo phương thức đối tác
công tư (PPP) và đầu tư kinh doanh: UBND tỉnh An Giang đã hoàn thành lựa chọn nhà đầu tư
thực hiện 11/11 dự án; đã hoàn thành trình tự, thủ tục theo quy định của Luật
PPP, Luật Đầu tư và các văn bản hướng dẫn, hiện đang triển khai thực hiện theo
tiến độ.
4. Nhận xét, đánh giá:
Với sự quan tâm, chỉ đạo của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước;
sự xem xét, tháo gỡ về cơ chế, chính sách của Quốc hội; sự chỉ đạo quyết liệt,
thường xuyên kiểm tra, đôn đốc của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Phó Thủ
tướng Chính phủ; cùng sự phối hợp tích cực của các bộ, ngành Trung ương, nhiều
khó khăn, vướng mắc trong quá trình chuẩn bị phục vụ Hội nghị cấp cao APEC 2027
tại đặc khu Phú Quốc đã được kịp thời định hướng, xử lý.
21 dự án thuộc Quyết định số 948/QĐ-TTg, gồm 10 dự án
đầu tư công và 11 dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư, đầu tư kinh
doanh, các thủ tục lựa chọn chủ đầu tư, nhà đầu tư, nhà thầu đã được triển khai
theo từng hình thức đầu tư; các dự án đang được tổ chức thực hiện, nhiều công
trình, hạng mục đã thi công trên thực địa và có chuyển biến tích cực. Tuy
nhiên, tiến độ giữa các dự án chưa đồng đều; một số dự án chưa triển khai xây lắp
hoặc có khối lượng thực hiện còn thấp, nhất là các dự án xử lý rác, chất thải rắn,
nước thải, một số hạng mục ngầm hóa hạ tầng kỹ thuật và khu tái định cư. Tỉnh
An Giang đang tập trung kiểm soát đường găng, yêu cầu các chủ đầu tư, nhà đầu
tư, nhà thầu huy động đầy đủ vốn, nhân lực, thiết bị, vật liệu và mặt bằng; tổ
chức bù tiến độ, đồng thời bảo đảm đủ thời gian vận hành thử nghiệm, kiểm tra công suất, độ ổn định, an toàn
và tính đồng bộ của công trình trước khi nghiệm thu, đưa vào khai thác.
Để tháo gỡ các khó khăn cho các dự án phục vụ Hội nghị
APEC 2027, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã hoàn thiện hồ sơ trình Chính phủ về
dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về cơ chế tháo gỡ vướng mắc trong công tác giải
phóng mặt bằng các dự án. Ngoài ra, Chính phủ cũng đã trình Quốc hội dự thảo
Nghị quyết của Quốc hội quy định cơ chế, chính sách đặc thù tháo gỡ khó khăn, vướng
mắc trong việc thực hiện các dự án, công trình phục vụ Hội nghị cấp cao APEC
2027 tại Đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang[23].
VI. KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY
GIẢI NGÂN VỐN ĐẦU TƯ CÔNG 7 THÁNG CUỐI NĂM 2026
Để phấn đấu giải ngân 100% kế
hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế “2 con số”
theo Nghị quyết, Kết luận của Đảng, Quốc hội và Chính phủ, các bộ, cơ quan
trung ương và địa phương cần nghiêm túc rút kinh nghiệm, khắc phục các tồn tại,
hạn chế đã được nhận diện trong quá trình thực hiện các dự án, áp dụng bài học
kinh nghiệm của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương giải ngân tốt trong 6
tháng đầu năm; bám sát chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tại Phiên họp Chính
phủ thường kỳ tháng 6/2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương, tập
trung triển khai các nhiệm vụ, giải pháp đã được Chính phủ chỉ đạo tại Nghị quyết
số 180/NQ-CP ngày 6/7/2026 của Chính phủ, một số các nhiệm vụ cụ thể cần tiếp tục
khẩn trương thực hiện như sau:
(1) Về công tác quản lý nguyên vật liệu:
- Các địa phương có mỏ vật liệu xây dựng tiếp tục rà
soát, nâng công suất khai thác các mỏ đang hoạt động, chủ động tháo gỡ các vướng mắc về thủ tục, đẩy
nhanh thủ tục cấp phép các mỏ mới và thủ tục gia hạn các mỏ còn trữ lượng nhưng
hết thời hạn khai thác; ưu tiên nguồn vật liệu cho các dự án trọng điểm quốc
gia, đặc biệt là các dự án khu vực phía Nam.
