|
ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH LẠNG SƠN
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 326/KH-UBND
|
Lạng Sơn, ngày 28
tháng 12 năm 2025
|
KẾ HOẠCH
PHÁT TRIỂN CHỢ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN ĐẾN NĂM 2030
I. CĂN CỨ
PHÁP LÝ, SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG KẾ HOẠCH
1. Căn cứ pháp lý
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền
địa phương ngày 16/6/2025;
Căn cứ Nghị định số
60/2024/NĐ-CP ngày 05/6/2024 của Chính phủ về phát triển và quản lý chợ;
Căn cứ Nghị định số
139/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của
chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Công
Thương;
Căn cứ Quyết định số 236/QĐ-TTg
ngày 19/3/2024 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Quy hoạch tỉnh Lạng Sơn thời
kỳ 2021-2030; tầm nhìn đến năm 2050;
Căn cứ Quyết định số
1371/QĐ-TTg ngày 13/11/2024 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch thực hiện
Quy hoạch tỉnh Lạng Sơn thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050;
2. Sự cần thiết phải xây dựng
Trong bối cảnh tỉnh Lạng Sơn
đang đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế và mở rộng giao
thương, hệ thống chợ giữ vai trò quan trọng trong lưu thông hàng hóa, tiêu thụ
nông sản, tạo việc làm, thu nhập cho người dân và góp phần ổn định an sinh xã hội.
Giai đoạn 2021-2025 tỉnh đã thực hiện đầu tư xây mới, cải tạo, nâng cấp 41 chợ/83
chợ (chiếm 49,4%) với tổng kinh phí đầu tư trên 177.989 triệu đồng (trong
đó kinh phí do ngân sách Nhà nước đầu tư là 94.734 triệu đồng; doanh nghiệp,
HTX đầu tư là 83.255 triệu đồng), trong đó 19 chợ cải tạo, nâng cấp; 20 chợ
xây mới tại vị trí đã có chợ; 02 chợ xây tại vị trí mới. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều
chợ xuống cấp, cơ sở vật chất thiếu đồng bộ, đặc biệt là các chợ xã, chưa đáp ứng
yêu cầu về vệ sinh môi trường, phòng cháy chữa cháy và dịch vụ hỗ trợ thương mại.
Bên cạnh đó, quá trình đô thị hoá và sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện
tử và nhu cầu dịch vụ chất lượng cao đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng cấp, hiện
đại hóa hệ thống chợ, gắn với mục tiêu xây dựng “chợ văn minh - an toàn - thân
thiện môi trường - từng bước số hóa”.
Do đó, việc ban hành Kế hoạch
phát triển hệ thống chợ đến năm 2030 là cần thiết, thực hiện theo đúng chỉ đạo
của Chính phủ tại Nghị định số 60/2024/NĐ-CP ngày 05/6/2024, cụ thể hóa định hướng
phát triển tại Quy hoạch tỉnh Lạng Sơn thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm
2050; đồng thời tạo cơ sở để huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư,
bảo đảm phát triển hệ thống chợ đồng bộ, phù hợp với nhu cầu thực tiễn, góp phần
thực hiện thắng lợi mục tiêu kinh tế - xã hội của tỉnh trong giai đoạn tới. Đồng
thời, việc xây dựng Kế hoạch còn nhằm định hướng cụ thể cho công tác đầu tư xây
mới, cải tạo, nâng cấp chợ; kêu gọi, thu hút các nguồn lực xã hội hóa tham gia
phát triển hệ thống chợ trên địa bàn tỉnh theo hướng hiện đại, đồng bộ qua đó
hoàn thiện cơ sở hạ tầng thương mại, nâng cao chất lượng phục vụ và năng lực cạnh
tranh của hệ thống chợ.
II. MỤC
ĐÍCH, YÊU CẦU, MỤC TIÊU
1. Mục đích
- Tổ chức triển khai thực hiện
có hiệu quả Phương án phát triển hệ thống chợ trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đến
năm 2030 trong Quy hoạch tỉnh đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định
số 236/QĐ-TTg ngày 19/3/2024; Kế hoạch thực hiện Quy hoạch tỉnh Lạng Sơn thời kỳ
2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết
định số 1371/QĐ-TTg ngày 13/11/2024.
- Xây dựng lộ trình tổ chức triển
khai thực hiện đầu tư, nâng cấp, cải tạo hạ tầng chợ đến năm 2030 phù hợp quy
hoạch; hoàn thiện mạng lưới chợ đồng bộ, hiện đại, gắn với phát triển đô thị,
nông thôn mới và kinh tế cửa khẩu.
