|
QUỐC HỘI
-------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Luật số: 17/2026/QH16
|
Hà
Nội, ngày 24 tháng 8 năm 2026
|
LUẬT
SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT XUẤT BẢN
Căn cứ
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một
số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội
ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản số 19/2012/QH13 đã
được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14 và Luật số
112/2025/QH15.
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản
1. Sửa đổi,
bổ sung Điều 1 như sau:
“Điều
1. Phạm vi điều chỉnh
Luật này
quy định về tổ chức và hoạt động xuất bản; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức,
cá nhân tham gia và có liên quan đến hoạt động xuất bản; quản lý nhà nước về hoạt
động xuất bản.
Hoạt động
xuất bản bao gồm các lĩnh vực xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm.”.
2. Sửa đổi,
bổ sung Điều 3 như sau:
“Điều 3.
Vị trí, mục đích và nguyên tắc của hoạt động xuất bản
1. Hoạt động
xuất bản thuộc lĩnh vực văn hóa, tư tưởng của Đảng, Nhà nước và Nhân dân; đồng
thời là ngành kinh tế - công nghệ, bộ phận quan trọng của công nghiệp văn hóa
và hạ tầng tri thức quốc gia.
2. Hoạt động
xuất bản nhằm tuyên truyền, bảo vệ nền tảng tư tưởng và chủ trương, đường lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phổ biến, giới thiệu tri thức, nâng
cao dân trí; giữ gìn tiếng nói, chữ viết; bảo tồn và phát huy bản sắc, giá trị
văn hóa, giá trị con người Việt Nam; tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, nâng
cao vị thế văn hóa dân tộc; góp phần bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an
toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và chủ quyền quốc gia.
3. Đảng và
Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong định hướng và kiến tạo phát triển hoạt động
xuất bản, xây dựng nền xuất bản chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại; Nhà nước ban
hành và tổ chức thực hiện cơ chế, chính sách tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh,
bình đẳng, thúc đẩy hợp tác công tư, đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học, công
nghệ, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, khuyến khích, thu hút, tạo điều kiện để
các thành phần kinh tế tham gia phát triển hoạt động xuất bản, phát triển văn
hóa đọc.
4. Cơ quan, tổ
chức, cá nhân tham gia hoạt động xuất bản có trách nhiệm tuân thủ pháp luật; bảo
vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; thực hiện chính sách của Nhà nước, chuẩn mực đạo
đức xã hội, đạo đức nghề nghiệp; tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức,
cá nhân.”.
3. Sửa đổi,
bổ sung Điều 4 như sau:
“Điều
4. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này,
các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Xuất
bản là quá trình do nhà xuất bản hoặc cơ quan, tổ chức được phép xuất bản
thực hiện nhằm tạo thành bản mẫu để in xuất bản phẩm hoặc tạo lập xuất bản phẩm
điện tử, bao gồm các công đoạn sau đây:
a) Khai thác và tổ
chức bản thảo là việc tìm kiếm, tạo lập, tiếp nhận, lựa chọn, đặt hàng, nhận
chuyển giao quyền sử dụng hoặc quản lý và hoàn thiện bản thảo nhằm chuẩn bị cho
quá trình xuất bản;
b) Biên tập
là việc thẩm định, chỉnh sửa, hoàn thiện nội dung, hình thức bản thảo, bảo đảm
chất lượng, tính chính xác và tuân thủ quy định của pháp luật;
c) Thiết kế
và chế bản là việc trình bày, thiết kế mỹ thuật, kỹ thuật để tạo thành bản mẫu
để in xuất bản phẩm hoặc tệp xuất bản phẩm điện tử;
d) Quyết định
xuất bản là văn bản của người có thẩm quyền của nhà xuất bản hoặc cơ quan, tổ
chức được phép xuất bản phê duyệt bản mẫu để làm căn cứ in xuất bản phẩm hoặc tạo
lập xuất bản phẩm điện tử.
2. Nhà xuất
bản là tổ chức được thành lập theo quy định của Luật này, có chức năng thực
hiện việc xuất bản xuất bản phẩm và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội
dung, chất lượng và tính hợp pháp của xuất bản phẩm do mình xuất bản.
3. Bản
thảo là bản viết tay, đánh máy hoặc dữ liệu số của một tác phẩm, tài liệu để
xuất bản.
4. Bản
mẫu là bản hoàn chỉnh của tác phẩm, tài liệu sau khi được biên tập, được
phê duyệt bằng quyết định xuất bản và làm căn cứ để in xuất bản phẩm hoặc tạo lập
xuất bản phẩm điện tử.
5. Xuất
bản phẩm là tác phẩm, tài liệu về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc
phòng, an ninh, giáo dục và đào tạo, khoa học, công nghệ, văn học, nghệ thuật
được xuất bản thông qua nhà xuất bản, cơ quan, tổ chức được phép xuất bản tại
Việt Nam hoặc được nhập khẩu vào Việt Nam theo quy định của Luật này; được thể
hiện bằng ngôn ngữ, hình ảnh, âm thanh hoặc kết hợp các hình thức này, bao gồm:
a) Xuất bản
phẩm in được thể hiện dưới dạng vật chất, gồm sách in, sách chữ nổi, tranh, ảnh,
bản đồ, áp-phích, tờ rời, tờ gấp, các loại lịch;
b) Xuất bản
phẩm điện tử được tạo lập trực tiếp dưới dạng dữ liệu số hoặc được số hóa từ xuất
bản phẩm in, sử dụng thông qua phương tiện điện tử, gồm sách điện tử (sách chữ,
sách nói, sách kết hợp văn bản, âm thanh, hình ảnh, video và các yếu tố đa
phương tiện) và các hình thức điện tử khác theo quy định của pháp luật.
6. Lưu chiểu
là việc tiếp nhận và lưu giữ xuất bản phẩm in hoặc tệp điện tử của xuất bản phẩm
điện tử để Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện
quản lý nhà nước.
7. In xuất
bản phẩm là việc sử dụng thiết bị trong các công đoạn chế bản, in và gia
công sau in để tạo ra xuất bản phẩm từ bản mẫu.
8. Cơ sở
in xuất bản phẩm (sau đây gọi là cơ sở in) là tổ chức, đơn vị thực hiện
toàn bộ hoặc từng công đoạn chế bản, in, gia công sau in xuất bản phẩm.
9. Phát hành
xuất bản phẩm là việc đưa xuất bản phẩm đến người sử dụng
theo một hoặc nhiều hình thức bán, cho thuê, xuất khẩu, nhập khẩu, tham gia hội
chợ, phân phối qua đại lý, ký gửi hoặc hình thức khác nhằm mục đích kinh doanh
(sau đây gọi là kinh doanh phát hành xuất bản phẩm); phân phát, tặng cho, cho
mượn, triển lãm, lưu hành nội bộ, viện trợ, tặng kèm không thu tiền và các hình
thức khác không nhằm mục đích kinh doanh (sau đây gọi là phát hành xuất bản phẩm
không nhằm mục đích kinh doanh).
10. Cơ sở
kinh doanh phát hành xuất bản phẩm (sau đây gọi là cơ sở phát hành) là tổ
chức, đơn vị thực hiện một hoặc nhiều hình thức kinh doanh xuất bản phẩm quy định
tại khoản 9 Điều này.
11. Cơ sở
cung cấp dịch vụ trung gian phát hành xuất bản phẩm là tổ chức, đơn vị cung
cấp nền tảng số theo quy định của pháp luật về thương mại điện tử để kết nối hoặc
hỗ trợ giao dịch giữa cơ sở phát hành, cá nhân kinh doanh xuất bản phẩm với người
sử dụng dịch vụ.
12. Cơ sở
kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm (sau đây gọi là cơ sở nhập khẩu) là tổ
chức, đơn vị trực tiếp thực hiện nhập khẩu xuất bản phẩm để kinh doanh.
13. Người
đứng đầu cơ sở in, cơ sở phát hành là người đại diện theo pháp luật và trực
tiếp quản lý, điều hành hoạt động của cơ sở.
14. Biên tập
viên là người làm công tác biên tập tại nhà xuất bản.
15. Sản
phẩm thông tin có tính chất xuất bản phẩm trên không gian mạng là tác phẩm,
tài liệu của tổ chức, cá nhân tạo lập có hình thức thể hiện tương tự xuất bản
phẩm điện tử quy định tại điểm b khoản 5 Điều này để phổ biến đến công chúng mà
không thực hiện xuất bản, phát hành, nhập khẩu theo quy định của Luật này.
Sản phẩm
thông tin có tính chất xuất bản phẩm trên không gian mạng không bao gồm sản phẩm
báo chí, tác phẩm điện ảnh, sản phẩm quảng cáo, chương trình phát thanh, truyền
hình và các loại thông tin khác theo quy định của pháp luật.
16. In nối
bản trái phép xuất bản phẩm là hành vi sử dụng thiết bị chế bản, in, gia
công sau in để in thêm xuất bản phẩm vượt quá số lượng được phép theo văn bản
xác nhận đăng ký kế hoạch xuất bản, quyết định xuất bản, giấy phép xuất bản tài
liệu không kinh doanh, giấy phép in xuất khẩu theo quy định của Luật này.
17. In lậu
xuất bản phẩm là hành vi sử dụng thiết bị chế bản, in, gia công sau in để
in xuất bản phẩm đã được xuất bản hợp pháp khi không có một trong các giấy tờ
quy định tại khoản 16 Điều này hoặc không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả
theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
18. In giả
xuất bản phẩm là hành vi sử dụng bản thảo tác phẩm hoặc tài liệu để thực hiện
một hoặc các công đoạn chế bản, in, gia công sau in, tạo ra sản phẩm có hình thức
và nội dung gây nhầm lẫn là xuất bản phẩm theo quy định của Luật này.”.
4. Sửa đổi,
bổ sung Điều 6 như sau:
“Điều
6. Quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản
1. Nội
dung quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản bao gồm:
a) Thực hiện
các nhiệm vụ chung về quản lý nhà nước liên quan đến hoạt động xuất bản theo
quy định của pháp luật;
b) Quản lý
việc đăng ký kế hoạch xuất bản; cấp, cấp lại, thu hồi chứng chỉ hành nghề biên
tập, giấy phép thành lập nhà xuất bản, giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm; cấp,
điều chỉnh văn bản xác nhận đăng ký;
c) Quản lý
xuất bản phẩm lưu chiểu; quyết định việc buộc sửa chữa mới được phát hành, đình
chỉ phát hành, thu hồi, tịch thu, cấm lưu hành, tiêu hủy xuất bản phẩm vi phạm
theo quy định của pháp luật;
d) Xây dựng,
quản lý, vận hành và kết nối, chia sẻ dữ liệu trong hoạt động xuất bản theo quy
định của pháp luật; bảo đảm việc thực hiện quyền, nghĩa vụ và thủ tục trong hoạt
động xuất bản bằng phương tiện điện tử theo quy định của pháp luật về giao dịch
điện tử, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
đ) Tổ chức
phối hợp liên ngành trong phòng, chống in nối bản trái phép, in lậu, in giả xuất
bản phẩm, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; quản lý xuất bản phẩm liên quan đến quốc
phòng, an ninh, bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật
nhà nước, an ninh mạng và quy định khác của pháp luật có liên quan;
e) Tổ chức
thực hiện các hoạt động phát triển thị trường xuất bản, phát triển văn hóa đọc,
quảng bá xuất bản phẩm theo quy định của pháp luật;
g) Quản
lý, hướng dẫn hoạt động của các hội, hiệp hội trong lĩnh vực xuất bản, in và
phát hành theo quy định của pháp luật; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người
làm công tác xuất bản theo quy định của pháp luật;
h) Thanh tra, kiểm
tra và xử lý vi phạm về hoạt động xuất bản, phổ biến sản phẩm thông tin có tính
chất xuất bản phẩm trên không gian mạng theo quy định của pháp luật.
