ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
Số: 2655/KH-UBND
|
Hải Dương, ngày
13 tháng 9 năm 2022
|
KẾ HOẠCH
PHÒNG, CHỐNG THIÊN TAI TỈNH HẢI DƯƠNG ĐẾN NĂM 2025
I. CĂN CỨ
PHÁP LÝ
- Luật Phòng, chống thiên tai
ngày 19/6/2013; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên
tai và Luật Đê điều ngày 17/6/2020;
- Luật Đê điều ngày 29/11/2006;
Luật Thủy lợi ngày 19/6/2017; Luật Đầu tư công ngày 13/6/2019;
- Luật Xây dựng ngày 18/6/2014;
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng ngày 17/6/2020;
- Luật Ngân sách nhà nước năm
2015;
- Nghị định số 66/2021/NĐ-CP
ngày 06/7/2021 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật
Phòng, chống thiên tai và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống
thiên tai và Luật Đê điều;
- Chỉ thị số 42-CT/TW ngày
24/3/2020 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối
với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai;
- Chỉ thị số 35/CT-TTg ngày
01/9/2020 của Thủ tướng Chính phủ về triển khai một số biện pháp cấp bách để chủ
động ứng phó thiên tai;
- Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày
18/6/2018 của Chính phủ về công tác phòng, chống thiên tai;
- Quyết định số 342/QĐ-TTg ngày
15/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ Ban hành Kế hoạch phòng, chống thiên tai Quốc
gia đến năm 2025;
- Quyết định số 18/2021/QĐ-TTg
ngày 22/4/2021 của Thủ tướng Chính phủ Quy định về dự báo, cảnh báo và truyền
tin thiên tai và cấp độ rủi ro thiên tai;
- Quyết định số 379/CT-TTg ngày
17/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt Chiến lược Quốc gia phòng,
chống thiên tai đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050;
- Quyết định số 553/QĐ-TTg ngày
06/4/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Nâng cao nhận thức cộng đồng
và Quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng, đến năm 2030”;
- Thông tư số
02/2021/TT-BNNPTNT ngày 07/6/2021 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hướng
dẫn xây dựng kế hoạch phòng, chống thiên tai các cấp ở địa phương.
II. MỤC
ĐÍCH, YÊU CẦU, QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG CHÂM CHỈ ĐẠO
1. Mục
đích, yêu cầu
1.1. Mục đích
- Xác định những nhiệm vụ chủ yếu
trong công tác phòng, chống thiên tai cần tập trung thực hiện trong giai đoạn
2021-2025 nhằm triển khai Kế hoạch phòng, chống thiên tai Quốc gia đến năm 2025
và Chiến lược quốc gia phòng, chống thiên tai đến năm 2030, tầm nhìn đến năm
2050 trên địa bàn tỉnh Hải Dương; nâng cao năng lực phòng, chống thiên tai
thích ứng với biến đổi khí hậu để chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại do
thiên tai gây ra.
- Công tác phòng, chống thiên
tai phải được tiến hành chủ động, thường xuyên, đồng thời ứng phó kịp thời để
giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản do thiên tai gây ra.
- Nâng cao nhận thức cộng đồng
trong quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng để phát huy ý thức tự giác, chủ
động phòng, chống thiên tai của toàn dân trên địa bàn tỉnh.
- Dựa trên cơ sở Kế hoạch
phòng, chống thiên tai này, địa phương, cơ quan, đơn vị trong tỉnh chủ động xây
dựng, rà soát, tổ chức thực hiện sát với tình hình thực tế nhằm xây dựng một xã
hội an toàn trước thiên tai.
1.2. Yêu cầu
- Hoàn thiện hệ thống các văn bản,
cơ chế, chính sách về phòng, chống thiên tai.
- Xác định rõ trách nhiệm của
các tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh trong hoạt động phòng, chống thiên tai
theo quy định của Pháp luật. Nâng cao năng lực phòng, chống thiên tai, nhất là
một số loại hình thiên tai chủ yếu thường xảy ra trong thời gian gần đây và có
khả năng xảy ra trong thời gian tới như áp thấp nhiệt đới, bão, lũ, ngập lụt, sạt
lở bờ sông, hạn hán, xâm nhập mặn... nâng cao năng lực xử lý tình huống, sự cố,
chỉ huy, điều hành tại chỗ để ứng phó thiên tai đạt hiệu quả của các cấp, các
ngành.
- Luôn quán triệt và thực hiện
có hiệu quả phương châm “bốn tại chỗ” (chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ,
phương tiện, vật tư tại chỗ và hậu cần tại chỗ), và nguyên tắc “ba sẵn sàng”
(phòng ngừa chủ động, ứng phó kịp thời, khắc phục khẩn trương và có hiệu quả).
