|
HỘI ĐỒNG TƯ VẤN
ĐẶC XÁ
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 325/HĐTVĐX
|
Hà Nội, ngày 25 tháng 10 năm 2016
|
HƯỚNG DẪN
VỀ
VIỆC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN QUYẾT ĐỊNH SỐ 2230/2016/QĐ-CTN NGÀY 17 THÁNG 10 NĂM
2016 CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC VỀ ĐẶC XÁ NĂM 2016
Thực hiện Quyết định số 2230/2016/QĐ-CTN ngày 17
tháng 10 năm 2016 của Chủ tịch nước về đặc xá năm 2016, Hội đồng tư vấn đặc xá
hướng dẫn cụ thể về đối tượng, điều kiện, trình tự, thủ tục tiến hành xét đặc
xá năm 2016 như sau:
I. ĐỐI TƯỢNG XÉT ĐẶC XÁ
Người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân
đã được giảm xuống tù có thời hạn đang chấp hành án phạt tù tại trại giam, trại
tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện.
II. ĐIỀU KIỆN ĐƯỢC ĐỀ NGHỊ ĐẶC
XÁ
1. Người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung
thân đã được giảm xuống tù có thời hạn (gọi là phạm nhân) được đề nghị đặc xá
phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chấp hành tốt Nội quy trại giam, trại tạm giam,
nhà tạm giữ; tích cực học tập, lao động; trong quá trình chấp hành án phạt tù
liên tục được xếp loại cải tạo từ loại khá trở lên; khi được đặc xá không làm ảnh
hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Cụ thể như sau:
- Phạm nhân bị phạt tù chung thân đã được giảm xuống
tù có thời hạn phải có ít nhất cả bốn quý của các năm 2012, 2013, 2014, 2015 và
quý 1, quý 2, quý 3 năm 2016 liên tục được xếp loại cải tạo từ khá trở lên, thời
gian tiếp theo được đánh giá cải tạo tốt.
- Phạm nhân bị phạt tù trên mười lăm năm đến ba
mươi năm phải có ít nhất cả bốn quý của các năm 2013, 2014, 2015 và quý 1, quý
2, quý 3 năm 2016 liên tục được xếp loại cải tạo từ khá trở lên, thời gian tiếp
theo được đánh giá cải tạo tốt.
- Phạm nhân bị phạt tù trên mười năm đến mười lăm
năm phải có ít nhất cả bốn quý của các năm 2014, 2015 và quý 1, quý 2, quý 3
năm 2016 liên tục được xếp loại cải tạo từ khá trở lên, thời gian tiếp theo được
đánh giá cải tạo tốt.
- Phạm nhân bị phạt tù trên bảy năm đến mười năm phải
có ít nhất quý 3, quý 4 của năm 2014, cả bốn quý của năm 2015 và quý 1, quý 2,
quý 3 năm 2016 liên tục được xếp loại cải tạo từ khá trở lên, thời gian tiếp
theo được đánh giá cải tạo tốt.
- Phạm nhân bị phạt tù trên năm năm đến bảy năm phải
có ít nhất cả bốn quý của năm 2015 và quý 1, quý 2, quý 3 năm 2016 liên tục được
xếp loại cải tạo từ khá trở lên, thời gian tiếp theo được đánh giá cải tạo tốt.
- Phạm nhân bị phạt tù trên ba năm đến năm năm phải
có ít nhất quý 3, quý 4 của năm 2015 và quý 1, quý 2, quý 3 năm 2016 liên tục
được xếp loại cải tạo từ khá trở lên, thời gian tiếp theo được đánh giá cải tạo
tốt.
- Phạm nhân bị phạt tù từ ba năm trở xuống phải có
ít nhất quý 1, quý 2, quý 3 năm 2016 liên tục được xếp loại khá trở lên, thời
gian tiếp theo được đánh giá cải tạo tốt.
- Thời gian tiếp theo được tính từ ngày 26 tháng 8
năm 2016 đến ngày họp của Hội đồng xét đề nghị đặc xá của trại giam, trại tạm
giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện.
(Theo Thông tư số 40/2011/TT-BCA ngày 27 tháng 6
năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định tiêu chuẩn thi đua chấp hành án phạt
tù và xếp loại chấp hành án phạt tù, định kỳ 3 tháng, 6 tháng và một năm, gồm 4
loại: Tốt, khá, trung bình, kém; thời gian xếp loại quý I vào ngày 25 tháng 02,
quý II và 6 tháng đầu năm vào ngày 25 tháng 5, quý III vào ngày 25 tháng 8, quý
IV, 6 tháng cuối năm và cả năm vào ngày 25 tháng 11 hàng năm. Đối với phạm nhân
đang chấp hành án tại trại giam, trại tạm giam do Bộ Quốc phòng quản lý thì
theo Quyết định số 251/2003/QĐ-BQP ngày 07 tháng 10 năm 2003 (nay đã hết hiệu lực)
và Thông tư số 181/2013/TT-BQP ngày 08 tháng 10 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng ban hành tiêu chuẩn thi đua và xếp
loại thi đua chấp hành án phạt tù trong các trại giam, trại tạm giam quân sự do
Bộ Quốc phòng quản lý).
- Những phạm nhân thuộc khoản 2 Mục
II của Hướng dẫn này, so với quy định ở trên còn thiếu 01 quý xếp loại cải
tạo khá hoặc tốt đầu tiên (đối với phạm nhân bị phạt tù từ ba năm trở xuống),
thiếu 02 quý xếp loại cải tạo khá hoặc tốt đầu tiên (đối với phạm nhân bị phạt
tù từ trên ba năm đến bảy năm), thiếu 03 quý xếp loại cải tạo khá hoặc tốt đầu
tiên (đối với phạm nhân bị phạt tù trên bảy năm đến mười lăm năm), thiếu 04 quý
xếp loại cải tạo khá hoặc tốt đầu tiên (đối với phạm nhân bị phạt tù trên mười
lăm năm) mà trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam hoặc ở trại giam, trại tạm
giam, nhà tạm giữ chấp hành nghiêm chỉnh Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà
tạm giữ thì vẫn được xem xét, đề nghị đặc xá nếu có đủ các điều kiện khác.
- Tất cả phạm nhân được đề nghị đặc xá ngoài có đủ
số kỳ xếp loại cải tạo quý từ khá trở lên trong thời gian quy định đối với từng
mức án như trên còn phải bảo đảm các kỳ xếp loại 6 tháng trong thời gian này
cũng được xếp loại cải tạo từ khá trở lên.
b) Đã chấp hành án phạt tù ít nhất là một phần hai
thời gian đối với án phạt tù có thời hạn; ít nhất là mười lăm năm đối với án phạt
tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn.
Thời gian đã chấp hành án phạt tù là thời gian người
đó bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành án phạt tù trong trại giam, trại tạm giam,
cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, không kể thời gian được tại ngoại,
được hoãn, tạm đình chỉ và thời gian được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù.
Thời gian được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù
(nếu có) được tính để trừ vào phần thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại.
Ví dụ: Nguyễn Văn A bị kết án 15 năm tù, bị bắt
ngày 30 tháng 11 năm 2007, tính đến ngày 30 tháng 11 năm 2016, Nguyễn Văn A đã
thực sự chấp hành được 09 năm, đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù 03 lần,
tổng cộng là 02 năm, thì thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại là 04 năm.
c) Phạm nhân phải chấp hành xong hình phạt bổ sung
là phạt tiền, bồi thường thiệt hại, tiền truy thu, án phí hoặc nghĩa vụ dân sự
khác, trừ những phạm nhân không bị kết án tù về các tội phạm về tham nhũng đã
70 tuổi trở lên hoặc từ 60 tuổi trở lên nhưng thường xuyên ốm đau hoặc người
đang mắc bệnh hiểm nghèo mà bản thân người đó và gia đình không còn khả năng thực
hiện.