2. Chính phủ
thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản trong phạm vi cả nước. Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà
nước về hoạt động xuất bản. Bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các cấp thực
hiện quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản theo thẩm quyền.”.
5. Sửa đổi,
bổ sung Điều 7 như sau:
“Điều
7. Chính sách của Nhà nước về phát triển hoạt động xuất bản
1. Miễn,
giảm thuế, tiền thuê đất, thuê bất động sản là tài sản công đối với nhà xuất bản
theo quy định của pháp luật.
2. Xây dựng
và phát triển các cơ quan xuất bản, truyền thông chủ lực quốc gia và hình thành
các tập đoàn xuất bản, truyền thông đa nền tảng, đa sản phẩm.
3. Đầu tư
xây dựng, phát triển hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu chuyên ngành phục vụ quản
lý nhà nước, chuyển đổi số và phát triển thị trường xuất bản; đầu tư phát triển
xuất bản và phát hành xuất bản phẩm điện tử, ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào hoạt
động xuất bản theo quy định của pháp luật về đầu tư và quy định khác của pháp luật
có liên quan; ưu tiên, bố trí quỹ đất cho hoạt động xuất bản.
4. Đặt
hàng, giao nhiệm vụ, đấu thầu để xuất bản, in, phát hành xuất bản phẩm và mua,
hỗ trợ chi phí vận chuyển xuất bản phẩm phục vụ nhiệm vụ chính trị, quốc phòng,
an ninh, thông tin đối ngoại, ứng phó tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên
tai, dịch bệnh và các nhiệm vụ trọng yếu khác của đất nước; xuất bản phẩm phục
vụ đồng bào dân tộc thiểu số (tiếng Việt và tiếng dân tộc), miền núi, biên giới,
hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; xuất bản phẩm
dành cho trẻ em, người khuyết tật nhìn và các đối tượng yếu thế khác theo quy định
của pháp luật.
5. Ưu đãi thuế,
tín dụng đối với cơ sở in đầu tư đổi mới công nghệ, hiện đại hóa thiết bị, ứng
dụng công nghệ xanh, kinh tế tuần hoàn; đối với cơ sở phát hành và doanh nghiệp
đầu tư phát triển hạ tầng số, mạng lưới phân phối xuất bản phẩm phục vụ các đối
tượng, địa bàn quy định tại khoản 4 Điều này.
6. Hỗ trợ
nhà xuất bản mua bản quyền, dịch thuật, biên soạn, xuất bản, phát hành xuất bản
phẩm có giá trị phục vụ nhiệm vụ chính trị, phát triển văn hóa, giáo dục, khoa
học, công nghệ, hội nhập quốc tế; hỗ trợ xuất bản, phát hành xuất bản phẩm điện
tử phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và nâng cao khả năng tiếp cận, khai thác
và sử dụng xuất bản phẩm điện tử; hỗ trợ xúc tiến thương mại, truyền thông, quảng
bá xuất bản phẩm trong nước và ra nước ngoài.
7. Đào tạo,
bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ làm
công tác xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm; thu hút, trọng dụng và phát
triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, hội nhập quốc
tế và phát triển hoạt động xuất bản; khuyến khích liên kết giữa cơ sở đào tạo với
nhà xuất bản, cơ sở in, cơ sở phát hành trong đào tạo, bồi dưỡng và phát triển
nguồn nhân lực.
8. Khuyến
khích phát triển không gian đọc, thư viện, tủ sách và các mô hình đọc trong cộng
đồng, trong cơ quan, tổ chức, đơn vị, nhà trường; ứng dụng công nghệ số phục vụ tiếp cận xuất bản phẩm, huy động các nguồn lực để đầu
tư, tài trợ phát triển văn hóa đọc theo quy định của pháp luật; tôn vinh, khen
thưởng tổ chức, đơn vị, cá nhân có đóng góp trong hoạt động xuất bản và phát
triển văn hóa đọc; trao giải thưởng đối với xuất bản phẩm có giá trị.
9. Thu hút các
nguồn lực xã hội tham gia hoạt động xuất bản; tăng cường hợp tác đầu tư
theo phương thức đối tác công tư giữa nhà xuất bản với cơ sở in, cơ sở phát
hành và các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.
10. Phát huy vai
trò của hội, hiệp hội trong lĩnh vực xuất bản, in, phát hành, thực hiện
tuyên truyền, phổ biến pháp luật; góp ý, phản biện chính sách trong xây dựng
pháp luật; phát triển văn hóa đọc, phát triển thị trường xuất bản và các nhiệm
vụ khác theo quy định của pháp luật.”.
6. Sửa đổi,
bổ sung khoản 2 Điều 10 như sau:
“2. Nghiêm cấm
thực hiện các hành vi sau đây:
a) Xuất bản,
in, phát hành xuất bản phẩm, cung cấp dịch vụ trung gian phát hành xuất bản phẩm
hoặc đăng, phát sản phẩm thông tin có tính chất xuất bản phẩm trên không gian mạng
có nội dung quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
b) Xuất bản,
in, phát hành xuất bản phẩm, cung cấp dịch vụ trung gian phát hành hoặc phát
tán trên không gian mạng xuất bản phẩm đã bị đình chỉ phát hành, thu hồi, tịch
thu, cấm lưu hành, tiêu hủy, nhập khẩu trái phép;
c) In nối
bản trái phép xuất bản phẩm; in lậu xuất bản phẩm; in giả xuất bản phẩm;
d) Tàng trữ
để phát hành hoặc phát hành xuất bản phẩm do in nối bản trái phép, in lậu, in
giả;
đ) Phát hành bản
in sản phẩm thông tin có tính chất xuất bản phẩm trên không gian mạng, trừ trường
hợp in để phục vụ nghiên cứu hoặc mục đích khác theo quy định của pháp luật;
e) Lợi dụng
trí tuệ nhân tạo để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động xuất bản;
g) Đăng, phát sản
phẩm thông tin có tính chất xuất bản phẩm trên không gian mạng dưới dạng sách;
h) Đe dọa
tính mạng, sức khỏe, uy hiếp tinh thần; xúc phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm hoặc
cản trở trái pháp luật hoạt động nghề nghiệp của biên tập viên, người làm công
tác xuất bản.”.
7. Sửa đổi,
bổ sung Điều 12 như sau:
“Điều
12. Đối tượng thành lập và loại hình tổ chức nhà xuất bản
1. Cơ quan, tổ
chức sau đây được thành lập nhà xuất bản (sau đây gọi là cơ quan chủ quản nhà
xuất bản):
a) Bộ, cơ
quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, tổ chức chính trị ở trung ương và cấp
tỉnh, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương và cấp tỉnh.
Trường hợp
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh không thành lập nhà xuất bản thì cơ quan chuyên môn về
văn hóa thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được thành lập nhà xuất bản;
b) Đơn vị
sự nghiệp công lập ở trung ương; hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ
ở trung ương trực tiếp sáng tạo tác phẩm, tài liệu khoa học, học thuật;
c) Cơ sở
giáo dục đại học công lập trực thuộc bộ, cơ quan ngang bộ.
2. Nhà xuất
bản tổ chức và hoạt động theo loại hình đơn vị sự nghiệp công lập hoặc doanh
nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.”.
8. Sửa đổi,
bổ sung Điều 14 như sau:
“Điều
14. Cấp, cấp lại, thu hồi giấy phép thành lập, đình chỉ hoạt động xuất bản của
nhà xuất bản
1. Trước
khi thành lập nhà xuất bản, cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm
a, b và c khoản 1 Điều 12 của Luật này lập hồ sơ đề nghị Bộ Văn hóa, Thể
thao và Du lịch cấp giấy phép thành lập nhà xuất bản thuộc cơ quan, tổ chức
mình.
2. Cơ quan chủ
quản nhà xuất bản đã được cấp giấy phép thành lập nhà xuất bản phải đề nghị Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp lại giấy phép thành lập nhà xuất bản khi thuộc
một trong các trường hợp sau đây:
a) Thay đổi
tên, tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ, đối tượng phục vụ, loại hình tổ chức;
b) Thay đổi
cơ quan chủ quản hoặc tên cơ quan chủ quản mà không thay đổi tôn chỉ, mục đích,
chức năng, nhiệm vụ, đối tượng phục vụ;
c) Giấy
phép thành lập nhà xuất bản bị mất, bị hư hỏng.
3. Nhà xuất
bản bị đình chỉ hoạt động xuất bản có thời hạn khi thuộc một trong các trường hợp
sau đây:
a) Sau khi thành
lập và trong quá trình hoạt động, nhà xuất bản không đáp ứng đủ các điều
kiện quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 13 của Luật này;
b) Thực hiện
không đúng nội dung ghi trong giấy phép thành lập nhà xuất bản gây phương hại
quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc lợi ích công cộng
mà chưa đến mức bị thu hồi giấy phép thành lập nhà xuất bản quy định tại điểm d
khoản 4 Điều này;
c) Vi phạm
quy định của Luật này mà bị xử phạt vi phạm hành chính ở mức độ phải đình chỉ
hoạt động.
4. Giấy
phép thành lập nhà xuất bản bị thu hồi khi thuộc một trong các trường hợp sau
đây:
a) Hết thời
hạn bị đình chỉ hoạt động xuất bản mà không khắc phục được nguyên nhân dẫn đến
việc bị đình chỉ;
b) Cơ quan chủ
quản nhà xuất bản không ra quyết định thành lập nhà xuất bản trong thời hạn 06
tháng kể từ ngày được cấp giấy phép thành lập;
c) Trong thời
hạn 12 tháng liên tục nhà xuất bản không có xuất bản phẩm nộp lưu chiểu;
d) Nhà xuất
bản không đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại các khoản 1, 2
và 3 Điều 13 của Luật này và không có khả năng khắc phục hoặc gây hậu quả
nghiêm trọng;
đ) Sau khi nhà xuất
bản bị hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể, phá sản hoặc cơ quan chủ quản
nhà xuất bản đề nghị chấm dứt hoạt động.