- Tăng cường thông tin, tuyên
truyền, giáo dục, cung cấp kiến thức về phòng, chống thiên tai và tác động của
thiên tai đến an toàn tính mạng và tài sản của người dân trong tỉnh; thực hiện
cảnh báo, hướng dẫn các biện pháp phòng, tránh ứng phó thiên tai kịp thời đến cộng
đồng dân cư.
- Ứng dụng tiến bộ khoa học và
công nghệ, đặc biệt là công nghệ 4.0 phù hợp với công tác phòng, chống thiên
tai trong tình hình mới.
- Thu hút và sử dụng hiệu quả
các nguồn lực đầu tư, thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng, chống thiên tai gắn
với kế hoạch phát triển của các ngành, địa phương và phát triển kinh tế xã hội,
phát huy hiệu quả đầu tư; ưu tiên các giải pháp phi công trình, đặc biệt trong
việc nâng cao năng lực và nhận thức cho cộng đồng chủ động phòng, chống thiên
tai.
- Từng bước hoàn thiện hệ thống
cơ sở hạ tầng phòng, chống thiên tai thích ứng với biến đổi khí hậu, đồng bộ với
phát triển cơ sở hạ tầng khác, gắn với xây dựng nông thôn mới.
2. Quan điểm
và phương châm chỉ đạo
2.1. Quan điểm chỉ đạo
- Phòng, chống thiên tai là nhiệm
vụ của cả hệ thống chính trị, là trách nhiệm của người đứng đầu địa phương và của
toàn dân, toàn xã hội; đảm bảo thực hiện đúng các quy định của pháp luật về
phòng, chống giảm nhẹ thiên tai.
- Phòng, chống thiên tai thực
hiện theo hướng quản lý rủi ro tổng hợp theo lưu vực, liên vùng, liên ngành;
xây dựng các quy hoạch, kế hoạch, dự án đầu tư xây dựng công trình phải đánh
giá đầy đủ các tác động làm gia tăng rủi ro thiên tai.
- Phòng, chống thiên tai phải lấy
phòng ngừa là chính, thực hiện tốt phương châm "bốn tại chỗ", nguyên
tắc “ba sẵn sàng” gắn với xây dựng cộng đồng an toàn, nông thôn mới. Kết hợp giải
pháp công trình và phi công trình, theo hướng đa mục tiêu; khôi phục, tái thiết
sau thiên tai đảm bảo tính bền vững và yêu cầu xây dựng lại tốt hơn; tăng cường
ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ kết hợp với kế thừa những kinh nghiệm
truyền thống.
- Khuyến khích, tạo điều kiện
cho doanh nghiệp, người dân đầu tư nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ vào
lĩnh vực phòng, chống thiên tai.
2.2. Phương châm chỉ đạo
Các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn
thể, các ngành phải coi công tác phòng, chống thiên tai là nhiệm vụ trọng tâm,
đột xuất trong năm kế hoạch, tránh tư tưởng chủ quan, chuẩn bị chu đáo các mặt,
chủ động sẵn sàng đối phó với mọi tình huống thiên tai ác liệt nhất có thể xảy
ra theo phương châm “bốn tại chỗ”, nguyên tắc “ba sẵn sàng” để hạn chế đến mức
thấp nhất thiệt hại.
III. ĐẶC ĐIỂM
TỰ NHIÊN, DÂN SINH KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ CƠ SỞ HẠ TẦNG CỦA TỈNH
1. Đặc điểm
tự nhiên, dân sinh, kinh tế-xã hội
1.1. Đặc điểm tự nhiên
1.1.1. Vị trí địa lý: Diện tích
1.668,23 km² , được giới hạn bởi tọa độ địa lý 20°41’10” đến 21°14’20” vĩ độ Bắc
và 106°07’20” đến 106°36’35” kinh độ Đông. Có 12 đơn vị hành chính cấp huyện,
235 đơn vị hành chính cấp xã.
1.1.2. Đặc điểm địa hình, địa mạo:
Có địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, được chia thành 2 vùng chính:
+ Vùng đồi núi: Chiếm 11% diện
tích gồm 13 phường, xã của thành phố Chí Linh và 17 phường, xã của thị xã Kinh
Môn, đất đai phần lớn là đất đồi núi thấp, cao độ trung bình dưới 1.000 m.
+ Vùng đồng bằng: Chiếm 89% diện
tích tự nhiên, địa hình nghiêng và thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, độ cao
trung bình từ 1,5 - 2,0 m, phía Đông có một số vùng trũng xen lẫn vùng đất cao.
Đất đai chủ yếu do quá trình bồi đắp phù sa của hệ thống sông Thái Bình.
1.1.3. Khí hậu
Khí hậu đặc trưng là nhiệt đới
gió mùa; nhiệt độ trung bình giai đoạn 2016 - 2020 dao động từ 24,4 - 25,3°C với
mức biến động khoảng 0,5°C những tháng lạnh nhất nhiệt độ xuống còn 16 - 17°C.