Phạm nhân là người chưa thành niên phạm tội mà
trong bản án, quyết định của Tòa án giao trách nhiệm bồi thường thiệt hại hoặc
nghĩa vụ dân sự khác cho bố mẹ hoặc người đại diện hợp pháp thì phải có đầy đủ
tài liệu chứng minh bố, mẹ hoặc người đại diện hợp
pháp đã thực hiện xong bồi thường thiệt hại hoặc nghĩa vụ dân sự mới được
xem xét, đề nghị đặc xá.
Những trường hợp sau đây được coi là đã thực hiện
xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, bồi thường thiệt hại, tiền truy thu, án
phí, nghĩa vụ dân sự khác hoặc chưa thực hiện xong nhưng vẫn được xem xét, đề
nghị đặc xá, nếu có đủ các điều kiện khác:
- Phạm nhân được Tòa án quyết định miễn thực hiện
hình phạt bổ sung là phạt tiền, tiền truy thu, án phí.
- Phạm nhân được người bị hại hoặc đại diện hợp
pháp của người bị hại có văn bản đồng ý xóa nợ, không yêu cầu thực hiện trách
nhiệm bồi thường thiệt hại về dân sự nữa và được Ủy
ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc Cơ quan thi hành án dân sự đang thụ
lý vụ việc đó xác nhận.
- Phạm nhân phải chấp hành nghĩa vụ dân sự về cấp
dưỡng cho bên bị hại theo định kỳ hàng tháng mà đến khi Hội đồng xét đề nghị đặc
xá của trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện
họp, thân nhân của phạm nhân đã chấp hành đầy đủ, đúng hạn các khoản nghĩa vụ cấp
dưỡng, bồi thường theo định kỳ mà bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên, được Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Cơ quan thi hành án
dân sự đang thụ lý vụ việc đó xác nhận.
- Phạm nhân được Thủ trưởng Cơ quan thi hành án dân
sự có thẩm quyền ra Quyết định đình chỉ thi hành án theo quy định của Pháp lệnh
thi hành án dân sự năm 2004 hoặc Luật thi hành án dân sự.
2. Người bị kết án phạt tù có thời hạn đã chấp hành
ít nhất là một phần ba thời gian và người bị kết án phạt tù chung thân đã được
giảm xuống tù có thời hạn đã chấp hành ít nhất là mười ba năm, nếu có đủ các điều
kiện khác quy định tại điểm a, c khoản 1 Mục II này, thì được
xét, đề nghị đặc xá khi thuộc một trong các trường
hợp sau đây:
a) Đã lập công lớn trong thời gian chấp hành án phạt
tù: Là người đã có hành động giúp trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp huyện, cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phát hiện, truy bắt,
điều tra, xử lý tội phạm; cứu được tính mạng người khác hoặc tài sản lớn (có
giá trị từ ba mươi triệu đồng trở lên) của Nhà nước, của tập thể, của công dân
trong thiên tai, hỏa hoạn; có những phát minh, sáng kiến có giá trị lớn hoặc
thành tích đặc biệt xuất sắc khác được trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp huyện xác nhận. Trường
hợp lập công lớn trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam mà chưa được Tòa
án ghi nhận là tình tiết giảm nhẹ khi xét xử hoặc lập công lớn trong thời gian
chờ đưa đến trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
huyện để chấp hành án phạt tù cũng được coi là lập công lớn trong thời gian chấp
hành án phạt tù;
b) Là thương binh; bệnh binh; người có thành tích
trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội được tặng thưởng một
trong các danh hiệu: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động,
Nhà giáo nhân dân, Thầy thuốc nhân dân, Nghệ sỹ nhân dân, Dũng sỹ trong kháng
chiến chống Mỹ cứu nước; được tặng thưởng một trong các loại Huân chương hoặc
được tặng thưởng Huy chương kháng chiến;
c) Có một trong những thân nhân sau đây là liệt sỹ:
Bố đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con đẻ, anh, chị, em ruột hoặc bố nuôi, mẹ nuôi,
con nuôi hợp pháp;
d) Là con đẻ, con nuôi hợp pháp của “Bà mẹ Việt Nam
anh hùng”; con của gia đình được Chủ tịch nước, Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Cộng
hòa miền Nam Việt Nam, Chủ tịch Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng
bằng “Gia đình có công với nước”;
đ) Khi phạm tội là người chưa thành niên (chưa đủ
18 tuổi);
e) Là người từ 70 tuổi trở lên;
g) Là người đang bị mắc một trong các bệnh hiểm
nghèo như: Ung thư giai đoạn cuối, liệt, lao nặng kháng thuốc, xơ gan cổ chướng,
suy tim độ III trở lên, suy thận độ IV trở lên, nhiễm HIV đã chuyển giai đoạn
AIDS đang có nhiễm trùng cơ hội, không có khả năng tự phục vụ bản thân và có
tiên lượng xấu, nguy cơ tử vong cao hoặc mắc một trong các bệnh khác được Hội đồng
giám định y khoa, bệnh viện cấp tỉnh hoặc
cấp quân khu trở lên kết luận bằng văn bản là bệnh hiểm nghèo, nguy
hiểm đến tính mạng;
h) Người từ 60 tuổi trở lên mà thường xuyên ốm đau
là người đang chấp hành án phạt tù tại trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp huyện phải nằm điều trị tại bệnh xá, bệnh viện liên tục
trong một thời gian dài (từ ba tháng trở lên) hoặc không liên tục nhưng nhiều lần
phải nằm điều trị tại bệnh viện (mỗi lần không dưới một tháng), không lao động,
không tự phục vụ bản thân được và không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội,
có kết luận của Hội đồng giám định y khoa hoặc xác nhận bằng văn bản của bệnh
viện cấp tỉnh, cấp quân khu trở lên;
i) Có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và bản
thân là lao động duy nhất trong gia đình: Là trường hợp có gia đình đang lâm
vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn, không
còn tài sản gì đáng kể hoặc có bố đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con ốm đau nặng kéo
dài, không có người chăm sóc mà phạm nhân đó là lao động duy nhất trong gia
đình, được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi gia
đình cư trú xác nhận là đúng;
k) Nữ phạm nhân đang có thai hoặc có con nhỏ dưới
36 tháng tuổi đang ở với mẹ trong trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ.
3. Các trường hợp
không đề nghị đặc xá
Người có đủ điều kiện quy định tại Mục II này không
được đề nghị đặc xá nếu thuộc một trong các trường
hợp sau đây:
a) Bản án hoặc quyết định của Tòa án đối với người
đó đang có kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm;
b) Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi
phạm tội khác;
c) Trước đó đã được đặc xá;
d) Có từ hai tiền án trở lên;
đ) Phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm
trọng xâm phạm an ninh quốc gia;
e) Phạm nhân thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Mục II này có thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại
trên sáu năm hoặc thuộc đối tượng quy định tại khoản 2 Mục II này
có thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên tám năm;
g) Bị kết án phạt tù về một trong các tội: Khủng bố;
phá hoại hòa bình; chống loài người; tội phạm chiến tranh; chống người thi hành
công vụ có tổ chức (quy định tại điểm a khoản 2 Điều 257 Bộ luật hình sự năm 1999) hoặc phạm tội
nhiều lần (quy định tại điểm b khoản 2 Điều 257 Bộ luật hình sự
năm 1999) hoặc xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội (quy định tại
điểm c khoản 2 Điều 257 Bộ luật hình sự năm 1999) hoặc gây hậu
quả nghiêm trọng (quy định tại điểm d khoản 2 Điều 257 Bộ luật
hình sự năm 1999);
h) Bị kết án phạt tù từ 10 năm trở lên đối với tội
xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người do cố ý;
i) Bị kết án phạt tù từ 07 năm trở lên đối với tội
cướp tài sản, cướp giật tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, sản xuất trái
phép chất ma túy, mua bán trái phép chất ma túy, chiếm đoạt chất ma túy.
