|
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỐI CAO
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 220/QĐ-CA
|
Hà Nội, ngày 06
tháng 4 năm 2016
|
QUYẾT ĐỊNH
VỀ
VIỆC CÔNG BỐ ÁN LỆ
CHÁNH ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Căn cứ Điều 27 Luật
tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28 tháng 10 năm 2015 của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng
án lệ;
Căn cứ kết quả lựa chọn và biểu quyết thông qua
án lệ của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tại Biên bản phiên họp
ngày 06 tháng 4 năm 2016,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Công bố 06 (sáu) án lệ đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao thông qua ngày 06-4-2016. Các án lệ được ban hành kèm theo Quyết
định này.
Điều 2. Các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự có trách nhiệm nghiên
cứu, áp dụng các án lệ trong xét xử kể từ ngày 01-6-2016.
Việc áp dụng án lệ được thực hiện theo hướng dẫn tại
Điều 8 Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28-10-2015 của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng
án lệ.
Điều 3. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
|
Nơi nhận:
- Ủy ban thường vụ Quốc hội (để b/c);
- Ủy ban tư pháp của Quốc hội;
- Ủy ban pháp luật của Quốc hội;
- Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
- Ban Nội chính Trung ương;
- Ban Chỉ đạo CCTPTW;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Bộ Tư pháp;
- Bộ Công an;
- Liên đoàn luật sư Việt Nam;
- Trung ương Hội luật gia Việt Nam;
- Các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự;
- Các Thẩm phán TANDTC;
- Các đơn vị thuộc TANDTC;
- Lưu: VT (TANDTC, Vụ PC&QLKH).
|
CHÁNH ÁN
Trương Hòa Bình
|
Án
lệ số 01/2016/AL
Được Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 và được công bố
theo Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06 tháng 4 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao.
Nguồn án lệ:
Quyết định giám đốc thẩm số 04/2014/HS-GĐT ngày
16-4-2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Giết người”
đối với bị cáo: Đồng Xuân Phương, sinh năm 1975; trú tại nhà số 11/73 phố Đinh
Tiên Hoàng, Phường Hoàng Văn Thụ, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng; là công
nhân xây dựng; con ông Đồng Xuân Chì và bà Dương Thị Thông; bị bắt giam ngày 22-6-2007;
Người bị hại: Nguyễn Văn Soi, sinh năm 1971 (đã chết).
Khái quát nội dung của án lệ:
Trong vụ án có đồng phạm, nếu chứng minh được ý thức
chủ quan của người chủ mưu là chỉ thuê người khác gây thương tích cho người bị
hại mà không có ý định tước đoạt tính mạng của họ (người chủ mưu chỉ yêu cầu
gây thương tích ở chân, tay của người bị hại mà không yêu cầu tấn công vào các
phần trọng yếu của cơ thể có khả năng dẫn đến chết người); người thực hành cũng
đã thực hiện theo đúng yêu cầu của người chủ mưu; việc nạn nhân bị chết nằm
ngoài ý thức chủ quan của người chủ mưu thì người chủ mưu phải chịu trách nhiệm
hình sự về tội “Cố ý gây thương tích” với tình Tiết định khung là “gây thương
tích dẫn đến chết người”.
Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:
- Điểm m, n Khoản 1 Điều 93 của Bộ
luật hình sự năm 1999;
- Khoản 3 Điều 104 của Bộ luật hình
sự năm 1999.
Từ khóa của án lệ:
“Giết người”; “Cố ý gây thương tích”; “Gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác”; “Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe”; “Thuê người
khác gây thương tích”.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Khoảng 15 giờ ngày 21-6-2007, Công an quận Long
Biên, thành phố Hà Nội nhận được tin báo đã xảy ra vụ án, nạn nhân bị chết tại
khu vực đúc dầm bê tông thi công cầu Thanh Trì thuộc địa phận tổ 12, phường Thạch
Bàn, quận Long Biên; nạn nhân là anh Nguyễn Văn Soi (kỹ sư xây dựng thuộc Công
ty cổ phần xây dựng 204 thuộc Tổng công ty xây dựng Bạch Đằng). Qua Điều tra,
xác minh, Công an quận Long Biên đã bắt khẩn cấp Đồng Xuân Phương.
Quá trình Điều tra xác định: anh Nguyễn Văn Soi và
Đồng Xuân Phương cùng làm việc tại Công ty cổ phần xây dựng 204 thuộc Tổng công
ty xây dựng Bạch Đằng (được giao nhiệm vụ thi công, xây dựng cầu Thanh Trì).
Khoảng tháng 02-2007, Phương uống rượu say trong giờ làm việc, bị anh Soi dùng
điện thoại di động chụp ảnh, báo cáo lãnh đạo nên Phương có ý định trả thù anh
Soi.
Ngày 14-6-2007, Đồng Xuân Phương gọi điện thoại cho
bạn là Đoàn Đức Lân sinh năm 1975 (trú tại nhà số 11 C98 Trại Chuối, quận Hồng
Bàng, thành phố Hải Phòng) nói việc mâu thuẫn nêu trên và thuê Lân đánh trả
thù. Lân nói sẽ giới thiệu người khác thực hiện. Tối ngày 17-6-2007, Phương từ
Hà Nội về Hải Phòng gặp Lân và bạn của Lân là Hoàng Ngọc Mạnh sinh năm 1982
(còn gọi là Thắng; trú tại phường Sở Dầu, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng)
kể lại việc mâu thuẫn và thuê Lân, Mạnh đánh anh Soi, bằng cách dùng dao đâm
vào chân, tay nạn nhân để gây thương tích. Đồng Xuân Phương hỏi giá bao nhiêu,
Mạnh và Lân nói tùy nên Phương đã đưa cho Mạnh 1.500.000 đồng. Lân và Mạnh đồng
ý.
Khoảng 20 giờ ngày 20-6-2007, Hoàng Ngọc Mạnh đi
cùng Nam (là bạn Mạnh; không xác định được địa chỉ) lên Hà Nội gặp Đồng Xuân
Phương thống nhất là sẽ đánh anh Soi vào ngày 21-6-2007; sau đó Phương đưa thêm
500.000 đồng để Mạnh thuê chỗ ngủ. Đến Khoảng 9 giờ ngày 21-6-2007, Phương dẫn
Mạnh và Nam đến đoạn đường anh Soi sẽ qua để đi họp vào đầu giờ buổi chiều hôm
đó; rồi quay về Công ty. Khoảng 11 giờ, Hoàng Ngọc Mạnh đến quán nước tại ngã
ba quốc lộ 5 - 1B (quán của chị Phạm Thị Miến) thuê điện thoại di động của chị
Miến gọi điện thoại cho Đồng Xuân Phương yêu cầu mô tả đặc Điểm nhận dạng và
thông báo số điện thoại di động của anh Soi; Phương đã thực hiện theo yêu cầu của
Mạnh. Đến Khoảng hơn 13 giờ chiều, Mạnh lại thuê điện thoại di động của chị Miến
gọi cho Phương thông báo là đã nhận dạng được anh Soi và Mạnh sẽ thực hiện một
mình vì hiện Nam đã bỏ đi đâu không thông báo lại, Đồng Xuân Phương đồng ý.
Khoảng 14 giờ 16 phút cùng ngày, Mạnh đã thuê máy
điện thoại di động của chị Miến gọi điện thoại hẹn gặp anh Soi tại khu vực đúc
dầm bê tông. Khi anh Soi đến, Mạnh đã dùng dao nhọn chuẩn bị từ trước đâm 02
nhát vào mặt sau đùi phải, làm anh Soi chết.
Tại Bản giám định pháp y số 146/PC21-PY ngày
17-7-2007, Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: nạn nhân
bị 02 vết thương tại mặt sau đùi phải, vết phía trên xuyên vào cơ đùi 3cm. Vết
phía dưới cắt đứt động mạch, tĩnh mạch đùi sau gây chảy mất nhiều máu. Nguyên
nhân chết: sốc mất máu cấp không hồi phục do vết thương động mạch.
Ngoài ra, trong quá trình Điều tra Đồng Xuân Phương
còn khai: ngoài lý do mâu thuẫn giữa bị cáo và anh Soi, việc thuê đâm anh Soi
còn có nguyên nhân do bị anh Ngô Văn Toản (là Phó Ban Điều hành dự án cầu Thanh
Trì) kích động, vì trước đó anh Toản cũng có mâu thuẫn với anh Soi. Cơ quan Điều
tra đã lấy lời khai của anh Toản, nhưng anh Toản không thừa nhận việc này. Kết
quả Điều tra không có cơ sở kết luận anh Toản có liên quan đến vụ án.
Đoàn Đức Lân và Hoàng Ngọc Mạnh bỏ trốn, Cơ quan Điều
tra đã có quyết định truy nã và quyết định tạm đình chỉ Điều tra bị can đối với
Đoàn Đức Lân và Hoàng Ngọc Mạnh, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.
Trong quá trình Điều tra, cán bộ và Công ty cổ phần
xây dựng 204 đã tự nguyện quyên góp, trợ cấp cho gia đình người bị hại tổng cộng
123.000.000 đồng, trong đó có chi phí mai táng 63.000.000 đồng và 03 sổ Tiết kiệm
cho gia đình anh Soi, với tổng số tiền gửi là 60.000.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 164/2008/HSST ngày
17-11-2008, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội áp dụng Điểm n Khoản
1 Điều 93; Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự; xử phạt Đồng Xuân Phương
17 năm tù về tội “Giết người”.
Buộc Đồng Xuân Phương bồi thường cho gia đình người
bị hại tiền tổn thất tinh thần là 32.400.000 đồng và cấp dưỡng hàng tháng cho
02 con và mẹ người bị hại.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Đồng Xuân Phương
kháng cáo đề nghị xem xét lại vụ án.
Đại diện hợp pháp của người bị hại là chị Nguyễn Thị
Thanh kháng cáo đề nghị tăng hình phạt, tăng mức bồi thường đối với bị cáo.
Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 262/2009/HSPT ngày
05-5-2009, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội căn cứ Khoản 1 Điều 250 Bộ luật tố tụng hình sự, hủy Bản án hình sự
sơ thẩm nêu trên để Điều tra lại theo thủ tục chung.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 167/2010/HSST ngày
31-3-2010, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội áp dụng Điểm n Khoản
1 Điều 93; Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự; xử phạt Đồng Xuân Phương
17 năm tù về tội “Giết người”.
Buộc Đồng Xuân Phương bồi thường các Khoản gồm: chi
phí mai táng 34.583.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần cho vợ con người bị hại tổng
số là 39.000.000 đồng và cấp dưỡng hàng tháng cho mẹ và con người bị hại.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 02-4-2010, Đồng Xuân
Phương kháng cáo xin giảm hình phạt và đề nghị xem xét lại vụ án vì chưa bắt được
Mạnh nên không có đủ căn cứ khẳng định việc Mạnh đâm chết anh Soi.
Ngày 13-4-2010, vợ người bị hại là chị Nguyễn Thị
Thanh kháng cáo đề nghị tăng hình phạt, tăng mức bồi thường đối với bị cáo.
Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 475/2010/HSPT ngày
15-9-2010, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội áp dụng các Điểm m, n Khoản 1 Điều 93; Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự;
xử phạt Đồng Xuân Phương tù chung thân về tội “Giết người”; buộc Đồng Xuân
Phương bồi thường tiền bù đắp tổn thất tinh thần là 43.800.000 đồng và giữ
nguyên các quyết định khác về bồi thường thiệt hại.
Tại Kháng nghị số 13/KN-HS ngày 22-7-2013, Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét
xử theo thủ tục giám đốc thẩm hủy Bản án hình sự phúc thẩm nêu trên về các phần:
tội danh, hình phạt và án phí hình sự phúc thẩm đối với Đồng Xuân Phương; chuyển
hồ sơ vụ án cho Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội để xét xử phúc
thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối
cao nhất trí với Kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhận
định:
Căn cứ vào các lời khai nhận tội của bị cáo Đồng
Xuân Phương trong quá trình Điều tra và tại các phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc
thẩm; lời khai và kết quả nhận dạng của những người làm chứng về các đối tượng
liên quan đến vụ án; Biên bản khám nghiệm hiện trường; Bản giám định pháp y
cùng các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án; có đủ căn cứ kết luận do mâu thuẫn
trong sinh hoạt, Đồng Xuân Phương đã thuê Hoàng Ngọc Mạnh và Đoàn Đức Lân dùng
dao đâm anh Nguyễn Văn Soi, với Mục đích gây thương tích cho nạn nhân để trả
thù. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; có căn cứ xác định về mặt chủ
quan, Phương chỉ muốn gây thương tích cho anh Soi mà không muốn tước đoạt tính
mạng, cũng không muốn thuê Mạnh đâm bừa, đâm ẩu vào anh Soi để mặc mọi hậu quả
xảy ra. Vì thế, bị cáo chỉ yêu cầu tấn công vào chân, tay mà không yêu cầu tấn
công vào các phần trọng yếu của cơ thể, là những vị trí nếu bị tấn công thì sẽ
có nhiều khả năng xâm hại đến tính mạng nạn nhân. Khi thực hiện tội phạm, Mạnh
đã đâm 02 nhát đều vào đùi nạn nhân theo đúng yêu cầu của Phương. Hành vi phạm
tội của Hoàng Ngọc Mạnh khó thấy trước được hậu quả chết người có thể xảy ra.
Việc nạn nhân bị chết do sốc mất máu cấp không hồi phục là ngoài ý muốn của Đồng
Xuân Phương và đồng phạm. Hành vi của Đồng Xuân Phương thuộc trường hợp phạm tội
cố ý gây thương tích dẫn đến chết người, quy định tại Khoản 3
Điều 104 Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đã kết
án Đồng Xuân Phương về tội “Giết người” là không đúng pháp luật.
Vì các lẽ trên, căn cứ vào Khoản 3
Điều 285 và Điều 287 Bộ luật tố tụng hình sự,
QUYẾT ĐỊNH
1. Hủy Bản án hình sự phúc thẩm số 475/2010/HSPT
ngày 15-9-2010 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội về các phần:
tội danh, hình phạt và án phí hình sự phúc thẩm đối với Đồng Xuân Phương; chuyển
hồ sơ vụ án cho Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội để xét xử phúc
thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
2. Tiếp tục tạm giam Đồng Xuân Phương cho đến khi
Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội thụ lý lại vụ án.
