ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
Số: 357/KH-UBND
|
Đồng Tháp, ngày
26 tháng 10 năm 2022
|
KẾ HOẠCH
CHĂM SÓC SỨC KHỎE BÀ MẸ, TRẺ SƠ SINH VÀ TRẺ NHỎ TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH, GIAI ĐOẠN 2022 - 2025
Thực hiện Quyết định số
1493/QĐ-TTg ngày 10 tháng 9 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt
Chương trình “Can thiệp giảm tử vong trẻ em dưới 5 tuổi đến năm 2030”; Quyết định
số 2779/QĐ-BYT ngày 04 tháng 6 năm 2021 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc phê duyệt
Kế hoạch hành động quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản, tập trung vào chăm
sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ giai đoạn 2021 - 2025, Ủy ban nhân
dân Tỉnh ban hành Kế hoạch chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ trên
địa bàn Tỉnh, giai đoạn 2022 - 2025, cụ thể như sau:
I. KẾT QUẢ
THỰC HIỆN GIAI ĐOẠN 2016 - 2020
1. Sức khỏe bà mẹ
Công tác quản lý và chăm sóc phụ
nữ có thai ngày càng được quan tâm. Cụ thể: Tỷ lệ phụ nữ đẻ được khám thai 04 lần
trong 03 thời kỳ mang thai tăng từ 76,49% năm 2016 lên 92,03% năm 2020; 100% bà
mẹ sinh con tại cơ sở y tế; tỷ lệ phụ nữ đẻ được chăm sóc tuần đầu đạt 95,86%
năm 2020, chăm sóc tuần thứ 2 đến hết 6 tuần sau đẻ đạt 92,91%; tỷ lệ bà mẹ và
trẻ sơ sinh được nhân viên y tế có kỹ năng đỡ đẻ 99,99% năm 2016, 100% vào năm
2020; tỷ suất tai biến sản khoa từ 5,13‰ năm 2016 còn 3,81‰ năm 2020; tỷ lệ phụ
nữ đẻ được xét nghiệm HIV tăng từ 57,84% năm 2016 lên 89,02% năm 2020; 100% các
trường hợp phụ nữ đẻ có kết quả khẳng định HIV (+) đều được điều trị ARV; tỷ lệ
phụ nữ đẻ được xét nghiệm viêm gan B tăng từ 71,68% năm 2016 lên 82,83% năm
2020; tỷ lệ phụ nữ đẻ được xét nghiệm giang mai tăng từ 19,97% năm 2016 lên
48,63% năm 2020.
Ngoài ra, 100% bà mẹ đẻ có kết
quả xét nghiệm HIV (+) được tư vấn và liên hệ để đưa trẻ đi xét nghiệm PCR;
liên hệ nhanh với các khoa sản khi có trường hợp HIV khẳng định dương tính để
đưa vào điều trị kịp thời.
2. Sức khỏe trẻ sơ sinh, trẻ
nhỏ
Tỷ lệ trẻ đẻ sống được chăm sóc
sơ sinh thiết yếu sớm trong và ngay sau đẻ, sau mổ lấy thai tăng từ 63,81% năm
2016 lên 73% năm 2020; tỷ lệ sơ sinh cân nặng dưới 2.500 gam giảm từ 4,66% năm
2016 còn 2,85% năm 2020; tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi từ 1‰ năm 2016 giảm
còn 0,92‰ năm 2020; tỷ suất tử vong trẻ dưới 5 tuổi là 1,08‰ năm 2020; tỷ lệ
suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi từ 25,4% năm 2016 xuống còn
22,1% vào năm 2020.
3. Hạn chế, khó khăn
3.1. Hạn chế
- Tai biến sản khoa giảm, tuy nhiên
tử vong mẹ vẫn còn cao (20,62/100.000), nguyên nhân tử vong do tai biến sản
khoa chưa giảm. Tuy nhiên, đa số các trường hợp tử vong mẹ do người làm công
tác quản lý thai phụ không thể chăm sóc thai phụ ở địa phương (thai phụ đi làm
xa).