- Nâng cao hiệu lực quản lý nhà
nước; huy động nguồn lực xã hội hóa; thúc đẩy lưu thông hàng hóa, tạo việc làm,
nâng cao thu nhập; tăng cường ứng dụng công nghệ, đảm bảo vệ sinh môi trường,
an toàn thực phẩm, PCCC, từng bước xóa bỏ các điểm kinh doanh tự phát.
2. Yêu cầu
- Xác định các nội dung, nhiệm
vụ, giải pháp chủ yếu triển khai thực hiện Phương án phát triển hệ thống chợ
trên địa bàn tỉnh.
- Đảm bảo tính khả thi, linh hoạt,
phù hợp với quy định và thực tiễn tại địa phương.
3. Mục tiêu
3.1. Mục tiêu chung
- Nâng cao hiệu quả công tác quản
lý nhà nước; từng bước hoàn thiện mạng lưới chợ trên địa bàn tỉnh; khắc phục hiện
trạng cơ sở vật chất các chợ xuống cấp, đáp ứng các yêu cầu quy định về an toàn
thực phẩm, vệ sinh môi trường, phòng cháy chữa cháy, văn minh thương mại.
- Huy động mọi nguồn lực xã hội
đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp tổng thể hệ thống chợ trên địa bàn tỉnh, đảm
bảo phát triển đồng bộ, đáp ứng nhu cầu hàng hóa cho sản xuất, chế biến và tiêu
dùng của Nhân dân, qua đó thúc đẩy lưu thông hàng hóa.
- Đáp ứng nhiệm vụ chỉnh trang,
phát triển đô thị, các tiêu chí xây dựng nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao,
nông thôn mới kiểu mẫu.
3.2. Mục tiêu cụ thể
Xác định mục tiêu phát triển chợ
giai đoạn 2026-2030 cụ thể như sau:
- Giữ nguyên: 61 chợ.
- Xây mới tại vị trí chưa có chợ:
18 chợ.
- Xây mới tại vị trí đã có chợ:
9 chợ.
- Cải tạo, nâng cấp: 13 chợ.
Phấn đấu đến năm 2030, trên
toàn tỉnh có 101 chợ hoạt động.
III. NHIỆM VỤ,
GIẢI PHÁP
1. Nâng
cao hiệu quả quản lý nhà nước về chợ
Các sở, ban, ngành và UBND xã,
phường theo chức năng, nhiệm vụ được giao, tập trung thực hiện các nội dung
sau:
- Tăng cường công tác quản lý
nhà nước trong các lĩnh vực đầu tư xây dựng, quản lý đất đai, tài chính, an ninh
trật tự đối với các chợ trên địa bàn; chú trọng công tác tuyên truyền, phổ biến
giáo dục pháp luật cho công dân, làm tốt công tác công khai các thông tin cho
Nhân dân hiểu, đồng thuận ngay trước, trong và sau khi triển khai các chủ
trương, chính sách đối với việc phát triển, quản lý, kinh doanh khai thác chợ.
- Đẩy nhanh tiến độ triển khai
các dự án đầu tư chợ bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, vốn ngoài ngân sách nhà
nước nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu kinh doanh, mua
bán của Nhân dân, xóa bỏ dứt điểm các tụ điểm kinh doanh tự phát trái quy định
trên địa bàn.
- Rà soát phân hạng các chợ
trên địa bàn theo đúng tiêu chuẩn quy định.
- Đơn vị quản lý chợ, chủ đầu tư
theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của mình phải công khai, minh
bạch các thông tin liên quan đến hoạt động đầu tư, xây dựng các công trình
trong chợ, xây dựng lại chợ.
- Rà soát lại quỹ đất để bố trí
các địa điểm xây dựng chợ theo quy hoạch được phê duyệt.
2. Về
nguồn vốn đầu tư phát triển chợ
|
STT
|
Hạng mục
|
Dự kiến kinh phí đầu tư (triệu đồng)
|
|
1
|
Xây chợ mới tại vị trí chưa
có chợ
|
95.000
|
|
2
|
Xây mới tại vị trí đã có chợ
|
48.000
|
|
3
|
Nâng cấp, cải tạo
|
33.752
|
|
|
Tổng
|
176.752
|
Dự toán tổng kinh phí thực hiện:
176.752 triệu đồng.
