|
VIỆN
KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO - TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO - BỘ CÔNG AN - BỘ QUỐC
PHÒNG - BỘ TƯ PHÁP - BỘ NGOẠI GIAO
-------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 12/2026/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BTP-BNG
|
Hà Nội, ngày 29 tháng 06 năm 2026
|
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH
QUY ĐỊNH CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT
TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VỀ HÌNH SỰ VÀ VIỆC PHỐI HỢP GIỮA CÁC CƠ QUAN CÓ THẨM QUYỀN
TRONG XỬ LÝ YÊU CẦU CỦA NƯỚC NGOÀI VỀ TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
Căn cứ Luật Tương trợ tư pháp về hình sự số 103/2025/QH15;
Căn cứ Bộ luật Tố
tụng hình sự số 101/2015/QH13 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 02/2021/QH15, Luật số 34/2024/QH15, Luật số 59/2024/QH15, Luật số 99/2025/QH15, Luật số 103/2025/QH15, Luật số 105/2025/QH15, Luật số 106/2025/QH15 và Luật số 128/2025/QH15;
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao liên tịch ban hành Thông
tư liên tịch quy định chi tiết một số điều của Luật
Tương trợ tư pháp về hình sự và việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền
trong xử lý yêu cầu của nước ngoài về truy cứu trách nhiệm hình sự.
Chương
I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều
1. Phạm vi điều chỉnh
Thông tư liên tịch này quy
định chi tiết Điều 14, khoản 3 Điều 18, Điều 25, Điều 26, khoản 1 Điều 31, Điều 33, Điều 37 của Luật Tương trợ tư
pháp về hình sự số 103/2025/QH15 (sau đây gọi là Luật Tương trợ tư pháp về hình sự) và việc phối
hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong xử lý yêu cầu của nước ngoài về truy cứu
trách nhiệm hình sự.
Điều
2. Đối tượng áp dụng
Thông tư liên tịch này áp
dụng đối với:
1. Viện kiểm sát.
2. Cơ quan điều tra.
3. Tòa án.
4. Cơ quan thi hành án
hình sự, cơ quan thi hành án dân sự.
5. Người có thẩm quyền của
các cơ quan quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này.
6. Cơ quan, tổ chức, cá
nhân khác có liên quan.
Điều
3. Nguyên tắc thực hiện
1. Bảo đảm tuân thủ đúng
quy định của Hiến pháp, Luật Tương trợ tư pháp về hình sự, Bộ luật Hình sự, Bộ
luật Tố tụng hình sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan; các điều
ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên.
2. Bảo đảm tuân thủ đúng
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng
và cơ quan có liên quan trong hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự theo quy định
của pháp luật.
3. Bảo đảm việc áp dụng
trình tự, thủ tục tố tụng trong giải quyết các vụ việc, vụ án hình sự, thi hành
án khi đề nghị nước ngoài thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự; phối hợp giải
quyết yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài kịp thời, chặt chẽ.
Chương
II
QUY ĐỊNH CỤ THỂ
Điều
4. Xem xét yêu cầu của nước ngoài liên quan đến hình phạt tử hình
1. Trong thời hạn 07 ngày
kể từ ngày nhận được yêu cầu của nước ngoài đề nghị Việt Nam đưa ra thông báo
liên quan đến hình phạt tử hình để thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình
sự, Viện kiểm sát nhân dân tối cao chuyển yêu cầu đó cho cơ quan lập yêu cầu
tương trợ tư pháp về hình sự để đánh giá sự cần thiết của việc tiếp tục yêu cầu
nước ngoài thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự và cơ sở đưa ra thông báo
liên quan đến hình phạt tử hình theo yêu cầu của nước ngoài.
2. Trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày nhận được văn bản của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cơ quan lập
yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự xử lý như sau:
a) Nếu thấy cần thiết phải
tiếp tục yêu cầu nước ngoài thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự, cơ quan lập
yêu cầu có văn bản đánh giá sự cần thiết và cơ sở đưa ra thông báo liên quan đến
hình phạt tử hình theo yêu cầu của nước ngoài quy định tại khoản 3 Điều này kèm
theo các tài liệu có liên quan, gửi Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
b) Nếu thấy không còn cần
thiết tiếp tục yêu cầu nước ngoài thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự, cơ
quan lập yêu cầu có văn bản thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc
yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự không còn cần thiết để kết thúc tương trợ
tư pháp về hình sự theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 25 của Luật
Tương trợ tư pháp về hình sự.
3. Cơ quan lập yêu cầu
tương trợ tư pháp về hình sự đánh giá cơ sở đưa ra thông báo liên quan đến hình
phạt tử hình theo yêu cầu của nước ngoài theo một trong các trường hợp sau đây:
a) Người có liên quan đến
yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự thuộc trường hợp không bị áp dụng hình phạt
tử hình hoặc không bị thi hành án tử hình theo quy định của Bộ luật Hình sự. Trong trường hợp này, cơ quan
lập yêu cầu phối hợp với cơ quan y tế và các cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xác
định độ tuổi, tình trạng sức khỏe, tình trạng thai sản, tình trạng nuôi con nhỏ,
tình trạng khắc phục hậu quả vụ án và các thông tin khác của người có liên quan
đến yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự để xác định bằng văn bản;
b) Người có liên quan đến
yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự thuộc trường hợp có thể bị áp dụng hình phạt
tử hình hoặc có thể bị thi hành án tử hình theo quy định của Bộ luật Hình sự.