3. Các quyết định khác của Bản án hình sự phúc thẩm
nêu trên đã có hiệu lực pháp luật.
NỘI DUNG ÁN LỆ
"Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; có
căn cứ xác định về mặt chủ quan, Phương chỉ muốn gây thương tích cho anh Soi mà
không muốn tước đoạt tính mạng, cũng không muốn thuê Mạnh đâm bừa, đâm ẩu vào
anh Soi để mặc mọi hậu quả xảy ra. Vì thế, bị cáo chỉ yêu cầu tấn công vào
chân, tay mà không yêu cầu tấn công vào các phần trọng yếu của cơ thể, là những
vị trí nếu bị tấn công thì sẽ có nhiều khả năng xâm hại đến tính mạng nạn nhân.
Khi thực hiện tội phạm, Mạnh đã đâm 02 nhát đều vào đùi nạn nhân theo đúng yêu
cầu của Phương. Hành vi phạm tội của Hoàng Ngọc Mạnh khó thấy trước được hậu quả
chết người có thể xảy ra. Việc nạn nhân bị chết do sốc mất máu cấp không hồi phục
là ngoài ý muốn của Đồng Xuân Phương và đồng phạm. Hành vi của Đồng Xuân Phương
thuộc trường hợp phạm tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người, quy định tại
Khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa
án cấp phúc thẩm đã kết án Đồng Xuân Phương về tội “Giết người ” là không đúng
pháp luật.”
Án
lệ số 02/2016/AL
Được Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 và được công bố
theo Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06 tháng 4 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao.
Nguồn án lệ:
Quyết định giám đốc thẩm số 27/2010/DS-GĐT ngày
08-7-2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Tranh chấp
đòi lại tài sản” tại tỉnh Sóc Trăng giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thảnh với
bị đơn là ông Nguyễn Văn Tám; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn
Thị Yêm.
Khái quát nội dung của án lệ:
Trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã bỏ
tiền ra để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhờ người ở trong nước đứng
tên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hộ mình, khi giải quyết tranh chấp thì
Tòa án phải xem xét và tính công sức bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị
quyền sử dụng đất cho người đứng tên hộ; trường hợp không xác định được chính
xác công sức của người đó thì cần xác định người thực chất trả tiền để nhận
chuyển nhượng quyền sử dụng đất và người đứng tên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng
đất hộ có công sức ngang nhau để chia phần giá trị chênh lệch tăng thêm so với
tiền gốc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ban đầu.
Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:
Điều 137 và Điều 235 của Bộ luật
dân sự năm 2005.
Từ khóa của án lệ:
“Giao dịch dân sự vô hiệu”; “Đòi lại tài sản”; “Căn
cứ xác lập quyền sở hữu”; “Xác lập quyền sở hữu đối với lợi tức”; “Người Việt
Nam định cư ở nước ngoài”.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 24-01-2005, tờ khai ngày
07-02-2005 và quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị Thảnh là nguyên đơn
trình bày:
Bà Thảnh là Việt kiều ở Hà Lan về thăm thân nhân tại
Việt Nam và có ý định chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nên ngày 10-8-1993, bà
có nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Hêng Tính, bà Lý Thị Sà Quênh diện tích
7.595,7m2 đất ruộng tại Phường 7, thị xã Sóc Trăng với giá 21,99 chỉ
vàng. Bà là người trực tiếp giao dịch, thỏa thuận việc chuyển nhượng và trả tiền,
vàng cho vợ chồng ông Hêng Tính. Mục đích của bà Thảnh là chuyển nhượng đất để
giao cho em ruột của bà là ông Nguyễn Văn Tám và bà Nguyễn Thị Chính Em canh
tác nuôi cha mẹ của bà và ông Tám. Do bà là người Việt Nam định cư ở nước ngoài
nên bà để cho ông Tám đứng tên trong giấy tờ sang nhượng. Đồng thời, bà Thảnh
xuất trình “Tờ sang nhượng đất ruộng” lập ngày 10-8-1993 có xác nhận của UBND
xã An Hiệp. Sau khi nhận chuyển nhượng bà để cho vợ chồng ông Tám canh tác,
nhưng năm 2004, không được bà đồng ý, ông Tám đã chuyển nhượng toàn bộ diện
tích 7.595,7m2 đất trên cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Minh Châu với
giá trị quyền sử dụng đất là 1.260.000.000 đồng. Vì vậy, bà yêu cầu ông Tám trả
lại số tiền thu được từ việc chuyển nhượng đất của bà.
Ông Nguyễn Văn Tám là bị đơn trình bày:
Diện tích 7.595,7m2 đất mà bà Thảnh
tranh chấp là đất do vợ chồng ông là người bỏ tiền, vàng ra sang nhượng lại của
vợ chồng ông Hêng Tính, ông là người đứng tên trong “Tờ sang nhượng đất ruộng”
lập ngày 10-8-1993. Tờ sang nhượng này không có xác nhận của chính quyền địa
phương. Nhưng sau đó, ông và vợ chồng ông Hêng Tính còn ký bản hợp đồng và đơn
xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất cùng ngày 11-8-1993, các văn bản này có xác
nhận của UBND xã An Hiệp và của UBND huyện Mỹ Tú đồng ý cho chuyển nhượng. Sau
khi chuyển nhượng ông đã đăng ký, kê khai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất vào ngày 28-5-1994. Do đó, năm 2004, ông chuyển nhượng toàn bộ đất trên cho
Công ty trách nhiệm hữu hạn Minh Châu với giá trị là 1.260.000.000 đồng. Ông
cho rằng “Tờ sang nhượng đất ruộng” lập ngày 10-8-1993, có xác nhận của Ủy ban
nhân dân xã An Hiệp do bà Thảnh xuất trình là giả vì theo Bản kết luận giám định
số 2784/C21 (P7) ngày 25-10-2005 của Viện Khoa học Hình sự Tổng cục cảnh sát
thì không phải chữ ký của ông trong tờ sang nhượng đất ruộng do bà Thảnh xuất
trình. Vì vậy, ông không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà Thảnh.
Bà Nguyễn Thị Yêm (vợ của ông Tám) là người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Năm 1993 vợ chồng bà có chuyển nhượng đất của
ông Hêng Tính. Khi làm thủ tục chuyển nhượng bà không tham gia nhưng bà có đưa
tiền, vàng cho ông Tám trả cho vợ chồng ông Hêng Tính nên bà cũng không chấp nhận
theo yêu cầu của bà Thảnh.
Vợ chồng ông Hêng Tính, bà Lý Thị Sà Quênh (tên gọi
khác là Lý Thị Sà Vênh) là người chuyển nhượng đất đều khẳng định bà Thảnh trực
tiếp thỏa thuận chuyển nhượng, trực tiếp trả 21,99 chỉ vàng cho ông, bà và bà
Thảnh để cho ông Tám đứng tên giùm trong tờ sang nhượng đất ruộng lập ngày
10-8-1993; chữ ký trong tờ sang nhượng đất ruộng do bà Thảnh xuất trình đúng là
chữ ký của ông, bà.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2006/DS-ST ngày
28-4-2006, Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng quyết định:
Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thảnh
về việc đòi lại tiền chuyển nhượng đất.
Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn Tám, bà Nguyễn Thị Yêm
phải có trách nhiệm hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Thảnh 630.000.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án
phí, chi phí giám định và tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định
của pháp luật.
Ngày 10-5-2006, ông Nguyễn Văn Tám kháng cáo cho rằng
bà Thảnh không phải là người có quyền sử dụng phần đất mà ông đã chuyển nhượng
cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Minh Châu nhưng Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông
thanh toán cho bà Thảnh 630.000.000 đồng là không đúng.
Ngày 12-5-2006, ông Nguyễn Hữu Phòng (đại diện cho bà
Thảnh) kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử buộc ông Tám trả lại toàn
bộ số tiền mà ông Tám đã chuyển nhượng đất là 1.260.000.000 đồng cho bà Thảnh.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 334/2006/DS-PT ngày
25-8-2006, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh quyết
định: bác yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn, sửa Bản án sơ thẩm như
sau:
Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thảnh
về việc đòi lại tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Buộc ông Nguyễn Văn Tám, bà Nguyễn Thị Yêm có trách
nhiệm hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Thảnh số tiền 27.047.700 đồng tương đương
21,99 chỉ vàng 24k.
Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn Tám và bà Nguyễn Thị
Yêm phải nộp lại số tiền 1.232.266.860 đồng để sung công quỹ Nhà nước.
Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án
phí.
Sau xét xử phúc thẩm, ông Nguyễn Văn Tám khiếu nại
Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.
Tại Quyết định số 449/2009/KN-DS ngày 21-8-2009,
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị Bản án dân sự phúc thẩm số
334/2006/DS-PT ngày 25-8-2006 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại
Thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử
giám đốc thẩm, hủy Bản án phúc thẩm nêu trên và hủy Bản án dân sự sơ thẩm số
04/2006/DS-ST ngày 28-4-2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng; giao hồ sơ vụ
án cho Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của
pháp luật, với nhận định:
“Bà Nguyễn Thị Thảnh khởi kiện đòi lại tài sản đối
với ông Nguyễn Văn Tám và cho rằng do bà là người Việt Nam định cư ở nước ngoài
nên bà có nhờ ông Tám (em của bà) đứng tên nhận chuyển nhượng đất của vợ chồng
ông Hêng Tính giùm cho bà nhưng sau đó ông Tám đã chuyển nhượng đất của bà cho
người khác.
Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định
ông Tám chỉ đứng tên nhận chuyển nhượng đất của vợ chồng ông Hêng Tính giùm cho
bà Thảnh là có căn cứ.
Do bà Thảnh là người Việt Nam định cư ở nước ngoài,
nên bà Thảnh không được giao đất mà chỉ được trả lại phần giá trị đầu tư tiền
chuyển nhượng đất.
Đối với chênh lệch giá trị đất, thời Điểm xét xử sơ
thẩm và xét xử phúc thẩm là thời Điểm thi hành Bộ
luật dân sự năm 2005, không có quy định buộc phải tịch thu sung công quỹ
nên Khoản chênh lệch này bà Thảnh và ông Tám cùng được hưởng. Tòa án cấp sơ thẩm
không buộc ông Tám nộp số tiền chênh lệch giá trị đất để sung công là có căn cứ
nhưng không buộc ông Tám trả cho bà Thảnh giá trị đầu tư ban đầu là không đúng.
Tòa án cấp phúc thẩm không đưa ra được căn cứ pháp luật nhưng đã buộc ông Tám nộp
toàn bộ số tiền chênh lệch (1.232.226.860 đồng) để sung công quỹ Nhà nước là
không đúng quy định, của pháp luật”.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát
nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận
kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hủy Bản án phúc thẩm nêu trên
và hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2006/DS-ST ngày 28-4-2006 của Tòa án nhân
dân tỉnh Sóc Trăng; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử
sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhận
định:
Bà Nguyễn Thị Thảnh khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn
Văn Tám trả lại cho bà 1.260.000.000 đồng vì cho rằng bà là người trực tiếp
giao dịch, trả tiền nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Hêng Tính 7.595,7m2
đất, nhưng vì bà là người Việt Nam định cư ở nước ngoài nên nhờ ông Tám (em của
bà) đứng tên, nhưng không được bà đồng ý ông Tám đã chuyển nhượng toàn bộ diện
tích đất cho Công ty TNHH Minh Châu để nhận 1.260.000.000 đồng.
Ông Tám cho rằng ông là người thỏa thuận chuyển nhượng
đất và trả tiền cho ông Hêng Tính, nên giấy tờ chuyển nhượng đất ông đứng tên.
Sau khi nhận chuyển nhượng ông trực tiếp quản lý sử dụng, đăng ký kê khai, được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và khi ông chuyển nhượng cho Công ty TNHH
Minh Châu được chính quyền cho phép, nên ông không chấp nhận yêu cầu của bà Thảnh.
Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án vợ chồng ông
Tám có nhiều lời khai mâu thuẫn về số tiền, vàng đã trả cho ông Hêng Tính và
ông cũng không chứng minh được nguồn gốc nguồn tiền vàng mà ông cho rằng đã trả
cho ông Tính.
Trong khi đó vợ chồng ông Tính, bà Quênh khẳng định
chỉ thỏa thuận chuyển nhượng đất và nhận vàng của bà Thảnh còn việc viết giấy
chuyển nhượng đất đứng tên ông Tám là theo yêu cầu của bà Thảnh, vì bà Thảnh
đang định cư ở nước ngoài.
Theo lời khai của cụ Thái Thị Ba, ông Nguyễn Phước
Hoàng, bà Nguyễn Thị Chính Em (là mẹ và anh chị em ruột của bà Thảnh, ông Tám)
thì bà Thảnh giao dịch, trả tiền chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông Tính, còn
ông Tám chỉ là người đứng tên giùm.
Tổng hợp các chứng cứ nêu trên có cơ sở khẳng định
Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định bà Thảnh là người bỏ toàn bộ
số tiền là 21,99 chỉ vàng để nhận chuyển nhượng diện tích trên, còn ông Tám chỉ
là người đứng tên giùm. Do ông Tám đã chuyển nhượng đất trên cho Công ty TNHH
Minh Châu và bà Thảnh chỉ yêu cầu ông Tám trả lại số tiền đã chuyển nhượng là
1.260.000.000 đồng nên Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm thụ lý giải quyết là đúng
quy định của pháp luật.
Tuy bà Thảnh là người bỏ 21,99 chỉ vàng để chuyển
nhượng đất (tương đương Khoảng 27.047.700 đồng). Nhưng giấy tờ chuyển nhượng đứng
tên ông Tám và sau khi nhận chuyển nhượng ông Tám quản lý đất, sau đó chuyển
nhượng cho người khác. Như vậy, lẽ ra phải xác định ông Tám có công sức trong
việc bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị đất nên phải xác định số tiền
trên (sau khi trừ tiền gốc tương đương 21,99 chỉ vàng của bà Thảnh) là lợi nhuận
chung của bà Thảnh và ông Tám. Đồng thời xác định công sức của ông Tám để chia
cho ông Tám một phần tương ứng với công sức của ông mới đúng và đảm bảo quyền lợi
của các đương sự (Trường hợp không xác định được chính xác công sức của ông Tám
thì phải xác định bà Thảnh, ông Tám có công sức ngang nhau để chia).