- Tỷ suất tử vong sơ sinh (<
28 ngày) là 0,69‰ năm 2016, giảm nhẹ còn 0,61‰ năm 2020.
- Năng lực chăm sóc, điều trị
sơ sinh tuyến huyện còn hạn chế. Bên cạnh đó, còn một số bệnh viện chưa triển
khai can thiệp Chăm sóc sơ sinh thiết yếu sớm trong và ngay sau mổ lấy thai hoặc
có thực hiện nhưng chưa đầy đủ thời gian quy định.
3.2. Khó khăn
- Tuyến huyện do sáp nhập các bệnh
viện huyện và trung tâm y tế huyện có sự thay đổi lớn về công tác nhân sự và tổ
chức hoạt động. Khoa Chăm sóc sức khỏe sinh sản thiếu nhân lực, thiếu bác sĩ
chuyên ngành sản khoa nên hạn chế nhiều hoạt động chuyên môn trong công tác
lãnh đạo, quản lý hoạt động của chương trình tại tuyến cơ sở.
- Tại tuyến tỉnh cán bộ y tế
công tác trong lĩnh vực sản, nhi có trình độ đại học và sau đại học vẫn còn thiếu
chưa đáp ứng được nhu cầu hiện nay. Đơn nguyên sơ sinh tuyến huyện hầu như chưa
đáp ứng đủ về cơ sở vật chất và năng lực chuyên môn.
- Số lượng hộ sinh tại tuyến tỉnh,
huyện không đáp ứng được theo yêu cầu. Theo quy định hiện hành, nhiều dịch vụ
cơ bản đến tuyến tỉnh mới được cung cấp, trong khi ở tuyến dưới (huyện, xã)
hoàn toàn có khả năng thực hiện được. Điều này hạn chế khả năng tiếp cận, tăng
chi phí dịch vụ, gây quá tải cho y tế tuyến trên đối với người dân.
- Ý thức chăm sóc trước khi
mang thai của người dân nói chung và phụ nữ tuổi sinh đẻ chưa cao. Tình trạng
phụ nữ tuổi sinh đẻ ở nông thôn đi làm công nhân tạm trú ở nơi khác, khi sinh mới
về địa phương nên việc quản lý và chăm sóc thai không thực hiện được.
II. MỤC TIÊU
1. Mục tiêu chung
Cải thiện tình trạng sức khỏe
sinh sản, tập trung vào cải thiện sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, ưu
tiên các vùng sâu, vùng xa nhằm đạt được các chỉ tiêu về chăm sóc sức khỏe sinh
sản, trẻ sơ sinh và giảm tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi, trẻ em dưới 5 tuổi
hướng tới thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững vào năm 2030.
2. Các mục tiêu cụ thể
2.1. Nâng cao sức khỏe bà
mẹ, giảm tai biến sản khoa và tử vong mẹ
- Tỷ suất tai biến sản khoa ≤
3,6‰.
- Tỷ suất tử vong mẹ <
25/100.000 trẻ đẻ sống.
- 90% phụ nữ đẻ được khám thai
đủ 4 lần trong 3 thời kỳ thai nghén.
- 99,5% phụ nữ đẻ tại cơ sở y tế.
- 99,7% phụ nữ đẻ được cán bộ y
tế qua đào tạo đỡ đẻ.
- 95,5% phụ nữ đẻ và trẻ sơ
sinh được chăm sóc sau đẻ, trong đó chăm sóc tuần đầu trên 85%.
- Trên 98% phụ nữ mang thai được
uống viên sắt.
2.2. Cải thiện tình trạng
sức khỏe, giảm tỷ lệ bệnh tật và tử vong ở trẻ sơ sinh
- Tỷ suất tử vong trẻ sơ sinh
(< 28 ngày tuổi) < 0,9‰.
- Tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1
tuổi ≤ 1,5‰.
- Tỷ suất tử vong trẻ em dưới 5
tuổi < 3‰.
- Tỷ lệ trẻ mới sinh sống có
cân nặng < 2.500 gam ở mức < 3,5%.