5. Chính phủ
quy định trình tự, thủ tục cấp, cấp lại, thu hồi giấy phép thành lập; trình tự,
thủ tục, thời hạn đình chỉ hoạt động xuất bản của nhà xuất bản.”.
9. Sửa đổi,
bổ sung khoản 2 và khoản 3 Điều 16 như sau:
“2. Bổ nhiệm,
miễn nhiệm, cách chức đối với tổng giám đốc hoặc giám đốc, phó tổng giám đốc hoặc
phó giám đốc, tổng biên tập, phó tổng biên tập nhà xuất bản.
Việc bổ
nhiệm đối với tổng giám đốc hoặc giám đốc, phó tổng giám đốc hoặc phó giám đốc,
tổng biên tập, phó tổng biên tập nhà xuất bản được thực hiện sau khi có văn bản
chấp thuận của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch theo quy định của Chính phủ.
3. Định hướng
hoạt động của nhà xuất bản; phê duyệt kế hoạch xuất bản của nhà xuất bản đối với
các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 24 của Luật
này.”.
10. Sửa đổi,
bổ sung Điều 17 như sau:
“Điều
17. Tiêu chuẩn các chức danh lãnh đạo nhà xuất bản
1. Tiêu chuẩn
đối với tổng giám đốc hoặc giám đốc, phó tổng giám đốc hoặc phó giám đốc được
quy định như sau:
a) Là công dân Việt
Nam, thường trú tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về cư trú;
b) Đáp ứng
tiêu chuẩn về chính trị, trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ và tiêu chuẩn khác
theo quy định của Chính phủ và của cơ quan có thẩm quyền.
2. Tiêu chuẩn
đối với tổng biên tập, phó tổng biên tập được quy định như sau:
a) Có đủ
tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Có chứng
chỉ hành nghề biên tập.
3. Đối với
nhà xuất bản được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp do Nhà nước
nắm giữ 100% vốn điều lệ, mà có chức danh chủ tịch hội đồng thành viên hoặc chủ
tịch công ty thì chủ tịch hội đồng thành viên hoặc chủ tịch công ty đồng thời
là tổng giám đốc hoặc giám đốc nhà xuất bản theo quy định của Luật này.
Trường hợp
cần bố trí chủ tịch hội đồng thành viên hoặc chủ tịch công ty không đồng thời
là tổng giám đốc hoặc giám đốc nhà xuất bản thì cơ quan chủ quản nhà xuất bản
báo cáo, xin ý kiến cơ quan có thẩm quyền trước khi quyết định.
4. Người đứng
đầu cơ quan chủ quản nhà xuất bản không được kiêm giữ chức vụ tổng giám đốc hoặc
giám đốc nhà xuất bản; lãnh đạo nhà xuất bản này không được kiêm giữ chức vụ
lãnh đạo nhà xuất bản khác, trừ trường hợp có quy định khác của cơ quan có thẩm
quyền.
5. Trường
hợp nhà xuất bản được thành lập theo quy định của Luật này hoặc được sắp xếp, tổ
chức lại mà có chức năng xuất bản tạp chí thì tổng giám đốc hoặc giám đốc nhà
xuất bản phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật về báo
chí và đồng thời là tổng biên tập tạp chí.”.
11. Sửa đổi,
bổ sung Điều 20 như sau:
“Điều
20. Cấp, cấp lại, thu hồi chứng chỉ hành nghề biên tập
1. Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch cấp chứng chỉ hành nghề biên tập cho người thực hiện
công tác biên tập, có đủ tiêu chuẩn quy định tại các điểm a, b
và c khoản 1 Điều 19 của Luật này; trường hợp không cấp chứng chỉ phải có
văn bản trả lời nêu rõ lý do.
2. Chứng
chỉ hành nghề biên tập bị thu hồi khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Biên tập
viên có xuất bản phẩm do mình biên tập bị cơ quan có thẩm quyền cấm lưu hành,
thu hồi, tịch thu, tiêu hủy;
b) Biên tập
viên trong 01 năm có hai xuất bản phẩm hoặc trong 02 năm liên tục có xuất bản
phẩm do mình biên tập sai phạm về nội dung mà bị cơ quan có thẩm quyền buộc phải
sửa chữa mới được phát hành;
c) Biên tập
viên không trực tiếp thực hiện công tác biên tập trong 36 tháng liên tiếp;
d) Biên tập
viên bị kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật của tòa án.
3. Biên tập
viên có chứng chỉ hành nghề biên tập bị thu hồi thì sau 02 năm mới được xét cấp
lại, trừ trường hợp biên tập viên bị kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật của
tòa án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia và các tội khác rất nghiêm trọng, đặc
biệt nghiêm trọng.
4. Biên tập
viên được cấp lại chứng chỉ hành nghề biên tập khi thuộc một trong các trường hợp
sau đây:
a) Chứng
chỉ bị mất hoặc bị hư hỏng;
b) Chuyển
công tác đến làm biên tập viên tại nhà xuất bản khác;
c) Hoàn thành
khóa bồi dưỡng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 19 của
Luật này sau khi hết thời hạn bị thu hồi chứng chỉ hành nghề biên tập.
5. Chính phủ
quy định trình tự, thủ tục cấp, cấp lại và thu hồi chứng chỉ hành nghề biên tập.”.
12. Sửa đổi,
bổ sung Điều 21 như sau:
“Điều
21. Quyền tác giả trong lĩnh vực xuất bản
Việc xuất
bản tác phẩm, tài liệu và tái bản xuất bản phẩm chỉ được thực hiện sau khi có
văn bản chấp thuận của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, trừ trường hợp ngoại
lệ, giới hạn quyền tác giả theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.”.
13. Sửa đổi,
bổ sung Điều 22 như sau:
“Điều
22. Đăng ký kế hoạch xuất bản
1. Trước
khi xuất bản tác phẩm, tài liệu hoặc tái bản xuất bản phẩm, nhà xuất bản phải
đăng ký kế hoạch xuất bản với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Nội dung đăng ký
kế hoạch xuất bản phải phù hợp với tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ của
nhà xuất bản và định hướng của cơ quan chủ quản nhà xuất bản quy định tại khoản 3 Điều 16 của Luật này.
2. Đối với
tác phẩm, tài liệu thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản
2 Điều 24 của Luật này, trước khi đăng ký kế hoạch xuất bản, nhà xuất bản
phải tổ chức thẩm định bản thảo và gửi kèm kế hoạch xuất bản trình cơ quan chủ
quản nhà xuất bản.
3. Cơ quan chủ
quản nhà xuất bản có trách nhiệm xem xét, đánh giá kết quả thẩm định bản thảo
do nhà xuất bản thực hiện quy định tại khoản 2 Điều này, bảo đảm phù hợp với
tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ, định hướng hoạt động của nhà xuất bản
và phê duyệt kế hoạch xuất bản của nhà xuất bản.
4. Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch xác nhận đăng ký kế hoạch xuất bản. Văn bản xác nhận
đăng ký kế hoạch xuất bản là căn cứ để nhà xuất bản ra quyết định xuất bản và
có giá trị đến hết ngày 31 tháng 12 của năm xác nhận đăng ký.
5. Chính phủ
quy định chi tiết Điều này.”.
14. Sửa đổi,
bổ sung Điều 23 như sau:
“Điều
23. Liên kết của nhà xuất bản
1. Việc
liên kết xuất bản được quy định như sau:
a) Tổ chức,
cá nhân tham gia liên kết với nhà xuất bản gồm chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở
hữu quyền liên quan, tổ chức, cá nhân có tác phẩm, tài liệu hợp pháp để xuất bản
đối với từng xuất bản phẩm;
b) Nội
dung, hình thức liên kết bao gồm khai thác bản thảo, đầu tư kinh phí, cung cấp
dịch vụ biên tập bản thảo và các hoạt động khác phục vụ việc tạo lập và hoàn
thiện bản thảo trước khi xuất bản theo quy định của pháp luật;
c) Nhà xuất
bản trực tiếp tổ chức biên tập hoàn chỉnh bản thảo; việc biên tập và quyết định
nội dung xuất bản phẩm phải được thực hiện độc lập, khách quan, tuân thủ quy định
của Luật này; không được chuyển giao quyền quyết định nội dung xuất bản phẩm dưới
bất kỳ hình thức nào và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung xuất bản
phẩm;
d) Đối tác
liên kết chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyền sử dụng tác phẩm, tài liệu,
quyền tác giả, quyền liên quan và việc sử dụng trí tuệ nhân tạo trong sáng tạo,
hoàn thiện tác phẩm, tài liệu do mình cung cấp để liên kết xuất bản; không được
sửa đổi nội dung bản mẫu đã được nhà xuất bản phê duyệt; phối hợp thực hiện việc
sửa chữa xuất bản phẩm theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền
hoặc nhà xuất bản; trường hợp xuất bản phẩm liên kết có nội dung vi phạm, đối
tác liên kết chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật và nghĩa vụ đã xác định
trong hợp đồng liên kết;
đ) Việc
liên kết phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản; hợp đồng phải
xác định rõ nội dung, phạm vi liên kết, quyền và nghĩa vụ, phạm vi trách nhiệm
của các bên tham gia hoạt động liên kết xuất bản; trường hợp liên kết xuất bản
nhiều xuất bản phẩm với cùng một đối tác thì có thể giao kết trong một hợp đồng.
2. Việc
liên kết in xuất bản phẩm; liên kết phát hành xuất bản phẩm, cung cấp dịch vụ
trung gian phát hành xuất bản phẩm được quy định như sau:
a) Tổ chức,
cá nhân tham gia liên kết với nhà xuất bản gồm cơ sở in, cơ sở phát hành, cơ sở
cung cấp dịch vụ trung gian phát hành xuất bản phẩm, tổ chức, doanh nghiệp cung
cấp hạ tầng kỹ thuật, công nghệ, nền tảng số và các dịch vụ kỹ thuật khác;
b) Nội
dung, hình thức liên kết bao gồm chế bản, in, gia công sau in, phát hành xuất bản
phẩm, phát hành xuất bản phẩm điện tử, cung cấp dịch vụ trung gian phát hành,
cung cấp hạ tầng kỹ thuật, công nghệ, nền tảng số và các dịch vụ kỹ thuật khác;
c) Nhà xuất
bản chịu trách nhiệm về nội dung xuất bản phẩm; quyết định việc phát hành xuất
bản phẩm theo quy định của Luật này; kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nội
dung liên kết theo hợp đồng đã ký kết;
d) Đối tác
liên kết thực hiện đúng nội dung xuất bản phẩm đã được nhà xuất bản duyệt để in
hoặc phát hành trên môi trường điện tử; chịu trách nhiệm về chất lượng, tính hợp
pháp, an toàn của dịch vụ, công nghệ, hạ tầng, dữ liệu và các hoạt động thuộc
phạm vi được giao;
đ) Các bên có
trách nhiệm phối hợp đình chỉ phát hành, gỡ bỏ, thu hồi hoặc tiêu hủy xuất
bản phẩm theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc nhà xuất bản.