Tòa án cấp sơ thẩm công nhận bà Thảnh, ông Tám mỗi
người có quyền sở hữu 1/2 số tiền trên nhưng không trích trả cho bà Thảnh số tiền
tương ứng với 21,99 chỉ vàng là không đúng.
Tòa án cấp phúc thẩm chỉ công nhận bà Thảnh có quyền
sở hữu số tiền tương ứng với 21,99 chỉ vàng, còn lợi nhuận là số tiền còn lại tịch
thu sung công quỹ nhà nước là không đúng với quy định của Bộ luật dân sự năm 2005, không đảm bảo quyền lợi
của các đương sự.
Ngoài ra, bà Thảnh khởi kiện yêu cầu ông Tám trả
cho bà 1.260.000.000 đồng là số tiền ông Tám chuyển nhượng giá trị quyền sử dụng
7.595,7m2 đất, mà không tranh chấp quyền sử dụng đất, còn ông Tám
cho rằng số tiền trên là của ông. Như vậy, các đương sự tranh chấp quyền sở hữu
tài sản là số tiền nêu trên. Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm lại
xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp đòi lại tài sản” là không chính xác.
Bởi các lẽ trên, căn cứ Khoản 3 Điều
297 và Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự;
QUYẾT ĐỊNH
1- Hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 334/2006/DSPT
ngày 25-8-2006 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí
Minh và Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2006/DS-ST ngày 28-4-2006 của Tòa án nhân
dân tỉnh Sóc Trăng về vụ án tranh chấp đòi lại tài sản giữa nguyên đơn là bà
Nguyễn Thị Thảnh với bị đơn là ông Nguyễn Văn Tám; người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan là bà Nguyễn Thị Yêm.
2- Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Sóc
Trăng để xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
NỘI DUNG ÁN LỆ
“Tuy bà Thảnh là người bỏ 21,99 chỉ vàng để chuyển
nhượng đất (tương đương Khoảng 27.047.700 đồng). Nhưng giấy tờ chuyển nhượng đứng
tên ông Tám và sau khi nhận chuyển nhượng ông Tám quản lý đất, sau đó chuyển
nhượng cho người khác. Như vậy, lẽ ra phải xác định ông Tám có công sức trong
việc bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị đất nên phải xác định số tiền
trên (sau khi trừ tiền gốc tương đương 21,99 chỉ vàng của bà Thảnh) là lợi nhuận
chung của bà Thảnh và ông Tám. Đồng thời xác định công sức của ông Tám để chia
cho ông Tám một phần tương ứng với công sức của ông mới đúng và đảm bảo quyền lợi
của các đương sự (Trường hợp không xác định được chính xác công sức của ông Tám
thì phải xác định bà Thảnh, ông Tám có công sức ngang nhau để chia).”
Án
lệ số 03/2016/AL
Được Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 và được công bố
theo Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06 tháng 4 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao.
Nguồn án lệ:
Quyết định giám đốc thẩm số 208/2013/DS-GĐT ngày
03-5-2013 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Ly hôn” tại Hà Nội
giữa nguyên đơn là chị Đỗ Thị Hồng với bị đơn là anh Phạm Gia Nam; người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Gia Phác, bà Phùng Thị Tài, anh Phạm Gia
Ơn, chị Phạm Thị Lữ, anh Bùi Văn Đáp, chị Đỗ Thị Ngọc Hà.
Khái quát nội dung của án lệ:
Trường hợp cha mẹ đã cho vợ chồng người con một diện
tích đất và vợ chồng người con đã xây dựng, nhà kiên cố trên diện tích đất đó để
làm nơi ở, khi vợ chồng người con xây dựng nhà thì cha mẹ và những người khác
trong gia đình không có ý kiến phản đối gì; vợ chồng người con đã sử dụng nhà,
đất liên tục, công khai, ổn định và đã tiến hành việc kê khai đất, được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải xác định vợ chồng người con đã được tặng
cho quyền sử dụng đất.
Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:
- Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia
đình năm 1986;
- Điều 242 của Bộ luật dân sự năm
1995;
- Khoản 2 Điều 176 của Bộ luật dân
sự năm 1995.
Từ khóa của án lệ:
“Ly hôn”; “Tài sản chung của vợ chồng”; “Tặng cho
tài sản”; “Căn cứ xác lập quyền sở hữu”; “Xác lập quyền sở hữu theo thỏa thuận”.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Chị Đỗ Thị Hồng và anh Phạm Gia Nam kết hôn năm
1992, có đăng ký tại UBND xã Vân Tảo, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. Sau
chung sống một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, hai vợ chồng sống ly thân từ
tháng 9 năm 2008 đến nay. Ngày 18-4-2009, chị Hồng khởi kiện xin ly hôn anh
Nam, anh Nam cũng đồng ý.
Về con chung: Vợ chồng có hai con là Phạm Gia
Khang, sinh năm 1992 và Phạm Hương Giang, sinh năm 2000. Chị Hồng và anh Nam đều
có nguyện vọng nuôi cả hai con và không yêu cầu người còn lại đóng góp nuôi
con. Nguyện vọng của cháu Khang là muốn ở với anh Nam, nguyện vọng của cháu
Giang là muốn ở với chị Hồng.
Về tài sản: Trong quá trình chung sống thì vợ chồng
có xây nhà hai tầng vào năm 2002 (năm 2005 xây thêm một tum để chống nóng), nhà
được xây trên thửa đất 80m2 tại xóm Vân Hòa, xã Vân Tảo, huyện Thường
Tín. Về nhà, vợ chồng thống nhất là tài sản chung hai vợ chồng. Riêng về đất
thì các bên không thống nhất được với nhau.
Theo chị Hồng: Đất là của gia đình ông Phạm Gia
Phác (bố đẻ anh Nam) được cấp đất giãn dân năm 1992, sau đó gia đình ông Phác
đã họp và tuyên bố cho vợ chồng chị diện tích đất, không làm giấy tờ. Năm 2001,
ông Phác sang báo và anh Nam đi làm thủ tục cấp sổ đỏ nên đã được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ anh Phạm Gia Nam nên đất này là tài sản
chung của vợ chồng.
Chị yêu cầu được sử dụng nhà và đất nêu trên và
thanh toán 1/2 giá trị đất và tài sản trên đất cho anh Nam như giá mà Hội đồng
định giá đã đưa ra.
Theo anh Nam: Thửa đất này bố mẹ anh được cấp giãn
dân năm 1992, bố mẹ chỉ cho vợ chồng ở nhờ chứ chưa cho vì gia đình anh còn
đông anh em. Năm 2001, anh tự kê khai làm giấy tờ đất, gia đình anh không biết.
Quan Điểm của anh là trả lại đất cho ông Phác.
Theo ông Phác và bà Tài (bố mẹ anh Nam): Nguồn gốc
đất là của ông được Ủy ban nhân dân xã Vân Tảo cấp đất giãn dân năm 1992, ông
có xây một căn nhà cấp 4 trên đó. Năm 1993, gia đình ông cho vợ chồng anh Nam,
chị Hồng ra đó làm ăn sinh sống chứ không cho đất vì vợ ông bị liệt 15 năm nay,
ông và anh Ơn (em trai anh Nam) phải chăm sóc, nguyện vọng của gia đình là để mảnh
đất này cho anh Ơn vì anh Ơn chưa có chỗ ở. Khi gia đình được cấp đất giãn dân
thì gia đình chỉ có 4 người là ông, bà Tài, chị Lữ, anh Ơn (còn anh Nam đã
thoát ly khỏi địa phương). Khi chị Hồng xin ly hôn anh Nam thì gia đình mới biết
anh Nam đã tự động sang tên đất từ năm 2001. Nay ông, bà yêu cầu anh Nam, chị Hồng
trả lại đất cho ông, bà.
Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án chị Hồng
còn khai anh Nam được trường Cán bộ Sỹ quan Lục quân I cấp một thửa đất có diện
tích 125m2 ở huyện Thạch Thất, ban đầu chị yêu cầu chia thửa đất này
nhưng sau đó chị không yêu cầu giải quyết nữa.
Về nợ: Theo chị Hồng, vợ chồng vay của bà Hoàng Thị
Chu (mẹ chị) 7,5 chỉ vàng 9999, vay của chị Đỗ Thị Ngọc Hà chị gái chị) 1 cây
vàng 9999, vay của anh Bùi Văn Đáp 150.000.000 đồng, lãi suất 1,25%/tháng, tất
cả các Khoản vay này đều không có giấy tờ. Chị yêu cầu anh Nam phải cùng chị
thanh toán các Khoản nợ trên.
Theo anh Nam, vợ chồng chỉ nợ bà Chu 7,5 chỉ vàng,
anh đã trả được 13.875.000 đồng (tương đương 3,75 chỉ vàng). Còn các Khoản vay
khác anh không biết, anh không đồng ý trả theo yêu cầu của chị Hồng.
Ngày 03-11-2010, Hội đồng định giá đã định giá tài
sản như sau:
Đất: 80m2 x 22.000.000 đồng/m2
= 1.760.000.000 đồng.
Nhà: 475.865.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là:
2.235.865.000 đồng.
Tại Bản án sơ thẩm số 03/2011/HNGĐ-ST ngày
17-5-2011, Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội đã quyết định:
1. Về quan hệ vợ chồng: Chị Đỗ Thị Hồng được ly hôn
anh Phạm Gia Nam.
2. Về con chung: Giao cháu Phạm Hương Giang, sinh
ngày 14-8-2000 cho chị Hồng nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành. Tạm hoãn việc
đóng góp phí tổn nuôi con chung cho anh Nam đến khi chị Hồng có yêu cầu. Anh
Nam có quyền đi lại thăm hỏi con chung, không ai được ngăn cản.
3. Tài sản chung, công sức đóng góp: Xác nhận ngôi
nhà hai tầng 1 tum và toàn bộ công trình trên thửa đất số 63 tờ bản đồ số 5 ở
Vân Hòa, xã Vân Tảo, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội là tài sản chung của chị
Đỗ Thị Hồng và anh Phạm Gia Nam có giá trị 475.865.000 đồng.
4. Xác nhận quyền sử dụng đất 80m2 đất
thửa số 63 tờ bản đồ số 5 ở Vân Hòa, xã Vân Tảo, huyện Thường Tín, thành phố Hà
Nội thuộc hộ gia đình ông Phạm Gia Phác. Buộc chị Đỗ Thị Hồng và anh Phạm Gia
Nam phải trả lại cho hộ gia đình ông Phạm Gia Phác quyền sử dụng 80m2
thửa số 63 tờ bản đồ số 5 ở Vân Hòa, xã Vân Tảo, huyện Thường Tín, thành phố Hà
Nội. Giao hộ gia đình ông Phạm Gia Phác được quyền sở hữu toàn bộ tài sản trên
thửa đất này gồm nhà hai tầng và công trình trên đất. Buộc ông Phạm Gia Phác phải
thanh toán trả chị Đỗ Thị Hồng và anh Phạm Gia Nam mỗi người 237.932.500 đồng.
5. Kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện Thường Tín thu hồi
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U060645 cấp ngày 21-12-2001, mang tên hộ
ông Phạm Gia Nam để làm thủ tục cấp lại cho ông Phạm Gia Phác khi ông Phác có
yêu cầu.
6. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Phạm Gia Nam hỗ trợ
chị Đỗ Thị Hồng số tiền là 800.000.000 đồng.
7. Buộc chị Đỗ Thị Hồng phải thanh toán trả cho anh
Bùi Văn Đáp số tiền là 179.820.000 đồng.
8. Bác các yêu cầu khác của chị Đỗ Thị Hồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và
quyền kháng cáo.
Ngày 19-5-2011, chị Hồng có đơn kháng cáo toàn bộ Bản
án sơ thẩm.
Ngày 24-5-2011, anh Nam kháng cáo không đồng ý hỗ
trợ chị Hồng 800.000.000 đồng tạo dựng chỗ ở mới. Nhưng tại phiên tòa phúc thẩm
anh Nam rút yêu cầu kháng cáo này.
Tại Bản án phúc thẩm số 105/2011/LHPT ngày
30-8-2011 và ngày 06-9-2011 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định:
Giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số
03/2011/HNGĐ-ST ngày 17-5-2011 của Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, thành phố
Hà Nội (như đã nêu ở trên).
Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn tuyên về án phí.
Sau khi xét xử phúc thẩm, chị Hồng và bà Hoàng Thị
Chu có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản án phúc thẩm
nêu trên.
Tại Quyết định kháng nghị số 05/2013/KN-HNGĐ-LĐ
ngày 03-01-2013, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị đối với Bản án
hôn nhân gia đình phúc thẩm số 105/2011/LHPT ngày 30-8-2011 và 06-9-2011 của
Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Đề nghị Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao
xét xử giám đốc thẩm theo hướng: hủy Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm nêu
trên và Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 03/2011/HNGĐ-ST ngày 17-5-2011 của
Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội về phần quan hệ tài sản;
giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm
lại theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát
nhân dân tối cao cho rằng đối với đất tranh chấp, khi cấp đất giãn dân cho gia
đình ông Phác thì không có anh Nam, không có căn cứ cho rằng bố mẹ đã cho vợ chồng
anh Nam nên đất vẫn là của gia đình ông Phác. Tòa án hai cấp xác định đất là của
bố mẹ anh Nam là có căn cứ. Có sai phần nợ của bà Chu. Do đó, đề nghị Hội đồng
xét xử không chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Hội đồng giám đốc thẩm Tòa dân sự Tòa án nhân
dân tối cao nhận định:
Về quan hệ hôn nhân và con chung, Tòa án các cấp đã
giải quyết, các đương sự không có khiếu nại.
Về quan hệ tài sản: Tài sản mà các đương sự tranh
chấp là diện tích đất 80m2 tại xóm Vân Hòa, xã Vân Tảo, huyện Thường
Tín, thành phố Hà Nội mang tên hộ anh Phạm Gia Nam.