Để bảo đảm tính khả thi trong
triển khai đầu tư xây dựng, cải tạo và nâng cấp hệ thống chợ trên địa bàn tỉnh
đến năm 2030, trên cơ sở đề xuất của Ủy ban nhân dân các xã, phường và nhu cầu
thực tế theo khu vực, địa bàn, tỉnh định hướng huy động đa dạng các nguồn lực,
trong đó tập trung vào ba nhóm nguồn vốn chủ yếu, gồm: nguồn vốn ngân sách nhà
nước hỗ trợ đầu tư; nguồn vốn lồng ghép từ các Chương trình mục tiêu quốc gia
và nguồn vốn xã hội hóa. Trong quá trình triển khai thực hiện Kế hoạch, định hướng
ưu tiên huy động nguồn lực xã hội hóa thông qua sự tham gia của doanh nghiệp, hợp
tác xã trong đầu tư xây dựng, quản lý và khai thác chợ; đồng thời, xem xét lồng
ghép, hỗ trợ từ các nguồn vốn ngân sách địa phương và các Chương trình mục tiêu
quốc gia theo phạm vi, đối tượng và khả năng cân đối nguồn lực.
Tỉnh tiếp tục tạo điều kiện thuận
lợi về cơ chế, chính sách để các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư xây dựng, quản
lý và khai thác chợ theo quy định của pháp luật; đồng thời nghiên cứu, áp dụng
linh hoạt các hình thức hợp tác phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa
phương nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư. Ngân sách nhà nước hỗ trợ một phần kinh
phí đối với các dự án đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp chợ do doanh nghiệp, hợp
tác xã thực hiện theo phạm vi, đối tượng và mức hỗ trợ quy định tại Nghị quyết
về chính sách hỗ trợ đầu tư trên địa bàn tỉnh, bảo đảm phù hợp với khả năng cân
đối ngân sách từng cấp và các quy định của pháp luật hiện hành.
Đối với các địa bàn thuộc phạm
vi, đối tượng hỗ trợ theo quy định của các Chương trình mục tiêu quốc gia, tỉnh
xem xét khả năng lồng ghép nguồn vốn chương trình, đặc biệt là từ Chương trình
xây dựng nông thôn mới và Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng
bào dân tộc thiểu số và miền núi, làm cơ sở hỗ trợ đầu tư xây dựng chợ tại các
xã chưa có chợ, khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu
số; qua đó hình thành các điểm kinh doanh tập trung, đáp ứng nhu cầu giao
thương thiết yếu của người dân, góp phần bảo đảm an sinh xã hội, đồng thời phù
hợp với mục tiêu, tiêu chí của chương trình và khả năng bố trí vốn hằng năm.
Đối với danh mục các chợ thực
hiện cải tạo, nâng cấp, trong trường hợp chưa bố trí được nguồn vốn đầu tư xây
dựng cơ bản và chưa huy động được nguồn lực xã hội hóa, xem xét bố trí nguồn
chi thường xuyên có tính chất đầu tư để thực hiện các hạng mục sửa chữa, cải tạo
cần thiết nhằm duy trì điều kiện hoạt động, bảo đảm an toàn phòng cháy chữa
cháy, vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm và đáp ứng nhu cầu giao thương thiết
yếu của người dân. Ủy ban nhân dân xã, phường chịu trách nhiệm rà soát, đánh
giá mức độ cấp thiết, xác định thứ tự ưu tiên của từng hạng mục, trên cơ sở đó
quyết định việc sử dụng nguồn chi thường xuyên của cấp xã theo thẩm quyền, phù
hợp với khả năng cân đối ngân sách và đúng quy định của pháp luật hiện hành.
Việc huy động, phân bổ và sử dụng
các nguồn vốn được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về đầu tư công,
ngân sách nhà nước và các quy định có liên quan, bảo đảm công khai, minh bạch,
tiết kiệm, hiệu quả và phù hợp với khả năng cân đối ngân sách từng cấp, góp phần
triển khai thực hiện Kế hoạch phát triển hệ thống chợ trên địa bàn tỉnh đến năm
2030 theo lộ trình phù hợp và bền vững.
3. Về đất
đai
- Tạo điều kiện theo quy định để
các doanh nghiệp, hợp tác xã tiếp cận với quỹ đất sạch góp phần giảm kinh phí đền
bù, giải phóng mặt bằng, giảm thời gian chuẩn bị đầu tư dự án.
- Hỗ trợ tháo gỡ khó khăn theo
quy định đối với các chợ còn vướng mắc về đất đai.