- 80% trẻ sơ sinh được chăm sóc
sơ sinh thiết yếu sớm trong và ngay sau đẻ/sau mổ lấy thai.
- Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể cân
nặng ở trẻ em dưới 5 tuổi < 9,7%.
- Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp
còi ở trẻ em dưới 5 tuổi < 15%.
2.3. Phụ nữ mang thai, bà
mẹ, trẻ sơ sinh được tiếp cận với các dịch vụ, can thiệp liên tục và có chất lượng
- 85% phụ nữ đẻ được xét
nghiệm tầm soát HIV trong khi mang thai.
- 70% phụ nữ đẻ được xét nghiệm
tầm soát viêm gan B trong khi mang thai.
- 70% phụ nữ đẻ được xét nghiệm
tầm soát giang mai trong khi mang thai.
III. ĐỐI TƯỢNG
- Phụ nữ độ tuổi sinh đẻ, mang
thai, trong cuộc đẻ, sau đẻ, bà mẹ cho con bú, trẻ sơ sinh, trẻ em đến hết 5 tuổi,
người chăm sóc trẻ và cộng đồng. Ưu tiên các vùng nông thôn thuộc vùng sâu,
vùng xa, biên giới.
- Nhân viên y tế làm việc trong
lĩnh vực tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, sức khỏe sinh sản bao gồm cơ sở y
tế công lập và ngoài công lập ở các tuyến, tập trung vào tuyến cơ sở.
IV. NỘI DUNG
1. Tuyên
truyền vận động và truyền thông giáo dục sức khỏe
- Đẩy mạnh truyền thông vận động
về tầm quan trọng của công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, sức khỏe sinh sản,
đặc biệt là truyền thông cho người làm công tác quản lý ở các cấp, người có uy
tín trong cộng đồng... Huy động các đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội, các
cơ quan truyền thông tham gia vận động chính sách, nguồn lực, tạo môi trường
thuận lợi cho công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, sức khỏe sinh sản.
- Phổ biến các thông tin chính
sách về chăm sóc sức khỏe sinh sản đến mọi đối tượng thông qua hội thảo, tập huấn,
vận động, các phương tiện truyền thông như: truyền thanh, truyền hình, báo chí…
- Truyền thông các nội dung về
chăm sóc sức khỏe sinh sản trong cộng đồng, đặc biệt chú trọng đến nội dung:
truyền thông nâng cao kiến thức, thay đổi hành vi trong chăm sóc sức khỏe bà mẹ,
trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ. Nâng cao kiến thức thực hành của bà mẹ, người chăm sóc trẻ
và cộng đồng từ lúc bà mẹ có thai đến sau sinh, nuôi con bằng sữa mẹ, chế độ ăn
của trẻ và chăm sóc trẻ bị bệnh.
- Đa dạng hình thức truyền
thông, phát triển các loại tài liệu truyền thông thích hợp với từng nhóm đối tượng.
Nâng cao năng lực truyền thông trực tiếp cho đội ngũ người cung cấp dịch vụ ở
các tuyến và cộng tác viên tại cộng đồng. Kết hợp giữa truyền thông tại cộng đồng
và truyền thông tại các cơ sở cung cấp dịch vụ.
- Tăng cường phối hợp giữa các
sở, ban, ngành, đoàn thể Tỉnh thực hiện truyền thông trên các phương tiện thông
tin đại chúng về chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, sức khỏe sinh sản. Đa dạng
hóa các hình thức truyền thông và ứng dụng công nghệ thông tin như: internet, mạng
xã hội...
2. Về
chuyên môn, kỹ thuật
2.1. Đảm bảo sự tiếp cận
dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ, sơ sinh và trẻ nhỏ chất lượng, an toàn và bình
đẳng
- Nâng cao chất lượng chăm sóc
phụ nữ mang thai như: quản lý thai sớm, khám thai định kỳ đủ 04 lần trong 03 thời
kỳ thai nghén, tuân thủ đầy đủ quy trình khám thai; theo dõi chặt chẽ quá trình
chuyển dạ nhằm phát hiện sớm các dấu hiệu nguy cơ để xử trí kịp thời.