4. Khi người có liên quan
đến yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự thuộc trường hợp quy định tại điểm a
khoản 3 Điều này thì thực hiện theo trình tự, thủ tục sau đây:
a) Trong thời hạn 07 ngày
kể từ ngày nhận được văn bản của cơ quan lập yêu cầu tương trợ tư pháp về hình
sự quy định tại điểm a khoản 2 Điều này, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có văn
bản lấy ý kiến của Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư
pháp, Bộ Ngoại giao, Văn phòng Chủ tịch nước, Viện kiểm sát đang thực hành quyền
công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ việc, vụ án và các cơ quan khác có liên
quan về cơ sở đưa ra thông báo liên quan đến hình phạt tử hình theo yêu cầu của
nước ngoài;
b) Trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày nhận được văn bản của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Bộ, ngành,
cơ quan được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản về việc đồng ý hoặc
không đồng ý đưa ra thông báo liên quan đến hình phạt tử hình theo yêu cầu của
nước ngoài, gửi về Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
c) Trong thời hạn 07 ngày
kể từ ngày nhận được đầy đủ ý kiến thống nhất bằng văn bản của các Bộ, ngành,
cơ quan được lấy ý kiến về việc đồng ý hoặc không đồng ý đưa ra thông báo liên
quan đến hình phạt tử hình theo yêu cầu của nước ngoài, Viện kiểm sát nhân dân
tối cao đưa ra thông báo liên quan đến hình phạt tử hình gửi cho cơ quan có thẩm
quyền của nước ngoài hoặc chuyển cho Bộ Ngoại giao trong trường hợp Việt Nam và
nước ngoài không cùng là thành viên của điều ước quốc tế hoặc điều ước quốc tế
mà Việt Nam là thành viên có quy định chuyển hồ sơ qua kênh ngoại giao, đồng thời
thông báo cho cơ quan lập yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự biết.
Trường hợp ý kiến của các
Bộ, ngành, cơ quan được lấy ý kiến không thống nhất về việc xác định người có
liên quan đến yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự thuộc trường hợp không bị áp
dụng hình phạt tử hình hoặc không bị thi hành án tử hình theo quy định của Bộ luật Hình sự, Viện kiểm sát nhân dân tối
cao lập hồ sơ, trình Chủ tịch nước xem xét, cho ý kiến về việc đưa ra thông báo
không thi hành án tử hình theo quy định tại điểm c và điểm d khoản 5 Điều này.
5. Khi người có liên quan
đến yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự thuộc trường hợp quy định tại điểm b
khoản 3 Điều này thì thực hiện theo trình tự, thủ tục sau đây:
a) Trong thời hạn 07 ngày
kể từ ngày nhận được văn bản của cơ quan lập yêu cầu tương trợ tư pháp về hình
sự quy định tại điểm a khoản 2 Điều này, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có văn
bản lấy ý kiến của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Tòa án
nhân dân tối cao, Văn phòng Chủ tịch nước, Viện kiểm sát đang thực hành quyền
công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ việc, vụ án và các cơ quan khác có liên
quan về cơ sở đưa ra thông báo liên quan đến hình phạt tử hình theo yêu cầu của
nước ngoài;
b) Trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày nhận được văn bản của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Bộ, ngành,
cơ quan được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản về việc đồng ý hoặc
không đồng ý đưa ra thông báo liên quan đến hình phạt tử hình theo yêu cầu của
nước ngoài, gửi về Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
c) Trong thời hạn 07 ngày
kể từ ngày nhận được đầy đủ ý kiến bằng văn bản của các Bộ, ngành, cơ quan được
lấy ý kiến, Viện kiểm sát nhân dân tối cao lập hồ sơ, trình Chủ tịch nước xem
xét, cho ý kiến về việc đưa ra thông báo liên quan đến hình phạt tử hình theo
yêu cầu của nước ngoài;
d) Trong thời hạn 07 ngày
kể từ ngày nhận được ý kiến của Chủ tịch nước, căn cứ vào kết quả xin ý kiến,
Viện kiểm sát nhân dân tối cao đưa ra thông báo không thi hành án tử hình đối với
người có liên quan đến yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự hoặc có văn bản trả
lời cho nước ngoài. Viện kiểm sát nhân dân tối cao gửi các thông báo, văn bản
này cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hoặc chuyển cho Bộ Ngoại giao
trong trường hợp Việt Nam và nước ngoài không cùng là thành viên của điều ước
quốc tế hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định chuyển hồ
sơ qua kênh ngoại giao, đồng thời thông báo cho cơ quan lập yêu cầu tương trợ
tư pháp về hình sự biết.
6. Hồ sơ trình Chủ tịch nước
xem xét, cho ý kiến về việc đưa ra thông báo liên quan đến hình phạt tử hình
theo yêu cầu của nước ngoài bao gồm các tài liệu sau:
a) Tờ trình của Viện kiểm
sát nhân dân tối cao nêu rõ nội dung vụ việc; nội dung đề nghị của cơ quan có
thẩm quyền của nước ngoài; căn cứ pháp lý; đề xuất của Viện kiểm sát nhân dân tối
cao;
b) Tổng hợp ý kiến của Tòa
án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Văn
phòng Chủ tịch nước, Viện kiểm sát đang thực hành quyền công tố, kiểm sát việc
giải quyết vụ việc, vụ án và các cơ quan khác có liên quan kèm theo văn bản
tham gia ý kiến của các cơ quan;
c) Các tài liệu có liên
quan của cơ quan lập yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự;
d) Văn bản yêu cầu của nước
ngoài.