4. Đào tạo
nâng cao năng lực chuyên môn đội ngũ cán bộ quản lý chợ
Tổ chức các hội nghị tập huấn,
bồi dưỡng kiến thức nghiệp vụ, kỹ năng quản lý nhà nước về chợ cho đối tượng là
cán bộ, công chức địa phương làm công tác liên quan đến lĩnh vực chợ; công tác
quản lý hoạt động chợ cho cán bộ ban quản lý, doanh nghiệp, hợp tác xã, cán bộ
quản lý chợ cấp xã; các công tác tập huấn về phòng cháy chữa cháy, vệ sinh an
toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường trên địa bàn tỉnh.
5. Về đảm bảo
điều kiện phòng cháy và chữa cháy tại chợ
- Tăng cường công tác quản lý
nhà nước về phòng cháy chữa cháy đối với các chợ trên địa bàn;
- Hướng dẫn và hỗ trợ cho các
chợ trong quá trình đầu tư lắp đặt các trang thiết bị, lập hồ sơ quản lý công
tác phòng cháy chữa cháy, phương án phòng cháy, chữa cháy, tuyên truyền tập huấn
cho các đơn vị quản lý, kinh doanh khai thác chợ và các hộ kinh doanh trong chợ
về công tác phòng cháy chữa cháy.
6. Về đảm bảo
an toàn thực phẩm trong chợ
Tuyên truyền vận động các tiểu
thương kinh doanh các sản phẩm an toàn, có các trang thiết bị đảm bảo an toàn
thực phẩm theo quy định; rà soát tập huấn kiến thức an toàn thực phẩm cho các
cơ sở kinh doanh trong chợ; thực hiện cam kết về an toàn vệ sinh thực phẩm, cấp
giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm; biển nhận diện cho các cơ sở
kinh doanh thực phẩm trong chợ; bố trí các điểm kinh doanh rau, thực phẩm an
toàn tại các chợ.
IV. PHƯƠNG
ÁN PHÁT TRIỂN CHỢ
Đến năm 2025, toàn tỉnh có 83
chợ đang hoạt động, phân bố tương đối đồng đều trên hầu hết các xã, phường[1]. Về cơ sở vật chất, phần lớn các
chợ trên địa bàn tỉnh đã được đầu tư xây dựng ở mức kiên cố hoặc bán kiên cố,
có khu vực kinh doanh tập trung; hệ thống điện, cấp thoát nước và bố trí nhà quản
lý, cơ bản đáp ứng hoạt động giao thương. Tuy nhiên, một số chợ vẫn thiếu các hạng
mục phụ trợ quan trọng như: bãi đỗ xe, khu vệ sinh, kho chứa hàng, hệ thống xử
lý rác thải, phòng cháy chữa cháy; một số chợ có diện tích nhỏ, hẹp, đã xuống cấp,
chưa được cải tạo nâng cấp kịp thời. Hiện trạng này phản ánh sự chênh lệch rõ
nét giữa các khu vực: trong khi chợ trung tâm đô thị được đầu tư khá đồng bộ
thì chợ tại khu vực nông thôn, miền núi chưa được quan tâm, đầu tư tương xứng.
Công tác quản lý, vận hành chợ bước đầu đã có chuyển biến nhưng thiếu đồng bộ,
tính chuyên nghiệp chưa cao; các dịch vụ hỗ trợ như: kho bãi, logistics, thanh
toán không dùng tiền mặt, truy xuất nguồn gốc,… mới đang trong giai đoạn thí điểm,
chưa phổ biến rộng rãi. Ngoài ra, các yêu cầu về vệ sinh môi trường, an toàn
phòng cháy chữa cháy vẫn còn bất cập tại nhiều chợ. Về tổng thể, hệ thống chợ
đã cơ bản đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ thiết yếu của người
dân, song chưa theo kịp xu hướng phát triển thương mại hiện đại.
Trên cơ sở đánh giá hiện trạng;
định hướng phát triển kinh tế - xã hội tại các địa phương trên địa bàn tỉnh.