Hồ sơ thể hiện nguồn gốc diện tích đất nêu trên là
của ông Phạm Gia Phác được Ủy ban nhân dân xã Vân Tảo, huyện Thường Tín cấp đất
giãn dân vào năm 1992. Căn cứ Biên bản bàn giao đất của Ủy ban nhân dân xã cho
ông Phác thì thời Điểm có biên bản giao đất này chị Hồng đã kết hôn với anh
Nam. Tuy nhiên, theo xác minh của Tòa án cấp sơ thẩm tại xã Vân Tảo, Thường Tín
về thủ tục cấp đất thì xã Vân Tảo đã có chủ trương cấp đất giãn dân từ năm
1991. Dù khi làm thủ tục cấp đất, gia đình ông Phác chỉ có 4 người là ông Phác,
bà Tài, chị Lữ, anh Ơn (vì thời Điểm này anh Nam đi bộ đội chưa về địa phương),
nhưng việc cấp đất giãn dân là cấp đất cho hộ đông người, cấp cho vợ chồng ông
Phác và các con, nên anh Nam cũng là đối tượng được cấp đất. Sau khi nhận đất,
gia đình ông Phác đã xây dựng một căn nhà cấp 4. Năm 1993, gia đình ông Phác
cho vợ chồng anh Nam chị Hồng ra ở riêng trên diện tích đất này và anh chị là
người quản lý, sử dụng đất liên tục từ đó cho đến nay.
Chị Hồng cho rằng gia đình ông Phác đã tuyên bố cho
vợ chồng chị diện tích đất nêu trên, ông Phác và anh Nam khẳng định gia đình
chưa cho vợ chồng.
Xét thấy: Theo xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Vân
Tảo thì năm 2001, xã tổ chức cho các hộ dân trong xã Vân Tảo đăng ký kê khai để
xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng và các hộ kê khai tại trụ sở thôn xóm (BL
103). Tất cả các hộ dân trong xã đều được biết về chủ trương kê khai đất này.
Ông Phác là chủ đất nhưng không đi kê khai. Anh Nam đang ở trên đất và là người
đi kê khai làm thủ tục cấp giấy chứng nhận. Ngày 21-12-2001, anh Nam được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U060645 đứng tên hộ ông Phạm Gia Nam. Vợ
chồng anh chị đã xây nhà 2 tầng kiên cố vào năm 2002 và đến năm 2005 thì xây
thêm tum tầng 3. Ông Phác và các anh chị em trong gia đình anh Nam đều biết việc
xây dựng trên của vợ chồng anh Nam chị Hồng, nhưng cũng không ai có ý kiến gì.
Như vậy, từ khi được cấp giấy chứng nhận (2001) cho đến khi có việc ly hôn của
anh Nam, chị Hồng (2009), gia đình ông Phác cũng không ai có khiếu nại gì về việc
cấp đất, xây nhà này. Điều đó thể hiện ý chí của gia đình ông Phác là đã cho
anh Nam và chị Hồng diện tích đất nêu trên. Do đó, việc ông Phác và anh Nam
khai rằng anh Nam tự ý kê khai giấy tờ đất, ông Phác không biết là không có cơ
sở chấp nhận. Như vậy, có căn cứ xác định lời khai của chị Hồng về việc gia
đình ông Phác đã cho anh chị diện tích đất trên, là có cơ sở.
Do đó, việc Tòa án các cấp nhận định rằng anh Nam
đi làm giấy tờ đất ông Phác không biết và việc chị Hồng khai gia đình chồng đã
cho vợ chồng nhưng không có chứng cứ chứng minh, để xác định diện tích đất 80m2
tại thôn Vân Hòa, xã Vân Tảo, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội là tài sản thuộc
hộ gia đình ông Phạm Gia Phác; đồng thời, buộc anh Nam, chị Hồng trả lại đất
cho gia đình ông Phác, là không đúng. Cần phải xác định diện tích đất tranh chấp
trên là tài sản chung của vợ chồng anh Nam, chị Hồng và khi chia phải coi anh
Nam có công sức đóng góp nhiều hơn để chia theo công sức của mỗi bên và cần phải
căn cứ vào nhu cầu về chỗ ở để chia hiện vật cho các bên nhằm đảm bảo quyền lợi
cho các đương sự.
Đối với nội dung khiếu nại của bà Hoàng Thị Chu (mẹ
đẻ chị Hồng), thấy rằng: Ngày 07-5-2011 (trước ngày xét xử sơ thẩm), bà Chu đã
có đơn gửi Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, nội dung: “Hôm nay là ngày
07-5-2011, tôi đã nhận được số tiền các cháu trả tôi. Tôi không đề nghị Tòa án
giải quyết nữa”. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên sung công quỹ đối với số tiền tạm ứng
án phí của bà Chu (200.000đ), nhưng không tuyên đình chỉ giải quyết đối với yêu
cầu đòi nợ của bà Chu, là trái với quy định tại Điểm đ Khoản 1
Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm, bà Chu
không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị, do đó Hội đồng xét xử phúc
thẩm đã căn cứ Điều 263 Bộ luật tố tụng dân sự chỉ xem xét
lại phần của bản án, quyết định sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên
quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị, nên kháng nghị của Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao đối với nội dung trên là không cần thiết.
Do đó, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm Tòa dân sự Tòa
án nhân dân tối cao xét thấy kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đối
với phần tài sản tranh chấp của anh Nam, chị Hồng (là 80m2 đất tại
xóm Vân Hòa, xã Vân Tảo, huyện Thường Tín, Hà Nội), là có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên, căn cứ Khoản 2 Điều
291; Khoản 3 Điều 297 và Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự;
QUYẾT ĐỊNH
Hủy Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số
105/2011/LH-PT ngày 30-8-2011 và ngày 06-9-2011 của Tòa án nhân dân thành phố
Hà Nội và Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 03/2011/HNGĐST ngày 17-5-2011 của
Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội về phần quan hệ tài sản, đã
giải quyết vụ án “Ly hôn” giữa nguyên đơn là chị Đỗ Thị Hồng và bị đơn là anh
Phạm Gia Nam;
Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Thường
Tín, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.
NỘI DUNG ÁN LỆ
“Theo xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Vân Tảo
thì năm 2001 xã tổ chức cho các hộ dân trong xã Vân Tảo đăng ký kê khai để xét
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng và các hộ kê khai tại trụ sở thôn xóm (BL
103). Tất cả các hộ dân trong xã đều được biết về chủ trương kê khai đất này.
Ông Phác là chủ đất nhưng không đi kê khai. Anh Nam đang ở trên đất và là người
đi kê khai làm thủ tục cấp giấy chứng nhận. Ngày 21-12-2001 anh Nam được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số U060645 đứng tên hộ ông Phạm Gia Nam. Vợ chồng
anh chị đã xây nhà 2 tầng kiên cố vào năm 2002 và đến năm 2005 thì xây thêm tum
tầng 3. Ông Phác và các anh chị em trong gia đình anh Nam đều biết việc xây dựng
trên của vợ chồng anh Nam chị Hồng, nhưng cũng không ai có ý kiến gì. Như vậy,
từ khi được cấp giấy chứng nhận (2001) cho đến khi có việc ly hôn của anh Nam,
chị Hồng (2009), gia đình ông Phác cũng không ai có khiếu nại gì về việc cấp đất,
xây nhà này. Điều đó thể hiện ý chí của gia đình ông Phác là đã cho anh Nam và
chị Hồng diện tích đất nêu trên. Do đó, việc ông Phác và anh Nam khai rằng anh
Nam tự ý kê khai giấy tờ đất, ông Phác không biết là không có cơ sở chấp nhận.
Như vậy, có căn cứ xác định lời khai của chị Hồng về việc gia đình ông Phác đã
cho anh chị diện tích đất trên, là có cơ sở.
Do đó, việc Tòa án các cấp nhận định rằng anh
Nam đi làm giấy tờ đất ông Phác không biết và việc chị Hồng khai gia đình chồng
đã cho vợ chồng nhưng không có chứng cứ chứng minh, để xác định diện tích đất
80m2 tại thôn Vân Hòa, xã Vân Tảo, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội
là tài sản thuộc hộ gia đình ông Phạm Gia Phác; đồng thời buộc anh Nam, chị Hồng
trả lại đất cho gia đình ông Phác, là không đúng, cần phải xác định diện tích đất
tranh chấp trên là tài sản chung của vợ chồng anh Nam, chị Hồng và khi chia phải
coi anh Nam có công sức đóng góp nhiều hơn để chia theo công sức của mỗi bên và
cần phải căn cứ vào nhu cầu về chỗ ở để chia hiện vật cho các bên nhằm đảm bảo
quyền lợi cho các đương sự.”
Án
lệ số 04/2016/AL
Được Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 và được công bố
theo Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06 tháng 4 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao.
Nguồn án lệ:
Quyết định giám đốc thẩm số 04/2010/QĐ-HĐTP ngày
03-3-2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Tranh chấp hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” tại thành phố Hà Nội giữa nguyên đơn là
bà Kiều Thị Tý, ông Chu Văn Tiến với bị đơn là ông Lê Văn Ngự; người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị Quý, bà Trần Thị Phấn, anh Lê Văn Tám, chị Lê
Thị Tường, anh Lê Đức Lợi, chị Lê Thị Đường, anh Lê Mạnh Hải, chị Lê Thị Nhâm.
Khái quát nội dung của án lệ:
Trường hợp nhà đất là tài sản chung của vợ chồng mà
chỉ có một người đứng tên ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất đó cho người khác,
người còn lại không ký tên trong hợp đồng; nếu có đủ căn cứ xác định bên chuyển
nhượng đã nhận đủ số tiền theo thỏa thuận, người không ký tên trong hợp đồng biết
và cùng sử dụng tiền chuyển nhượng nhà đất; bên nhận chuyển nhượng nhà đất đã
nhận và quản lý, sử dụng nhà đất đó công khai; người không ký tên trong hợp đồng
biết mà không có ý kiến phản đối gì thì phải xác định là người đó đồng ý với việc
chuyển nhượng nhà đất.
Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:
- Khoản 2 Điều 176 của Bộ luật dân
sự năm 1995;
- Điều 15 của Luật hôn nhân và gia
đình năm 1986.
Từ khóa của án lệ:
“Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”;
“Định đoạt tài sản chung của vợ chồng”; “Xác lập quyền sở hữu theo thỏa thuận”.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 05-11-2007 và quá trình
giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Kiều Thị Tý trình bày:
Năm 1996, vợ chồng bà có mua 02 căn nhà cấp 4 trên
diện tích đất thổ cư Khoảng 160m2 của gia đình ông Lê Văn Ngự tại xã
Xuân La, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội (nay là Tổ 11, Cụm 2, phường Xuân La,
quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội). Việc mua bán hai bên có lập hợp đồng, có ghi rõ
những tài sản, nhà trên đất và các mặt tiếp giáp của thửa đất. Do vợ chồng bà
chưa có hộ khẩu thường trú tại Hà Nội, nên chính quyền địa phương không xác nhận
việc mua bán giữa gia đình bà và gia đình ông Ngự. Giá mua là 110 cây vàng, bà
đã trả đủ cho vợ chồng ông Ngự và gia đình ông Ngự đã giao nhà, đất cho bà quản
lý, sử dụng.
Sau khi mua bán nhà đất, gia đình ông Ngự xây nhà mới
có mượn vợ chồng bà ngôi nhà (phía trong) để sử dụng và chứa nguyên vật liệu,
còn diện tích nhà giáp mặt đường Xuân La bà đã cho cháu họ của bà ở nhờ để đi học.
Khi gia đình ông Ngự làm nhà xong đã trả lại nhà, đất cho bà. Bà đã phá dỡ nhà
cũ, tôn nền và xây nhà mới như hiện nay để các cháu ở nhờ; năm 2001, bà cho
thuê làm xưởng mộc, sau đó bà không cho thuê nữa, đóng cửa không sử dụng.
Năm 2006 (sau khi bà nhập khẩu về Hà Nội), khi bà làm
thủ tục xin cấp giấy tờ về quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở thì vợ chồng
ông Ngự đã gây khó khăn, vì cho rằng bà còn thiếu hơn 03 cây vàng và vợ chồng
ông chỉ bán nhà, đất phía trong, còn nhà, đất giáp mặt đường Xuân La vẫn là
nhà, đất của gia đình ông. Cuối năm 2006, ông Ngự đã tự ý phá cửa vào ở và xây
một bức tường ngăn giữa phần mái hiên của căn nhà cấp 4 giáp mặt đường Xuân La
(hiện nay đang cho người khác thuê làm cửa hàng cắt tóc). Bà đề nghị Tòa án buộc
gia đình ông Ngự phải thực hiện đúng như hợp đồng đã ký kết và buộc gia đình
ông Ngự trả nhà đất (phần diện tích mặt đường Xuân La).
Bị đơn là ông Lê Văn Ngự trình bày:
Năm 1996, gia đình ông có nhượng bán một phần nhà,
đất cho vợ chồng ông Tiến, bà Tý. Hai bên thỏa thuận, gia đình ông bán cho vợ
chồng ông Tiến, bà Tý phần nhà, đất có vị trí giáp đường Xuân La, chiều ngang
07m, chiều dài hết khổ đất của gia đình ông. Hai bên thống nhất trừ 21m2
mặt đường do Nhà nước đã cắm mốc chỉ giới mở đường, nên chỉ bán nhà cấp 4 trên
phần diện tích đất là 140m2.
Giá mua nhà, đất là 6 chỉ vàng/m2 đối với
42m2 đất mặt đường là 25 cây 02 chỉ; 9 chỉ/m2 đối với 98m2
đất phía trong là 88,2 cây vàng. Tổng cộng là 113,4 cây vàng, phía ông Tiến, bà
Tý mới trả cho gia đình ông 110 cây vàng, còn nợ lại 3,4 cây vàng.
Gia đình ông đã giao nhà, đất cho bà Tý nhưng còn
21m2 giáp mặt đường, trong chỉ giới mở đường, gia đình ông vẫn quản
lý, sử dụng. Hiện nay, Nhà nước đã thay đổi quy hoạch, không mở đường về phía
nhà, đất của gia đình ông, nên phần diện tích này thuộc quyền quản lý, sử dụng
của gia đình ông, diện tích nhà, đất của ông Tiến, bà Tý mua không có lối đi
vào.
Nay bà Tý kiện đòi 21m2 mặt đường Xuân
La, ông không chấp nhận. Nếu ông Tiến, bà Tý muốn quản lý, sử dụng phần diện
tích mặt đường và có lối đi vào nhà, đất bên trong thì phải cắt trả cho gia
đình ông 2m chiều ngang mặt đường và chiều dài hết khổ đất, đồng thời phải
thanh toán trả cho gia đình ông 160 triệu đồng nữa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Trần Thị Phấn thống nhất với lời khai của ông Ngự.