- Bộ Xây dựng: (i) chủ động đôn đốc, phối hợp với địa
phương theo dõi sát diễn biến thị trường vật liệu xây dựng, tăng cường công tác
quản lý, kiểm tra, giám sát, chấn chỉnh ngay việc chấp hành pháp luật về giá vật
liệu xây dựng và chỉ số giá xây dựng, kịp thời có giải pháp bình ổn thị trường,
bảo đảm nguồn cung vật liệu phục vụ thi công; (ii) tiếp tục nghiên cứu cơ chế điều
phối liên vùng trong việc cung cấp vật liệu xây dựng, các giải pháp sử dụng vật
liệu thay thế vật liệu truyền thống, nhằm giảm áp lực lên các tài nguyên thiếu
hụt, vừa tạo thêm nguồn cung cho các dự án ở những vùng thiếu vật liệu tại chỗ,
đặc biệt là các dự án trọng điểm.
- Triển khai đầy đủ quy định của pháp luật về xây dựng
(như quy định về hợp đồng, quản lý chi phí xây dựng tại Luật Xây dựng và các
Nghị định hướng dẫn chi tiết; quy định về phương pháp xác định giá vật liệu xây
dựng, giá nhân công,...). Chủ đầu tư chủ động làm việc với nhà thầu để phân
tích, đánh giá tác động của biến động giá nhiên liệu, vật liệu xây dựng đối với
từng hợp đồng; thực hiện điều chỉnh hợp đồng theo đúng quy định của pháp luật;
bảo đảm hiệu quả đầu tư của dự án, tránh thất thoát, lãng phí, đồng thời hài
hòa lợi ích và chia sẻ rủi ro giữa các bên tham gia hợp đồng, không để việc biến
động giá ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án.
(2) Về công tác GPMB:
- Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tháo gỡ nút thắt trong
công tác GPMB, đảm bảo mặt bằng sạch khi triển khai thi công dự án, không được
để tình trạng dự án chờ mặt bằng; Chỉ đạo các tổ chức chính trị xã hội tăng cường
tham gia tuyên truyền vận động nhân dân trong công tác bồi thường, GPMB.
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường khẩn trương hoàn thiện
các thủ tục trình Chính phủ để trình Quốc hội sửa đổi Luật Đất đai trong năm
2026; trong thời gian chưa sửa đổi Luật Đất đai, trường hợp có nội dung vướng mắc
cần xử lý, tháo gỡ ngay thì chủ động báo cáo đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét,
quyết định.
(3) Về các dự án giao thông trọng điểm:
- Bộ Xây dựng và các địa phương nghiêm túc thực hiện
theo các nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra tại Thông báo số 343/TB-VPCP ngày
01/7/2026 của Văn phòng Chính phủ[24] và Công điện số 25/CĐ-TTg ngày
21/3/2026 của Thủ tướng Chính phủ[25]; đẩy nhanh tiến độ, tăng sản lượng
thực hiện và giải ngân trong quý III/2026 với mục tiêu đạt tỷ lệ giải ngân các
công trình, dự án trọng điểm phải cao hơn mức trung bình cả nước; công khai các
dự án, công trình chậm tiến độ.
- Đối với 02 dự án đường sắt: Bộ Xây dựng khẩn trương
bàn giao mốc giới cho các địa phương để thực hiện công tác GPMB; tích cực kiểm tra,
đôn đốc quyết liệt các địa phương liên quan trong việc triển khai công tác
GPMB; kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc.