k) Phạm một trong các tội sau đây:
- Giết người có tổ chức (quy định tại điểm
o khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999);
- Giết người có tính chất côn đồ (quy định tại điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999);
- Cố ý gây thương tích có tổ chức (quy định tại điểm e khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999) hoặc có tính
chất côn đồ (quy định tại điểm i khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự
năm 1999) hoặc phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều
người (quy định tại điểm c khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự năm
1999);
- Hiếp dâm có tính chất loạn luân (quy định tại điểm e khoản 2 Điều 111 Bộ luật hình sự năm 1999);
- Hiếp dâm trẻ em có tính chất loạn luân (quy định
tại điểm a khoản 2 Điều 112 Bộ luật hình sự năm 1999);
- Cướp tài sản có sử dụng vũ khí (các loại vũ khí
được quy định tại Điều 3 Pháp lệnh số 16/2011/UBTVQH12ngày
30 tháng 6 năm 2011 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ); cướp tài sản
có tổ chức (quy định tại điểm a khoản 2 Điều 133 Bộ luật hình sự
năm 1999); cướp tài sản gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt
nghiêm trọng (quy định tại điểm g khoản 2, điểm c khoản 3, điểm
c khoản 4 Điều 133 Bộ luật hình sự năm 1999);
- Cướp giật tài sản có tổ chức (quy định tại điểm a khoản 2 Điều 136 Bộ
luật hình sự năm 1999); cướp giật tài sản gây hậu quả nghiêm trọng, rất
nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng (quy định tại điểm h khoản
2, điểm c khoản 3, điểm c khoản 4 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999);
- Trộm cắp tài sản có tổ chức (quy định tại điểm a khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999); trộm cắp
tài sản gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng (quy
định tại điểm g khoản 2, điểm b khoản 3, điểm b khoản 4 Điều
138 Bộ luật hình sự năm 1999);
- Cướp tài sản nhiều lần, cướp giật tài sản nhiều lần,
trộm cắp tài sản nhiều lần (từ hai lần trở lên): Căn cứ để xác định phạm tội
nhiều lần là số lần phạm tội được thể hiện trong Bản án hoặc phần Quyết định của
Bản án có áp dụng điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự.
Những trường hợp đang phải chấp hành hình
phạt tổng hợp của nhiều bản án về cùng một tội mà trong mỗi bản án chỉ thể hiện
phạm tội một lần thì vẫn là phạm tội nhiều lần;
l) Phạm các tội về ma túy bị phạt tù dưới bảy năm
mà thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên một năm; đối với trường hợp phạm
các tội về ma túy nhưng không thuộc trường hợp quy định tại điểm
i nêu trên, nếu bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm mà thời hạn chấp
hành án phạt tù còn lại trên hai năm hoặc bị phạt tù trên mười lăm năm, tù chung
thân mà thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên ba năm;
m) Người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy hoặc người dùng
thủ đoạn xảo quyệt, người ngoan cố chống đối trong vụ án phạm tội có tổ chức;
n) Có căn cứ khẳng định đã sử dụng trái phép các chất
ma túy là các tài liệu có trong hồ sơ phạm nhân như: Bản án; cáo trạng; các tài
liệu của cơ quan điều tra; kết quả xét nghiệm của cơ quan y tế cấp huyện trở
lên; bản tự khai của phạm nhân có ghi rõ thời gian, số lần đã sử dụng chất ma
túy... hoặc phiếu khám sức khỏe của trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp huyện có chữ ký (hoặc điểm chỉ) của phạm nhân thừa nhận
là đã sử dụng trái phép các chất ma túy;
o) Đang chấp hành án phạt tù do phạm từ ba tội trở
lên hoặc phạm hai tội do cố ý, kể cả trường hợp
tổng hợp hình phạt;
p) Đã có một tiền án mà lại bị kết án phạt tù về tội
do cố ý;
q) Đã từng bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, kể cả
cơ sở giáo dục trước đây hoặc trường giáo dưỡng mà bị kết án phạt tù về một
trong các tội sau đây: về ma túy; giết người; hiếp dâm trẻ em; cướp tài sản; cướp
giật tài sản; cưỡng đoạt tài sản; lừa đảo chiếm đoạt tài sản; trộm cắp tài sản;
bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; chống người thi hành công vụ; mua bán phụ nữ
hoặc mua bán người; mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em; gây rối trật tự
công cộng; tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
III. HỒ SƠ, TRÌNH TỰ VÀ THỦ TỤC
XÉT ĐẶC XÁ
1. Hồ sơ đề nghị đặc xá
a) Hồ sơ đề nghị đặc xá bao gồm các tài liệu sau:
- Đơn xin đặc xá của phạm nhân;
- Bản cam kết không vi phạm pháp luật, chịu sự quản
lý, giám sát của chính quyền địa phương, tiếp tục chấp hành các hình phạt bổ
sung khác (nếu có) như: Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc
nhất định; cấm cư trú; quản chế; tước một số quyền công dân; tịch thu tài sản;
trục xuất. Bản cam kết làm theo mẫu và phải có xác nhận của Giám thị trại giam,
trại tạm giam hoặc Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện;
- Tài liệu chứng minh đã thực hiện xong hình phạt bổ
sung là phạt tiền, bồi thường thiệt hại, tiền truy thu, nộp án phí hoặc Quyết định
miễn hình phạt tiền, miễn nộp án phí của Tòa án; Giấy đồng ý xóa nợ của người bị
hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại được Ủy
ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc Cơ quan thi hành án dân sự đang thụ
lí vụ việc đó xác nhận; văn bản của Ủy ban
nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc Cơ quan thi hành án dân sự đang thụ lý vụ việc
đó xác nhận về việc phạm nhân hoặc thân nhân của phạm nhân đã chấp hành nghĩa vụ
dân sự về cấp dưỡng cho bên bị hại theo định kỳ hàng tháng; Quyết định đình chỉ
thi hành án của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền;
- Tài liệu chứng minh đã được xóa án tích là giấy
chứng nhận hoặc quyết định xóa án tích của Tòa án có thẩm quyền cấp cho người
có tiền án được xóa án tích hoặc trong bản án ghi là có tiền án đã được xóa án
tích;
- Văn bản đề nghị đặc xá của Giám thị trại giam, trại
tạm giam hoặc Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện (theo mẫu);
- Các loại giấy chứng nhận của người được xét đặc
xá là những phạm nhân từ 70 tuổi trở lên hoặc phạm nhân từ 60 tuổi trở lên
nhưng thường xuyên ốm đau hoặc phạm nhân đang mắc bệnh hiểm nghèo mà gia đình
và bản thân người đó không còn khả năng thực hiện hình phạt bổ sung là phạt tiền, bồi thường thiệt hại, án
phí hoặc nghĩa vụ dân sự khác và các đối tượng quy định tại khoản
2 Mục II Hướng dẫn này, bao gồm:
+ Kết luận của Hội đồng giám định y khoa hoặc Bản
sao Bệnh án, kết luận của bệnh viện cấp tỉnh, cấp quân khu trở lên đối với phạm
nhân từ 60 tuổi trở lên mà thường xuyên ốm đau phải nằm điều trị tại bệnh xá, bệnh
viện liên tục trong một thời gian dài (từ ba tháng trở lên) hoặc không liên tục
nhưng nhiều lần phải nằm điều trị tại bệnh viện (mỗi lần không dưới một tháng),
không lao động, không tự phục vụ bản thân được và không còn khả năng gây nguy
hiểm cho xã hội;
+ Kết luận của Hội đồng giám định y khoa hoặc bản
sao Bệnh án, kết luận của Bệnh viện cấp tỉnh hoặc cấp quân khu trở lên đối với
phạm nhân mắc bệnh hiểm nghèo (Các tài liệu chứng minh phạm nhân bị bệnh hiểm
nghèo hoặc thường xuyên ốm đau chỉ có giá trị trong thời gian sáu tháng, tính đến
ngày Hội đồng xét đề nghị đặc xá của trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp huyện họp xem xét, lập hồ sơ đề nghị đặc xá);
+ Xác nhận của Ủy
ban nhân dân cấp xã hoặc Cơ quan thi hành án dân sự đang thụ lý vụ việc
đó về hoàn cảnh kinh tế gia đình đặc biệt khó khăn không còn tiền, tài sản để
thực hiện hình phạt bổ sung là phạt tiền, bồi thường thiệt hại, nộp án phí hoặc
nghĩa vụ dân sự khác;
- Bản sao quyết định tặng thưởng danh hiệu Anh hùng
lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động, Nhà giáo nhân dân, Thầy thuốc
nhân dân, Nghệ sỹ nhân dân, Huân chương, Huy chương kháng chiến, danh hiệu
“Dũng sỹ” trong kháng chiến chống Mỹ, bằng “Gia đình có công với nước”, Giấy chứng
nhận thương binh, bệnh binh, con “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” có chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc văn phòng công chứng.