Anh Lê Đức Lợi, anh Lê Văn Tám, anh Lê Mạnh Hải, chị
Lê Thị Đường, chị Lê Thị Tưởng và chị Lê Thị Nhâm có lời khai thống nhất với lời
khai của ông Ngự.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2008/DS-ST ngày
25-4-2008, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi lại nhà đất 23,4m2
tại 39 đường Xuân La của vợ chồng bà Kiều Thị Tý, ông Chu Văn Tiến đối với gia
đình ông Lê Văn Ngự, bà Trần Thị Phấn.
Buộc gia đình ông Lê Văn Ngự, bà Trần Thị Phấn, bà
Lê Thị Quý (người thuê nhà) và các con ông Lê Văn Ngự phải trả lại toàn bộ diện
tích nhà đất 23,4m2 tại số 39, đường Xuân La, phường Xuân La, quận
Tây Hồ cho gia đình bà Tý, ông Tiến (do bà Tý đại diện).
Buộc bà Tý phải thanh toán cho gia đình ông Ngự số
tiền là 13.759.000 đồng giá trị xây dựng, cải tạo tại diện tích 23,4m2;
bà Tý được sở hữu vật liệu công sức ở diện tích này.
Bà Tý được chủ động mở lối ra vào diện tích nhà đất
phía trong và được xây bịt lối đi phía sau sang đất nhà ông Ngự, bà Phấn.
Ông Ngự, bà Phấn cùng với bà Tý có trách nhiệm đến
cơ quan nhà nước có thẩm quyền để hoàn tất thủ tục sang tên phần nhà đất đã nhượng
bán. Nếu phía gia đình ông Ngự gây khó khăn thì bà Tý được chủ động đến cơ quan
nhà nước có thẩm quyền kê khai để làm thủ tục để sang tên, đăng ký quyền sở hữu
nhà và sử dụng đất.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án
phí và tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 08-5-2008, ông Lê Văn Ngự, bà Trần Thị Phấn có
đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng
nhà, đất ký với vợ chồng bà Kiều Thị Tý và ông Chu Văn Tiến với lý do việc ký hợp
đồng, nhận tiền mua bán nhà, đất chỉ do ông Ngự thực hiện, bà Phấn là vợ không
biết.
Tại Quyết định số 02/QĐ-VKSNDTC-VPT1 ngày 28-5-2008,
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị đề nghị Hội đồng xét xử
Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm buộc ông Ngự
phải tháo dỡ phần xây dựng trái phép trên diện tích nhà đất của bà Tý trả lại
nguyên trạng ban đầu. Bà Tý không phải bồi thường cho ông Ngự số tiền
13.759.000 đồng; đồng thời đề nghị xem xét lại án phí dân sự sơ thẩm cho ông Ngự,
bà Tý.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 162/2008/DS-PT ngày
04-9-2008, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã quyết định không
chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn Ngự và bà Trần Thị Phấn, chấp nhận Quyết định
kháng nghị số 02/QĐ-VKSNDTC-VPT1 ngày 28-5-2008 của Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, sửa một phần Bản án sơ thẩm như sau:
Chấp nhận yêu cầu đòi lại nhà, đất có diện tích
23,4m2 tại số 39 đường Xuân La của vợ chồng bà Kiều Thị Tý và ông
Chu Văn Tiến đối với vợ chồng ông Lê Văn Ngự, bà Trần Thị Phấn.
Buộc ông Ngự, bà Phấn cùng các con của ông Ngự và
bà Phấn gồm các anh: Lê Đức Lợi, Lê Văn Tám, Lê Mạnh Hải và các chị: Lê Thị Đường,
Lê Thị Tường, Lê Thị Nhâm và bà Lê Thị Quý (người thuê nhà của ông Ngự) phải trả
lại toàn bộ diện tích nhà, đất là 23,4m2 tại số 39 đường Xuân La,
phường Xuân La, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội cho vợ chồng bà Kiều Thị Tý, ông
Chu Văn Tiến (do bà Tý làm đại diện).
Về giá trị xây dựng, cải tạo tại diện tích 23,4m2
là 13.759.000 đồng, vợ chồng ông Lê Văn Ngự, bà Trần Thị Phấn phải tự chịu. Vợ
chồng ông Ngự, bà Phấn phải phá dỡ phần xây dựng, cải tạo tại diện tích trên để
trả lại nguyên trạng cho vợ chồng bà Tý, ông Tiến. Chi phí phá dỡ do vợ chồng
ông Ngự, bà Phấn phải chịu.
Bà Tý được quyền chủ động mở lối ra vào diện tích
nhà, đất phía trong và được xây bịt lối đi phía sau sang nhà, đất của vợ chồng
ông Ngự, bà Phấn.
Ông Ngự, bà Phấn cùng với bà Tý có trách nhiệm đến
cơ quan nhà nước có thẩm quyền để hoàn tất thủ tục sang tên phần diện tích nhà,
đất đã nhượng bán cho vợ chồng bà Tý, ông Tiến. Nếu gia đình ông Ngự gây khó
khăn thì bà Tý được chủ động đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để kê khai, làm
các thủ tục sang tên đăng ký quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở.
Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án
phí.
Sau khi xét xử phúc thẩm tại các đơn khiếu nại đề
ngày 21-10-2008 và ngày 22-10-2008 của ông Ngự, bà Phấn đều cho rằng nhà, đất tại
số 39 đường Xuân La là tài sản chung của gia đình ông, bà; ông Ngự đã tự ý đứng
ra bán cho vợ chồng bà Tý, ông Tiến mà không được sự đồng ý của bà Phấn là
không đúng; đề nghị tuyên bố hợp đồng này là vô hiệu.
Tại Quyết định số 63/QĐ-KNGĐT-V5 ngày 14-5-2009, Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã kháng nghị Bản án phúc thẩm nêu trên
và đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám
đốc thẩm hủy Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và hủy Bản án dân sự sơ thẩm số
27/2008/DS-ST ngày 25-4-2008 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; giao hồ sơ vụ
án cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm lại. Với nhận định:
Năm 1996, vợ chồng ông Chu Văn Tiến và bà Kiều Thị
Tý có mua 02 căn nhà cấp 4 trên diện tích đất thổ cư giáp mặt đường Xuân La có
chiều ngang 7m, chiều dài hết khổ đất của gia đình ông Lê Văn Ngự tại xã Xuân
La, huyện Từ Liêm (nay là phường Xuân La, quận Tây Hồ). Hai bên có làm giấy viết
tay mua bán chuyển nhượng nhà đất, nhưng sau đó không thực hiện các thủ tục
theo quy định của pháp luật. Sau khi mua, bà Tý đã phá cả hai căn nhà trên để
làm lại, tôn nền, xây lại móng, tường lợp ngói như hiện nay. Cuối năm 2005, khi
bà Tý đề nghị làm thủ tục xin cấp giấy tờ về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng
đất ở thì gia đình ông Ngự tranh chấp cho rằng bà Tý còn nợ 3,4 cây vàng và chỉ
bán diện tích nhà đất phía trong, còn diện tích nhà đất giáp mặt đường Xuân La
vẫn là nhà đất của gia đình ông.
Cuối năm 2006, hai bên có xảy ra xô sát tranh chấp
diện tích nhà đất 21m2 phía mặt đường Xuân La, quận Tây Hồ, thành phố
Hà Nội.
Ngày 29-10-2007, bà Kiều Thị Tý và ông Chu Văn Tiến
khởi kiện đòi quyền sở hữu nhà đất thông qua hợp đồng mua bán nhà đất được xác
lập ngày 26-4-1996 giữa vợ chồng ông Lê Văn Ngự, bà Trần Thị Phấn với vợ chồng
bà Kiều Thị Tý, ông Chu Văn Tiến. Hợp đồng mua bán nhà đất giữa bà Tý, ông Tiến
với vợ chồng ông Ngự, bà Phấn chưa tuân thủ theo quy định của pháp luật cả về
hình thức và nội dung của hợp đồng; trong khi gia đình ông Ngự cho rằng vợ chồng
ông Tiến, bà Tý còn nợ 3,4 cây vàng và không bán diện tích nhà đất giáp mặt đường
Xuân La; cho nên vợ chồng ông Ngự, bà Phấn không đồng ý cho vợ chồng ông Tiến,
bà Tý làm thủ tục sang tên đăng ký quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất theo
quy định của pháp luật. Hiện nay toàn bộ diện tích nhà đất theo hợp đồng mua
bán chuyển nhượng trên vẫn đứng tên vợ chồng ông Ngự, bà Phấn.
Tòa án hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm xác định quan hệ
pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp quyền sở hữu nhà đất” và áp
dụng các Điều 255 và Điều 256 của Bộ luật dân sự để chấp nhận
yêu cầu đòi lại nhà đất của vợ chồng bà Kiều Thị Tý, ông Chu Văn Tiến đối với vợ
chồng ông Lê Văn Ngự, bà Trần Thị Phấn là không đúng, như vậy là đương nhiên
công nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đối với toàn bộ diện tích
nhà đất chuyển nhượng trên cho vợ chồng bà Tý, ông Tiến; trong khi hợp đồng
chuyển nhượng nhà đất trên vẫn còn tranh chấp chưa thể làm thủ tục sang tên,
đăng ký quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở cho vợ chồng bà Tý, ông Tiến
được. Do vậy, cần phải hủy cả hai bản án dân sự sơ thẩm, phúc thẩm nêu trên;
giao về xét xử sơ thẩm lại để xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, đảm bảo
quyền lợi của các bên đương sự và lợi ích của Nhà nước.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát
nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận
kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhận
định:
Căn cứ vào đơn khởi kiện đề ngày 05-11-2007 và các
lời khai của bà Tý, ông Tiến trong quá trình giải quyết vụ án thì bà Tý, ông Tiến
yêu cầu ông Ngự, bà Phấn trả lại toàn bộ nhà, đất mà ông bà đã nhận chuyển nhượng
của ông Ngự, bà Phấn đang do vợ chồng ông Ngự chiếm giữ đồng thời yêu cầu ông
Ngự, bà Phấn dỡ bỏ phần xây dựng trái phép trên diện tích đất trên. Như vậy,
nguyên đơn có yêu cầu đòi quyền sở hữu nhà, đất mà ông Ngự, bà Phấn đã sang nhượng
theo hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất lập ngày 26-4-1996. Trong khi đó, ông Ngự,
bà Phấn cho rằng phần đất có tranh chấp vẫn là của ông bà, vì ông bà chưa chuyển
nhượng cho bà Tý, ông Tiến. Do đó, có cơ sở xác định các đương sự tranh chấp về
quyền sở hữu tài sản và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất, nhưng Tòa
án cấp sơ thẩm và phúc thẩm chỉ xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là vụ
án tranh chấp quyền sở hữu nhà, đất là chưa đầy đủ. Tuy nhiên, trong thực tế
Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đã xem xét giải quyết về hai quan hệ
tranh chấp này. Do vậy, Kháng nghị số 63/QĐ-KNGĐT-V5 ngày 14-5-2009 của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao cho rằng, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp
phúc thẩm xác định sai quan hệ pháp luật có tranh chấp và cần phải hủy cả hai bản
án nêu trên để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm là chưa chính xác và không cần
thiết.
Về hợp đồng mua bán nhà, đất ngày 26-4-1996: Việc
chuyển nhượng nhà, đất diễn ra từ năm 1996, sau khi mua nhà, đất, ông Tiến, bà
Tý đã trả đủ tiền, nhận nhà đất, tôn nền đất, sửa lại nhà và cho các cháu đến ở.
Trong khi đó gia đình ông Ngự, bà Phấn vẫn ở trên diện tích đất còn lại, liền kề
với nhà ông Tiến, bà Tý. Theo lời khai của các người con ông Ngự, bà Phấn thì
sau khi bán nhà, đất cho vợ chồng bà Tý, ông Ngự, bà Phấn đã phân chia vàng cho
các người con. Mặt khác, sau khi chuyển nhượng và giao nhà đất cho ông Tiến, bà
Tý thì ngày 26-4-1996, ông Ngự còn viết “giấy cam kết” có nội dung mượn lại phần
nhà đất đã sang nhượng để ở khi xây dựng lại nhà trên phần đất còn lại và trong
thực tế vợ chồng bà Phấn, ông Ngự đã sử dụng phần nhà đất của bà Tý, ông Tiến
khi xây dựng nhà. Như vậy, có cơ sở xác định bà Phấn biết có việc chuyển nhượng
nhà, đất giữa ông Ngự với vợ chồng ông Tiến và bà Tý, bà Phấn đã đồng ý, cùng
thực hiện nên việc bà Phấn khiếu nại cho rằng ông Ngự chuyển nhượng nhà đất cho
vợ chồng bà Tý bà không biết là không có căn cứ.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Ngự, bà Phấn
còn cho rằng giá mua bán nhà, đất là 113,4 cây vàng. Tuy nhiên, ông bà không
đưa ra được tài liệu chứng cứ chứng minh cho vấn đề này. Theo nội dung bản hợp
đồng mua bán nhà, đất ngày 26-4-1996 thì số tiền hai bên thỏa thuận là 110 cây
vàng và trong giấy thanh toán ngày 09-5-2000, ông Ngự ký xác nhận “tôi đã nhận
đủ số tiền còn lại do bán nhà, đất cho anh Tiến và chị Tý...”. Phần ghi chú có
ghi thêm, tổng số vàng tôi đã nhận trước và hiện nay là 110 cây. Như vậy, có đủ
cơ sở để khẳng định giá mua bán nhà đất là 110 cây vàng và vợ chồng ông Ngự, bà
Phấn đã nhận đủ số tiền.
Tuy tại hợp đồng mua bán nhà đất nêu trên hai bên
không thể hiện cụ thể diện tích đất chuyển nhượng, nhưng hai bên thỏa thuận rõ
ranh giới tứ cận “chiều ngang mảnh đất là 07m kể từ mép tường phân cách với nhà
ông Tay; phía Đông Bắc giáp đường Xuân La - Xuân Đỉnh; Đông Nam giáp đất của
ông Lê Văn Tay; Tây Nam giáp đất của bà Lê Thị Soát, ông Vinh; Tây Bắc giáp phần
đất còn lại của gia đình ông Ngự. Chiều dài mảnh đất giáp đường Xuân La - Xuân
Đỉnh đến hết khổ đất...”.