3. Việc
liên kết phát triển hệ sinh thái xuất bản được quy định như sau:
a) Nhà xuất
bản được liên kết với tổ chức, cá nhân để phát triển hệ sinh thái xuất bản trên
cơ sở khai thác hợp pháp xuất bản phẩm, nội dung, quyền và các giá trị được
hình thành từ xuất bản phẩm;
b) Hệ sinh
thái xuất bản gồm các hoạt động liên kết trong sáng tạo, phát triển nội dung;
xác lập, quản lý, bảo vệ và khai thác quyền tác giả, quyền liên quan và các quyền
sở hữu trí tuệ khác; xuất bản, in, phát hành; ứng dụng khoa học, công nghệ, trí
tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, quản trị và khai thác dữ liệu; truyền thông, quảng
bá, xúc tiến thương mại; chuyển thể, phát triển và khai thác nội dung, hình ảnh,
nhân vật và các tài sản trí tuệ từ xuất bản phẩm; cung cấp sản phẩm, dịch vụ
liên quan đến xuất bản phẩm; phát triển thị trường, văn hóa đọc và các hoạt động
khác nhằm phát triển, khai thác, gia tăng giá trị của xuất bản phẩm;
c) Nhà xuất
bản chịu trách nhiệm trước pháp luật về xuất bản phẩm do mình xuất bản; bảo đảm
quyền khai thác, sử dụng, chuyển giao quyền đối với xuất bản phẩm trong phạm vi
liên kết theo quy định của pháp luật và thỏa thuận với chủ thể quyền; việc liên
kết phát triển hệ sinh thái xuất bản không làm thay đổi trách nhiệm của nhà xuất
bản đối với hoạt động xuất bản và xuất bản phẩm theo quy định của Luật này;
d) Tổ chức,
cá nhân tham gia liên kết chịu trách nhiệm trước pháp luật về sản phẩm, dịch vụ
do mình tạo ra trên cơ sở khai thác, sử dụng, chuyển thể hoặc phát triển từ xuất
bản phẩm trong phạm vi quyền được chuyển giao;
đ) Quyền,
nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên; quyền sở hữu, khai thác, sử dụng, chia sẻ
dữ liệu và quyền đối với sản phẩm, dịch vụ, tài sản và các giá trị hình thành từ
hoạt động liên kết được xác định theo thỏa thuận và quy định của pháp luật có
liên quan.
4. Hoạt động
liên kết quy định tại Điều này phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:
a) Tuân thủ
quy định của pháp luật về xuất bản, sở hữu trí tuệ, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu
cá nhân, bảo vệ bí mật nhà nước và quy định khác của pháp luật có liên quan;
b) Bảo đảm
quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia liên kết, quyền và lợi ích hợp
pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan và người
sử dụng xuất bản phẩm;
c) Bảo đảm
công khai, minh bạch về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên tham gia
liên kết;
d) Không làm ảnh
hưởng đến quyền quyết định nội dung xuất bản phẩm và trách nhiệm của nhà xuất bản
theo quy định của Luật này;
đ) Không được
thu thập, xử lý hoặc sử dụng dữ liệu trái với quy định của pháp luật về dữ liệu,
bảo vệ dữ liệu cá nhân, sở hữu trí tuệ và an ninh mạng để phát triển, huấn luyện,
kiểm thử hoặc vận hành hệ thống trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xuất bản;
e) Bảo đảm
an toàn, an ninh thông tin, an toàn dữ liệu và các yêu cầu khác theo quy định của
pháp luật.
5. Chính phủ
quy định chi tiết Điều này.”.
15. Sửa đổi,
bổ sung Điều 24 như sau:
“Điều
24. Tác phẩm, tài liệu phải thẩm định nội dung trước khi xuất bản, tái bản
1. Tác phẩm,
tài liệu có nội dung về lịch sử cách mạng, chủ quyền, an ninh quốc gia, lãnh tụ,
lãnh đạo đất nước, anh hùng dân tộc thuộc danh mục theo quy định của Chính phủ
thì nhà xuất bản phải tổ chức thẩm định bản thảo trước khi đăng ký kế hoạch xuất
bản.
2. Tác phẩm,
tài liệu sau đây nếu nội dung có dấu hiệu vi phạm quy định tại khoản
1 Điều 10 của Luật này thì nhà xuất bản phải tổ chức thẩm định trước khi
đăng ký kế hoạch xuất bản để tái bản:
a) Tác phẩm,
tài liệu xuất bản trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945; tác phẩm, tài liệu xuất bản
từ năm 1945 đến năm 1954 trong vùng bị tạm chiếm;
b) Tác phẩm,
tài liệu xuất bản từ năm 1954 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 ở miền Nam Việt Nam
không do Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cho phép;
c) Tác phẩm,
tài liệu xuất bản ở nước ngoài.
3. Việc thẩm
định tác phẩm, tài liệu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này phải đáp ứng
yêu cầu chuyên môn theo tính chất, nội dung của bản thảo; bảo đảm xem xét đầy đủ
các vấn đề cần thẩm định, có căn cứ đánh giá và kết luận rõ ràng làm cơ sở cho
việc đăng ký kế hoạch xuất bản.”.
16. Sửa đổi,
bổ sung Điều 25 như sau:
“Điều
25. Xuất bản tài liệu không kinh doanh
1. Cơ quan, tổ
chức xuất bản tài liệu không kinh doanh sau đây nếu không thực hiện thông qua
nhà xuất bản thì phải có giấy phép của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi cơ quan, tổ
chức đặt trụ sở, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này:
a) Tài liệu
tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước,
phục vụ các sự kiện chính trị, lễ kỷ niệm của đất nước, địa phương;
b) Tài liệu
hướng dẫn phòng, chống thiên tai, dịch bệnh và bảo vệ môi trường;
c) Tài liệu
giới thiệu hoạt động, kỷ yếu hội nghị, hội thảo của các cơ quan, tổ chức Việt
Nam, cơ quan, tổ chức nước ngoài đang hoạt động hợp pháp tại Việt Nam;
d) Tài liệu
lịch sử Đảng, chính quyền địa phương;
đ) Các tài liệu
khác do Chính phủ quy định.
2. Cơ quan, tổ
chức xuất bản tài liệu không kinh doanh phải nộp phí thẩm định nội dung tài liệu
xuất bản phẩm không kinh doanh theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí.
Giấy phép
xuất bản tài liệu không kinh doanh có thời hạn đến hết ngày 31 tháng 12 của năm
được cấp.
3. Cơ quan nhà nước,
tổ chức chính trị, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội ở
trung ương và cấp tỉnh khi xuất bản các tài liệu không kinh doanh quy định tại khoản
1 Điều này có nội dung phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình thì
không phải có giấy phép theo quy định tại khoản 1 Điều này và không phải nộp
phí thẩm định nội dung tài liệu xuất bản phẩm không kinh doanh theo quy định tại
khoản 2 Điều này, nhưng phải ban hành quyết định xuất bản, lưu giữ bản mẫu tài
liệu được xuất bản ít nhất 24 tháng kể từ thời điểm ban hành quyết định xuất bản
và chịu trách nhiệm về nội dung tài liệu đó.
4. Chính phủ
quy định chi tiết Điều này.”.
17. Sửa đổi,
bổ sung Điều 27 như sau:
“Điều
27. Thông tin ghi trên xuất bản phẩm
1. Thông tin ghi
trên xuất bản phẩm phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:
a) Bảo đảm
nhận diện xuất bản phẩm và xác định tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm;
b) Chính xác,
trung thực, phù hợp với loại hình và nội dung của xuất bản phẩm;
c) Bảo đảm
phục vụ quản lý nhà nước, lưu chiểu, truy xuất nguồn gốc và bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
d) Bảo đảm
khả năng hiển thị, tiếp cận, khai thác và quản lý trên môi trường số đối với xuất
bản phẩm điện tử;
đ) Xuất bản
phẩm có nội dung được tạo lập toàn bộ hoặc một phần bằng hệ thống trí tuệ nhân
tạo phải được thông báo, gắn nhãn và không làm thay đổi trách nhiệm của tổ chức,
cá nhân đối với xuất bản phẩm theo quy định của Luật này và quy định khác của
pháp luật có liên quan.
2. Chính phủ
quy định thông tin ghi trên xuất bản phẩm.”.
18. Sửa đổi,
bổ sung Điều 28 như sau:
“Điều
28. Nộp và quản lý xuất bản phẩm lưu chiểu, nộp xuất bản phẩm cho Thư viện Quốc
gia Việt Nam
1. Nộp lưu
chiểu là việc nhà xuất bản hoặc cơ quan, tổ chức được phép xuất bản chuyển xuất
bản phẩm hoặc tệp xuất bản phẩm điện tử đến cơ quan quản lý nhà nước có thẩm
quyền theo quy định của Luật này để phục vụ công tác quản lý nhà nước.
2. Việc nộp
xuất bản phẩm lưu chiểu được thực hiện như sau:
a) Nhà xuất
bản phải nộp lưu chiểu cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chậm nhất là 10 ngày
trước khi phát hành;
b) Cơ quan, tổ
chức được cấp giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh theo quy định tại khoản 1 Điều 25 của Luật này phải nộp lưu chiểu cho Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh nơi cấp giấy phép trước khi phát hành.
3. Xuất bản
phẩm được nộp lưu chiểu theo các phương thức sau đây:
a) Đối với
xuất bản phẩm in, nộp bản in theo số lượng quy định;
b) Đối với
xuất bản phẩm điện tử, nộp tệp điện tử thông qua hệ thống lưu chiểu điện tử.
4. Hết thời
hạn 10 ngày kể từ ngày hoàn thành nộp lưu chiểu, nhà xuất bản được quyết định
phát hành xuất bản phẩm trong thời hạn 12 tháng; trường hợp quá thời hạn 12
tháng mà không quyết định phát hành xuất bản phẩm thì phải thông báo bằng văn bản
cho cơ quan nhận lưu chiểu.
Đối với xuất
bản phẩm thuộc danh mục quy định tại khoản 1 Điều 24 của Luật
này thì chỉ được quyết định phát hành sau khi có ý kiến của Bộ Văn hóa, Thể
thao và Du lịch.
5. Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm tổ chức quản lý xuất bản phẩm lưu chiểu
và thực hiện theo quy định sau đây:
a) Lựa chọn
xuất bản phẩm lưu chiểu để tổ chức đọc, kiểm tra, thẩm định và xử lý vi phạm
theo quy định của pháp luật;
b) Khi phát hiện
xuất bản phẩm có dấu hiệu vi phạm, tổ chức đọc, kiểm tra, thẩm định và xử lý
theo quy định của pháp luật;
c) Tổ chức
thẩm định và cho ý kiến trước khi phát hành đối với xuất bản phẩm thuộc danh mục
quy định tại khoản 1 Điều 24 của Luật này, trừ trường hợp được
miễn thẩm định do Chính phủ quy định.
6. Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh tổ chức đọc, kiểm tra tài liệu không kinh doanh nộp lưu chiểu
thuộc thẩm quyền cấp giấy phép và xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.
7. Nhà xuất
bản có trách nhiệm nộp xuất bản phẩm và tệp xuất bản phẩm điện tử cho Thư viện
Quốc gia Việt Nam.
8. Chính phủ
quy định chi tiết số lượng, thời hạn lưu giữ xuất bản phẩm nộp lưu chiểu, thời
hạn cho ý kiến trước khi phát hành đối với xuất bản phẩm thuộc danh mục quy định
tại khoản 1 Điều 24 của Luật này và việc nộp xuất bản phẩm,
tệp xuất bản phẩm điện tử cho Thư viện Quốc gia Việt Nam.
9. Bộ trưởng
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành quy chế đọc, kiểm tra, thẩm định nội
dung xuất bản phẩm lưu chiểu. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chế độ thù lao đối
với người đọc, kiểm tra, thẩm định nội dung xuất bản phẩm lưu chiểu.”.
19. Sửa đổi,
bổ sung Điều 32 như sau:
“Điều
32. Cấp, cấp lại, thu hồi giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm
1. Hoạt động
in xuất bản phẩm gồm các công đoạn quy định tại khoản 7 Điều 4 của
Luật này được quy định như sau:
a) Chế bản
là quá trình chuẩn bị bản mẫu hoặc dữ liệu in bằng phương pháp kỹ thuật, công
nghệ để tạo đầu vào phục vụ công đoạn in xuất bản phẩm;
b) In là quá
trình sử dụng thiết bị để chuyển nội dung từ bản mẫu hoặc dữ liệu in lên
vật mang tin nhằm tạo thành xuất bản phẩm;
c) Gia công sau
in là quá trình thực hiện các công đoạn kỹ thuật sau khi in nhằm hoàn
thiện xuất bản phẩm theo yêu cầu về hình thức, kết cấu và chất lượng.
2. Cơ sở
in hoạt động theo các loại hình sau đây:
a) Doanh nghiệp;
đơn vị sự nghiệp; tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quy định của
pháp luật về hợp tác xã;
b) Chi nhánh, địa
điểm kinh doanh của các loại hình quy định tại điểm a khoản này (không bao gồm
địa điểm kinh doanh thuộc chi nhánh); hoạt động in xuất bản phẩm phát sinh tại
địa điểm kinh doanh thuộc chi nhánh được xác định là hoạt động do chi nhánh thực
hiện;
c) Hộ kinh
doanh.
3. Điều kiện
để cấp giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm được quy định như sau:
a) Người đứng
đầu cơ sở in là công dân Việt Nam, thường trú tại Việt Nam theo quy định của
pháp luật về cư trú;
b) Có mặt
bằng sản xuất, thiết bị để thực hiện một hoặc các công đoạn chế bản, in và gia
công sau in xuất bản phẩm;
c) Có chủ
sở hữu cơ sở in là tổ chức của Việt Nam, cá nhân là công dân Việt Nam, trừ trường
hợp có yếu tố nước ngoài do Chính phủ quy định.
4. Thẩm
quyền cấp, cấp lại giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm được quy định như sau:
a) Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh cấp, cấp lại giấy phép cho cơ sở in quy định tại điểm a và điểm
b khoản 2 Điều này trên địa bàn;
b) Ủy ban
nhân dân cấp xã cấp, cấp lại giấy phép cho cơ sở in quy định tại điểm c khoản 2
Điều này trên địa bàn.
5. Giấy
phép hoạt động in xuất bản phẩm được cấp lại khi thuộc một trong các trường hợp
sau đây:
a) Bị mất
hoặc bị hư hỏng;
b) Có thay đổi
về tên gọi, địa chỉ, chia, tách, sáp nhập hoặc hợp nhất cơ sở in.
6. Giấy
phép hoạt động in xuất bản phẩm bị thu hồi khi thuộc một trong các trường hợp
sau đây:
a) Cơ sở
in không đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại khoản 3 Điều này trong quá trình
hoạt động;
b) Cơ sở
in có thay đổi quy định tại điểm b khoản 5 Điều này mà không làm thủ tục cấp lại
giấy phép;
c) Sau khi cơ sở
in giải thể, phá sản, tự chấm dứt hoạt động;
d) Không bảo
đảm các giải pháp quản lý chống in nối bản trái phép, in lậu, in giả xuất bản
phẩm.
7. Chính phủ
quy định trình tự, thủ tục cấp, cấp lại, thu hồi giấy phép hoạt động in xuất bản
phẩm.”.
20. Sửa đổi,
bổ sung Điều 33 như sau:
“Điều
33. Thực hiện chế bản, in, gia công sau in xuất bản phẩm
1. Cơ sở
in được thực hiện chế bản, in, gia công sau in xuất bản phẩm theo một trong các
trường hợp sau đây:
a) Cung cấp
dịch vụ chế bản, in, gia công sau in xuất bản phẩm cho tổ chức, cá nhân;
b) Thực hiện
chế bản, in, gia công sau in xuất bản phẩm với tư cách là đối tác liên kết của
nhà xuất bản;
c) Là cơ quan, tổ
chức được xuất bản tài liệu không kinh doanh theo quy định tại Điều
25 của Luật này và có giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm.
2. Chính phủ
quy định chi tiết Điều này.”.
21. Sửa đổi,
bổ sung Điều 34 như sau:
“Điều
34. In xuất khẩu xuất bản phẩm
1. Cơ sở
in được chế bản, in, gia công sau in xuất bản phẩm để xuất khẩu 100% theo đơn đặt
hàng của tổ chức, cá nhân nước ngoài sau khi có giấy phép của cơ quan quản lý
nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều này.
2. Các trường
hợp in xuất khẩu xuất bản phẩm bao gồm:
a) Cơ sở
in tự đầu tư nguyên vật liệu và trực tiếp thực hiện chế bản, in, gia công sau
in xuất bản phẩm;
b) Cơ sở
in tiếp nhận nguyên vật liệu từ tổ chức, cá nhân nước ngoài, sau đó trực tiếp
thực hiện chế bản, in, gia công sau in xuất bản phẩm.
3. Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh cấp giấy phép in xuất khẩu xuất bản phẩm cho cơ sở in có giấy
phép hoạt động in xuất bản phẩm quy định tại Điều 32 của Luật
này trên địa bàn.
Trường hợp
xuất bản phẩm in xuất khẩu có dấu hiệu vi phạm quy định tại khoản
1 Điều 10 của Luật này phải tổ chức thẩm định để xem xét, quyết định việc cấp
giấy phép và phải có văn bản trả lời nêu rõ lý do nếu không cấp giấy phép.
4. Cơ sở
in chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc in đúng nội dung, hình thức xuất bản
phẩm đã được cấp giấy phép in xuất khẩu và không phải thông báo hoạt động kinh
doanh phát hành xuất bản phẩm theo quy định tại Điều 36 của Luật
này.
5. Xuất bản
phẩm in xuất khẩu cho tổ chức, cá nhân nước ngoài phải xuất khẩu 100%; trường hợp
phát hành, sử dụng tại Việt Nam thì thực hiện nhập khẩu theo quy định tại Điều 38, Điều 39 hoặc theo quy định tại Điều
42 của Luật này.
6. Tổ chức,
cá nhân nước ngoài đặt in xuất khẩu xuất bản phẩm chịu trách nhiệm về bản quyền
đối với xuất bản phẩm đặt in xuất khẩu.
7. Chính phủ
quy định chi tiết khoản 3 Điều này.”.
22. Sửa đổi,
bổ sung Điều 36 như sau:
“Điều
36. Hoạt động phát hành xuất bản phẩm
1. Cơ sở
phát hành hoạt động theo các loại hình sau đây:
a) Doanh nghiệp;
đơn vị sự nghiệp; tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quy định của
pháp luật về hợp tác xã;
b) Chi nhánh, địa
điểm kinh doanh của các loại hình quy định tại điểm a khoản này và địa điểm
kinh doanh thuộc chi nhánh;
c) Hộ kinh
doanh.
2. Cơ sở
phát hành và cá nhân phát hành xuất bản phẩm nhằm mục đích kinh doanh phải đáp ứng
các yêu cầu sau đây trong quá trình hoạt động, trừ trường hợp nhà xuất bản tự
phát hành xuất bản phẩm do mình xuất bản:
a) Người đứng
đầu cơ sở phát hành, cá nhân phát hành xuất bản phẩm phải thường trú tại Việt
Nam theo quy định của pháp luật về cư trú;
b) Có địa điểm
kinh doanh hợp pháp tại Việt Nam; trường hợp kinh doanh trên môi trường điện tử
phải tuân thủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật về thương mại,
thương mại điện tử, giao dịch điện tử và quy định khác của pháp luật có liên
quan;
c) Thực hiện
thông báo về việc đáp ứng các yêu cầu quy định tại điểm a và điểm b khoản này
trước khi hoạt động, khi có thay đổi thông tin hoạt động, chấm dứt hoạt động
phát hành xuất bản phẩm với Ủy ban nhân dân cấp xã.
3. Tổ chức,
cá nhân phát hành xuất bản phẩm không nhằm mục đích kinh doanh có trách nhiệm
sau đây:
a) Bảo đảm
nội dung xuất bản phẩm được phát hành không vi phạm quy định khoản
1 Điều 10 của Luật này;
b) Không được
kinh doanh xuất bản phẩm thuộc loại không kinh doanh;
c) Tuân thủ
quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan;
d) Chịu
trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động phát hành xuất bản phẩm của mình.
4. Chính phủ
quy định chi tiết Điều này.”.
23. Sửa đổi,
bổ sung Điều 38 như sau:
“Điều
38. Kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm
1. Cơ sở
nhập khẩu hoạt động theo các loại hình sau đây:
a) Doanh nghiệp;
đơn vị sự nghiệp; tổ hợp tác, hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã theo quy định
của pháp luật về hợp tác xã;
b) Chi nhánh, địa
điểm kinh doanh của các loại hình quy định tại điểm a khoản này và địa điểm
kinh doanh thuộc chi nhánh;
c) Hộ kinh
doanh.
2. Cơ sở
nhập khẩu, cá nhân kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm phải đáp ứng những yêu cầu
sau đây:
a) Người đứng
đầu cơ sở nhập khẩu, cá nhân kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm phải thường trú
tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về cư trú;
b) Có địa điểm
kinh doanh hợp pháp tại Việt Nam; trường hợp kinh doanh trên môi trường điện tử
phải tuân thủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật về thương mại,
thương mại điện tử, giao dịch điện tử và quy định khác của pháp luật có liên
quan;
c) Trường
hợp kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm là sách, bản đồ phải có đội ngũ nhân
viên đủ năng lực và có quy chế thẩm định nội dung;
d) Tuân thủ
quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan, phù hợp với điều
ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
3. Trước
khi hoạt động, cơ sở nhập khẩu, cá nhân kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm phải
thông báo với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
4. Sau khi hoàn
thành việc thông báo theo quy định tại khoản 3 Điều này, cơ sở nhập khẩu,
cá nhân kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm được kinh doanh phát hành xuất bản
phẩm do mình nhập khẩu theo quy định tại Điều 36 của Luật này.