Điều
5. Yêu cầu nước ngoài cam kết liên quan đến hình phạt tử hình
1. Trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày nhận được yêu cầu tương trợ của nước ngoài, xét thấy yêu cầu tương
trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài liên quan đến tội phạm theo pháp luật của
nước yêu cầu có khung hình phạt cao nhất là tử hình mà pháp luật hình sự Việt
Nam không quy định hình phạt tử hình đối với tội phạm tương ứng, Viện kiểm sát
nhân dân tối cao có văn bản yêu cầu nước ngoài cam kết về việc không áp dụng
hình phạt tử hình hoặc không thi hành án tử hình.
Hết thời hạn 06 tháng kể từ
ngày gửi văn bản yêu cầu cho nước ngoài mà không nhận được văn bản cam kết của
nước ngoài, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trả lại yêu cầu cho nước ngoài.
2. Sau khi nhận được văn bản
cam kết liên quan đến hình phạt tử hình của nước ngoài, Viện kiểm sát nhân dân
tối cao chuyển yêu cầu cho cơ quan thực hiện yêu cầu để thực hiện.
3. Viện kiểm sát nhân dân
tối cao chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao theo dõi, xử lý việc thực hiện cam
kết liên quan đến hình phạt tử hình của nước ngoài.
Điều
6. Phối hợp trong thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tương trợ tư pháp
về hình sự
1. Viện kiểm sát các cấp
thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự theo
thẩm quyền và phối hợp với cơ quan lập yêu cầu xác định tính cần thiết của các
yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự gửi ra nước ngoài; đề nghị cơ quan lập yêu
cầu bổ sung các nội dung yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp trong quá trình
giải quyết vụ việc, vụ án hình sự, thi hành án.
2. Viện kiểm sát có thẩm
quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự
là Viện kiểm sát đang thực hành quyền công tố, kiểm sát giải quyết vụ việc, vụ
án hoặc Viện kiểm sát nơi cơ quan thực hiện yêu cầu đang xử lý yêu cầu tương trợ
tư pháp về hình sự của nước ngoài.
3. Khi thực hiện tương trợ
tư pháp về hình sự quy định tại khoản 2 và khoản 6 Điều 21, khoản
1 Điều 22, khoản 2 Điều 23 của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự, cơ quan lập
yêu cầu đồng thời thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát đang thực hành quyền
công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ việc, vụ án.
4. Khi thực hiện tương trợ
tư pháp về hình sự quy định tại khoản 3 Điều 21, khoản 1 Điều
22, khoản 1 Điều 23 của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự, Viện kiểm sát
nhân dân tối cao đồng thời thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát đang thực
hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ việc, vụ án.
5. Khi thực hiện tương trợ
tư pháp về hình sự quy định tại khoản 1 Điều 29, khoản 2 và khoản
3 Điều 31, khoản 2 và khoản 4 Điều 33, khoản 3 Điều 38, khoản
2 Điều 39 của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự, cơ quan thực hiện yêu cầu
đồng thời thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm
sát nơi cơ quan thực hiện yêu cầu đang xử lý yêu cầu tương trợ của nước ngoài.
6. Trường hợp cơ quan có
thẩm quyền của nước ngoài đề nghị Việt Nam cho phép người có thẩm quyền nêu
trong yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự có mặt trong quá trình thực hiện yêu
cầu ở Việt Nam, cơ quan thực hiện yêu cầu thông báo cho Viện kiểm sát nơi cơ
quan thực hiện yêu cầu đang xử lý yêu cầu tương trợ của nước ngoài.
Điều
7. Kết thúc việc yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự
1. Cơ quan lập yêu cầu đã
nhận được đầy đủ kết quả thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự theo
quy định tại điểm a khoản 1 Điều 25 của Luật Tương trợ tư pháp về
hình sự, gồm toàn bộ thông tin, tài liệu theo các nội dung yêu cầu tương trợ
nêu tại văn bản yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam gửi cho nước
ngoài.
2. Cơ quan lập yêu cầu phối
hợp với Viện kiểm sát đang thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ
việc, vụ án và các cơ quan khác có liên quan thống nhất xác định về việc không
cần thiết phải tiếp tục yêu cầu tương trợ để có văn bản gửi Viện kiểm sát nhân
dân tối cao thông báo việc yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự không còn cần
thiết theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 25 của Luật Tương trợ
tư pháp về hình sự.
Trong thời hạn 05 ngày làm
việc kể từ ngày nhận được văn bản của cơ quan lập yêu cầu, Viện kiểm sát nhân
dân tối cao có văn bản thông báo về việc kết thúc yêu cầu tương trợ tư pháp về
hình sự gửi cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hoặc chuyển cho Bộ Ngoại
giao trong trường hợp Việt Nam và nước ngoài không cùng là thành viên của điều
ước quốc tế hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định chuyển
hồ sơ qua kênh ngoại giao.
3. Hết thời hạn 02 tháng kể
từ ngày Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành văn bản chuyển yêu cầu tương trợ
tư pháp về hình sự cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, trong trường hợp cần
thiết, cơ quan lập yêu cầu có văn bản yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề
nghị cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thông báo tiến độ thực hiện yêu cầu
tương trợ tư pháp về hình sự. Việc đề nghị thông báo tiến độ thực hiện yêu cầu
tương trợ tư pháp về hình sự những lần tiếp theo có thể được thực hiện 02 tháng
một lần.