Ngoài ra, các bên còn thỏa thuận, phần đất phía trước
khi nào Nhà nước sử dụng làm đường, thì ông Tiến được hưởng toàn bộ chế độ đền
bù của Nhà nước. Như vậy, thửa đất mà hai bên thỏa thuận chuyển nhượng là từ
mép đường Xuân La - Xuân Đỉnh vào hết khổ đất bao gồm cả diện tích đất có tranh
chấp.
Do vậy, Tòa án các cấp xác định, diện tích 23,4m2
giáp đường Xuân La - Xuân Đỉnh nằm trong diện tích đất mà ông Ngự đã thỏa thuận
chuyển nhượng cho vợ chồng bà Tý, đồng thời xác định vợ chồng bà Tý đã thanh
toán đủ 110 cây vàng theo hợp đồng và đã nhận nhà đất, từ đó, buộc gia đình ông
Ngự phải trả lại toàn bộ diện tích nhà, đất 23,4m2 tại số 39 đường
Xuân La, phường Xuân La, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội cho vợ chồng bà Kiều Thị
Tý và ông Chu Văn Tiến là có căn cứ.
Bởi các lẽ trên, căn cứ vào Khoản 3
Điều 291, Khoản 1 Điều 297 Bộ luật tố tụng dân sự,
QUYẾT ĐỊNH
Không chấp nhận Kháng nghị số 63/QĐ-KNGĐT-V5 ngày
14-5-2009 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữ nguyên Bản án
phúc thẩm số 162/2008/DS-PT ngày 04-9-2008 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối
cao tại Hà Nội.
NỘI DUNG ÁN LỆ
“Về hợp đồng mua bán nhà, đất ngày 26-4-1996: Việc
chuyển nhượng nhà, đất diễn ra từ năm 1996, sau khi mua nhà, đất, ông Tiến, bà
Tý đã trả đủ tiền, nhận nhà đất, tôn nền đất, sửa lại nhà và cho các cháu đến ở.
Trong khi đó gia đình ông Ngự, bà Phấn vẫn ở trên diện tích đất còn lại, liền kề
với nhà ông Tiến, bà Tý. Theo lời khai của các người con ông Ngự, bà Phấn thì
sau khi bán nhà, đất cho vợ chồng bà Tý, ông Ngự, bà Phấn đã phân chia vàng cho
các người con. Mặt khác, sau khi chuyển nhượng và giao nhà đất cho ông Tiến, bà
Tý thì ngày 26-4-1996, ông Ngự còn viết “giấy cam kết” có nội dung mượn lại phần
nhà đất đã sang nhượng để ở khi xây dựng lại nhà trên phần đất còn lại và trong
thực tế vợ chồng bà Phấn, ông Ngự đã sử dụng phần nhà đất của bà Tý, ông Tiến
khi xây dựng nhà. Như vậy, có cơ sở xác định bà Phấn biết có việc chuyển nhượng
nhà, đất giữa ông Ngự với vợ chồng ông Tiến và bà Tý, bà Phấn đã đồng ý, cùng
thực hiện nên việc bà Phấn khiếu nại cho rằng ông Ngự chuyển nhượng nhà đất cho
vợ chồng bà Tý bà không biết là không có căn cứ.”
Án
lệ số 05/2016/AL
Được Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 và được công bố
theo Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06 tháng 4 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao.
Nguồn án lệ:
Quyết định giám đốc thẩm số 39/2014/DS-GĐT ngày
09-10-2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Tranh chấp
di sản thừa kế” tại Thành phố Hồ Chí Minh giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thưởng,
bà Nguyễn Thị Xuân với bị đơn là ông Nguyễn Chí Trải (Cesar Trai Nguyen), chị
Nguyễn Thị Thúy Phượng, bà Nguyễn Thị Bích Đào; người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan là Nguyễn Thị Xê, Nguyễn Chí Đạt (Danforth Chi Nguyen), Nguyễn Thuần
Lý, Nguyễn Thị Trinh, Nguyễn Chí Đức, Nguyễn Thị Thúy Loan, Phạm Thị Liên, Phạm
Thị Vui, Trần Đức Thuận, Trần Thành Khang.
Khái quát nội dung của án lệ:
Trong vụ án tranh chấp di sản thừa kế, có đương sự
thuộc diện được hưởng một phần di sản thừa kế và có công sức đóng góp vào việc
quản lý, tôn tạo di sản thừa kế nhưng không đồng ý việc chia thừa kế (vì cho rằng
đã hết thời hiệu khởi kiện về thừa kế), không có yêu cầu cụ thể về việc xem xét
công sức đóng góp của họ vào việc quản lý, tôn tạo di sản thừa kế; nếu Tòa án
quyết định việc chia thừa kế cho các thừa kế thì phải xem xét về công sức đóng
góp của họ vì yêu cầu không chia thừa kế đối với di sản thừa kế lớn hơn yêu cầu
xem xét về công sức.
Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:
Khoản 1 Điều 5 và Điều 218 của Bộ luật
tố tụng dân sự năm 2004;
Từ khóa của án lệ:
“Yêu cầu khởi kiện”; “Yêu cầu phản tố”; “Công sức
đóng góp vào việc quản lý, tôn tạo di sản thừa kế”.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện ngày 18-7-2008 và trong quá trình
giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị Thưởng, bà Nguyễn Thị Xuân trình bày: Cha mẹ
các bà là cụ Nguyễn Văn Hưng (chết năm 1978), cụ Lê Thị Ngự (chết năm 1992) có
06 người con là bà Nguyễn Thị Xê, ông Nguyễn Chí Trải, bà Nguyễn Thị Xuân, bà
Nguyễn Thị Thưởng, bà Nguyễn Thị Trinh và ông Nguyễn Chí Trai. Ông Trai có vợ
là bà Ông Thị Mạnh và có 05 người con là anh Nguyễn Thuần Lý, anh Nguyễn Thuần
Huy, chị Nguyễn Thị Quới Đường, anh Nguyễn Chí Đạt (sinh năm 1966) và anh Nguyễn
Chí Đạt (sinh năm 1968). Tại Quyết định số 413/2008 ngày 31-3-2008, Tòa án nhân
dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên bố ông Trai, bà Mạnh, anh Thuần Huy, chị Quới
Đường, anh Nguyễn Chí Đạt (sinh năm 1968) là đã chết.
Căn nhà số 263 đường Trần Bình Trọng, Phường 4, Quận
5, Thành phố Hồ Chí Minh do cụ Hưng, cụ Ngự nhận chuyển nhượng đất của ông Đào
Thành Phụng năm 1953, đến năm 1966 thì hai cụ xây dựng nhà ở như hiện nay. Nhà
đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất, chỉ mới
kê khai năm 1999. Cụ Hưng, cụ Ngự chết đều không để lại di chúc, căn nhà hiện
nay do chị Nguyễn Thị Thúy Phượng là con ông Nguyễn Chí Trải đang quản lý. Quá
trình quản lý, chị Phượng cho bà Nguyễn Thị Bích Đào thuê một phần căn nhà để
làm lò bánh mì. Khi chị Phượng ở đây có sửa chữa nhà nhưng không đáng kể. Vợ chồng
ông Trải không có đóng góp gì vào việc xây dựng và sửa chữa vì ông Trải đi cải
tạo, còn bà Tư vợ ông Trải không có nghề nghiệp, con còn bé không có thu nhập để
có tiền đóng góp. Nếu chị Phượng có chứng cứ chứng minh chi phí sửa chữa và yêu
cầu thì các bà sẽ trả.
Các nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế căn nhà này
theo quy định của pháp luật và xin được nhận nhà, hoàn lại bằng tiền cho các thừa
kế khác. Chị Phượng không thuộc diện thừa kế nên phải trả lại nhà, không đồng ý
hỗ trợ chị Phượng đi nơi khác.
Bị đơn là chị Nguyễn Thị Thúy Phượng trình bày: Chị
thống nhất về quan hệ gia đình. Cha chị là ông Nguyễn Chí Trải, mẹ chị là bà
Nguyễn Thị Tư có 03 người con gồm chị, anh Nguyễn Chí Đức, chị Nguyễn Thị Thúy
Loan (anh Đức, chị Loan hiện sống ở Canada). Căn nhà số 263 đường Trần Bình Trọng
là của ông bà nội chị mua từ năm 1953, khi đó là nhà ngói, vách ván. Năm 1955,
cha chị kết hôn với mẹ chị và cha mẹ chị ở tại căn nhà này. Năm 1978 cha chị xuất
cảnh sang Mỹ, mẹ chị chết năm 1980. Chị sống tại căn nhà này từ nhỏ đến nay, đã
sửa chữa nhà nhiều lần như làm cửa nhôm, xây tường phần gác lửng, lát gạch men
sân thượng, xây tường phía sau nhà. Chị có phần thừa kế của cha chị vì năm 2006
cha chị đã lập tờ cho đứt chị tài sản thừa kế ở Việt Nam nên chị được phần thừa
kế mà cha chị được hưởng của cụ Hưng, cụ Ngự. Chị không đồng ý yêu cầu của các
nguyên đơn, vì thời hiệu chia thừa kế đã hết, hiện tại chị và 02 con của chị
đang sống tại căn nhà này. Chị có cho bà Nguyễn Thị Bích Đào thuê một phần nhà
làm lò bánh mì, chị và bà Đào sẽ tự giải quyết với nhau về việc thuê nhà.
Bị đơn là ông Nguyễn Chí Trải trình bày: Tại văn bản
ngày 14-10-2009, ông Trải có đơn đề nghị có nội dung ngày 25-4-2006 ông có giấy
cho đứt tài sản thừa kế của ông cho chị Phượng được hưởng phần tài sản thừa kế
mà ông được hưởng của cha mẹ tại Việt Nam, nay ông xin hủy bỏ văn bản trên và bằng
văn bản này ông xin ủy quyền cho bà Thường, bà Xuân thay mặt ông tại Tòa án,
khi Tòa xét xử xong phần tài sản thừa kế của ông xin được trao hết cho con trai
ông là anh Nguyễn Chí Đức hiện cư trú tại Canada.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 22-4-2010, ông Trải có
Đơn tường trình nội dung ông không đồng ý chia thừa kế nhà 263 Trần Bình Trọng
mà giao cho chị Phượng tiếp tục trông nom để ở, ông và vợ ông đã có công sức
đóng góp tiền của vào căn nhà này. Nhưng đến ngày 14-7-2010, ông Trải lại có
văn bản có nội dung ông cho con trai là anh Nguyễn Chí Đức phần tài sản ông được
nhận thừa kế của cha mẹ. Ngày 11-3-2011, ông Trải có Tờ tường trình nội dung
ông đồng ý với quyết định của Bản án sơ thẩm, ông không kháng cáo.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Trinh (là con cụ Hưng, cụ Ngự)
trình bày: Bà thống nhất như trình bày của các nguyên đơn về quan hệ gia đình
và nguồn gốc tài sản. Năm 1966 nhà bị hư dột, cha mẹ bà có sửa lại nhà có sự đóng
góp của các con trong đó có bà nhưng bà không yêu cầu phần bà đã đóng góp. Việc
chị Phượng cho rằng cha mẹ chị và chị có đóng góp trong việc sửa chữa nhà là
không đúng. Bà đề nghị kỷ phần thừa kế của bà giao cho bà Xuân, bà Thưởng quản
lý; đề nghị bà Đào, chị Phượng trả lại nhà.
- Anh Nguyễn Chí Đạt (sinh năm 1966), anh Nguyễn
Thuần Lý trình bày: Cha mẹ các anh là ông Nguyễn Chí Trai, bà Ông Thị Mạnh cùng
03 người em của các anh đều đã chết trên biển khi vượt biên vào năm 1982. Các
anh đồng ý với ý kiến của nguyên đơn về việc chia thừa kế, xin được hưởng thừa
kế tài sản của cụ Hưng, cụ Ngự và giao cho bà Thưởng, bà Xuân quản lý.
- Bà Nguyễn Thị Xê (là con của cụ Hưng, cụ Ngự) thống
nhất với trình bày của các nguyên đơn về quan hệ gia đình và yêu cầu của các
nguyên đơn, kỷ phần thừa kế bà được hưởng cho 02 con của bà là Phạm Thị Vui và
Phạm Thị Liên.
- Lời khai của chị Nguyễn Thị Thúy Loan, anh Nguyễn
Chí Đức theo giấy ủy quyền lập ngày 21-5-2007 (đã được hợp pháp hóa lãnh sự)
thì chị Loan, anh Đức ủy quyền cho chị Phượng quyết định mọi sự việc liên quan
đến những tranh chấp hay phân chia tài sản và nhà đất bên Việt Nam (Giấy ủy quyền
này do chị Phượng xuất trình theo đơn của chị Phượng đề ngày 25-3-2011, sau khi
xét xử sơ thẩm).
Chị Loan có đơn (kèm theo văn bản ủy quyền) có nội
dung xin vắng mặt phiên tòa ngày 13-8-2009. Về tài sản tranh chấp cha mẹ chị có
tiền đóng góp, còn các cô chú khác không đóng góp gì. Sau năm 1975, mọi người
đi hết, chỉ còn mình chị Phượng ở với ông bà, đề nghị Tòa cho chị Phượng ở lại
nhà đất tranh chấp.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 3363/2009/DSST ngày
18-11-2009, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
- Xác định nhà đất tại 263 Trần Bình Trọng là di sản
thừa kế của cụ Nguyễn Văn Hưng, cụ Lê Thị Ngự; mỗi kỷ phần thừa kế được hưởng
là 10.655.687.000: 6 = 1.775.947.800 đồng.
- Buộc mẹ con chị Phượng và bà Đào giao lại nhà đất
tranh chấp cho bà Thưởng, bà Xuân. Bà Thường, bà Xuân có trách nhiệm trả cho
các thừa kế khác bằng tiền mà họ được hưởng.
- Ghi nhận việc ông Nguyễn Chí Trải cho con là anh
Nguyễn Chí Đức được nhận kỷ phần thừa kế của ông.
Ngày 30-11-2009, chị Nguyễn Thị Thúy Phượng có đơn
kháng cáo có nội dung cho rằng cụ Hưng, cụ Ngự chết đã quá 10 năm nên thời hiệu
khởi kiện về thừa kế không còn.