5. Trong quá
trình hoạt động, cơ sở nhập khẩu, cá nhân kinh doanh nhập khẩu xuất bản
phẩm phải duy trì đầy đủ các yêu cầu quy định tại khoản 2 Điều này.
6. Trường
hợp thay đổi nội dung thông tin trong thông báo hoạt động hoặc chấm dứt hoạt động,
cơ sở nhập khẩu, cá nhân kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm phải gửi thông báo
với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để cập nhật thông tin vào hệ thống dữ liệu
quản lý.
7. Chính phủ
quy định chi tiết Điều này.”.
24. Sửa đổi,
bổ sung Điều 39 như sau:
“Điều
39. Nhập khẩu xuất bản phẩm để kinh doanh
1. Việc nhập
khẩu xuất bản phẩm để kinh doanh phải do cơ sở nhập khẩu hoặc cá nhân kinh
doanh nhập khẩu xuất bản phẩm đáp ứng yêu cầu quy định tại khoản
2 Điều 38 của Luật này thực hiện.
2. Trước
khi thực hiện nhập khẩu, cơ sở nhập khẩu, cá nhân kinh doanh nhập khẩu xuất bản
phẩm phải thông báo danh mục xuất bản phẩm nhập khẩu với Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch.
Sau khi thực
hiện việc thông báo, cơ sở nhập khẩu, cá nhân kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm
được làm thủ tục nhập khẩu xuất bản phẩm theo quy định của pháp luật về hải
quan, trừ trường hợp Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có văn bản yêu cầu không
thực hiện thủ tục nhập khẩu theo quy định tại khoản 4 Điều này.
3. Sau khi hoàn
thành thủ tục nhập khẩu, cơ sở nhập khẩu, cá nhân kinh doanh nhập khẩu
xuất bản phẩm có trách nhiệm thẩm định nội dung xuất bản phẩm và thông báo kết
quả thẩm định, thời điểm dự kiến đưa xuất bản phẩm vào kinh doanh với Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch.
Sau khi thực
hiện việc thẩm định và thông báo kết quả thẩm định, cơ sở nhập khẩu, cá nhân
kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm được đưa xuất bản phẩm vào kinh doanh, trừ
trường hợp Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có văn bản yêu cầu tạm dừng kinh
doanh xuất bản phẩm nhập khẩu theo quy định tại khoản 4 Điều này.
4. Đối với
xuất bản phẩm có dấu hiệu vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 10
của Luật này, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có văn bản yêu cầu cơ sở nhập
khẩu, cá nhân kinh doanh xuất bản phẩm nhập khẩu không thực hiện thủ tục nhập
khẩu hoặc tạm dừng kinh doanh xuất bản phẩm nhập khẩu và áp dụng các biện pháp
xử lý theo quy định của pháp luật.
5. Việc tạm
nhập, tái xuất xuất bản phẩm thực hiện theo quy định của pháp luật về hải quan
và phải thông báo với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
6. Chính phủ
quy định chi tiết Điều này.”.
25. Sửa đổi,
bổ sung Điều 40 như sau:
“Điều 40.
Trách nhiệm của cơ sở phát hành, cơ sở nhập khẩu và cá nhân phát hành, nhập khẩu
xuất bản phẩm nhằm mục đích kinh doanh
1. Cơ sở
phát hành và cá nhân phát hành xuất bản phẩm nhằm mục đích kinh doanh có trách
nhiệm sau đây:
a) Tuân thủ
quy định tại Điều 36 của Luật này trong quá trình hoạt động;
b) Báo cáo định
kỳ hoặc đột xuất theo quy định hoặc khi có yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước
có thẩm quyền;
c) Không được
tàng trữ, phát hành xuất bản phẩm có nội dung quy định tại khoản
1 Điều 10 của Luật này, xuất bản phẩm không có hóa đơn, chứng từ thể hiện
nguồn gốc hợp pháp hoặc bị đình chỉ phát hành, thu hồi, tịch thu, cấm lưu hành,
tiêu hủy;
d) Tham gia các lớp
tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật về xuất bản do cơ quan quản lý nhà nước
có thẩm quyền về hoạt động xuất bản tổ chức;
đ) Dừng việc
phát hành và báo cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp phát
hiện xuất bản phẩm có nội dung quy định tại khoản 1 Điều 10 của
Luật này;
e) Lưu giữ,
xuất trình, cung cấp hồ sơ, tài liệu, giấy tờ liên quan đến hoạt động kinh
doanh phát hành xuất bản phẩm khi có yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm
quyền;
g) Khi phát hiện
nội dung xuất bản phẩm trên hệ thống của mình có dấu hiệu vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 10 của Luật này, cơ sở phát hành hoạt động trên
môi trường điện tử hoặc sàn thương mại điện tử phải áp dụng ngay biện pháp ngăn
chặn tạm thời, thông báo với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong thời
hạn và chấp hành các biện pháp xử lý theo quy định của Chính phủ.
2. Cơ sở
nhập khẩu và cá nhân nhập khẩu xuất bản phẩm nhằm mục đích kinh doanh có trách
nhiệm sau đây:
a) Tuân thủ
quy định tại Điều 38 và Điều 39 của Luật này trong quá
trình hoạt động;
b) Thực hiện
trách nhiệm quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều này;
c) Tổ chức
thẩm định nội dung xuất bản phẩm nhập khẩu; lưu giữ hồ sơ, kết quả thẩm định;
thông báo kết quả thẩm định và thời điểm dự kiến phát hành xuất bản phẩm; quyết
định việc phát hành xuất bản phẩm nhập khẩu;
d) Lưu giữ,
xuất trình, cung cấp hồ sơ, tài liệu, giấy tờ và chấp hành các quyết định xử lý
có liên quan đến hoạt động nhập khẩu xuất bản phẩm của cơ quan quản lý nhà nước
có thẩm quyền;
đ) Chịu
trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của thông tin thông báo, kết quả
thẩm định, quyết định phát hành và tính hợp pháp của xuất bản phẩm nhập khẩu.
Việc cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận thông báo, kiểm tra, đối
chiếu dữ liệu hoặc có ý kiến trong quá trình quản lý không loại trừ, thay thế
hoặc làm giảm trách nhiệm của cơ sở nhập khẩu và cá nhân nhập khẩu.”.
26. Sửa đổi,
bổ sung Điều 42 như sau:
“Điều
42. Nhập khẩu xuất bản phẩm không kinh doanh
1. Xuất bản
phẩm không kinh doanh được nhập khẩu trong các trường hợp sau đây:
a) Xuất bản
phẩm phục vụ hội thảo, hội nghị quốc tế tại Việt Nam đã được cơ quan có thẩm
quyền của Việt Nam cho phép tổ chức;
b) Xuất bản
phẩm là tài sản của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân được nhập khẩu để sử dụng
nội bộ hoặc để sử dụng riêng;
c) Xuất bản
phẩm thuộc tiêu chuẩn hành lý mang theo người của người nhập cảnh để sử dụng
cho nhu cầu cá nhân;
d) Xuất bản
phẩm tặng cho cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi qua bưu điện, dịch vụ chuyển phát
có giá trị không lớn hơn tiêu chuẩn miễn thuế theo quy định của pháp luật;
đ) Xuất bản
phẩm trao đổi, tặng cho Thư viện Quốc gia Việt Nam và các thư viện công lập phục
vụ mục đích lưu trữ, học tập;
e) Xuất bản
phẩm của cơ quan, tổ chức, cá nhân được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao
thực hiện theo quy định của pháp luật về hải quan, pháp luật về ưu đãi, miễn trừ
dành cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự nước ngoài và cơ quan đại
diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
g) Các trường
hợp nhập khẩu khác do Chính phủ quy định.
2. Cơ quan, tổ
chức, cá nhân phải làm thủ tục theo quy định của pháp luật về hải quan và chịu
trách nhiệm trước pháp luật về xuất bản phẩm do mình nhập khẩu.
3. Xuất bản
phẩm quy định tại khoản 1 Điều này không được kinh doanh dưới mọi hình thức.
4. Xuất bản
phẩm quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này sau khi sử dụng phải tái xuất;
trường hợp không tái xuất phải chuyển giao cho cơ quan, tổ chức theo quy định của
Chính phủ.
Trường hợp
xuất bản phẩm nhập khẩu không kinh doanh sau khi sử dụng, tặng cho các cơ quan,
tổ chức, cá nhân và trường hợp xuất bản phẩm nhập khẩu gửi qua bưu điện, dịch vụ
chuyển phát có giá trị lớn hơn tiêu chuẩn miễn thuế thì thực hiện theo quy định
tại Điều 39 của Luật này.”.
27. Sửa đổi,
bổ sung Điều 44 như sau:
“Điều
44. Triển lãm, hội chợ xuất bản phẩm
1. Cơ quan, tổ
chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài trước khi tổ chức triển lãm, hội chợ xuất
bản phẩm tại Việt Nam phải thực hiện thông báo với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ
chức triển lãm, hội chợ.
2. Cơ quan, tổ
chức, cá nhân tham gia triển lãm, hội chợ mà thực hiện hoạt động kinh doanh
phát hành xuất bản phẩm phải đáp ứng quy định tại khoản 1 và khoản
2 Điều 36 của Luật này.
3. Chính phủ
quy định chi tiết Điều này.”.
28. Sửa đổi,
bổ sung tên Chương V như sau:
“CHƯƠNG V
XUẤT BẢN, PHÁT HÀNH XUẤT BẢN PHẨM ĐIỆN TỬ VÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ
TRUNG GIAN PHÁT HÀNH”
29. Sửa đổi,
bổ sung Điều 45 như sau:
“Điều
45. Điều kiện, yêu cầu đối với xuất bản, phát hành xuất bản phẩm điện tử và
cung cấp dịch vụ trung gian phát hành
1. Nhà xuất
bản thực hiện xuất bản điện tử khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Có năng lực
về thiết bị, công nghệ, nhân lực kỹ thuật để điều hành và quản lý quá trình xuất
bản điện tử;
b) Có biện
pháp kỹ thuật phù hợp với quy định của pháp luật để ngăn chặn sao chép, can thiệp
bất hợp pháp vào nội dung xuất bản phẩm;
c) Có tên miền
quốc gia Việt Nam “.vn” theo quy định của pháp luật để thực hiện xuất bản điện
tử trên môi trường mạng Internet và hệ thống thông tin;
d) Trường hợp
xuất bản, phát hành xuất bản phẩm điện tử qua ứng dụng trên thiết bị di động
thì ngoài việc tuân thủ các quy định tại điểm a và điểm b khoản này còn phải
tuân thủ các quy định của pháp luật về quản lý hoạt động thương mại điện tử qua
ứng dụng trên thiết bị di động;
đ) Thực hiện
đăng ký hoạt động xuất bản, xuất bản phẩm điện tử với Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch; trường hợp kinh doanh phát hành xuất bản phẩm điện tử của tổ chức, cá
nhân khác thì phải thực hiện thông báo theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều
này.