4. Trường hợp không nhận
được phản hồi của phía nước ngoài, nếu cơ quan lập yêu cầu có thể tiếp tục giải
quyết vụ việc, vụ án hình sự, thi hành án thì cơ quan lập yêu cầu có văn bản phối
hợp với Viện kiểm sát đang thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ
việc, vụ án và các cơ quan khác có liên quan thống nhất kết thúc việc yêu cầu
tương trợ tư pháp về hình sự theo quy định tại điểm d khoản 1
Điều 25 của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự. Tùy từng trường hợp, việc
xác định thời hạn xem xét thống nhất kết thúc việc yêu cầu tương trợ tư pháp về
hình sự được thực hiện như sau:
a) Trường hợp cơ quan lập
yêu cầu là Tòa án đề nghị nước ngoài hỗ trợ tống đạt bản án, bản sao bản án hoặc
trích lục bản án thì thời hạn xem xét thống nhất kết thúc việc yêu cầu tương trợ
tư pháp về hình sự là 03 tháng kể từ ngày Tòa án nhận được văn bản gần nhất của
Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo về tiến độ thực hiện yêu cầu tương trợ
tư pháp về hình sự;
b) Trường hợp cơ quan lập
yêu cầu là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Cơ quan thi hành án hình sự, Cơ
quan thi hành án dân sự và cơ quan khác theo quy định của pháp luật thì thời hạn
xem xét thống nhất kết thúc việc yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự là 06
tháng kể từ ngày các cơ quan lập yêu cầu nhận được văn bản gần nhất của Viện kiểm
sát nhân dân tối cao thông báo về tiến độ thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về
hình sự.
Sau khi nhận được văn bản
thống nhất kết thúc việc yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của Viện kiểm sát
đang thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ việc, vụ án và các cơ
quan khác có liên quan theo quy định tại khoản này, cơ quan lập yêu cầu có văn
bản gửi Viện kiểm sát nhân dân tối cao để tiếp tục xem xét, thống nhất kết thúc
việc yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự. Trường hợp thống nhất kết thúc yêu cầu,
Viện kiểm sát nhân dân tối cao có văn bản thông báo về việc kết thúc yêu cầu
tương trợ tư pháp về hình sự gửi cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hoặc
chuyển cho Bộ Ngoại giao trong trường hợp Việt Nam và nước ngoài không cùng là
thành viên của điều ước quốc tế hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
có quy định chuyển hồ sơ qua kênh ngoại giao, đồng thời gửi cho cơ quan lập yêu
cầu để biết. Trường hợp chưa thống nhất kết thúc yêu cầu, Viện kiểm sát nhân
dân tối cao có văn bản thông báo cho cơ quan lập yêu cầu.
5. Trường hợp kết thúc việc
yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự theo quy định tại điểm c
và điểm d khoản 1 Điều 25 của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự mà cơ quan
lập yêu cầu tiếp tục phát sinh nhu cầu đề nghị nước ngoài thực hiện các nội
dung tương trợ khác đối với cùng vụ việc, vụ án hình sự, thi hành án thì cơ
quan lập yêu cầu có thể tiếp tục lập yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự nhiều
lần. Trình tự, thủ tục thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp các lần tiếp theo được
thực hiện như lần thứ nhất.
Điều
8. Yêu cầu nước ngoài truy cứu trách nhiệm hình sự
1. Cơ quan lập yêu cầu
tương trợ tư pháp về hình sự lập hồ sơ yêu cầu nước ngoài truy cứu trách nhiệm
hình sự đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam mà người đó đã
trốn ra nước ngoài nhưng không dẫn độ được, hồ sơ gồm:
a) Công văn đề nghị Viện
kiểm sát nhân dân tối cao chuyển hồ sơ cho nước ngoài kèm bảng thống kê tài liệu,
vật chứng trong hồ sơ;
b) Văn bản yêu cầu tương
trợ tư pháp về hình sự được lập theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định biểu mẫu văn bản nghiệp vụ thực
hiện trong hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự. Trường hợp phía nước ngoài đề
nghị lập văn bản yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự theo mẫu do phía nước
ngoài ban hành thì lập văn bản theo mẫu đó;
c) Tài liệu, chứng cứ chứng
minh hành vi phạm tội của người phạm tội;
d) Tài liệu thể hiện người
phạm tội đang có mặt tại nước được yêu cầu hoặc tài liệu thể hiện quốc tịch của
người phạm tội trong trường hợp đề nghị nước người phạm tội mang quốc tịch truy
cứu trách nhiệm hình sự;
đ) Tài liệu thể hiện việc
không dẫn độ được người phạm tội về Việt Nam để truy cứu trách nhiệm hình sự;
e) Các tài liệu, vật chứng
có liên quan.
2. Việc chuyển giao hồ sơ,
vật chứng để yêu cầu nước ngoài truy cứu trách nhiệm hình sự được thực hiện như
sau:
a) Cơ quan lập yêu cầu
chuyển giao trực tiếp hồ sơ, vật chứng đến Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Trường hợp Việt Nam và nước
ngoài không cùng là thành viên của điều ước quốc tế hoặc điều ước quốc tế mà Việt
Nam là thành viên có quy định chuyển hồ sơ qua kênh ngoại giao thì sau khi nhận
hồ sơ, vật chứng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao chuyển giao trực tiếp cho Bộ
Ngoại giao;
b) Việc chuyển giao hồ sơ,
vật chứng giữa Viện kiểm sát nhân dân tối cao và nước ngoài hoặc giữa Bộ Ngoại
giao và nước ngoài có thể thực hiện trực tiếp hoặc qua đường bưu điện;
c) Trường hợp chuyển giao
trực tiếp hồ sơ, vật chứng, việc chuyển giao phải được lập thành biên bản, thể
hiện đầy đủ các tài liệu có trong hồ sơ, danh mục và tình trạng vật chứng được
chuyển giao, có chữ ký của bên giao và bên nhận. Trường hợp chuyển giao qua đường
bưu điện, cơ quan thực hiện việc chuyển giao phải niêm phong hồ sơ, vật chứng
trước khi gửi và lưu biên nhận của bưu điện.