- Tăng cường cập nhật đầy đủ
các quy trình, hướng dẫn chuyên môn kỹ thuật về chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ
em, sức khỏe sinh sản theo hướng dẫn của Bộ Y tế; không ngừng nâng cao chất lượng
dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, sức khỏe sinh sản, tập trung vào các
quy trình về cấp cứu sản khoa, sơ sinh và các bệnh mới nổi.
- Đầu tư xây dựng bệnh viện
chuyên khoa sản - nhi làm đơn vị kỹ thuật để phát triển, mở rộng các dịch vụ và
kỹ thuật thiết yếu để chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em.
- Thực hiện chăm sóc trẻ sơ
sinh sớm, trong và ngay sau đẻ, sau mổ lấy thai, chăm sóc trẻ bằng phương pháp
Kangaroo theo hướng dẫn của Bộ Y tế.
- Thực hiện tốt việc chăm sóc,
theo dõi sản phụ và trẻ sơ sinh ngày đầu và tuần đầu sau đẻ, đặc biệt là theo
dõi tích cực trong 06 giờ đầu nhằm phát hiện sớm những bất thường của mẹ và con
để xử trí kịp thời. Bảo đảm cho trẻ sơ sinh được tiêm vitamin K1, tiêm vắc xin
phòng viêm gan B và các loại vắc xin khác thuộc Chương trình Tiêm chủng mở rộng.
- Bổ sung trang thiết bị, thuốc
thiết yếu, tổ chức cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản đúng quy trình
chuyên môn kỹ thuật từ tuyến tỉnh đến tuyến xã theo Hướng dẫn quốc gia về dịch
vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và theo phân tuyến kỹ thuật từng đơn vị.
- Bảo đảm cấp cứu, chuyển tuyến
an toàn, kịp thời hoặc mời y tế tuyến trên xuống hỗ trợ tại chỗ trong các trường
hợp cần thiết. Thực hiện nghiêm quy trình vô khuẩn trong sản khoa ở các tuyến.
- Tổ chức cung cấp dịch vụ theo
danh mục chuyên môn kỹ thuật được phê duyệt, kết hợp với ưu tiên xây dựng, hỗ
trợ hệ thống chuyển tuyến thích hợp và cấp cứu ngoại viện. Đảm bảo cung cấp các
gói dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, sức khỏe sinh sản ở các tuyến, đặc
biệt là tuyến cơ sở, phù hợp với đặc thù địa phương: Đảm bảo thực hiện chăm sóc
sản khoa thiết yếu cơ bản và chăm sóc sơ sinh ở các trạm y tế vùng sâu, vùng
xa, đặc biệt là quản lý thai, phát hiện và xử trí thai nguy cơ cao, đỡ đẻ an
toàn, chăm sóc, cấp cứu và hồi sức sơ sinh, chăm sóc sau sinh, dự phòng, phát
hiện và kiểm soát các bệnh không lây nhiễm ở bà mẹ mang thai, phụ nữ (đái tháo
đường thai kỳ, tăng huyết áp, tiền sản giật, trầm cảm sau sinh, ung thư cổ tử
cung...); tiêm chủng phòng bệnh; tư vấn, truyền thông, giáo dục sức khỏe...
- Đẩy mạnh phối hợp thực hiện
các dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, sức khỏe sinh sản với phòng, chống
HIV/AIDS, các bệnh lây truyền từ mẹ sang con, các bệnh nhiễm trùng lây truyền
qua đường tình dục và các bệnh mới nổi.
2.2. Nâng cao năng lực
cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ
cho các cơ sở y tế
- Kiện toàn mạng lưới cung cấp
dịch vụ theo phân tuyến kỹ thuật, tập trung cho vùng khó khăn, đảm bảo cung cấp
các gói dịch vụ dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản thiết yếu ở các tuyến, đặc
biệt là tuyến cơ sở.