Trên cơ sở đề xuất điều chỉnh giảm kế hoạch vốn 2026 của Bộ Xây dựng và nhu cầu
bổ sung vốn các bộ, cơ quan trung ương và địa phương khác, Bộ Tài chính đang tổng
hợp, rà soát, cân đối để báo cáo đề xuất cấp có thẩm quyền việc điều chuyển kế
hoạch vốn năm 2026.
(4) Về tổ chức thực hiện dự án:
- Đối với kế hoạch vốn năm 2026 mới được Thủ tướng
Chính phủ giao bổ sung, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương khẩn trương
hoàn thiện các thủ tục đầu tư, đảm bảo điều kiện phân bổ chi tiết cho các nhiệm
vụ, dự án. Triển khai ngay việc nhập dữ liệu phân bổ hoặc điều chỉnh kế hoạch vốn
(nếu có) trên Hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu quốc gia về đầu tư công theo
đúng quy định pháp luật về đầu tư công.
- Các bộ, cơ quan trung ương và địa phương, cơ quan cấp
trên của chủ đầu tư và chủ đầu tư tăng cường
kiểm tra hiện trường, đôn đốc nhà thầu huy động đầy đủ nhân lực, máy móc, thiết
bị; chủ động điều chỉnh kế hoạch thi công để ứng phó với diễn biến thời tiết phức
tạp, tổ chức thi công bù ngay khi điều kiện thời tiết thuận lợi nhằm đảm bảo tiến
độ thi công.
- Chủ động rà soát tiến độ thực hiện từng dự án; kịp
thời điều chỉnh kế hoạch vốn từ các dự án chậm triển khai, không có khả năng giải
ngân sang các dự án có nhu cầu và khả năng giải ngân tốt hơn; rà soát từng dự
án chậm giải ngân để xác định rõ nguyên nhân, phân định rõ thẩm quyền để đôn đốc,
xử lý theo quy định.
- Đối với các dự án trọng điểm quốc gia, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương tập
trung thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ; công khai tiến độ thực hiện các dự án chậm tiến độ để kịp thời có giải
pháp xử lý.
- Tiếp tục thực hiện nghiêm Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày
23/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý và sử dụng vốn đầu tư công gắn với
hạch toán kinh tế - xã hội, đánh giá hiệu quả đầu tư và đẩy nhanh tiến độ xây dựng
kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030; rà soát các dự án đã chuẩn
bị đầu tư trong giai đoạn 2021-2025
nhưng chưa khởi công để kiên quyết loại
bỏ các dự án kém hiệu quả, không còn cần
thiết, cấp bách hoặc không còn khả thi.
- Đối với các dự án phục vụ Hội nghị APEC: Sau khi các
cơ chế, chính sách để tháo gỡ khó khăn cho các dự án được Quốc hội, Chính phủ
ban hành, đề nghị UBND tỉnh An Giang: (i) Đẩy nhanh tiến độ giải ngân số vốn
NSTW đã được phân bổ năm 2026 và nguồn vốn NSTW kéo dài của kế hoạch năm 2025
sang năm 2026. (ii) Hoàn thiện nội dung đề xuất điều chỉnh Quyết định số
948/QĐ-TTg ngày 17/5/2025, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
(5) Về công tác nghiệm thu, thanh toán:
- Triển khai thực hiện theo Nghị định số
254/2025/NĐ-CP ngày 26/9/2025 của Chính phủ, phát huy tối đa những quy định mới
về phân cấp, phân quyền, rút gọn thủ tục, đơn giản hồ sơ thanh toán để giải
ngân vốn đầu tư công đúng quy định; lập hồ sơ thanh toán ngay đối với khối lượng
hoàn thành đã được nghiệm thu, tránh dồn vào thời điểm cuối tháng và những
tháng cuối năm. Trong đó, lưu ý đẩy
nhanh tiến độ giải ngân các dự án đã được cấp thẩm quyền cho phép kéo dài thời
gian thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn năm 2025 sang năm 2026 để đảm bảo sử dụng
hiệu quả nguồn vốn.