Giai đoạn 2026-2030, toàn tỉnh định hướng đầu tư xây mới, cải tạo nâng cấp 40
chợ[2] với tổng diện
tích xây dựng khoảng 152.237 m². Qua đó, từng bước hoàn thiện mạng lưới chợ,
đáp ứng nhu cầu phát triển thương mại trên địa bàn (có Biểu Quy hoạch mạng
lưới chợ giai đoạn 2026-2030 kèm theo), cụ thể:
1. Xây chợ
mới tại vị trí chưa có chợ
Giai đoạn 2026 - 2030, toàn tỉnh
dự kiến đầu tư xây dựng mới 18 chợ, trong đó ưu tiên tập trung đầu tư đối với
các địa bàn hiện chưa có chợ, nhằm từng bước hoàn thiện mạng lưới chợ, đáp ứng
nhu cầu an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh. Cụ thể, ưu tiên bố trí đầu tư xây dựng
mới 09 chợ tại các xã, phường hiện chưa có chợ, gồm: Đoàn Kết, Châu Sơn, Chiến
Thắng, Xuân Dương, Thiện Long, Quý Hòa, Tuấn Sơn, Tam Thanh. Đây là các địa bàn
chưa có điểm chợ chính thức, người dân phải di chuyển xa để giao thương, vì vậy
việc đầu tư xây dựng chợ sẽ giúp hình thành các điểm kinh doanh tập trung, tạo
điều kiện tiêu thụ sản phẩm nông - lâm nghiệp, giảm chi phí vận chuyển, đáp ứng
nhu cầu mua bán hàng hóa thiết yếu và nâng cao thu nhập cho người dân khu vực
nông thôn, miền núi, biên giới.
Bên cạnh đó, căn cứ khả năng
huy động và cân đối các nguồn lực, tỉnh sẽ xem xét đầu tư xây dựng mới bổ sung
09 chợ tại các xã đã có chợ, gồm: Cao Lộc, Bình Gia, Đình Lập, Hoàng Văn Thụ,
Thái Bình, Thống Nhất, Lộc Bình, Cai Kinh và Vũ Lăng, nhằm giảm tải cho các chợ
hiện hữu, đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa ngày càng tăng của người
dân; đồng thời tạo điều kiện phát triển các ngành kinh tế tiềm năng tại địa
phương, nhất là du lịch, dịch vụ, thương mại cửa khẩu và nông nghiệp hàng hóa.
(có
Phụ lục I kèm theo)
2. Xây chợ
mới tại vị trí đã có chợ
Nhằm đáp ứng nhu cầu giao
thương ngày càng tăng của người dân, đồng thời từng bước hoàn thiện, nâng cấp hệ
thống hạ tầng thương mại trên địa bàn tỉnh, trong giai đoạn 2026-2030, tỉnh sẽ
xem xét đầu tư xây dựng mới một số chợ tại các địa bàn đã có chợ nhưng hạ tầng
hiện hữu không còn đáp ứng yêu cầu phát triển. Đây là các khu vực có mật độ dân
cư tương đối cao, trong khi chợ hiện nay đã xuống cấp, quy mô nhỏ, không bảo đảm
các điều kiện về diện tích sử dụng, vệ sinh môi trường, phòng cháy chữa cháy và
an toàn thực phẩm. Cụ thể đầu tư xây dựng mới 09 chợ tại các xã, gồm: Chi Lăng
(chợ Sông Hóa), Na Sầm (chợ Na Sầm), Na Dương (chợ Na Dương), Yên Bình (chợ Đồng
Bụt), Vạn Linh (chợ Vạn Linh), Hữu Lũng (chợ Phố Vị), Khuất Xá (chợ Tam Gia),
Tân Tiến (chợ Áng Mò) và Tân Đoàn (chợ Ba Xã).
Việc đầu tư xây dựng mới các chợ
nêu trên nhằm khắc phục tình trạng quá tải, xuống cấp của chợ hiện hữu, đồng thời
tạo thêm không gian giao thương tập trung, thúc đẩy lưu thông hàng hóa, tiêu thụ
nông sản, đáp ứng nhu cầu phát triển thương mại - dịch vụ tại địa phương. Các
công trình này có tính lan tỏa và vai trò quan trọng đối với phát triển hạ tầng
thương mại, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao thu nhập và cải thiện
đời sống của người dân; việc triển khai đầu tư sẽ được xem xét, sắp xếp theo thứ
tự ưu tiên và khả năng huy động, cân đối các nguồn lực trong từng giai đoạn.
(có
Phụ lục II kèm theo)
3. Cải tạo,
nâng cấp chợ
Trong giai đoạn 2026-2030, nhằm
từng bước hoàn thiện kết cấu hạ tầng thương mại, nâng cao hiệu quả quản lý,
khai thác và sử dụng hệ thống chợ hiện có, tỉnh Lạng Sơn xem xét triển khai cải
tạo, nâng cấp các chợ đã xuống cấp, quá tải, không còn đáp ứng yêu cầu hoạt động
thương mại và các tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định. Nhiều chợ trên địa bàn tỉnh
hiện có quy mô nhỏ, hạ tầng kỹ thuật thiếu đồng bộ, tình trạng hư hỏng diễn ra
phổ biến, ảnh hưởng đến vệ sinh môi trường, công tác phòng cháy chữa cháy, an
toàn thực phẩm và mỹ quan khu vực, đồng thời hạn chế khả năng lưu thông, tiêu
thụ hàng hóa của người dân.