- Duy trì, ổn định mạng lưới
cán bộ y tế hoạt động trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, sức khỏe
sinh sản tại các tuyến. Đào tạo, bổ sung bác sĩ chuyên khoa sản, nhi cho các cơ
sở chăm sóc sức khỏe sinh sản tuyến huyện và tỉnh.
- Định kỳ tổ chức các lớp đào tạo,
đào tạo lại nhằm cập nhật kịp thời các kiến thức, kỹ thuật chuyên môn về lĩnh vực
chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, sức khỏe sinh sản trên cơ sở hướng dẫn của Bộ
Y tế.
- Đào tạo, cập nhật cho cán bộ
các sở, ban, ngành, đoàn thể, mạng lưới y tế khóm, ấp về truyền thông tư vấn
chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, sức khỏe sinh sản, chú trọng bổ sung các kiến
thức mới.
- Đẩy mạnh và cải thiện chất lượng
công tác chỉ đạo tuyến về sản, phụ khoa và nhi khoa; tăng cường giám sát hỗ trợ,
kiểm tra việc tuân thủ các quy định của pháp luật, quy trình, hướng dẫn chuyên
môn kỹ thuật về làm mẹ an toàn, cấp cứu, hồi sức cấp cứu sản khoa; chăm sóc, cấp
cứu, hồi sức sơ sinh; chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ nhỏ... ở các cơ sở y tế, bao gồm
các cơ sở y tế công lập, cơ sở y tế tư nhân.
- Tăng cường đào tạo bác sĩ
chuyên ngành sản, nhi; đào tạo theo nhu cầu đối với từng tuyến; bổ sung số lượng
bác sĩ chuyên ngành sản, nhi thông qua các hình thức như: đưa bác sĩ trẻ tình
nguyện về công tác ở các vùng khó khăn, chế độ luân phiên có thời hạn đối với
người hành nghề khám, chữa bệnh ở các cơ sở công lập. Cụ thể:
+ Bảo đảm mỗi huyện, thành phố
có ít nhất 01 bác sĩ chuyên ngành sản, phụ khoa hoặc bác sĩ đa khoa được đào tạo
ngắn hạn chuyên ngành sản, phụ khoa; 01 bác sĩ chuyên ngành nhi khoa hoặc bác
sĩ đa khoa được đào tạo ngắn hạn chuyên ngành nhi khoa.
+ Bác sĩ thực hiện công tác
chăm sóc sức khỏe trẻ em được đào tạo về chăm sóc và điều trị sơ sinh bệnh lý.
+ Số lượng điều dưỡng, hộ sinh
đáp ứng nhu cầu về chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh và trẻ em nhỏ, đặc biệt
ưu tiên các huyện có khó khăn về địa lý. Tạo điều kiện để hộ sinh, điều dưỡng ở
tuyến xã làm việc quay vòng ở cơ sở có giường bệnh nhằm góp phần nâng cao năng
lực chuyên môn và chất lượng dịch vụ.
3. Về đảm bảo
tài chính
- Tăng cường đầu tư từ ngân
sách địa phương nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu về chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ
sinh và trẻ nhỏ.
- Nguồn kinh phí hoạt động dựa
vào các nguồn vốn khác nhau: ngân sách địa phương và các nguồn lực xã hội hóa
khác (nếu có) cho các hoạt động chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.
4. Nâng cao
chất lượng báo cáo thống kê, giám sát, theo dõi và đánh giá
- Hoàn thiện hệ thống ghi chép,
thống kê và báo cáo tại các tuyến theo quy định.
- Cải thiện và phối hợp hệ thống
giám sát, theo dõi, đánh giá tiến độ triển khai các can thiệp hoạt động chăm
sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, sức khỏe sinh sản, đặc biệt là về làm mẹ an toàn
như: cấp cứu, hồi sức sản khoa; chăm sóc, cấp cứu, hồi sức sơ sinh; giám sát tử
vong mẹ và đáp ứng; chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ nhỏ; phối hợp các chương trình
Chăm sóc sức khỏe hiện đang triển khai.