Trường hợp không có bản sao các giấy tờ nêu trên thì phải có giấy xác nhận của
cơ quan, đơn vị nơi phạm nhân công tác, học tập hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi phạm nhân cư trú trước khi phạm tội.
Đối với phạm nhân có thân nhân là liệt sỹ phải có
giấy xác nhận hoặc bản sao giấy tờ chứng minh có thân nhân là liệt sỹ được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi phạm nhân cư trú hoặc
đơn vị nơi phạm nhân đã công tác, học tập trước khi phạm tội xác nhận. Trường hợp
phạm nhân là bố nuôi, mẹ nuôi, con nuôi hợp pháp
của liệt sỹ hoặc con nuôi hợp pháp của “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” phải có xác nhận
hoặc Giấy chứng nhận nuôi con nuôi của Ủy ban
nhân dân cấp xã nơi phạm nhân cư trú hoặc Ủy ban
nhân dân cấp xã nơi liệt sỹ cư trú trước khi hy sinh, nơi cư trú của Bà mẹ Việt
Nam anh hùng (văn bản xác nhận hoặc quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã phải có trước thời điểm mà phạm nhân phạm
tội);
- Đơn của gia đình phạm nhân có hoàn cảnh đặc biệt
khó khăn và bản thân phạm nhân là lao động duy nhất (trình bày rõ hoàn cảnh cụ
thể từng thành viên của gia đình gồm: Bố, mẹ, vợ (hoặc chồng), con, anh, chị,
em ruột đang ở đâu? làm gì?). Đơn phải được Ủy
ban nhân dân cấp xã nơi gia đình phạm nhân cư trú xác nhận cụ thể về
hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của gia đình phạm nhân, bản thân phạm nhân là lao động
duy nhất hoặc xác nhận nội dung trình bày của gia đình phạm nhân là đúng (không
chấp nhận những đơn không có nội dung xác nhận này của Ủy ban nhân dân cấp xã);
- Bản sao giấy khai sinh hoặc bản trích sao phần bản
án xác nhận phạm nhân lúc phạm tội là người chưa thành niên (chưa đủ 18 tuổi);
- Đối với các trường
hợp phạm nhân lập công lớn trong quá trình chấp hành án phạt tù quy định
tại điểm a khoản 2 Mục II Hướng dẫn này phải có đầy đủ các
giấy tờ sau: Bản tường trình về lập công của phạm nhân; đề nghị khen thưởng cho
phạm nhân của cán bộ trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công
an cấp huyện hoặc Cơ quan điều tra sử dụng phạm nhân để phục vụ công tác điều
tra; xác nhận hoặc quyết định khen thưởng về việc phạm nhân lập công lớn trong
quá trình chấp hành án phạt tù của Giám thị trại giam, trại tạm giam, Thủ trưởng
cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện hoặc Cơ quan điều tra sử dụng phạm
nhân để phục vụ công tác điều tra;
- Kết luận của bệnh viện cấp huyện trở lên về việc
phạm nhân là phụ nữ có thai; bản sao giấy khai sinh hoặc giấy chứng sinh của
con phạm nhân dưới 36 tháng tuổi và xác nhận của Giám thị trại giam, trại tạm
giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện về việc phạm
nhân có con nhỏ dưới 36 tháng tuổi đang ở với mẹ trong trại giam, trại tạm
giam, nhà tạm giữ;
- Phạm nhân phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia, phạm
nhân là người nước ngoài và phạm nhân được đề nghị đặc xá trong trường hợp đặc biệt phải sao nguyên văn bản án
mà người đó đang phải chấp hành. Phạm nhân là người nước ngoài phải có bản sao
Hộ chiếu và thị thực nhập cảnh (nếu có);
Giám thị trại giam, trại tạm giam và Thủ trưởng cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện được sao y bản chính những văn bản
như: Bản án, bệnh án, kết luận giám định y khoa, các loại tài liệu xác nhận việc
thực hiện hình phạt bổ sung là phạt tiền, bồi thường thiệt hại, tiền truy thu,
nộp án phí hoặc các nghĩa vụ dân sự khác và các tài liệu khác liên quan đến quá
trình chấp hành án phạt tù của phạm nhân. Khi trình danh sách, hồ sơ đề nghị đặc
xá để Tổ thẩm định liên ngành nghiên cứu,
thẩm định, phải có bản chính của những
tài liệu này.
b) Danh sách, hồ sơ, thống kê phạm nhân được đề nghị
đặc xá của các trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
huyện được làm thành bốn bộ đóng dấu đỏ để Tổ thẩm định liên ngành thẩm định.
Sau khi thẩm định xong, một bộ có dấu đỏ cùng đầy đủ
các tài liệu chứng minh gốc hoặc bản sao có công chứng của cơ quan có thẩm quyền được lưu tại trại giam, trại tạm
giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện.