Việc cải tạo, nâng cấp chợ được
thực hiện theo nguyên tắc có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên tập trung vào các hạng
mục thực sự cần thiết nhằm bảo đảm duy trì điều kiện hoạt động ổn định, an toàn
của chợ, như: hệ thống hạ tầng kỹ thuật (cấp, thoát nước, điện chiếu sáng, nền,
mái, sân bãi, tường rào), cải tạo, xây mới nhà chợ, ki-ốt bán hàng, khu vệ
sinh công cộng, khu để xe, hệ thống phòng cháy chữa cháy, đường giao thông nội
bộ, bãi đỗ xe và các công trình phụ trợ khác theo nhu cầu thực tế.
Một số chợ dự kiến thực hiện cải
tạo, nâng cấp gồm: chợ Hữu Kiên (xã Quan Sơn), chợ Hội Hoan (xã Hội Hoan), chợ
Đông Pinh (xã Kháng Chiến), chợ Bình Độ (xã Quốc Việt), chợ Hưng Vũ và chợ Trấn
Yên (xã Hưng Vũ), chợ Thái Bình (xã Thái Bình), chợ xã Cai Kinh, chợ Thôn Ga
(xã Chi Lăng), chợ Bãi (xã Yên Phúc), chợ Hoàng Văn Thụ cũ, chợ cửa khẩu và chợ
thực phẩm Tân Thanh (xã Hoàng Văn Thụ).
Việc triển khai cải tạo, nâng cấp
các chợ nêu trên góp phần hoàn thiện mạng lưới hạ tầng thương mại, bảo đảm các
điều kiện hoạt động an toàn, vệ sinh và nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng hệ
thống chợ; qua đó đáp ứng tốt hơn nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa của người
dân và phục vụ phát triển thương mại - dịch vụ trên địa bàn tỉnh.
(có
Phụ lục III kèm theo)
V. TỔ CHỨC
THỰC HIỆN
1. Sở
Công Thương
- Chủ trì, phối hợp các sở,
ngành liên quan, UBND các xã, phường triển khai thực hiện Kế hoạch này và các
nhiệm vụ được giao tại quy định về phát triển và quản lý chợ trên địa bàn tỉnh
Lạng Sơn được ban hành kèm theo Quyết định số 23/2025/QĐ-UBND, ngày 11/3/2025 của
UBND tỉnh Lạng Sơn.
- Chủ động phối hợp với Cục Quản
lý và Phát triển thị trường trong nước, các cục, vụ liên quan thuộc Bộ Công
Thương để cập nhật cơ chế, chính sách mới; đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định
liên quan đến phát triển và quản lý chợ phù hợp thực tiễn Lạng Sơn.
- Tổ chức rà soát, tổng hợp,
đánh giá tiến độ thực hiện, báo cáo định kỳ hoặc đột xuất với Bộ Công Thương,
UBND tỉnh về tình hình phát triển hệ thống chợ trên địa bàn tỉnh theo quy định,
đề xuất giải pháp tháo gỡ khó khăn trong đầu tư, quản lý, kinh doanh chợ.
- Thường xuyên tổ chức kiểm
tra, kiểm soát thị trường, xử lý vi phạm pháp luật về hoạt động kinh doanh hàng
hóa nhập lậu; buôn bán hàng giả, hàng cấm, hàng hóa không rõ nguồn gốc xuất xứ;
hành vi vi phạm pháp luật về chất lượng, đo lường, giá, an toàn thực phẩm; hành
vi vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại các chợ trên địa
bàn.
2. Sở Tài
chính
- Chủ trì tham mưu, thực hiện
hướng dẫn trình tự lựa chọn nhà đầu tư dự án đầu tư xây dựng chợ theo hướng dẫn
của các Bộ, ngành và các quy định pháp luật có liên quan.
- Phối hợp với các đơn vị liên
quan tham mưu UBND tỉnh thực hiện quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu
hạ tầng chợ do Nhà nước đầu tư, quản lý trên địa bàn tỉnh theo quy định; hướng
dẫn UBND các xã, phường áp dụng chế độ quản lý, tính hao mòn, trích khấu hao
tài sản kết cấu hạ tầng chợ; chế độ kế toán tài sản kết cấu hạ tầng chợ trên địa
bàn theo quy định và hướng dẫn của Bộ Tài chính.