- Ứng dụng công nghệ thông tin
thông qua hệ thống gửi, nhận văn bản điện tử, hệ thống thống kê, báo cáo của Bộ
Y tế và đẩy mạnh trong quản lý, triển khai, theo dõi, giám sát, đánh giá công
tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, sức khỏe sinh sản.
- Nâng cao chất lượng giám sát
tử vong mẹ và đáp ứng theo hướng chú trọng hơn vào thông tin phản hồi, cũng như
thực hiện khuyến nghị từ việc phân tích hồi cứu các trường hợp tử vong mẹ trên
địa bàn Tỉnh.
- Tăng cường giám sát hỗ trợ,
kiểm tra việc tuân thủ các quy trình, hướng dẫn chuyên môn, kỹ thuật về dự
phòng bệnh HIV, viêm gan B và giang mai lây truyền từ mẹ sang con tại các cơ sở
y tế, bao gồm cả các cơ sở y tế công lập và tư nhân.
- Cập nhật bộ chỉ số, công cụ
theo dõi, đánh giá về chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, sức khỏe sinh sản; nâng
cao năng lực thông qua hình thức tập huấn, đào tạo cho đội ngũ làm công tác thống
kê, báo cáo nhằm nâng cao chất lượng thông tin, dữ liệu thu thập.
5. Giải
pháp xã hội hóa, hợp tác liên ngành, hợp tác quốc tế
- Tăng cường sự phối hợp liên
ngành trong công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, sức khỏe sinh sản, đặc biệt
trong lĩnh vực truyền thông giáo dục sức khỏe.
- Xây dựng kế hoạch lồng ghép các
hoạt động chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, sức khỏe sinh sản vào các kế hoạch,
chương trình hành động của các ngành, đoàn thể địa phương.
- Huy động mạnh mẽ sự tham gia
của hệ thống y tế tư nhân, các tổ chức phi chính phủ và tổ chức hoạt động xã hội
khác đầu tư vào lĩnh vực chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, sức khỏe sinh sản.
V. TỔ CHỨC
THỰC HIỆN
1. Sở Y tế
- Chủ trì, phối hợp với các cơ
quan, đơn vị liên quan triển khai thực hiện Kế hoạch này trên địa bàn Tỉnh; báo
cáo kết quả thực hiện hằng năm và tổng kết giai đoạn về Ủy ban nhân dân Tỉnh.
- Tăng cường công tác đào tạo
nhân lực y tế: Đào tạo bác sĩ đa khoa, bác sĩ chuyên ngành sản, nhi; đào tạo
theo theo nhu cầu đối với từng tuyến; bảo đảm số lượng bác sĩ chuyên ngành sản,
phụ khoa, chuyên ngành nhi khoa.
- Theo dõi, giám sát việc tổ chức
thực hiện kế hoạch của các đơn vị liên quan, kịp thời tham mưu Ủy ban nhân dân
Tỉnh để chỉ đạo thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu đề ra.
2. Sở Tài chính: Hằng
năm, tham mưu Ủy ban nhân dân Tỉnh bố trí kinh phí thực hiện các hoạt động của
Kế hoạch theo khả năng cân đối ngân sách địa phương; tham gia kiểm tra việc sử
dụng kinh phí theo quy định.
3. Sở Kế hoạch và Đầu tư: phối
hợp với Sở Tài chính, Sở Y tế và các đơn vị liên quan huy động các nguồn vốn khác
để thực hiện hiệu quả các hoạt động của Kế hoạch.
4. Sở Thông tin và Truyền
thông: Định hướng các cơ quan báo chí và hệ thống truyền thông cơ sở trong
tỉnh thông tin, tuyên truyền về chăm sóc sức khỏe sinh sản, tập trung vào chăm
sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.