Hồ sơ tài liệu chuyển về Thường trực Hội đồng tư vấn
đặc xá bao gồm:
- Ba bộ có dấu đỏ gồm có các tài liệu sau: Biên bản
thẩm định danh sách, hồ sơ đề nghị đặc xá của Tổ thẩm định liên ngành; biên bản
họp Hội đồng xét đề nghị đặc xá của trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp huyện; thống kê số liệu người được đề nghị đặc xá; phiếu
đề nghị đặc xá cho phạm nhân; đơn xin đặc xá, bản cam kết; văn bản đề nghị đặc
xá cho phạm nhân của trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công
an cấp huyện nhận phạm nhân trích xuất nhưng không quản lý hồ sơ gốc của phạm
nhân (áp dụng đối với trường hợp phạm nhân trích xuất); các tài liệu do Giám thị
trại giam, trại tạm giam hoặc Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
huyện sao y bản chính như: Hóa đơn, chứng từ, văn bằng, giấy xác nhận, tài liệu
chứng minh khác...; danh sách người đủ điều kiện đề nghị đặc xá do Giám thị trại
giam thuộc Bộ Công an, Chánh Văn phòng cơ quan Cảnh sát điều tra, Bộ Công an, Cục
trưởng Cục An ninh điều tra, Bộ Công an, Giám đốc Công an cấp tỉnh, Tư lệnh
Quân khu và tương đương lập (theo mẫu);
- Chín bộ khác gồm có các tài liệu: Biên bản thẩm định
danh sách, hồ sơ đề nghị đặc xá của Tổ thẩm định liên ngành; biên bản họp Hội đồng
xét đề nghị đặc xá của trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp huyện; phiếu đề nghị đặc xá cho phạm nhân; các loại danh sách người
đủ điều kiện đề nghị đặc xá như đã nêu trên;
- Đối với những trường hợp mà Tổ thẩm định liên
ngành thẩm định và có ý kiến là không đủ điều kiện đề nghị đặc xá phải làm
thành 12 bộ hồ sơ riêng, có danh sách người không đủ điều kiện đề nghị đặc xá
do tổ thẩm định lập kèm theo phiếu đề nghị
đặc xá và các tài liệu khác giống như hồ sơ của người đủ điều kiện đề nghị đặc
xá đã nêu.
2. Trình tự, thủ tục lập danh sách, hồ sơ đề nghị đặc
xá
a) Đối với phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại
trại giam, trại tạm giam đủ điều kiện đề nghị đặc xá thì trình tự, thủ tục lập
hồ sơ, danh sách người được đặc xá thực hiện theo Điều 7 Nghị định
số 76/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 7 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết
thi hành một số điều của Luật đặc xá.
Đối với phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện theo Quyết định của cơ quan quản lý
thi hành án hình sự Bộ Công an, nếu đủ điều kiện thì trình tự, thủ tục lập hồ
sơ, danh sách đề nghị đặc xá được vận dụng thực hiện như phạm nhân đang chấp
hành án phạt tù tại trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh.
Trường hợp phạm nhân chấp hành án phạt tù tại trại
tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh nhưng được đưa đến phục vụ tại nhà tạm giữ thuộc
Công an cấp huyện theo Quyết định của Giám đốc hoặc Thủ trưởng cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp tỉnh, nếu có đủ điều kiện thì Giám thị trại tạm giam chủ
trì, phối hợp với Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện lập
hồ sơ đề nghị đặc xá.
Trường hợp phạm nhân được trích xuất để phục vụ điều
tra, truy tố, xét xử nhưng không thuộc đối tượng đang bị truy cứu trách nhiệm
hình sự về hành vi phạm tội khác thì trại giam, trại tạm giam hoặc cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp huyện đang quản lý hồ sơ gốc của phạm nhân đó lập hồ
sơ đề nghị đặc xá, nếu họ có đủ điều kiện đề nghị đặc xá. Giám thị trại tạm
giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận phạm nhân
được trích xuất nhưng không quản lý hồ sơ gốc có trách nhiệm phối hợp với đơn vị đang quản lý hồ sơ gốc của
phạm nhân lập hồ sơ đề nghị đặc xá cho những phạm nhân này.
Giám thị trại giam, trại tạm giam và Thủ trưởng cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm thông báo, niêm yết
công khai danh sách người được trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp huyện đề nghị đặc xá.
b) Trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị đặc xá trong
trường hợp đặc biệt:
- Chính phủ giao Bộ Công an, Bộ Quốc phòng chỉ đạo
các trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện lập
hồ sơ đề nghị xét đặc xá trong trường hợp
đặc biệt đối với phạm nhân đang chấp hành án phạt tù;
- Tòa án nhân dân tối cao chỉ đạo, hướng dẫn Tòa án
nhân dân, Tòa án quân sự các cấp phối hợp với Viện kiểm sát, cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp tỉnh, cấp quân khu lập hồ sơ, danh sách đề nghị đặc xá
trong trường hợp đặc biệt cho người đang được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án
phạt tù và tập hợp hồ sơ, danh sách để
các cơ quan có thẩm quyền xét duyệt;
- Chính phủ chủ trì, phối
hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các
cơ quan, tổ chức có liên quan xét duyệt hồ sơ của người được đề nghị đặc xá
trong trường hợp đặc biệt do Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao
lập để trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định.
3. Thẩm định hồ sơ đề nghị đặc xá
a) Bộ trưởng Bộ Công an quyết định thành lập các Tổ
chuyên viên giúp việc cho thành viên Hội đồng tư vấn đặc xá; quyết định thành lập các Tổ thẩm định liên ngành gồm đại diện của Bộ Công
an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do
một đồng chí lãnh đạo cấp Cục của Bộ Công an làm Tổ trưởng, trực tiếp đến các địa
phương, các trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an và Bộ Quốc phòng để kiểm
tra, thẩm định hồ sơ đề nghị đặc xá.
b) Tổ thẩm định liên ngành có trách nhiệm giúp Hội
đồng tư vấn đặc xá nghiên cứu, thẩm định danh sách, hồ sơ của người được đề nghị
đặc xá do Giám thị trại giam thuộc Bộ Công an, Chánh Văn phòng Cơ quan Cảnh sát
điều tra và Cục trưởng Cục An ninh điều tra, Bộ Công an, Giám đốc Công an cấp tỉnh,
Tư lệnh Quân khu và tương đương trình. Tổ thẩm định liên ngành chịu hoàn toàn
trách nhiệm về tính khách quan trong quá trình kiểm tra, thẩm định danh sách, hồ
sơ đề nghị đặc xá. Tổ thẩm định liên ngành tổng
hợp kết quả thẩm định, lập biên bản thẩm định kèm theo danh sách người đủ
điều kiện đặc xá, danh sách người không đủ điều kiện đề nghị đặc xá của từng
Công an cấp tỉnh, từng trại giam, trại tạm giam và hoàn thành hồ sơ chuyển đến
Thường trực Hội đồng tư vấn đặc xá. Thường trực Hội đồng tư vấn đặc xá có trách
nhiệm tập hợp danh sách, hồ sơ người có đủ điều kiện đặc xá, người không đủ điều
kiện đặc xá và chuyển các loại danh sách này cùng với phiếu đề nghị đặc xá cho
phạm nhân đến các thành viên Hội đồng tư vấn đặc xá.
c) Các thành viên Hội đồng tư vấn đặc xá có trách
nhiệm nghiên cứu, thẩm định, phát hiện những sai sót về nội dung và hình thức
trong danh sách, phiếu đề nghị đặc xá cho phạm nhân và thông báo kịp thời cho
Thường trực Hội đồng tư vấn đặc xá biết. Đối với những hồ sơ đề nghị đặc xá mà
thành viên Hội đồng tư vấn đặc xá yêu cầu phải có tài liệu chứng minh để làm rõ
những tình tiết cụ thể thì Thường trực Hội đồng tư vấn đặc xá cung cấp kịp thời.
Sau khi nhận được ý kiến tham gia của thành viên Hội đồng tư vấn đặc xá, Thường
trực Hội đồng tư vấn đặc xá có trách nhiệm xem xét, giải quyết. Trường hợp không
thống nhất về danh sách người đủ điều kiện, người không đủ điều kiện được đề
nghị đặc xá, Thường trực Hội đồng tư vấn đặc xá phải có báo cáo giải trình kèm
theo danh sách và hồ sơ để Hội đồng tư vấn đặc xá xem xét, quyết định.
d) Hội đồng tư vấn đặc xá tổ chức thẩm định danh
sách, hồ sơ do Thường trực Hội đồng tư vấn đặc xá trình và quyết định danh sách
người đủ điều kiện, danh sách người không đủ điều kiện được đề nghị đặc xá
trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định.