3. Việc tiếp nhận, bảo quản
vật chứng giữa các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam được thực hiện như sau:
a) Trường hợp vật chứng
kèm theo hồ sơ thì khi chuyển giao hồ sơ, cơ quan lập yêu cầu có trách nhiệm phải
chuyển giao cả vật chứng kèm theo. Cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm bảo
quản vật chứng kèm theo trong thời gian quản lý hồ sơ;
b) Trường hợp vật chứng
đang được bảo quản tại kho vật chứng thì cơ quan lập yêu cầu phải chụp ảnh hoặc
ghi hình kèm theo mô tả vật chứng để đưa vào hồ sơ và thông báo bằng văn bản
cho cơ quan bảo quản vật chứng biết. Cơ quan đang bảo quản vật chứng có trách
nhiệm tiếp tục bảo quản vật chứng cho đến khi có lệnh xuất kho vật chứng của cơ
quan có thẩm quyền hoặc khi có quyết định xử lý vật chứng theo quy định của
pháp luật.
4. Việc giao nhận, bảo quản
vật chứng giữa các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và nước ngoài được thực
hiện như sau:
a) Nếu vật chứng cần chuyển
giao cho nước ngoài kèm theo hồ sơ thì khi chuyển giao hồ sơ, Viện kiểm sát
nhân dân tối cao hoặc Bộ Ngoại giao chuyển giao cả vật chứng đó cho cơ quan có
thẩm quyền của nước ngoài;
b) Nếu vật chứng cần chuyển
giao được bảo quản tại kho vật chứng thì xử lý như sau:
Chậm nhất là 05 ngày làm
việc trước ngày chuyển giao cho nước ngoài, Viện kiểm sát nhân dân tối cao
thông báo bằng văn bản cho cơ quan lập yêu cầu biết về thời gian, địa điểm chuyển
giao. Cơ quan lập yêu cầu có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với cơ quan bảo quản
vật chứng thực hiện việc xuất và vận chuyển vật chứng theo đúng thời gian, địa
điểm nêu trong thông báo của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Trường hợp Bộ Ngoại giao
thực hiện việc chuyển giao hồ sơ, vật chứng thì Bộ Ngoại giao phải thống nhất về
việc chuyển giao với nước ngoài trong thời hạn chậm nhất là 07 ngày trước ngày
thực hiện chuyển giao. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ khi thống nhất về
việc chuyển giao với nước ngoài, Bộ Ngoại giao thông báo cho Viện kiểm sát nhân
dân tối cao biết và phối hợp thực hiện việc chuyển giao.
Khi chuyển giao vật chứng
cho nước ngoài có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cơ
quan lập yêu cầu và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
5. Trường hợp vụ án có đồng
phạm đang bị điều tra, truy tố hoặc xét xử tại Việt Nam thì căn cứ vào việc quyết
định yêu cầu nước ngoài truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, cơ
quan lập yêu cầu tách hoặc trích lập riêng hồ sơ vụ án đối với người đó trước
khi lập hồ sơ gửi Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
6. Các trường hợp không dẫn
độ được theo quy định tại khoản 1 Điều 26 của Luật Tương trợ tư
pháp về hình sự gồm:
a) Người bị yêu cầu dẫn độ
thuộc trường hợp từ chối dẫn độ theo quy định của điều ước quốc tế về dẫn độ giữa
Việt Nam và nước ngoài đang có hiệu lực;
b) Người bị yêu cầu dẫn độ
thuộc trường hợp từ chối dẫn độ theo quy định của pháp luật nước ngoài;
c) Nước ngoài có văn bản từ
chối dẫn độ;
d) Các trường hợp không thể
dẫn độ được vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.
Điều
9. Thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài
1. Viện kiểm sát nhân dân
tối cao, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Cơ quan thi hành án hình sự,
Cơ quan thi hành án dân sự và các cơ quan khác có liên quan trên cơ sở nhiệm vụ,
quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện nội dung yêu cầu tương trợ tư pháp
về hình sự theo quy định của pháp luật.
Viện kiểm sát nhân dân tối
cao có trách nhiệm tiếp nhận, xem xét và chuyển yêu cầu tống đạt bản án, bản
sao bản án hoặc trích lục bản án của nước ngoài cho cơ quan có thẩm quyền thực
hiện.
2. Khi nhận được yêu cầu
tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài, cơ quan thực hiện yêu cầu thực hiện
như sau:
a) Tiếp nhận để thực hiện
yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự trong trường hợp vụ việc, vụ án hình sự,
thi hành án thuộc thẩm quyền giải quyết; trả lại hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân
dân tối cao trong trường hợp vụ việc, vụ án hình sự, thi hành án không thuộc thẩm
quyền giải quyết;
b) Nghiên cứu hồ sơ yêu cầu,
trong đó xác định rõ đối tượng, thời gian, địa điểm và các biện pháp nghiệp vụ
cần áp dụng;
c) Gửi kết quả thực hiện
cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao để chuyển cho cơ quan có thẩm quyền của nước
ngoài.
3. Trường hợp cơ quan có
thẩm quyền của nước ngoài đề nghị Việt Nam thông báo tiến độ thực hiện yêu cầu
tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài thì Viện kiểm sát nhân dân tối cao
có văn bản đề nghị cơ quan thực hiện yêu cầu thông báo tiến độ thực hiện yêu cầu
tương trợ của nước ngoài và gửi về Viện kiểm sát nhân dân tối cao để trả lời nước
ngoài.