- Đối với số vốn đã đủ điều kiện phân bổ chi tiết, khẩn
trương thực hiện nhập dự toán trên hệ thống TABMIS theo thời hạn theo quy định tại Điều
9, Chương II Thông tư số 132/TT-BTC ngày 24/12/2025 của Bộ Tài chính về hướng
dẫn tổ chức, vận hành, khai thác hệ thống thông quản lý ngân sách và kho bạc
(TABMIS), đảm bảo dự toán để giải ngân cho dự án.
(6) Về chấp hành chế độ báo cáo:
- Nghiêm túc chấp hành chế độ báo cáo tình hình thực hiện, giải ngân vốn đầu tư
công năm 2026 theo Thông tư số 37/2025/TT-BTC ngày 12/6/2025 của Bộ Tài chính;
trong đó, lưu ý nội dung báo cáo phải phản ánh cụ thể, đầy đủ về các khó khăn,
vướng mắc còn tồn tại làm ảnh hưởng đến giải ngân vốn đầu tư công các dự án,
nguyên nhân và đề xuất giải pháp khắc phục (đặc biệt là bộ, cơ quan trung ương
và địa phương có tỷ lệ giải ngân thấp hoặc đến nay chưa giải ngân). Đồng thời, phối
hợp chặt chẽ với Kho bạc Nhà nước khu vực để cập nhật kịp thời số liệu giải
ngân theo các chế độ báo cáo hiện hành (bao gồm giải ngân thực tế hàng tuần, ước
giải ngân và giải ngân thực tế hằng tháng), đảm bảo chính xác, chịu trách nhiệm
toàn diện về số liệu giải ngân báo cáo Bộ Tài chính; tránh trường hợp ước tính
lũy kế giải ngân đến hết tháng báo cáo chênh lệch quá lớn so với khả năng thực
hiện thực tế trong tháng, làm ảnh hưởng đến
công tác điều hành.
- Để thực hiện chấm điểm giải ngân vốn đầu tư công
theo Quyết định số 1129/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và đảm bảo kết quả chấm điểm
phản ánh đúng tình hình thực hiện giải ngân vốn đầu tư công, đề nghị người đứng
đầu các bộ, cơ quan trung ương và địa phương chỉ đạo cơ quan chức năng chủ động
nhập đầy đủ dữ liệu đầu vào trên hệ thống công nghệ thông tin của Bộ Tài chính,
đảm bảo tính chính xác, khách quan và thống nhất theo quy định tại công văn số
10950/BTC-PTHT ngày 24/7/2026 của Bộ Tài chính;
kịp thời có ý kiến phản hồi gửi Bộ Tài chính để Bộ Tài chính nghiên cứu, hoàn
thiện và tổng hợp báo cáo cấp thẩm quyền trong
trường, hợp vượt thẩm quyền.
Trên đây là báo cáo tình hình phân bổ, giải ngân vốn đầu
tư công 7 tháng năm 2026; Các khó khăn, vướng mắc ảnh hưởng đến tiến độ giải
ngân vốn đầu tư công năm 2026; Giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công năm
2026.
Bộ Tài chính kính báo cáo Chính phủ./.
|
Nơi nhận:
- Như
trên;
- Thủ tướng Chính phủ và các Phó TTgCP (để b/c);
- Bộ trưởng và các Thứ trưởng (để b/c);
- Văn phòng Chính phủ;
- Cổng TTĐTCP (để đăng tải);
- Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội;
- Các đơn vị thuộc Bộ (bản điện tử);
- Cục CNTT (để đăng tải lên Cổng TTĐT và Hệ thống
thông tin và CSDLQG về đầu tư công);
- Lưu: VT, Vụ PTHT (....b).
|
KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ
TRƯỞNG
Tạ Anh
Tuấn
|