4. Quản lý tài liệu, hồ sơ, danh sách và số liệu
người được đề nghị xét đặc xá
a) Tài liệu, hồ sơ, danh sách và số liệu phạm nhân
được đề nghị xét đặc xá sau khi Tổ thẩm định liên ngành kiểm tra, thẩm định thuộc
loại tài liệu được quản lý, sử dụng theo chế độ "MẬT" đến khi Giám thị
trại giam, trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
huyện tổ chức công bố Quyết định đặc xá năm 2016 của Chủ tịch nước.
Cán bộ, chiến sỹ, chuyên viên, nhân viên của các Bộ,
Ban, ngành tham gia công tác đặc xá phải chấp hành nghiêm chỉnh việc quản lý, sử
dụng hồ sơ và danh sách người được đề nghị đặc xá theo chế độ “MẬT”. Những người
vi phạm phải xử lý theo pháp luật.
b) Hồ sơ xét đề nghị đặc xá của phạm nhân phải đầy
đủ tài liệu, nội dung ghi trong hồ sơ phải thống nhất, rõ ràng và đúng thủ tục
quy định về đặc xá. Nếu để sai lệch các dữ liệu ghi trong hồ sơ đề nghị đặc xá
so với hồ sơ gốc hoặc do lỗi kỹ thuật, sau khi thẩm định để lại không đề nghị đặc
xá cho phạm nhân có đủ điều kiện hoặc do làm sai lệch hồ sơ và đề nghị đặc xá
cho người không có đủ điều kiện, thì Giám thị trại giam, trại tạm giam hoặc Thủ
trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện lập hồ sơ phải chịu trách
nhiệm.
IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Trách nhiệm của các Bộ, Ban, ngành
a) Bộ Công an là Cơ quan Thường trực Hội đồng tư vấn
đặc xá có trách nhiệm:
- Thành lập Ban Chỉ đạo về đặc xá của Bộ Công an;
giúp Chủ tịch Hội đồng tư vấn đặc xá hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc Công
an các địa phương, Giám thị các trại giam, trại tạm giam và Thủ trưởng cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp huyện triển khai thực hiện Quyết định về đặc xá
năm 2016 của Chủ tịch nước và Hướng dẫn của Hội đồng tư vấn đặc xá; chỉ đạo
thành lập Hội đồng xét đề nghị đặc xá của trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp huyện;
- Quyết định thành lập các Tổ chuyên viên giúp việc
cho thành viên Hội đồng tư vấn đặc xá và các Tổ thẩm định liên ngành; quy định
lề lối làm việc và chỉ đạo các tổ công tác này nghiên cứu, kiểm tra, thẩm định, tổng hợp hồ sơ, danh sách người có đủ
điều kiện, người không đủ điều kiện đề nghị đặc xá để trình Hội đồng tư vấn đặc
xá;
- Bố trí chương trình, thời gian và chuẩn bị nội
dung, tài liệu, hồ sơ các cuộc họp của Hội đồng tư vấn đặc xá;
- Đề xuất với Chủ tịch Hội đồng tư vấn đặc xá giải
quyết những vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện;
- Khi được Chủ tịch Hội đồng tư vấn đặc xá ủy quyền,
ủy viên Thường trực Hội đồng tư vấn đặc xá được triệu tập cuộc họp để lấy ý kiến
các thành viên của Hội đồng về những vấn đề khẩn cấp và chỉ đạo, giải quyết những
vấn đề cụ thể khác nảy sinh trong quá
trình thực hiện Quyết định về đặc xá năm 2016;
- Quy định các biểu mẫu: Đơn xin đặc xá, phiếu xét
đặc xá, danh sách người đủ điều kiện đề nghị đặc xá, danh sách người không đủ điều
kiện được đề nghị đặc xá, bản cam kết của người được đặc xá, Thống kê phân tích
số người được đề nghị đặc xá, giấy chứng nhận đặc xá...;
- Chỉ đạo việc lập hồ sơ xét đề nghị đặc xá ở các
Công an cấp tỉnh, Hội đồng xét đề nghị đặc xá trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ
Công an; chỉ đạo việc kiểm tra, thẩm định
của các Tổ chuyên viên giúp việc cho thành viên Hội đồng tư vấn đặc xá và các Tổ
thẩm định liên ngành;
- Chỉ đạo các trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp huyện thực hiện tốt việc vận động, hướng dẫn và tạo
điều kiện cho phạm nhân liên lạc với thân nhân của họ, đôn đốc việc thực hiện
hình phạt bổ sung là phạt tiền, bồi thường
thiệt hại, nộp tiền truy thu, án phí hoặc các nghĩa vụ dân sự khác tại cơ quan
thi hành án dân sự; thu các khoản tiền mà phạm nhân là người phải thi hành án
dân sự hoặc thân nhân của họ tự nguyện nộp tại trại giam, trại tạm giam, cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện (nếu có) để thi hành án theo quyết định
thi hành án dân sự và quyết định của bản án hình sự, cấp giấy xác nhận cho phạm
nhân làm căn cứ đưa vào hồ sơ xét đề nghị đặc xá và chuyển số tiền đó cho cơ
quan thi hành án dân sự có thẩm quyền;
- Hoàn chỉnh hồ sơ, danh sách người được Hội đồng
tư vấn đặc xá xét duyệt, đề nghị đặc xá để báo cáo Chủ tịch Hội đồng trình Chủ
tịch nước quyết định, gồm dự thảo Tờ trình và 06 bộ danh sách người được đề nghị
đặc xá (có đóng dấu của Bộ Công an);
- Đối với những người đã được Hội đồng tư vấn đặc
xá xét duyệt, đề nghị đặc xá hoặc đã có Quyết định đặc xá mà chết trước khi
công bố, thì Ủy viên Thường trực Hội đồng tư vấn đặc xá đưa ra khỏi danh sách đặc
xá, sau đó báo cáo Văn phòng Chủ tịch nước biết.