- Phối hợp với các cơ quan, đơn
vị thực hiện kêu gọi, giới thiệu các nhà đầu tư tiềm năng để thực hiện dự án đầu
tư xây dựng chợ.
- Chủ động rà soát, tổng hợp
nhu cầu và tham mưu UBND tỉnh báo cáo, đề xuất với các Bộ, ngành Trung ương về
việc bố trí, hỗ trợ vốn từ các Chương trình mục tiêu quốc gia để đầu tư xây dựng,
cải tạo và nâng cấp chợ; đồng thời hướng dẫn các địa phương thực hiện lồng
ghép, quản lý, sử dụng nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia đúng mục tiêu,
đúng quy định và phù hợp với khả năng cân đối ngân sách của tỉnh.
3. Sở Dân
tộc và Tôn giáo
- Chủ trì, phối hợp với các sở,
ngành liên quan và Ủy ban nhân dân các xã, phường rà soát, tổng hợp nhu cầu đầu
tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp chợ thuộc phạm vi, đối tượng hỗ trợ của Chương
trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu
số và miền núi theo quy định.
- Tham mưu đề xuất danh mục, thứ
tự ưu tiên và khả năng lồng ghép nguồn vốn từ Chương trình mục tiêu quốc gia
cho các dự án đầu tư xây dựng chợ tại các địa bàn phù hợp với mục tiêu, tiêu
chí của chương trình và khả năng bố trí vốn trong từng giai đoạn.
- Phối hợp với Sở Tài
chính và các cơ quan liên quan hướng dẫn các địa phương lập hồ sơ, thủ tục, nội
dung đề xuất bảo đảm đúng đối tượng, phạm vi và quy định của Chương trình mục
tiêu quốc gia.
- Theo dõi, tổng hợp và
báo cáo kết quả thực hiện, khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện các nội
dung đầu tư xây dựng chợ thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia, kịp thời tham
mưu đề xuất UBND tỉnh giải pháp xử lý theo thẩm quyền.
4. Sở Xây
dựng
- Chủ trì, phối hợp với UBND
các xã, phường thực hiện rà soát tổng thể quy hoạch chung, quy hoạch phân khu
xây dựng trên địa bàn.
- Chủ trì hướng dẫn các cơ
quan, đơn vị, doanh nghiệp được giao tài sản kết cấu hạ tầng chợ thực hiện các
nội dung liên quan đến tiêu chuẩn, định mức xây dựng, quy trình bảo trì tài sản
kết cấu hạ tầng chợ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao.
5. Sở
Nông nghiệp và Môi trường
- Chủ trì, phối hợp với các cơ
quan, đơn vị liên quan tham mưu UBND tỉnh bố trí quỹ đất cho xây dựng, mở rộng
chợ; thực hiện thủ tục thu hồi, giao đất, cho thuê đất đối với các dự án xây dựng
chợ thuộc thẩm quyền cấp tỉnh theo phân cấp, phân quyền.
- Chủ trì hướng dẫn, kiểm tra,
giám sát việc sử dụng đất chợ theo quy định; hướng dẫn, kiểm tra thực hiện thủ
tục môi trường, công tác bảo vệ môi trường tại chợ thuộc thủ tục cấp tỉnh theo
thẩm quyền, phân cấp.
6. Sở Văn
hóa, Thể thao và Du lịch: chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn
vị liên quan trong việc thúc đẩy, gắn kết các hoạt động du lịch, quảng bá đối với
các chợ có giá trị di tích lịch sử, văn hóa, cảnh quan kiến trúc và chợ đêm
trên địa bàn tỉnh; thực hiện công tác quản lý, bảo tồn đối với các chợ đã được
xếp hạng di tích, lịch sử, văn hóa theo quy định về luật di sản văn hóa; phối hợp
với Sở Công Thương cung cấp thông tin hướng dẫn, định hướng các cơ quan báo
chí, hệ thống thông tin cơ sở trên địa bàn tỉnh thông tin, tuyên truyền phổ biến
các nội dung của Nghị định số 60/2024/NĐ-CP và các quy định của pháp luật có
liên quan về chợ trên địa bàn tỉnh.
7. Trung
tâm Xúc tiến Đầu tư, Thương mại và Du lịch tỉnh: phối hợp với
các cơ quan, đơn vị liên quan đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến đầu tư để thu hút
các nhà đầu tư phát triển mạng lưới chợ trên địa bàn tỉnh.