Ngày 15-3-2011, chị Phượng có đơn kháng cáo bổ sung
nội dung:
- Cha chị là ông Trải không đồng ý chia và đồng ý
cho chị quản lý căn nhà này. Các đồng thừa kế không có văn bản xác nhận nhà
tranh chấp là tài sản chung chưa chia. Cha mẹ chị và các con trong đó có chị đã
sống ổn định hơn 50 năm tại căn nhà này, đã bảo quản, giữ gìn căn nhà nhưng nay
lại buộc mẹ con chị phải ra khỏi nhà là không thấu tình đạt lý.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 116/2011/DS-PT ngày
10-5-2011, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh quyết
định: Giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Ngày 16-6-2011, chị Nguyễn Thị Thúy Phượng có đơn đề
nghị giám đốc thẩm Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.
Tại Quyết định số 158/2014/KN-DS ngày 06-5-2014,
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị Bản án dân sự phúc thẩm nêu
trên; đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy
Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và Bản án dân sự sơ thẩm số 3363/2009/DSST
ngày 18-11-2009 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; giao hồ sơ vụ án cho
Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp
luật.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát
nhân dân tối cao nhất trí kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhận
định:
Vợ chồng cụ Nguyễn Văn Hưng (chết năm 1978), cụ Lê
Thị Ngự (chết năm 1992) có 06 người con gồm bà Nguyễn Thị Xê, ông Nguyễn Chí Trải,
bà Nguyễn Thị Xuân, bà Nguyễn Thị Thưởng, bà Nguyễn Thị Trinh và ông Nguyễn Chí
Trai. Vợ chồng ông Nguyễn Chí Trai, bà Ông Thị Mạnh có 05 người con là anh Nguyễn
Thuần Lý, anh Nguyễn Thuần Huy, chị Nguyễn Thị Quới Đường, anh Nguyễn Chí Đạt
(sinh năm 1966), anh Nguyễn Chí Đạt (sinh năm 1968). Ông Trai, bà Mạnh, anh
Huy, chị Đường, anh Nguyễn Chí Đạt (sinh năm 1968) bị tuyên bố chết ngày
31-3-2008 theo Quyết định số 413/2008 ngày 31-3-2008 của Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh.
Cụ Hưng, cụ Ngự chết đều không để lại di chúc. Các
con của hai cụ và chị Phượng (con ông Trải) đều thừa nhận căn nhà số 263 đường
Trần Bình Trọng, Phường 4, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh do cụ Hưng, cụ Ngự nhận
chuyển nhượng của ông Đào Thành Phụng năm 1953 là tài sản của hai cụ tạo lập,
hiện tại đang do chị Phượng quản lý, sử dụng.
Năm 2008, bà Xuân, bà Thưởng khởi kiện yêu cầu chia
thừa kế di sản của cụ Hưng, cụ Ngự để lại.
Các đương sự đều xác định ông Trải định cư tại Mỹ
trước ngày 01-7-1991. Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm căn cứ Nghị quyết 1037/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 27-7-2006 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội xác định thời hiệu khởi kiện thừa kế đối với di sản của cụ
Hưng vẫn còn là có cơ sở. Đối với di sản của cụ Ngự thì đã hết thời hiệu khởi
kiện yêu cầu chia thừa kế, nhưng ông Trải và các đồng thừa kế của hai cụ đều thừa
nhận di sản của cụ Ngự là tài sản chung của các thừa kế chưa chia và đều nhất
trí chia đều cho các thừa kế. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm căn cứ tiểu Mục a Điểm 2.4 Mục 2 phần I Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày
10-8-2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp
luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình để chia phần
di sản của cụ Ngự cho các thừa kế là có căn cứ.
Cụ Hưng chết năm 1978, theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 thì ông Trải
được hưởng 1/7 kỷ phần thừa kế của cụ Hưng. Phần tài sản ông Trải được hưởng của
cụ Hưng là tài sản chung của vợ chồng ông Trải, bà Tư. Bà Tư chết năm 1980, các
thừa kế của bà Tư gồm ông Trải và 03 người con của ông Trải, bà Tư trong đó có
chị Phượng. Như vậy, chị Phượng được hưởng một phần tài sản của mẹ là bà Tư,
nhưng ông Trải đã định đoạt toàn bộ kỷ phần thừa kế mà ông được hưởng của cụ
Hưng cho anh Đức là chưa đúng.
Chị Phượng sinh năm 1953 và các đương sự xác định
chị Phượng ở tại nhà của ông, bà từ nhỏ đến nay. Từ năm 1982, chị Phượng đã là
chủ hộ khẩu tại nhà đất này, cụ Ngự còn sống nhưng ở nơi khác, bà Thưởng chuyển
hộ khẩu về tại đây từ năm 1979 nhưng không ở đây, nên chị Phượng đã trực tiếp
quản lý, sử dụng nhà đất tranh chấp từ sau khi cụ Ngự chết đến nay. Các đương sự
khác đều có nơi ở ổn định nơi khác. Khi chia thừa kế và tài sản chung, Tòa án cấp
sơ thẩm và phúc thẩm không xem xét tạo Điều kiện cho chị Phượng có chỗ ở mà buộc
chị Phượng phải giao lại nhà cho các nguyên đơn trong đó có phần quyền tài sản
chị Phượng được hưởng thừa kế của mẹ là bà Tư là chưa phù hợp.
Tuy chị Phượng không phải thừa kế thuộc hàng thừa kế
thứ nhất của cụ Hưng, cụ Ngự, nhưng là cháu nội của hai cụ và có nhiều công sức
quản lý, đã chi tiền sửa chữa nhà nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, chị
Phượng không yêu cầu xem xét công sức vì chị Phượng cho rằng vụ án đã hết thời
hiệu chia thừa kế, không đồng ý trả nhà đất cho các thừa kế. Như vậy, yêu cầu của
chị Phượng đề nghị xác định quyền lợi là lớn hơn yêu cầu xem xét về công sức,
nhưng Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm chưa xem xét công sức cho chị Phượng là giải
quyết chưa triệt để yêu cầu của đương sự.
Vì các lẽ trên, căn cứ vào Khoản 3
Điều 297, Khoản 1, 2 Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ
sung năm 2011;
QUYẾT ĐỊNH
Hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số
116/2011/DS-PT ngày 10-5-2011 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại
Thành phố Hồ Chí Minh và hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 3363/2009/DSST
ngày 18-11-2009 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về vụ án tranh chấp
thừa kế tài sản giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thưởng, bà Nguyễn Thị Xuân với
bị đơn là chị Nguyễn Thị Thúy Phượng và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan khác.
Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.
NỘI DUNG ÁN LỆ
“Cụ Hưng chết năm 1978, theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 thì ông Trải
được hưởng 1/7 kỷ phần thừa kế của cụ Hưng. Phần tài sản ông Trải được hưởng của
cụ Hưng là tài sản chung của vợ chồng ông Trải, bà Tư. Bà Tư chết năm 1980, các
thừa kế của bà Tư gồm ông Trải và 03 người con của ông Trải, bà Tư trong đó có
chị Phượng.
Tuy chị Phượng không phải thừa kế thuộc hàng thừa
kế thứ nhất của cụ Hưng, cụ Ngự, nhưng là cháu nội của hai cụ và có nhiều công
sức quản lý, đã chi tiền sửa chữa nhà nhưng trong quá trình giải quyết vụ án,
chị Phượng không yêu cầu xem xét công sức vì chị Phượng cho rằng vụ án đã hết
thời hiệu chia thừa kế, không đồng ý trả nhà đất cho các thừa kế. Như vậy, yêu
cầu của chị Phượng đề nghị xác định quyền lợi là lớn hơn yêu cầu xem xét về
công sức, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm chưa xem xét công sức cho chị Phượng
là giải quyết chưa triệt để yêu cầu của đương sự.”
Án
lệ số 06/2016/AL
Được Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 và được công bố
theo Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06 tháng 4 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao.
Nguồn án lệ:
Quyết định giám đốc thẩm số 100/2013/GĐT-DS ngày
12-8-2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Tranh chấp
thừa kế” tại Hà Nội, giữa nguyên đơn là ông Vũ Đình Hưng với bị đơn là bà Vũ Thị
Tiến (tức Hiền), bà Vũ Thị Hậu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm các
ông, bà Vũ Đình Đường, Vũ Thị Cẩm, Vũ Thị Thảo, Nguyễn Thị Kim Oanh, Hà Thùy Linh.
Khái quát nội dung của án lệ:
Trong vụ án tranh chấp thừa kế có người thuộc diện
thừa kế ở nước ngoài, nếu Tòa án đã thực hiện ủy thác tư pháp, thu thập chứng cứ
theo đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn không xác định được địa chỉ của những
người đó thì Tòa án vẫn giải quyết yêu cầu của nguyên đơn; nếu xác định được di
sản thừa kế, diện hàng thừa kế và người để lại di sản thừa kế không có di chúc
thì giải quyết việc chia thừa kế cho nguyên đơn theo quy định của pháp luật; phần
tài sản thừa kế của những người vắng mặt, không xác định được địa chỉ sẽ tạm
giao cho những người sống trong nước quản lý để sau này giao lại cho những thừa
kế vắng mặt.
Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:
- Điều 93; Điểm đ Khoản 1 Điều 168
của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004;
- Điều 676 và 685 của Bộ luật dân sự
năm 2005.
Từ khóa của án lệ:
“Tranh chấp di sản thừa kế”; “Người thừa kế ở nước
ngoài chưa rõ địa chỉ”; “Ủy thác tư pháp”; “Phân chia di sản”; “Quản lý di sản”.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện tháng 7 năm 1993, nguyên đơn là
ông Vũ Đình Hưng trình bày:
Cha mẹ ông là cụ Vũ Đình Quảng và cụ Nguyễn Thị
Thênh sinh được 6 người con là ông Vũ Đình Đường, bà Vũ Thị Cẩm, bà Vũ Thị Thảo,
ông Vũ Đình Hưng, bà Vũ Thị Tiến (tức Hiền) và bà Vũ Thị Hậu. Cụ Quảng và cụ
Thênh tạo lập được căn nhà số 66 phố Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, diện
tích 123m2. Năm 1979, cụ Quảng chết không để lại di chúc, căn nhà do
cụ Thênh và 3 con là ông Hưng, bà Hậu, bà Tiến ở; ông Đường, bà Thảo và bà Cẩm
đều xuất cảnh đi nước ngoài. Tại biên bản họp gia đình ngày 28-10-1982, cụ
Thênh và ông, bà Tiến, bà Hậu thỏa thuận tạm thời phân chia nhà thành 3 phần
cho ông, bà Hậu và bà Tiến sử dụng. Năm 1987, cụ Thênh chết. Sau đó năm 1989,
bà Tiến đã lén lút bán phần nhà được tạm chia cho bà Nguyễn Thị Kim Oanh. Khi
ông đã có đơn khởi kiện chia thừa kế ra Tòa án rồi nhưng ngày 31-10-1993, bà Hậu
đã bán tiếp phần nhà bà Hậu được tạm chia cho bà Hà Thùy Linh. Việc mua bán nhà
này là sai. Ông xác định được 3 anh chị em đang ở nước ngoài (là ông Đường, bà
Cẩm và bà Thảo) có văn bản cho ông hưởng phần thừa kế nên yêu cầu chia thừa kế
di sản của cha mẹ ông theo pháp luật.
Ông Hưng xuất trình bản photocopy các giấy ủy quyền
lập ngày 03-3-1992 của ông Vũ Đình Đường, ngày 1-5-1993 của bà Vũ Thị Cẩm, ngày
28-10-1991 của bà Vũ Thị Thảo đều có nội dung ủy quyền cho ông Hưng quản lý
trông nom phần tài sản của mình trong nhà 66 Đồng Xuân là 1/6 nhà. Sau khi nộp
đơn khởi kiện, ông Hưng xuất trình thêm các “Giấy chuyển hẳn cho quyền thừa kế”
đề ngày 25-4-1995 của ông Vũ Đình Đường; “Giấy chuyển hẳn cho quyền thừa kế” đề
ngày 10-5-1995 của bà Vũ Thị Cẩm; “Giấy cho hẳn quyền thừa kế” của bà Vũ Thị Thảo;
các văn bản này đều ghi là lập tại nước ngoài, đều có nội dung xác nhận: cha mẹ
để lại ngôi nhà 66 Đồng Xuân cho 6 người con nhưng bà Tiến (Hiền) và bà Hậu đã
bán phần nhà của cha mẹ để lại là vi phạm lời dặn của mẹ (không được bán, cho
người ngoài vào ở)... Ông Đường và bà Thảo, bà Cẩm làm giấy này cho hẳn ông
Hưng 1/6 ngôi nhà 66 Đồng Xuân phần mỗi người được hưởng thừa kế để ông Hưng
duy trì thờ cúng tổ tiên và cũng để ba gia đình con cháu người ở nước ngoài có
nơi đi lại thờ cúng tổ tiên và đề nghị cho ông Hưng được hưởng thừa kế bằng hiện
vật (các tài liệu ông Hưng xuất trình đều chỉ là bản photocopy).
Bị đơn trình bày:
Bà Vũ Thị Tiến trình bày: Xác nhận về quan hệ huyết
thống và nguồn gốc căn nhà 66 Đồng Xuân như ông Hưng trình bày. Năm 1989, bà đã
bán phần được chia cho bà Oanh, đã giao nhà và đã làm xong thủ tục mua bán nhà
tại Sở Nhà đất Hà Nội cho người mua. Sau khi đến ở, bà Oanh còn có thỏa thuận với
ông Hưng, bà Hậu hoán đổi một số công trình trong nhà để các bên sử dụng thuận
tiện hơn. Sau đó do ông Hưng khiếu nại nên Sở Nhà đất đã thu hồi hồ sơ mua bán
nhà giữa bà và bà Oanh. Bà Hậu cũng đã bán phần nhà được chia cho người khác.
Bà xác định cụ Thênh đã cho tiền 3 người đi nước ngoài nên họ không có yêu cầu
gì về nhà này. Bà đã bán phần nhà của mình cho bà Oanh, nay bà không có trách
nhiệm gì về phần nhà đã bán.