5. Đài Phát thanh và Truyền
hình, Báo Đồng Tháp, Cổng thông tin điện tử Tỉnh: Phối hợp với Sở Y tế và
các cơ quan, đơn vị có liên quan xây dựng nội dung truyền thông liên quan đến
chăm sóc sức khỏe sinh sản, tập trung vào chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh
và trẻ nhỏ trên các ấn phẩm, chuyên trang, chuyên mục, phóng sự, bản tin… theo
các hình thức phù hợp.
6. Bảo hiểm xã hội Tỉnh: thực
hiện thanh toán theo chế độ bảo hiểm y tế đối với các gói dịch vụ chăm sóc sức
khỏe bà mẹ, trẻ em và chăm sóc sức khỏe sinh sản theo quy định.
7. Đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam Tỉnh và các tổ chức thành viên
- Phối hợp tuyên truyền,
vận động đoàn viên, hội viên và người dân quan tâm thực hiện các hoạt động cải
thiện sức khỏe sinh sản, sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ gắn với thực hiện
các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước hiện đang triển khai thực hiện
trên địa bàn dân cư; phối hợp giám sát, phản biện xã hội những nội dung có liên
quan đến việc triển khai thực hiện Kế hoạch này.
- Hội Liên hiệp Phụ nữ Tỉnh: phối
hợp các đơn vị liên quan thực hiện lồng ghép các hoạt động chăm sóc sức khỏe bà
mẹ, trẻ em, sức khỏe sinh sản vào các kế hoạch, chương trình hành động của các
tổ chức Hội ở địa phương; hỗ trợ ngành y tế cho công tác quản lý đối tượng cần
chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, sức khỏe sinh sản tại địa phương.
- Liên đoàn Lao động Tỉnh: Định
hướng, chỉ đạo các cấp công đoàn tổ chức phổ biến các chế độ, chính sách của
Nhà nước liên quan đến công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản tập trung vào chăm
sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ; phối hợp ngành y tế tổ chức triển
khai các hoạt động truyền thông giáo dục kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản tập
trung vào chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.
8. Ủy ban nhân dân các huyện,
thành phố
- Chỉ đạo các cơ quan, đơn vị
liên quan tại địa phương tổ chức triển khai thực hiện các hoạt động chăm sóc sức
khỏe sinh sản, tập trung vào chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.
- Hỗ trợ, bổ sung nguồn lực của
địa phương cho các hoạt động chăm sóc sức khỏe sinh sản, tập trung vào chăm sóc
sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ trên địa bàn huyện, thành phố.
V. KINH
PHÍ THỰC HIỆN
- Thực hiện lồng ghép trong
kinh phí thực hiện các Kế hoạch khác có liên quan1,
kinh phí thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn
2022 - 2025 (Tiểu dự án: Cải thiện dinh dưỡng).
- Nguồn viện trợ và nguồn vốn
huy động hợp pháp khác.
Khi tiến hành thực hiện, Thủ trưởng
đơn vị chịu trách nhiệm chi, quyết toán kinh phí theo đúng chế độ quy định hiện
hành./.
Nơi nhận:
- Bộ Y tế;
- CT và các PCT/UBND Tỉnh;
- UBMTTQVN Tỉnh và các tổ chức thành viên;
- Các sở: YT, TC, KHĐT, TT&TT;
- Đài PT&TH, Báo ĐT, Cổng TTĐT Tỉnh;
- Bảo hiểm xã hội Tỉnh;
- UBND các huyện, thành phố;
- Lưu: VT, THVX (Trung).
|
TM. ỦY BAN NHÂN
DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Đoàn Tấn Bửu
|
1
Kế hoạch số 371/KH-UBND ngày 27/12/2021 của Ủy ban nhân dân Tỉnh thực hiện
Chương trình mục tiêu Y tế - Dân số giai đoạn 2021 - 2025 trên địa bàn tỉnh Đồng
Tháp; Kế hoạch số 359/KH-UBND ngày 21/12/2021 của Ủy ban nhân dân Tỉnh thực hiện
Chương trình mở rộng tầm soát, chẩn đoán, điều trị một số bệnh, tật trước sinh
và sơ sinh giai đoạn 2021-2025 và các Kế hoạch khác có liên quan