2. Cơ sở
phát hành, cá nhân kinh doanh phát hành xuất bản phẩm điện tử ngoài việc tuân
thủ các quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 36 của Luật
này phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:
a) Có năng lực
thiết bị, công nghệ, nhân lực kỹ thuật để điều hành và quản lý quá trình phát
hành xuất bản phẩm điện tử;
b) Có tên miền
quốc gia Việt Nam “.vn” trong trường hợp hoạt động kinh doanh phát hành xuất bản
phẩm điện tử trên môi trường mạng Internet và hệ thống thông tin;
c) Xuất bản
phẩm điện tử được phát hành phải có nguồn gốc hợp pháp hoặc được phát hành theo
quyết định phát hành của giám đốc nhà xuất bản;
d) Phải
đáp ứng các yêu cầu quy định tại điểm a và điểm b khoản này trước khi thực hiện
thông báo hoạt động kinh doanh phát hành xuất bản phẩm điện tử với Bộ Văn hóa,
Thể thao và Du lịch.
3. Cơ quan, tổ
chức xuất bản và phát hành tài liệu không kinh doanh là xuất bản phẩm điện tử
phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:
a) Có năng lực
thiết bị, công nghệ, nhân lực kỹ thuật để điều hành và quản lý quá trình phát
hành xuất bản phẩm điện tử;
b) Có tên miền
quốc gia Việt Nam “.vn” để thực hiện xuất bản, phát hành xuất bản phẩm điện tử
trên môi trường mạng Internet và hệ thống thông tin;
c) Bảo đảm
kiểm soát nội dung và phạm vi phát hành xuất bản phẩm điện tử phù hợp với mục
đích không kinh doanh.
4. Cơ sở
cung cấp dịch vụ trung gian phát hành xuất bản phẩm phải tuân thủ các yêu cầu
sau đây:
a) Chỉ
cung cấp dịch vụ phát hành xuất bản phẩm cho nhà xuất bản và tổ chức, cá nhân
đáp ứng quy định tại khoản 2 Điều này và Điều 36 của Luật này;
b) Thiết lập
cơ chế quản trị phục vụ việc ngăn chặn, gỡ bỏ hoặc hạn chế truy cập nội dung vi
phạm pháp luật về xuất bản theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về xuất bản
hoặc cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về an ninh mạng, bảo vệ
an ninh quốc gia; thời hạn, trình tự, thủ tục thực hiện theo quy định của Chính
phủ;
c) Thực hiện
lưu trữ, cung cấp thông tin phục vụ công tác quản lý nhà nước và tuân thủ các
quy định của pháp luật;
d) Có giải
pháp công nghệ nhận dạng nội dung số phục vụ phát hiện, ngăn chặn, gỡ bỏ nội
dung xuất bản phẩm điện tử xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan theo quy định
của pháp luật về sở hữu trí tuệ và quy định khác của pháp luật có liên quan.
5. Cơ quan, tổ
chức, cá nhân phát hành xuất bản phẩm không nhằm mục đích kinh doanh mà không
thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này phải đáp ứng các yêu cầu theo
quy định tại các điểm a, b và c khoản 2 Điều này.
6. Chính phủ
quy định chi tiết về điều kiện, việc đăng ký đối với hoạt động xuất bản xuất bản
phẩm điện tử; yêu cầu, việc thông báo đối với hoạt động kinh doanh phát hành xuất
bản phẩm điện tử; yêu cầu đối với cơ sở cung cấp dịch vụ trung gian phát hành
xuất bản phẩm quy định tại Điều này.”.
30. Sửa đổi,
bổ sung khoản 1 Điều 46 như sau:
“1. Tác phẩm,
tài liệu xuất bản lần đầu theo phương thức xuất bản điện tử phải được xuất bản
thông qua nhà xuất bản hoặc do cơ quan, tổ chức thực hiện xuất bản theo quy định
tại Điều 25 của Luật này.”.
31. Sửa đổi,
bổ sung Điều 50 như sau:
“Điều
50. Trách nhiệm của nhà xuất bản, tổ chức, cá nhân phát hành, nhập khẩu xuất bản
phẩm điện tử, cung cấp dịch vụ trung gian phát hành xuất bản phẩm
1. Trách nhiệm
của nhà xuất bản được quy định như sau:
a) Thực hiện
quy định tại các điều 18, 21, 22, 23, 24, 27, 45, 46, 47, 48, 49
và 52 của Luật này;
b) Bảo đảm
nội dung xuất bản phẩm điện tử được phát hành đúng với nội dung xuất bản phẩm
điện tử nộp lưu chiểu; thực hiện lưu trữ, quản lý và bảo đảm khả năng truy xuất
dữ liệu xuất bản phẩm điện tử phục vụ công tác quản lý nhà nước;
c) Đối với
xuất bản phẩm đã được xuất bản hợp pháp chuyển sang hình thức xuất bản phẩm điện
tử, việc ra quyết định xuất bản, quyết định phát hành và nộp lưu chiểu xuất bản
phẩm điện tử thực hiện theo quy định của Luật này;
d) Thực hiện
các biện pháp kỹ thuật ngăn chặn việc can thiệp vào nội dung xuất bản phẩm hoặc
gỡ bỏ xuất bản phẩm vi phạm pháp luật theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền;
đ) Dừng
phát hành xuất bản phẩm khi có yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền
theo quy định của pháp luật;
e) Kiểm
tra, giám sát nội dung xuất bản phẩm liên kết và thiết lập hệ thống giám sát hoạt
động phát hành trên môi trường số;
g) Không được
sao chép, số hóa, lưu trữ, truyền đưa, phát tán hoặc phát hành xuất bản phẩm
trên môi trường điện tử, nền tảng số vi phạm quy định của pháp luật về xuất bản
và quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Trách nhiệm
của tổ chức, cá nhân phát hành xuất bản phẩm điện tử được quy định như sau:
a) Thực hiện
quy định tại các điều 23, 45, 46, 47 và 49
của Luật này;
b) Thực hiện
đúng nội dung bản mẫu đã được tổng giám đốc hoặc giám đốc nhà xuất bản ký duyệt;
c) Thực hiện
các biện pháp kỹ thuật ngăn chặn việc can thiệp vào nội dung xuất bản phẩm hoặc
gỡ bỏ xuất bản phẩm vi phạm pháp luật theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước
có thẩm quyền và phối hợp cung cấp thông tin, dữ liệu liên quan phục vụ công
tác quản lý nhà nước;
d) Dừng
phát hành xuất bản phẩm điện tử khi có yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có
thẩm quyền.
3. Trách nhiệm
của cơ quan, tổ chức phát hành xuất bản phẩm điện tử là tài liệu không kinh
doanh được quy định như sau:
a) Thực hiện
quy định tại Điều 46 của Luật này và các điểm b, c và d khoản
2 Điều này;
b) Thực hiện
đúng văn bản chấp thuận của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả;
c) Chịu
trách nhiệm trước pháp luật về việc phát hành xuất bản phẩm điện tử; thực hiện
lưu trữ và cung cấp dữ liệu phát hành theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước.
4. Trách nhiệm
của cá nhân kinh doanh phát hành xuất bản phẩm điện tử được quy định như sau:
a) Thông báo với
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trước khi hoạt động, chấm dứt hoạt động kinh
doanh phát hành xuất bản phẩm điện tử;
b) Thực hiện
hoạt động kinh doanh đúng nội dung đã thông báo với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du
lịch;
c) Có hóa đơn, chứng
từ hoặc tài liệu chứng minh nguồn gốc xuất xứ của xuất bản phẩm điện tử được
kinh doanh;
d) Không kinh
doanh phát hành xuất bản phẩm điện tử có nội dung vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 10 của Luật này và xuất bản phẩm điện tử thuộc loại
không kinh doanh;
đ) Xuất
trình các giấy tờ, tài liệu quy định tại điểm c khoản này với cơ quan quản lý
nhà nước có thẩm quyền;
e) Ngăn chặn,
gỡ bỏ xuất bản phẩm điện tử có nội dung vi phạm theo yêu cầu của cơ quan quản
lý nhà nước có thẩm quyền và cung cấp dữ liệu phục vụ công tác quản lý nhà nước.
5. Trách nhiệm
của tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ trung gian phát hành xuất bản phẩm điện tử
tại Việt Nam được quy định như sau:
a) Thực hiện
quy định tại khoản 4 Điều 45 của Luật này trong quá trình
hoạt động;
b) Kiểm
tra, lưu giữ và cung cấp thông tin, dữ liệu theo quy định của pháp luật và yêu
cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
c) Thực hiện
việc ngăn chặn, gỡ bỏ hoặc hạn chế truy cập xuất bản phẩm điện tử có vi phạm
theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
d) Phối hợp
với nhà xuất bản, cơ quan quản lý nhà nước và chủ thể có liên quan trong việc xử
lý xuất bản phẩm điện tử có vi phạm.
6. Trách nhiệm
của tổ chức nước ngoài cung cấp dịch vụ trung gian phát hành xuất bản phẩm, sản
phẩm thông tin có tính chất xuất bản phẩm trên không gian mạng cho người sử dụng
tại Việt Nam được quy định như sau:
a) Lưu giữ
thông tin, dữ liệu và bảo đảm khả năng xác định tổ chức, cá nhân phát hành xuất
bản phẩm; cung cấp thông tin, dữ liệu theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền theo quy định của pháp luật;
b) Tuân thủ
quy định tại điểm c khoản 5 Điều này;
c) Có người
đại diện theo quy định của pháp luật để tiếp nhận các yêu cầu của cơ quan quản
lý nhà nước có thẩm quyền để thực hiện quy định tại điểm c khoản 5 Điều này.
7. Trách nhiệm
của tổ chức, cá nhân phát hành xuất bản phẩm điện tử không nhằm mục đích kinh
doanh không thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này được quy định
như sau:
a) Tuân thủ
các quy định tại khoản 5 Điều 45 của Luật này và pháp luật
về sở hữu trí tuệ, an ninh mạng, giao dịch điện tử và quy định khác của pháp luật
có liên quan;
b) Không kinh
doanh xuất bản phẩm điện tử dưới mọi hình thức;
c) Chịu
trách nhiệm trước pháp luật về nội dung xuất bản phẩm do mình phát hành.