8. Công an
tỉnh: chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan thực
hiện quản lý nhà nước về phòng cháy, chữa cháy, bảo đảm an ninh, trật tự, an
toàn xã hội trong phạm vi chợ và khu vực xung quanh chợ.
9. UBND các
xã, phường
- Hằng năm xây dựng kế hoạch và
tổ chức triển khai thực hiện công tác quản lý nhà nước theo phân cấp; huy động
nguồn lực đầu tư mới, nâng cấp cải tạo các chợ. Bố trí ngân sách nâng cấp, cải
tạo theo kế hoạch đối với chợ do Nhà nước đầu tư và hỗ trợ đầu tư trong Kế hoạch
đầu tư công trung hạn và hằng năm để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Thực hiện kiểm tra công tác
quản lý chợ trên địa bàn theo thẩm quyền và quy định của pháp luật.
- Chỉ đạo các lực lượng chức
năng, thường xuyên kiểm tra, xử lý nghiêm tình trạng tụ tập họp chợ lấn chiếm
lòng đường, vỉa hè, hành lang an toàn giao thông…; xử lý dứt điểm chợ cóc, chợ
tạm, tụ điểm kinh doanh ngoài quy hoạch trên địa bàn.
- Rà soát, lập danh mục các dự
án đầu tư xây dựng chợ trên địa bàn gửi Sở Công Thương, Sở Tài chính để tổng hợp,
báo cáo UBND tỉnh đưa vào danh mục, chương trình, kế hoạch xúc tiến, kêu gọi đầu
tư.
- Hướng dẫn, kiểm tra thực hiện
thủ tục môi trường, công tác bảo vệ môi trường tại chợ thuộc thủ tục hành chính
cấp xã theo thẩm quyền, phân cấp; thực hiện thủ tục thu hồi, giao đất, cho thuê
đất đối với các dự án xây dựng chợ thuộc thẩm quyền cấp xã theo phân cấp, phân
quyền.
- Chủ động tìm kiếm, huy động
và khuyến khích các tổ chức, cá nhân trên địa bàn tham gia đầu tư xây dựng, cải
tạo, nâng cấp chợ theo hình thức xã hội hóa; chủ động công khai thông tin về
quy hoạch, quỹ đất và điều kiện đầu tư nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, hợp
tác xã tiếp cận, nghiên cứu và đề xuất phương án đầu tư phù hợp.
Căn cứ Kế hoạch này và tình hình
triển khai nhiệm vụ thuộc lĩnh vực ngành, UBND xã, phường xây dựng kế hoạch tổ
chức thực hiện hằng năm; các Sở, ngành lồng ghép các nhiệm vụ, chương trình, dự
án được giao vào kế hoạch phát triển của sở, ngành, đơn vị, kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội ở địa phương để tổ chức thực hiện đạt hiệu quả. Định kỳ hằng
năm, các sở, ban, ngành liên quan, UBND các xã, phường và các đơn vị báo cáo kết
quả thực hiện, gửi Sở Công Thương trước ngày 30/11 hàng năm để tổng hợp,
báo cáo UBND tỉnh theo quy định.
Trong quá trình tổ chức thực hiện
Kế hoạch, nếu có khó khăn, vướng mắc các sở, ban, ngành, UBND các xã, phường phản
ánh về Sở Công Thương để tổng hợp, báo cáo UBND tỉnh xem xét, chỉ đạo./.
|
Nơi nhận:
- Chủ tịch, các PCT UBND tỉnh;
- Các Sở: CT, TC,
XD, NNMT, KHCN, VH-TT&DL, GDĐT, NgV, NV;
- BQLKKTCK ĐĐ-LS;
- Trung tâm XTĐTTMDL tỉnh;
- UBND các xã, phường;
- C,PCVP UBND tỉnh, các phòng CV, TTTT;
- Lưu: VT, KTTH (LC).
|
TM. UỶ BAN NHÂN DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Đoàn Thanh Sơn
|
[1] Một
số địa bàn có mật độ chợ cao như xã Hoàng Văn Thụ (6 chợ), xã Chi Lăng và phường
Kỳ Lừa (4 chợ), các xã Hữu Lũng, Nhất Hòa, Vũ Lễ (mỗi xã có 3 chợ) cùng với các
phường trung tâm như Đông Kinh, Lương Văn Tri.
[2] Gồm
các hình thức: (1) xây mới tại vị trí chưa có chợ; (2) xây mới tại
vị trí đã có chợ; (3) cải tạo, nâng cấp