Đối với những người đã được Hội đồng tư vấn đặc xá
đề nghị đặc xá mà có đơn khiếu nại, tố cáo, có dấu hiệu nghi vấn không đủ điều
kiện hoặc có hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm Nội quy trại giam, trại tạm
giam, nhà tạm giữ thì Ủy viên Thường trực Hội đồng tư vấn đặc xá kịp thời báo
cáo Văn phòng Chủ tịch nước đưa ra khỏi danh sách đề nghị đặc xá. Trường hợp
tương tự như đã nêu mà đã có Quyết định đặc xá của Chủ tịch nước nhưng chưa
công bố, thì Ủy viên Thường trực Hội đồng tư vấn đặc xá quyết định dừng ngay việc
thi hành và chỉ đạo giải quyết, kiểm tra làm rõ, đồng thời báo cáo Chủ tịch Hội
đồng tư vấn đặc xá và Chủ tịch nước (qua Văn phòng Chủ tịch nước);
- Tổng hợp và
chuyển danh sách người được đề nghị đặc xá sẽ về cư trú theo từng quận, huyện
thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã được Tổ thẩm định liên ngành nhất trí đề nghị đặc xá để
Giám đốc Công an tỉnh chủ động rà soát và chỉ đạo việc tiếp nhận, quản lý, giáo
dục, giúp đỡ người được đặc xá hòa nhập cộng đồng;
Khi có Quyết định đặc xá của Chủ tịch nước, thông
báo cho Giám đốc Công an cấp tỉnh và chuyển danh sách người được đặc xá tha tù
theo từng quận, huyện thuộc địa phương, đồng thời chỉ đạo Công an cấp tỉnh tham
mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương thực hiện tốt công tác tiếp nhận, quản
lý, giám sát, giúp đỡ người được đặc xá tái hòa nhập cộng đồng;
- Chỉ đạo, tổ chức Lễ công bố Quyết định đặc xá của
Chủ tịch nước cho phạm nhân trong các trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp huyện theo nghi lễ nghiêm trang;
- Phối hợp với Bộ Ngoại giao tổ chức tha số phạm
nhân có quốc tịch nước ngoài được đặc xá;
- Tiếp nhận, xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo của
công dân, các tổ chức trong và ngoài nước có liên quan đến đặc xá; trả lời bằng
văn bản cho các cơ quan, đơn vị, cá nhân có đơn khiếu nại về trường hợp không được đặc xá theo đúng lý do của
thành viên Hội đồng tư vấn đặc xá để lại;
- Phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông, Ban
Tuyên giáo Trung ương và các cơ quan, đơn vị chức năng lập kế hoạch tuyên truyền,
giới thiệu nội dung Quyết định về đặc xá năm 2016 của Chủ tịch nước trên các
phương tiện thông tin đại chúng;
- Tham mưu cho Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp tích cực triển khai thực
hiện có hiệu quả Nghị định số 80/NĐ-CP ngày 16 tháng 9 năm 2011 của Chính phủ
quy định các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành
xong án phạt tù, trong đó có người được đặc xá;
- Tổng kết công tác đặc xá năm 2016;
- Hướng dẫn Giám đốc Công an cấp tỉnh, Hội đồng xét
đề nghị đặc xá các trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công
an cấp huyện xét, đề nghị khen thưởng và chủ trì, phối
hợp cùng Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Chính phủ, Ban Thi đua -
Khen thưởng Trung ương đề xuất Nhà nước, Chính phủ khen thưởng cho những tập thể,
cá nhân có nhiều thành tích xuất sắc trong công tác đặc xá;
- Bố trí kinh phí phục vụ công tác đặc xá năm 2016;
- Làm các nhiệm vụ khác có liên quan đến công tác đặc
xá do Chủ tịch Hội đồng tư vấn đặc xá giao.
b) Bộ Quốc phòng có trách nhiệm thành lập Ban chỉ đạo
về đặc xá của Bộ Quốc phòng; chỉ đạo các trại giam, trại tạm giam do Bộ Quốc
phòng quản lý lập hồ sơ phạm nhân được đề nghị xét đặc xá trình Ban chỉ đạo về
đặc xá Bộ Quốc phòng xét duyệt.
- Chỉ đạo các trại giam, trại tạm giam do Bộ Quốc
phòng quản lý, hướng dẫn phạm nhân thông báo cho thân nhân của họ chấp hành hình
phạt bổ sung là phạt tiền, bồi thường thiệt hại, nộp tiền truy thu, án phí hoặc
các nghĩa vụ dân sự khác tại Cơ quan Thi hành án dân sự;
- Sau khi Tổ thẩm định liên ngành của Hội đồng tư vấn
đặc xá kiểm tra, thẩm định xong hồ sơ đề nghị đặc xá của Bộ Quốc phòng, Ban chỉ
đạo về đặc xá của Bộ Quốc phòng chuyển hồ sơ, danh sách về Cơ quan Thường trực
Hội đồng tư vấn đặc xá (Bộ Công an) để tổng hợp, trình Hội đồng tư vấn đặc xá
xét duyệt;
- Bố trí kinh phí cho các đơn vị thuộc Bộ Quốc
phòng thực hiện công tác đặc xá năm 2016;
- Chỉ đạo, tổ chức lễ công bố đặc xá tha tù theo
Quyết định của Chủ tịch nước ở các trại giam, trại tạm giam do Bộ Quốc phòng quản
lý.
c) Văn phòng Chủ tịch nước chủ trì, phối hợp với Thường trực Hội đồng tư vấn đặc xá
rà soát, kiểm tra danh sách người được Hội
đồng tư vấn đề nghị đặc xá, trình Chủ tịch nước quyết định;
- Ngay sau khi có Quyết định đặc xá của Chủ tịch nước,
làm thủ tục chuyển cho Cơ quan Thường trực Hội đồng tư vấn đặc xá 02 bản Quyết
định cùng 02 bộ danh sách người được đặc xá để kịp thời tổ chức lễ công bố Quyết
định của Chủ tịch nước theo đúng quy định;
- Chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ, Cơ
quan Thường trực Hội đồng tư vấn đặc xá, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Ngoại giao
tổ chức họp báo công bố Quyết định đặc xá
của Chủ tịch nước.
d) Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm phối hợp với
cơ quan thường trực Hội đồng tư vấn đặc xá xây dựng văn bản hướng dẫn; dự thảo
điện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, giúp Hội đồng tư vấn đặc xá tổ chức triển
khai thực hiện Quyết định về đặc xá năm 2016 của Chủ tịch nước; thẩm tra, hoàn
chỉnh danh sách, hồ sơ và văn bản các cuộc họp trình Chủ tịch Hội đồng tư vấn đặc
xá báo cáo Chủ tịch nước quyết định.
đ) Tòa án nhân dân tối cao phối hợp với Bộ Công an,
Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan, tổ chức có liên
quan hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc Tòa án
cấp dưới thực hiện đặc xá theo quy định của Luật đặc xá và các văn bản hướng dẫn
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; chỉ đạo, hướng dẫn Tòa án nhân dân, Tòa án
quân sự các cấp phối hợp với Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án hình sự Công an
cấp tỉnh, cấp quân khu lập hồ sơ, danh sách đề nghị đặc xá trong trường hợp đặc
biệt cho người đang được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù; tập hợp hồ
sơ, danh sách người đang được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù được đề
nghị đặc xá trong trường hợp đặc biệt để trình cơ quan có thẩm quyền xét duyệt.
Phối hợp với Viện kiểm sát nhân tối cao và chỉ đạo
Tòa án nhân dân, Tòa án quân sự các cấp lập danh sách, thông báo kịp thời cho
cơ quan Thường trực Hội đồng tư vấn đặc xá và các trại giam, trại tạm giam, cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện biết những phạm nhân đang có kháng
nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
e) Viện kiểm sát nhân dân tối cao trực tiếp kiểm
sát việc lập hồ sơ đề nghị đặc xá, thực hiện Quyết định đặc xá của Chủ tịch nước
tại các trại giam, trại tạm giam của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng theo quy định của
Luật đặc xá;
- Hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc Viện kiểm sát nhân
dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự Quân khu và tương đương kiểm sát việc lập hồ
sơ đề nghị đặc xá, thực hiện Quyết định đặc xá của Chủ tịch nước tại trại tạm
giam thuộc Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, trại
tạm giam thuộc Quân khu và tương đương theo quy định của Luật đặc xá;
- Phối hợp với
Tòa án nhân dân các cấp phát hiện những phạm nhân có kháng nghị theo thủ tục
giám đốc thẩm hoặc tái thẩm để thông báo kịp thời cho các trại giam, trại tạm
giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện và Cơ quan Thường trực Hội
đồng tư vấn đặc xá biết.
g) Bộ Tư pháp có trách nhiệm chỉ đạo các cơ quan
thi hành án dân sự tạo điều kiện cho thân nhân phạm nhân thực hiện hình phạt bổ
sung là phạt tiền, bồi thường thiệt hại, nộp tiền truy thu, án phí hoặc các
nghĩa vụ dân sự khác và phối hợp với các
trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện đóng
trên địa bàn thuộc tỉnh, thành phố đó để thu các khoản tiền của gia đình phạm
nhân và cấp các loại giấy tờ cho họ.
h) Bộ Ngoại giao có trách nhiệm chủ động nắm tình
hình và phối hợp với Bộ Công an kiến nghị danh sách phạm nhân có quốc tịch nước
ngoài và các trường hợp khác có thể được
đặc xá để phục vụ yêu cầu đối ngoại; phối hợp với các bộ, ban, ngành có liên
quan để tuyên truyền đối ngoại về công tác đặc xá.