8. Trách nhiệm
của tổ chức, cá nhân nhập khẩu xuất bản phẩm điện tử nhằm mục đích kinh doanh
được quy định như sau:
a) Trường
hợp nhập khẩu xuất bản phẩm điện tử chứa trong thiết bị, phương tiện hoặc vật
mang tin thì thực hiện theo quy định tại các điều 38, 39 và 51
của Luật này; trường hợp chỉ nhập khẩu quyền truy cập xuất bản phẩm điện tử,
tệp điện tử mang nội dung xuất bản phẩm thì thực hiện theo quy định tại Điều 51 của Luật này;
b) Báo cáo định
kỳ hoặc đột xuất theo quy định hoặc khi có yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước
có thẩm quyền; tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật xuất bản
do cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản tổ chức;
c) Không nhập
khẩu xuất bản phẩm có nội dung quy định tại khoản 1 Điều 10 của
Luật này, xuất bản phẩm không có hóa đơn, chứng từ thể hiện nguồn gốc hợp
pháp hoặc bị đình chỉ phát hành, thu hồi, tịch thu, cấm lưu hành, tiêu hủy;
d) Tổ chức
thẩm định nội dung xuất bản phẩm nhập khẩu; lưu giữ hồ sơ, kết quả thẩm định;
thông báo kết quả thẩm định và thời điểm dự kiến phát hành xuất bản phẩm; quyết
định việc phát hành xuất bản phẩm;
đ) Lưu giữ,
xuất trình, cung cấp hồ sơ, tài liệu, giấy tờ và chấp hành các quyết định xử lý
có liên quan đến hoạt động nhập khẩu xuất bản phẩm điện tử của cơ quan quản lý
nhà nước có thẩm quyền;
e) Chịu
trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của thông tin thông báo, kết quả
thẩm định, quyết định phát hành và tính hợp pháp của xuất bản phẩm điện tử nhập
khẩu.”.
32. Sửa đổi,
bổ sung Điều 51 như sau:
“Điều 51.
Nhập khẩu xuất bản phẩm điện tử
1. Nhập khẩu
xuất bản phẩm điện tử được thực hiện dưới các hình thức sau đây:
a) Nhập khẩu
quyền truy cập xuất bản phẩm điện tử, tệp điện tử mang nội dung xuất bản phẩm để
cung cấp cho người sử dụng tại Việt Nam;
b) Nhập khẩu
xuất bản phẩm điện tử được chứa trong thiết bị, phương tiện hoặc vật mang tin;
c) Các hình thức
nhập khẩu khác.
2. Xuất bản
phẩm điện tử nhập khẩu phải có nguồn gốc hợp pháp, bảo đảm quyền khai thác hợp
pháp và không có nội dung vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 10
của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
3. Tổ chức,
cá nhân nhập khẩu phải bảo đảm khả năng xác định, quản lý, lưu trữ hoặc truy xuất
xuất bản phẩm điện tử nhập khẩu phục vụ việc thẩm định, thanh tra, kiểm tra và
xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.
4. Chính phủ
quy định chi tiết Điều này.”.
33. Thay thế,
bỏ một số từ, cụm từ và bãi bỏ một số điều như sau:
a) Thay thế
cụm từ “Bộ Thông tin và Truyền thông” bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh” tại
khoản 1 Điều 8;
b) Thay thế
cụm từ “đăng ký xuất bản” bằng cụm từ “đăng ký kế hoạch xuất bản” tại điểm c khoản 1 Điều 18;
c) Thay thế
cụm từ “Bộ Thông tin và Truyền thông” bằng cụm từ “Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch”
tại điểm c khoản 1 Điều 18, điểm c và điểm d khoản 1 Điều 19, khoản
1 Điều 35;
d) Thay thế
cụm từ “điểm b khoản 3 Điều 23” bằng cụm từ “điểm đ khoản 1 Điều 23” tại điểm đ khoản 1 Điều 18;
đ) Thay thế
cụm từ “giấy xác nhận đăng ký xuất bản” bằng cụm từ “văn bản xác nhận đăng ký kế
hoạch xuất bản” tại điểm g khoản 1 Điều 18;
e) Bỏ cụm
từ “cấp đổi,”, “,gia hạn” tại khoản 2 Điều 8;
g) Bãi bỏ
các điều 2, 9, 11, 15, 29, 37 và 41.
Điều 2. Sửa đổi, bổ sung Danh mục phí, lệ phí ban hành kèm theo Luật
Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số
09/2017/QH14, Luật số 23/2018/QH14, Luật số 72/2020/QH14, Luật số 16/2023/QH15,
Luật số 20/2023/QH15, Luật số 24/2023/QH15, Luật số 33/2024/QH15, Luật số
35/2024/QH15, Luật số 47/2024/QH15, Luật số 60/2024/QH15, Luật số 74/2025/QH15,
Luật số 89/2025/QH15, Luật số 94/2025/QH15, Luật số 95/2025/QH15, Luật số
116/2025/QH15, Luật số 118/2025/QH15, Luật số 130/2025/QH15, Luật số
142/2025/QH15 và Luật số 144/2025/QH15
Bãi bỏ tiểu
mục 11 về lệ phí cấp giấy phép nhập khẩu xuất bản phẩm tại Mục
III Phần B của Danh mục phí, lệ phí.
Điều 3. Điều khoản thi hành
1. Luật này
có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 3 năm 2027, trừ trường hợp quy định tại khoản
2 Điều này.
2. Quy định
về in xuất khẩu xuất bản phẩm tại khoản 21 Điều 1 của Luật này
có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2029.
3. Quy định
chuyển tiếp:
a) Hồ sơ
thực hiện thủ tục hành chính đã được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền tiếp
nhận trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà đến ngày Luật này có hiệu lực thi
hành chưa giải quyết xong thì tiếp tục giải quyết theo quy định của pháp luật
có hiệu lực tại thời điểm tiếp nhận hồ sơ.
Trường hợp
thủ tục cấp giấy phép, đăng ký được bãi bỏ hoặc thay thế bằng thông báo hoạt động
thì thực hiện theo quy định của Luật này;
b) Giấy
phép thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam của nhà xuất bản nước ngoài, của
tổ chức phát hành xuất bản phẩm nước ngoài được cấp trước ngày Luật này có hiệu
lực thi hành thì được tiếp tục sử dụng cho đến khi hết thời hạn ghi trên giấy
phép;
c) Giấy
phép thành lập nhà xuất bản, giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm, giấy xác nhận
đăng ký hoạt động xuất bản điện tử, chứng chỉ hành nghề biên tập được cấp trước
ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì được tiếp tục sử dụng; trường hợp quy định
của Luật này có điều kiện, tiêu chuẩn khác với Luật Xuất bản số 19/2012/QH13 đã
được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14 và Luật số
112/2025/QH15 (sau đây gọi là Luật Xuất bản số 19/2012/QH13) thì cơ quan, tổ chức,
cá nhân có liên quan phải bổ sung, đáp ứng đủ các điều kiện, tiêu chuẩn theo
quy định của Luật này trong thời hạn do Chính phủ quy định nhưng không quá 12
tháng kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành và thực hiện cấp lại đối với giấy
phép, giấy xác nhận, chứng chỉ;
d) Văn bản,
giấy xác nhận đăng ký xuất bản, giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh,
giấy phép in gia công xuất bản phẩm cho nước ngoài, văn bản, giấy xác nhận đăng
ký nhập khẩu xuất bản phẩm để kinh doanh, giấy phép nhập khẩu xuất bản phẩm
không kinh doanh, giấy phép tổ chức triển lãm, hội chợ xuất bản phẩm đã được cấp
trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì được tiếp tục sử dụng cho đến khi
hoàn thành nội dung hoặc hết thời hạn ghi trên giấy phép, văn bản, giấy xác nhận;
việc in không có giấy phép in gia công xuất bản phẩm cho tổ chức, cá nhân nước
ngoài hoặc in vượt quá số lượng ghi trong giấy phép bị nghiêm cấm theo quy định
tại điểm c khoản 2 Điều 10 của Luật Xuất bản số 19/2012/QH13 được
sửa đổi, bổ sung tại khoản 6 Điều 1 của Luật này;
đ) Tổ chức,
cá nhân đã được cấp giấy xác nhận đăng ký hoạt động phát hành xuất bản phẩm, giấy
phép hoạt động kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm, giấy xác nhận đăng ký hoạt động
phát hành xuất bản phẩm điện tử theo quy định của Luật Xuất bản số 19/2012/QH13
thì không phải thông báo hoạt động theo quy định của Luật này; trường hợp có
thay đổi thông tin so với giấy phép, giấy xác nhận đã được cấp phải thực hiện
thông báo về sự thay đổi theo quy định của Luật này;
e) Cơ sở
phát hành, cá nhân kinh doanh phát hành xuất bản phẩm điện tử, cơ sở cung cấp dịch
vụ trung gian phát hành xuất bản phẩm, tổ chức nước ngoài cung cấp dịch vụ
trung gian phát hành xuất bản phẩm cho người sử dụng tại Việt Nam đang hoạt động
trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì được tiếp tục hoạt động và phải bổ
sung các yêu cầu theo quy định của Luật này trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày
Luật này có hiệu lực thi hành; trường hợp cần gia hạn do Thủ tướng Chính phủ
quyết định nhưng không quá 12 tháng;
g) Người
được bổ nhiệm là tổng giám đốc hoặc giám đốc, phó tổng giám đốc hoặc phó giám đốc,
tổng biên tập, phó tổng biên tập nhà xuất bản trước ngày Luật này có hiệu lực
thi hành nếu không đáp ứng các tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo nhà xuất bản theo
quy định của Luật này thì phải bổ sung đủ tiêu chuẩn theo quy định trong thời hạn
12 tháng kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành;
h) Trường
hợp thẩm quyền quản lý nhà nước được thay đổi, trong thời hạn 90 ngày kể từ
ngày Luật này có hiệu lực thi hành, cơ quan có thẩm quyền ở trung ương và cấp tỉnh
có trách nhiệm chuyển giao hồ sơ, tài liệu, dữ liệu có liên quan đến cơ quan có
thẩm quyền quy định tại Luật này để tiếp tục quản lý;
i) Cơ sở
in có chi nhánh được thành lập trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì cơ
sở in phải đề nghị cấp giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm đối với chi nhánh
và đề nghị cấp lại giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm đối với cơ sở in trong
thời hạn 90 ngày kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành;
k) Cơ sở
phát hành, cơ sở phát hành xuất bản phẩm điện tử đã được cấp giấy xác nhận đăng
ký hoạt động mà có chi nhánh, địa điểm kinh doanh hoặc địa điểm kinh doanh thuộc
chi nhánh hoạt động trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì phải thực hiện
thông báo hoạt động kinh doanh phát hành xuất bản phẩm đối với chi nhánh, địa điểm
kinh doanh, địa điểm kinh doanh thuộc chi nhánh theo quy định của Luật này
trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
Luật này
được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XVI, Kỳ họp không
thường lệ thứ Nhất thông qua ngày 24 tháng 8 năm 2026.
|
|
CHỦ TỊCH QUỐC HỘI
Trần Thanh Mẫn
|