Điều
10. Thực hiện yêu cầu của nước ngoài về lấy lời khai trực tuyến
1. Viện kiểm sát nhân dân
tối cao có trách nhiệm yêu cầu nước ngoài cung cấp thông tin về thời gian, địa
điểm tiến hành lấy lời khai trực tuyến; việc sắp xếp phương tiện kỹ thuật,
phiên dịch tại phiên lấy lời khai trực tuyến; các khoản chi phí cho người được
lấy lời khai bao gồm chi phí ăn ở, đi lại, thù lao làm việc và các chi phí
khác, nếu có; thành phần tham gia lấy lời khai tại điểm cầu của nước ngoài;
danh sách câu hỏi dự kiến cần lấy lời khai trực tuyến và các thông tin cần thiết
khác.
2. Địa điểm tổ chức lấy lời
khai trực tuyến do Viện kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp với các cơ quan có
liên quan xem xét quyết định, có thể là trụ sở cơ quan đại diện ngoại giao của
nước ngoài tại Việt Nam hoặc địa điểm khác phù hợp.
3. Trường hợp nước ngoài đề
nghị lấy lời khai trực tuyến người nước ngoài đang có mặt tại Việt Nam thì cơ
quan thực hiện yêu cầu lấy ý kiến của người nước ngoài đó về việc họ đồng ý hay
không đồng ý tham gia phiên lấy lời khai trực tuyến. Viện kiểm sát nhân dân tối
cao bố trí người phiên dịch trong quá trình lấy ý kiến của người nước ngoài đó.
4. Trước khi tổ chức thực
hiện việc lấy lời khai trực tuyến, cơ quan thực hiện yêu cầu có trách nhiệm
thông báo thời gian, địa điểm tổ chức lấy lời khai, triệu tập người cung cấp lời
khai tham gia phiên lấy lời khai trực tuyến theo quy định của pháp luật Việt
Nam. Cơ quan thực hiện yêu cầu thông báo trước cho người cung cấp lời khai các
quyền của người này, bao gồm quyền từ chối trả lời câu hỏi theo quy định của
pháp luật nước ngoài và pháp luật Việt Nam.
Người đồng ý cung cấp lời
khai trực tuyến không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về lời khai của họ, trừ
khi hành vi khai báo gian dối của họ cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam.
5. Phiên lấy lời khai trực
tuyến được tổ chức như sau:
a) Tại điểm cầu ở Việt Nam
có sự tham gia của người cung cấp lời khai, người phiên dịch, nếu có, Viện kiểm
sát nhân dân tối cao, cơ quan thực hiện yêu cầu và các cơ quan, tổ chức, cá
nhân khác có liên quan;
b) Tại phần khai mạc phiên
lấy lời khai, đại diện cơ quan thực hiện yêu cầu giới thiệu thành phần tham gia
của các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam; đề nghị người cung cấp lời khai xác
nhận lại danh tính, khẳng định việc đã được thông báo trước về quyền của họ,
bao gồm quyền từ chối trả lời câu hỏi cụ thể theo quy định của pháp luật Việt
Nam và pháp luật của nước yêu cầu;
c) Phiên lấy lời khai trực
tuyến do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài điều hành trực tiếp theo pháp luật
của nước đó. Cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài trực tiếp yêu cầu người cung
cấp lời khai trả lời lần lượt các câu hỏi đã được gửi trước đó;
d) Trường hợp cơ quan thực
hiện yêu cầu của Việt Nam có mặt tại phiên lấy lời khai xác định thấy câu hỏi
đó vi phạm pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là
thành viên, pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế hoặc không phù hợp, không
liên quan đến nội dung yêu cầu tương trợ tư pháp thì yêu cầu cơ quan có thẩm
quyền của nước ngoài điều chỉnh lại câu hỏi hoặc không cho phép đặt câu hỏi đó
và giải thích rõ lý do;
đ) Cơ quan thực hiện yêu cầu
có trách nhiệm lập biên bản ghi chép phiên lấy lời khai trực tuyến. Biên bản
ghi chép ghi rõ địa điểm, thời gian tiến hành phiên lấy lời khai trực tuyến, thời
gian bắt đầu và thời gian kết thúc, những người có mặt tại điểm cầu ở Việt Nam
và các nội dung chính của phiên lấy lời khai trực tuyến, các điều kiện kỹ thuật
đã thực hiện tại phiên lấy lời khai và được những người có mặt trong phiên lấy
lời khai trực tuyến tại điểm cầu ở Việt Nam ký sau khi kết thúc;
e) Phiên lấy lời khai trực
tuyến có thể được ghi âm, ghi hình có âm thanh, được lưu trữ, bảo quản, bảo đảm
an toàn, bảo mật dữ liệu theo quy định của pháp luật có liên quan.
Điều
11. Thực hiện yêu cầu chuyển giao tạm thời người đang bị tạm giam hoặc đang chấp
hành án phạt tù tại Việt Nam sang nước ngoài để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng
cứ
1. Thẩm quyền quyết định
chuyển giao tạm thời người đang bị tạm giam hoặc đang chấp hành án phạt tù tại
Việt Nam sang nước ngoài để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ được thực hiện
như sau:
a) Việc quyết định chuyển
giao tạm thời người đang bị tạm giam tại Việt Nam sang nước ngoài để hỗ trợ điều
tra, cung cấp chứng cứ quy định tại khoản 1 Điều 37 của Luật
Tương trợ tư pháp về hình sự do Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra
quyết định trong quá trình điều tra; do Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm
sát quyết định trong quá trình truy tố; do Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quyết
định trong quá trình chuẩn bị xét xử; do Hội đồng xét xử quyết định nếu đã có
quyết định đưa vụ án ra xét xử;
b) Việc quyết định chuyển
giao tạm thời người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam sang nước ngoài để hỗ
trợ điều tra, cung cấp chứng cứ quy định tại khoản 1 Điều 37 của
Luật Tương trợ tư pháp về hình sự do Tòa án có thẩm quyền nơi người đó chấp
hành án phạt tù quyết định.