i) Bộ Y tế có trách nhiệm chỉ đạo các Sở Y tế, các
Bệnh viện, trung tâm y tế tổ chức giám định, cung cấp các loại giấy tờ về bệnh
tật của phạm nhân có liên quan đến việc đề nghị đặc xá.
k) Bộ Thông tin và Truyền thông có trách nhiệm chỉ
đạo các cơ quan thông tấn, báo chí thông báo Quyết định về đặc xá của Chủ tịch
nước và tuyên truyền về công tác đặc xá trên các phương tiện thông tin đại
chúng; chỉ đạo các Sở Thông tin và Truyền thông tổ chức tuyên truyền về đặc xá,
giáo dục nâng cao nhận thức, kêu gọi trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ
chức xã hội và quần chúng nhân dân trong việc xóa bỏ thái độ kỳ thị, mặc cảm đối
với người được đặc xá và quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ họ ổn định cuộc sống,
tránh tái phạm.
l) Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm
chỉ đạo các Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các cơ
quan, tổ chức xã hội liên quan ở địa phương tổ chức thực hiện tốt Nghị định số
80/2011/NĐ-CP ngày 16 tháng 9 năm 2011 của Chính phủ quy định các biện pháp bảo
đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù, trong đó có
người được đặc xá; đồng thời quan tâm tiếp nhận, giúp đỡ những người được đặc
xá có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn vay vốn, tạo việc làm, ổn định cuộc sống, hòa
nhập với cộng đồng, hạn chế tái phạm tội và vi phạm pháp luật.
m) Đề nghị Ủy ban
trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp ở địa phương phối hợp với các tổ
chức thành viên và các cơ quan có liên quan tuyên truyền, phổ biến chủ trương về
đặc xá năm 2016; phối hợp với chính quyền địa phương cùng cấp tiếp tục giáo dục,
giúp đỡ người được đặc xá tái hòa nhập cộng đồng, tạo việc làm, ổn định cuộc sống
và trở thành người có ích cho xã hội, phòng ngừa tái phạm tội và vi phạm pháp
luật; giám sát hoạt động của cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền trong việc thực hiện công tác đặc xá năm 2016 theo quy định
của pháp luật và các văn bản hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
n) Ủy ban
nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm:
- Tuyên truyền, phổ biến rộng rãi Quyết định về đặc
xá của Chủ tịch nước và các văn bản hướng dẫn của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền;
- Cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến
nhân thân; cấp giấy chứng nhận, xác nhận về hoàn cảnh gia đình hoặc các giấy tờ,
tài liệu cần thiết khác của người được đề nghị đặc xá;
- Tổ chức xây dựng chương trình, kế hoạch và phân
công nhiệm vụ cụ thể cho chính quyền các cấp, các ngành, các cơ quan, tổ chức
xã hội ở địa phương thực hiện có hiệu quả Nghị định số 80/2011/NĐ-CP ngày 16
tháng 9 năm 2011 của Chính phủ quy định các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng
đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù, trong đó có người được đặc xá;
- Bố trí kinh phí thực hiện công tác đặc xá năm
2016 tại địa phương mình.
2. Thời gian thực hiện
a) Từ ngày 03 tháng 11 năm 2016 đến ngày 10 tháng
11 năm 2016, các Tổ thẩm định liên ngành đến trực tiếp các đơn vị, địa phương để
kiểm tra, thẩm định hồ sơ, danh sách đề nghị xét đặc xá.
b) Từ ngày 07 tháng 11 năm 2016 đến ngày 15 tháng
11 năm 2016, Thường trực Hội đồng tư vấn đặc xá tổng hợp hồ sơ, danh sách chuyển
đến các thành viên Hội đồng tư vấn đặc xá nghiên cứu, thẩm định.
c) Từ ngày 09 tháng 11 năm 2016 đến ngày 19 tháng
11 năm 2016, Thường trực Hội đồng tư vấn đặc xá tổng hợp ý kiến của các thành
viên Hội đồng tư vấn đặc xá và chuẩn bị hồ sơ, danh sách người đủ điều kiện đề
nghị đặc xá, danh sách người không đủ điều kiện đề nghị đặc xá để trình Hội đồng
tư vấn họp xét duyệt.
d) Từ ngày 21 tháng 11 năm 2016 đến ngày 23 tháng
11 năm 2016, Hội đồng tư vấn đặc xá họp xét duyệt danh sách đặc xá.
đ) Từ ngày 24 tháng 11 năm 2016 đến ngày 25 tháng
11 năm 2016, Thường trực Hội đồng tư vấn đặc xá tổng
hợp, hoàn chỉnh danh sách đặc xá trình Chủ tịch nước quyết định.
e) Tổ chức họp báo công bố Quyết định của Chủ tịch
nước đặc xá tha tù trước thời hạn và tổ chức tha người được đặc xá theo Quyết định
của Chủ tịch nước từ ngày 29 đến ngày 30 tháng 11 năm 2016.
3. Khen thưởng, kỷ luật
a) Công tác đặc xá phải được sơ kết, tổng kết rút
kinh nghiệm và khen thưởng kịp thời cho những tập thể, cá nhân có nhiều thành
tích theo quy định hiện hành về khen thưởng.
b) Cần phát hiện, ngăn chặn kịp thời những sai sót,
lệch lạc trong công tác đặc xá để chấn chỉnh ngay; xử lý nghiêm minh những tập
thể và cá nhân có hành vi vi phạm Điều 7 Luật đặc xá. Cơ
quan, đơn vị để xảy ra sai sót, tiêu cực, gây phiền hà trong công tác đặc xá
thì người đứng đầu cơ quan, đơn vị đó chịu trách nhiệm trước Hội đồng tư vấn đặc
xá.
c) Những trường hợp đủ điều kiện phải được lập hồ
sơ đề nghị đặc xá theo quy định. Cá nhân, đơn vị nào để sót lọt không lập hồ sơ
đề nghị đặc xá những người thuộc diện xét đặc xá hoặc lập hồ sơ đề nghị đặc xá
cho người không đủ điều kiện thì cá nhân và Thủ trưởng đơn vị đó phải chịu
trách nhiệm trước pháp luật và Hội đồng tư vấn đặc xá.
Căn cứ vào Hướng dẫn này, các bộ, ban, ngành có
liên quan đến công tác đặc xá, Chủ tịch Ủy ban
nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các thành viên của Hội đồng
tư vấn đặc xá có trách nhiệm tổ chức triển
khai thực hiện. Trong quá trình tổ chức thực hiện, nếu có vấn đề vướng mắc vượt
quá thẩm quyền giải quyết, các cơ quan, đơn vị, địa phương phải kịp thời báo
cáo bằng văn bản về Hội đồng tư vấn đặc xá (qua Cơ quan Thường trực Hội đồng tư
vấn đặc xá - Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, Bộ Công
an) để hướng dẫn, chỉ đạo kịp thời./.
|
Nơi nhận:
- Thường trực Ban Bí thư;
- Ủy ban thường vụ Quốc hội;
- Chủ tịch nước;
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
- Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
- HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Văn phòng Trung ương Đảng;
- Ban Nội chính Trung ương;
- Ban Tuyên giáo Trung ương;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Văn phòng Quốc hội;
- Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc
hội;
- Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;
- Các thành viên HĐTVĐX;
- VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTg, các Vụ: TH, PL;
- Lưu: VT, NC (3).XH
|
CHỦ TỊCH
PHÓ THỦ TƯỚNG
Trương Hòa Bình
|