Bà Vũ Thị Hậu trình bày: Xác nhận về quan hệ huyết
thống và nguồn gốc căn nhà 66 Đồng Xuân như ông Hưng trình bày và việc phân
chia nhà cũng như việc bà Tiến đã bán một phần như bà Tiến trình bày. Bà xác định
khi bán có thông báo cho anh chị ở nước ngoài và họ đều đồng ý. Bà đề nghị chia
cho bà vào phần nhà bà đã bán cho vợ chồng bà Linh, ông Khôi.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:
Vợ chồng bà Hà Thùy Linh và ông Hoàng Mạnh Khôi
trình bày: Khi ông bà mua nhà, bà Hậu có cho xem biên bản họp gia đình, nên ông
bà mới nhất trí mua. Ông bà đã trả đủ tiền, dọn đến ở từ đó đến nay, yêu cầu được
hợp pháp hóa phần nhà đã mua của bà Hậu.
Bà Nguyễn Thị Kim Oanh trình bày: Ngày 18-10-1992,
bà có mua nhà của bà Tiến được chia, giá 30.000.000 đồng. Việc mua bán đã được
chính quyền cho phép. Sau khi mua nhà, bà đã về ở, có thỏa thuận hoán đổi một số
vị trí sử dụng nhà cho ông Hưng, đề nghị công nhận hợp đồng mua bán nhà giữa bà
Tiến với bà.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 20/DSST ngày
23-5-1995, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã chấp nhận yêu cầu xin chia thừa
kế của ông Hưng, ông Đường, bà Cẩm, bà Thảo do ông Hưng đại diện xin chia di sản
thừa kế của cụ Quảng và cụ Thênh. Chấp nhận một phần bản di chúc của cụ Thênh lập
ngày 28-10-1982, xác định di sản thừa kế trị giá 1.228.151.520 đồng, chia thừa
kế bằng hiện vật nhà, đất cho 3 người là ông Hưng, bà Hậu và bà Tiến. Việc mua
bán giữa bà Tiến, bà Hậu với bà Oanh, bà Linh được thực hiện theo quy định của
nhà nước.
Bà Tiến kháng cáo đề nghị xem xét lại cách tính diện
tích di sản thừa kế. Ông Hưng kháng cáo cho rằng Tòa án xử không khách quan.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 115 ngày 10-10-1995,
Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội quyết định: Hủy Bản án sơ thẩm,
giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết sơ thẩm lại.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 50/DSST ngày
11-9-1996, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định chấp nhận yêu cầu xin
chia thừa kế của ông Hưng, ông Đường, bà Cẩm, bà Thảo do ông Hưng làm đại diện
xin chia di sản thừa kế của cụ Quảng và cụ Thênh; ghi nhận sự tự nguyện của ông
Đường, bà Cẩm, bà Thảo ở nước ngoài nhường kỷ phần thừa kế cho ông Hưng và chia
hiện vật cho ông Hưng, bà Hậu, bà Tiến (mỗi người 1/3 cửa hàng và phần nhà phía
sau), bà Hậu, bà Tiến phải thanh toán chênh lệch cho ông Hưng (bà Hậu
156.824.381 đồng; bà Tiến 140.774.106 đồng). Việc mua bán nhà giữa bà Tiến, bà
Hậu với bà Oanh, bà Linh là trái pháp luật.
Ông Hưng kháng cáo.
Tại Quyết định số 82/TĐC ngày 15-7-1997, Tòa phúc
thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án.
Sau khi có Nghị quyết số 1037/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 27-7-2006 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01
tháng 7 năm 1991 có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia, Tòa phúc thẩm
Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã tiếp tục giải quyết vụ án.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 142/2007/DSPT ngày
03-7-2007, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã hủy Bản án sơ thẩm
và giao Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết sơ thẩm lại vụ án với nhận
định: Đơn khởi kiện chỉ có ông Hưng viết và ký, các giấy ủy quyền của ông Đường,
bà Thảo, bà Cẩm đều không thể hiện là ủy quyền khởi kiện chia thừa kế (trừ giấy
của bà Thảo), nay các đương sự thừa nhận ông Đường, bà Thảo đều đã chết, nên cần
xác minh việc này và đưa người thừa kế của họ tham gia tố tụng; định giá lại
nhà đất cho phù hợp.
Sau khi thụ lý lại vụ án, đương sự trình bày: ông
Đường và bà Thảo đã chết vào Khoảng năm 2002. Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu ông
Hưng cung cấp giấy chứng tử của ông Đường và bà Thảo, bổ sung đơn khởi kiện
theo đúng quy định tại Khoản 2 Điều 164 Bộ luật tố tụng dân sự
(họ tên, địa chỉ, quốc tịch của các con ông Đường, bà Thảo; tên, địa chỉ của
người đang ở tại phần nhà đất tranh chấp) nhưng ông Hưng không cung cấp được.
Tại Quyết định số 04/2008/QĐST-DS ngày 17-01-2008,
Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã đình chỉ việc giải quyết vụ án, trả tạm ứng
án phí cho ông Hưng.
Ngày 29-01-2008, ông Hưng kháng cáo cho rằng Tòa án
đình chỉ việc giải quyết vụ án là không đúng.
Tại Quyết định số 168/2008/DS-QĐPT ngày 04-9-2008,
Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã chấp nhận kháng cáo của ông
Hưng, hủy quyết định sơ thẩm với lý do: cấp sơ thẩm áp dụng Khoản 2 Điều 192
đình chỉ việc giải quyết vụ án là không đúng, làm mất quyền khởi kiện của đương
sự.
Sau khi thụ lý lại vụ án, Tòa án nhân dân thành phố
Hà Nội đã yêu cầu ông Hưng cung cấp các tài liệu là tên, tuổi, địa chỉ người thừa
kế của ông Đường, bà Thảo; văn bản ủy quyền hoặc từ chối nhận thừa kế của những
người này; tên và địa chỉ những người đang ở tại nhà đất của bà Oanh. Ông Hưng
không cung cấp được các tài liệu trên.
Tại Quyết định số 54/DS-ST ngày 30-9-2009, Tòa án
nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định: Đình chỉ giải quyết vụ án chia thừa kế,
trả lại đơn kiện và tài liệu chứng cứ kèm theo cho ông Hưng.
Ông Hưng kháng cáo.
Tại Quyết định số 44/2010/QĐ-PT ngày 09-3-2010, Tòa
phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội quyết định: Giữ nguyên quyết định
sơ thẩm.
Ông Hưng có đơn đề nghị giám đốc thẩm.
Tại Quyết định số 35/2013/KN-DS ngày 22-01-2013,
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị Quyết định số 44/2010/QĐ-PT ngày
09-3-2010 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội. Đề nghị Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, hủy Quyết định dân sự
phúc thẩm nêu trên và hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số
54/2009/DS-ST ngày 30/9/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; giao hồ sơ vụ
án cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết sơ thẩm lại theo đúng quy định
của pháp luật.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát
nhân dân tối cao nhất trí với kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhận
định:
Căn nhà số 66 phố Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm, thành phố
Hà Nội do cụ Vũ Đình Quảng (chết năm 1979) và Nguyễn Thị Thênh (chết năm 1987)
tạo lập. Các cụ sinh được 6 người con thì 3 người là ông Vũ Đình Đường, bà Vũ
Thị Cẩm, bà Vũ Thị Thảo định cư ở nước ngoài từ năm 1979, còn 3 người ở trong
nước là ông Vũ Đình Hưng, bà Vũ Thị Tiến (Hiền), bà Vũ Thị Hậu. Sau khi cụ Quảng
chết chỉ còn cụ Thênh, ông Hưng, bà Tiến, bà Hậu quản lý căn nhà này. Sau khi cụ
Thênh chết, ông Hưng, bà Tiến và bà Hậu đã tự phân chia căn nhà thành 3 phần để
ở. Ngày 18-10-1992, bà Tiến bán phần nhà đang sử dụng cho bà Nguyễn Thị Kim
Oanh và ngày 31-10-1993 bà Hậu bán tiếp phần nhà bà đang ở cho bà Hà Thùy Linh.
Năm 1993, ông Hưng khởi kiện yêu cầu chia thừa kế
nhà đất của cha mẹ nêu trên theo pháp luật. Việc giải quyết vụ án kéo dài từ
năm 1993 đến 1996 và bị tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm năm 1997. Năm 2007, vụ án
được thụ lý lại.
Khi giải quyết vụ án, trước giai đoạn tố tụng tạm
đình chỉ (1997), ông Hưng đã cung cấp các đơn, giấy ủy quyền lập năm 1991,
1992, 1993, 1994 của ông Đường, bà Cẩm, bà Thảo có nội dung giao cho ông Hưng
trông coi quản lý tài sản thừa kế phần của họ trong di sản thừa kế là nhà đất số
66 phố Đồng Xuân; sau đó ông Hưng lại cung cấp các văn bản lập năm 1995 của ông
Đường, bà Thảo và bà Cẩm có nội dung cho hẳn ông Hưng phần thừa kế của mình
trong tài sản tranh chấp. Các văn bản đều có tem và con dấu của nước sở tại
(ông Đường ở Anh, bà Cẩm ở Pháp và bà Thảo ở Mỹ), nhưng chỉ là bản photocopy.
Tuy nhiên, các đương sự đều ghi rõ số nhà, địa chỉ của người viết văn bản.
Trong quá trình thụ lý giải quyết lại vụ án sau giai đoạn tạm đình chỉ, ông
Hưng, bà Tiến, bà Hậu đều khai ông Đường, bà Thảo đã chết Khoảng năm 2002, ông
Hưng xác định địa chỉ của bà Cẩm, bà Thảo không thay đổi, còn ông đã liên lạc với
con ông Đường nhưng không nhận được hồi âm (bút lục 376, 377, 382). Tòa án cấp
sơ thẩm yêu cầu ông Hưng phải cung cấp chứng tử của ông Đường, bà Thảo; tên, địa
chỉ của con ông Đường, bà Thảo. Ông Hưng khai không cung cấp được và đề nghị
Tòa án thu thập chứng cứ để giải quyết theo pháp luật (bút lục 390). Như vậy,
trong hồ sơ đã có địa chỉ của những người đã sống ở nước ngoài, còn việc yêu cầu
ông Hưng cung cấp chứng tử của ông Đường bà Thảo là không cần thiết, vì cả ba
người ở trong nước đều xác nhận hai người này đã chết. Lẽ ra, Tòa án cấp sơ thẩm
phải thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp theo quy định, thu thập chứng cứ đối với
ông Đường, bà Thảo để làm rõ thời Điểm những người này chết và nếu hai người chết
này còn có người thừa kế thì hỏi họ về quan Điểm giải quyết vụ án. Tùy từng trường
hợp căn cứ chứng cứ mới để giải quyết vụ án theo quy định. Nếu không thu thập
được chứng cứ gì hơn thì vẫn phải giải quyết yêu cầu của ông Hưng để được hưởng
thừa kế theo pháp luật, phần thừa kế của ông Đường bà Thảo sẽ tạm giao cho những
người đang sống trong nước quản lý để sau này người thừa kế của họ có quyền hưởng
theo pháp luật, như vậy mới giải quyết dứt Điểm vụ án. Đối với những người đang
sống tại phần nhà bà Tiến bán thì nghĩa vụ cung cấp tên tuổi của họ là của bà
Tiến. Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu ông Hưng cung cấp tên tuổi của những người này
là không đúng đối tượng. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng ông Hưng không cung cấp được
tên, địa chỉ của con ông Đường, bà Thảo, người mua nhà của bà Oanh để đình chỉ
giải quyết vụ án là không đúng. Tòa án cấp phúc thẩm lẽ ra phải hủy quyết định
sơ thẩm để giao giải quyết lại nhưng lại giữ nguyên quyết định sơ thẩm là không
đúng.
Ngoài ra, theo các tài liệu có trong hồ sơ và lời
khai của ông Hoàng Mạnh Khôi ngày 17-10-2007 (bút lục 373) và “Giấy bán nhà”
ngày 31-10-1993 (bút lục 18), thì bà Hậu bán phần nhà mà bà đang quản lý cho bà
Hà Thùy Linh (chồng là ông Hoàng Mạnh Khôi). Quyết định sơ thẩm và phúc thẩm lại
ghi là bà Nguyễn Thị Thùy Linh là không chính xác, cần Điều chỉnh lại cho phù hợp.
Vì các lẽ trên, căn cứ vào Khoản 3
Điều 297 và Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự;
QUYẾT ĐỊNH
1. Hủy Quyết định số 44/2010/QĐ-PT ngày 09-3-2010 của
Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội và hủy Quyết định đình chỉ giải
quyết vụ án dân sự số 54/2009/DS-ST ngày 30-9-2009 của Tòa án nhân dân thành phố
Hà Nội về vụ án tranh chấp thừa kế, giữa nguyên đơn là ông Vũ Đình Hưng với bị
đơn là bà Vũ Thị Tiến, bà Vũ Thị Hậu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là
ông Vũ Đình Đường, bà Vũ Thị Cẩm, bà Vũ Thị Thảo, bà Nguyễn Thị Kim Oanh, bà Hà
Thùy Linh.
2. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố
Hà Nội giải quyết sơ thẩm lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
NỘI DUNG ÁN LỆ
“Lẽ ra, Tòa án cấp sơ thẩm phải thực hiện thủ tục
ủy thác tư pháp theo quy định, thu thập chứng cứ đối với ông Đường, bà Thảo để
làm rõ thời Điểm những người này chết và nếu hai người chết này còn có người thừa
kế thì hỏi họ về quan Điểm giải quyết vụ án. Tùy từng trường hợp căn cứ chứng cứ
mới để giải quyết vụ án theo quy định. Nếu không thu thập được chứng cứ gì hơn
thì vẫn phải giải quyết yêu cầu của ông Hưng để được hưởng thừa kế theo pháp luật,
phần thừa kế của ông Đường bà Thảo sẽ tạm giao cho những người đang sống trong
nước quản lý để sau này người thừa kế của họ có quyền hưởng theo pháp luật, như
vậy mới giải quyết dứt Điểm vụ án. Đối với những người đang sống tại phần nhà
bà Tiến bán thì nghĩa vụ cung cấp tên tuổi của họ là của bà Tiến. Tòa án cấp sơ
thẩm yêu cầu ông Hưng cung cấp tên tuổi của những người này là không đúng đối
tượng. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng ông Hưng không cung cấp được tên, địa chỉ của
con ông Đường, bà Thảo, người mua nhà của bà Oanh để đình chỉ giải quyết vụ án
là không đúng. Tòa án cấp phúc thẩm lẽ ra phải hủy quyết định sơ thẩm để giao
giải quyết lại nhưng lại giữ nguyên quyết định sơ thẩm là không đúng.”