2. Khi tiếp nhận văn bản
yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự kèm theo văn bản cam kết theo quy định tại
điểm b khoản 2 Điều 37 của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự
của cơ quan yêu cầu chuyển giao, cơ quan thực hiện yêu cầu tiến hành các hoạt động
sau:
a) Trước khi quyết định
chuyển giao tạm thời, cơ quan thực hiện yêu cầu phối hợp với cơ sở giam giữ tiến
hành lấy ý kiến về việc chuyển giao tạm thời của người đang bị tạm giam hoặc
người đang chấp hành án phạt tù.
Trong quá trình lấy ý kiến,
cơ quan thực hiện yêu cầu có trách nhiệm giải thích rõ cho người được chuyển
giao về mục đích của việc chuyển giao; thời hạn chuyển giao và thời gian dự kiến
lưu lại ở nước ngoài; quyền và nghĩa vụ của người được chuyển giao trong thời
gian có mặt tại nước ngoài; thời gian bị áp giải và lưu lại ở nước ngoài được
tính vào thời hạn tạm giam hoặc thời hạn chấp hành án phạt tù; các biện pháp bảo
đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, điều kiện ăn ở, đi lại theo cam kết của cơ
quan có thẩm quyền của nước ngoài.
Việc giải thích và lấy ý
kiến được lập thành biên bản trong đó ghi rõ thời gian, địa điểm làm việc; nội
dung đã được giải thích; ý kiến đồng ý hoặc không đồng ý về việc chuyển giao tạm
thời, có chữ ký hoặc điểm chỉ xác nhận của người được chuyển giao. Trường hợp
người được chuyển giao tạm thời không đồng ý thì ghi rõ lý do và chấm dứt việc
xem xét chuyển giao tạm thời;
b) Lấy ý kiến thống nhất của
các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam, trừ trường
hợp do Hội đồng xét xử quyết định;
c) Sau khi có quyết định
chuyển giao của cơ quan có thẩm quyền, cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam hoặc cơ
quan quản lý thi hành án hình sự ra lệnh trích xuất và thực hiện việc trích xuất
theo quy định của pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự.
Lệnh trích xuất phải ghi rõ mục đích “Chuyển giao tạm thời theo yêu cầu tương
trợ tư pháp về hình sự”;
d) Căn cứ lệnh trích xuất
của cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam hoặc cơ quan quản lý thi hành án hình sự,
cơ sở giam giữ hoặc cơ quan quản lý thi hành án hình sự có trách nhiệm kiểm
tra, bàn giao người đang bị tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù cho cơ
quan, người có nhiệm vụ áp giải. Cơ quan, người có nhiệm vụ áp giải phối hợp với
cơ quan thực hiện yêu cầu và Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện việc áp
giải người đang bị tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù đến địa điểm đã thỏa
thuận để bàn giao người được trích xuất cho người có thẩm quyền của nước ngoài.
Cơ quan thực hiện yêu cầu có trách nhiệm thông báo cho thân nhân của người đang
bị tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù biết việc chuyển giao tạm thời người
đó.
3. Việc giao người cho cơ
quan có thẩm quyền của nước ngoài phải được lập thành biên bản giao nhận. Biên
bản được lập bằng tiếng Việt và tiếng Anh, có giá trị như nhau, trừ trường hợp
có thỏa thuận khác.
Biên bản giao nhận gồm các
nội dung cơ bản sau:
a) Thông tin cá nhân, tình
trạng sức khỏe của người được chuyển giao tạm thời tại thời điểm giao người;
b) Các đồ vật, tài liệu cá
nhân mang theo, nếu có;
c) Thời điểm bắt đầu tính
thời hạn chuyển giao tạm thời;
d) Chữ ký của đại diện bên
giao, đại diện bên nhận và người được chuyển giao.
4. Việc theo dõi, quản lý
người được chuyển giao trong thời gian chuyển giao tạm thời được thực hiện như
sau:
a) Trong thời gian người
được chuyển giao tạm thời lưu lại ở nước ngoài, Viện kiểm sát nhân dân tối cao
phối hợp với Bộ Ngoại giao theo dõi việc thực hiện cam kết của cơ quan có thẩm
quyền của nước ngoài và tiếp nhận, xử lý thông tin liên quan đến tình trạng
pháp lý, sức khỏe và thời hạn chuyển giao của người được chuyển giao.
Trường hợp phát sinh vấn đề
ảnh hưởng đến an toàn, quyền và lợi ích hợp pháp của người được chuyển giao, Viện
kiểm sát nhân dân tối cao kịp thời phối hợp với các cơ quan có liên quan để yêu
cầu phía nước ngoài thực hiện đúng cam kết hoặc có biện pháp xử lý phù hợp;
b) Ngay sau khi nhận được
thông báo về quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn
có điều kiện, đặc xá, đại xá cho người đang chấp hành án phạt tù đã được chuyển
giao tạm thời, cơ sở giam giữ thông báo cho cơ quan thực hiện yêu cầu để cơ
quan thực hiện yêu cầu phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo
ngay cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hoặc chuyển cho Bộ Ngoại giao
trong trường hợp Việt Nam và nước ngoài không cùng là thành viên của điều ước
quốc tế hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định chuyển hồ
sơ qua kênh ngoại giao để thông báo cho phía nước ngoài.
Viện kiểm sát nhân dân tối
cao phối hợp với Bộ Ngoại giao theo dõi việc cơ quan có thẩm quyền của nước
ngoài bảo đảm quyền cho người đã có quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù,
tha tù trước thời hạn có điều kiện, đặc xá, đại xá.
5. Việc trích xuất người bị
kết án đang chấp hành án phạt tù tại các trại giam sang nước ngoài để hỗ trợ điều
tra, cung cấp chứng cứ phải bảo đảm không làm gián đoạn việc xét giảm thời hạn
chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện, đặc xá, đại xá nếu
người đó đủ điều kiện trong thời gian ở nước ngoài.
6. Trường hợp người được
chuyển giao tạm thời vẫn còn thời hạn tạm giam hoặc thời hạn chấp hành án phạt
tù, khi hết thời hạn chuyển giao hoặc khi hoàn thành mục đích tương trợ, Viện
kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp với cơ quan thực hiện yêu cầu và các cơ quan
có thẩm quyền đã tham gia thực hiện việc chuyển giao để tiếp nhận lại người đó
và đưa về cơ sở giam giữ.
7. Việc quyết định chuyển
giao tạm thời người đang bị tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù tại Việt
Nam sang nước ngoài để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ phải được ghi rõ
trong kết luận điều tra, cáo trạng và bản án, quyết định của Tòa án, hồ sơ thi
hành án.
Điều
12. Xử lý yêu cầu của nước ngoài về truy cứu trách nhiệm hình sự
1. Khi nhận được hồ sơ yêu
cầu của nước ngoài về việc tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với công
dân Việt Nam phạm tội ở nước ngoài đang có mặt tại Việt Nam, Viện kiểm sát nhân
dân tối cao thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định tại khoản
1 Điều 38 của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự.
2. Khi nhận được hồ sơ yêu
cầu của nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều này do Viện kiểm sát nhân dân tối
cao chuyển đến, cơ quan thực hiện yêu cầu tiếp nhận, xử lý yêu cầu tương trợ tư
pháp về hình sự của nước ngoài theo trình tự, thủ tục tiếp nhận, giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự.
3. Trong thời hạn 03 ngày
kể từ ngày ban hành một trong các quyết định quy định tại khoản
1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng hình sự, cơ quan ban hành quyết định phải gửi
quyết định đó cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Chương
III
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều
13. Hiệu lực thi hành
1. Thông tư liên tịch này
có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
2. Thông tư liên tịch số 02/2013/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BNG ngày 16
tháng 8 năm 2013 giữa Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa
án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ
Ngoại giao hướng dẫn việc tiếp nhận, chuyển giao hồ sơ, vật chứng của vụ án để
yêu cầu nước ngoài tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự hết hiệu lực thi hành
kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
Các yêu cầu tương trợ tư
pháp về hình sự liên quan đến việc tiếp nhận, chuyển giao hồ sơ, vật chứng của
vụ án để yêu cầu nước ngoài tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự mà Viện kiểm
sát nhân dân tối cao lập hoặc tiếp nhận trước ngày Thông tư liên tịch này có hiệu
lực thi hành thì tiếp tục được xem xét, giải quyết theo quy định của Thông tư
liên tịch số 02/2013/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BNG.
Điều
14. Tổ chức thực hiện
1. Viện kiểm sát nhân dân
tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại
giao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, chịu trách nhiệm tổ
chức thực hiện Thông tư liên tịch này.
2.Trong quá trình thực hiện
Thông tư liên tịch này, nếu có vướng mắc hoặc phát sinh những vấn đề cần phải
hướng dẫn hoặc sửa đổi, bổ sung thì các cơ quan, đơn vị kịp thời phản ánh về Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng,
Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao để xem xét quyết định./.
|
KT. BỘ TRƯỞNG
BỘ CÔNG AN
THỨ TRƯỞNG
Thượng tướng Lê Văn Tuyến
|
KT. CHÁNH ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
PHÓ CHÁNH ÁN
Nguyễn Văn Tiến
|
KT. VIỆN TRƯỞNG
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
PHÓ VIỆN TRƯỞNG
Nguyễn Quang Dũng
|
|
KT. BỘ TRƯỞNG
BỘ NGOẠI GIAO
THỨ TRƯỞNG
Lê Thị Thu Hằng
|
KT. BỘ TRƯỞNG
BỘ TƯ PHÁP
THỨ TRƯỞNG
Đặng Hoàng Oanh
|
KT. BỘ TRƯỞNG
BỘ QUỐC PHÒNG
THỨ TRƯỞNG
Thượng tướng Nguyễn Văn Gấu
|
|
Nơi nhận:
- Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Ban Nội chính Trung ương;
- Văn phòng Trung ương Đảng;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Văn phòng Chính phủ;
- Văn phòng Quốc hội;
- Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội;
- Ủy ban Dân nguyện và Giám sát của Quốc hội;
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Các Bộ: Công an, Quốc phòng, Tư pháp, Ngoại giao;
- Công báo;
- Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối
cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Bộ: Công an, Quốc phòng, Tư pháp,
Ngoại giao;
- Lưu: VT (VKSNDTC, TANDTC, BCA, BQP, BTP, BNG).
|
|
|
|
|
|