Nhiệt độ cực tiểu trung bình tháng thấp nhất là 17,7 °C. Số giờ nắng trung bình
năm giai đoạn 2016 - 2020: 1.225 - 1.549 giờ; số giờ nắng thấp nhất rơi vào các
tháng mùa đông: 42,6 giờ; số giờ nắng cao nhất rơi vào các tháng mùa hè: 201,9
giờ.
- Lượng mưa: Tổng lượng mưa
trung bình năm giai đoạn 2016 - 2020 dao động từ 1.259 - 1.933mm. Số ngày mưa
trong năm vào khoảng 130 - 140 ngày.
- Độ ẩm: Độ ẩm trung bình năm
tương đối lớn, độ ẩm trung bình năm giai đoạn 2016 - 2020 dao động từ 82 - 85%,
cao hơn giai đoạn 2011 - 2015 (dao động từ 81 - 84%). Thời kỳ mùa mưa độ ẩm cao
đạt 91%, mùa khô độ ẩm giảm xuống có khi chỉ còn khoảng 75%.
- Gió: Hướng gió thịnh hành là
hướng Đông và Đông Bắc từ tháng 9 đến tháng 4 sang năm sau. Trong các tháng mùa
hè hướng gió thịnh hành là Nam và Đông Nam. Tốc độ gió bình quân trong năm đạt
2,4 m/s.
Lượng bốc hơi hàng năm tương đối
lớn. Tháng có lượng bốc hơi lớn nhất là tháng 6, 7 đạt trên dưới 100 mm/tháng.
Đây là thời kỳ nhiều nắng. Vào các tháng 8 và 9, lúc này mưa nhiều, độ ẩm cao,
lượng bốc hơi giảm xuống chỉ còn 78 mm/tháng.
1.1.4. Thủy văn
Địa hình tương đối bằng phẳng,
chủ yếu là đồng bằng với độ cao trung bình 3-4m so với mặt biển. Trên địa bàn tỉnh
có nhiều sông lớn như sông Thái Bình, sông Luộc, sông Kinh Thầy... hệ thống
sông suối trong tỉnh Hải Dương hầu hết đều đóng vai trò làm ranh giới hành
chính giữa các huyện với huyện trong và ngoài tỉnh và những con sông này đều bắt
nguồn từ bên ngoài ranh giới của tỉnh. Ngoài ra còn có hàng vạn ao, hồ, đầm có
tổng lượng dòng chảy qua tỉnh hàng năm trên 1 tỷ m3 nước.
1.2. Đặc điểm dân sinh - kinh tế
- xã hội
1.2.1.Đặc điểm dân sinh
- Dân số: Trung bình năm 2020
là 1.916.774 người, trong đó dân số thành thị chiếm 31,5%; dân số nam chiếm
49,5%. Năm 2020, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt 1.015.046 người, chiếm
52,96% tổng dân số trong đó nam chiếm 49,4%, còn lại 50,6% là nữ, chủ yếu tập
trung ở nông thôn chiếm 72,3% và thành thị chỉ chiếm 27,7%. Năm 2020, có tổng cộng
477.116 trẻ em, chiếm tỷ lệ 25,10 % dân số, trong đó có 224.245 trẻ em nam (53%
tổng số trẻ em), 224.245 trẻ em nữ (47% tổng số trẻ em). Ngoài ra, còn có
184.521 trẻ em dưới 6 tuổi.
- Dân tộc: Có 10 dân tộc, trong
đó dân tộc Kinh chiếm 99,74%, còn lại là các dân tộc thiểu số như Sán Dìu, Tày,
Nùng, Thái, Mông, Dao, Thổ...
- Tôn giáo: Có 3 tôn giáo gồm
Phật giáo, Công giáo và Tin lành với tổng số là 1.163 cơ sở thờ tự, 580 chức sắc,
nhà tu hành và trên 340.700 tín đồ, ngoài ra còn một số tổ chức, điểm nhóm tin
theo hiện tượng tôn giáo mới, chưa đăng ký hoạt động theo quy định.
- Tỷ lệ đói nghèo: Trong giai
đoạn 2016-2020 có: 40.631 hộ thoát nghèo, 1261 hộ tái nghèo, 7.696 hộ phát sinh
nghèo mới; 38.757 hộ thoát cận nghèo, 3.411 hộ tái cận nghèo, 20.056 hộ phát
sinh cận nghèo mới. Đến cuối năm 2020, toàn tỉnh có 4.642 hộ nghèo thuộc diện
chính sách bảo trợ xã hội; 11 hộ nghèo thuộc diện dân tộc thiểu số; không còn hộ
nghèo thuộc diện chính sách người có công với cách mạng.
1.2.2. Tình hình kinh tế, xã hội
- Nông, lâm nghiệp và thủy sản:
Tính đến 2020, tổng sản phẩm
ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản đóng góp khoảng 9,7% vào GRDP toàn tỉnh.
Tăng trưởng ngành nông, lâm, thủy sản đạt 6,5%/năm, tổng giá trị đạt mức 12.750
tỷ đồng, với các sản phẩm chính của từng ngành bao gồm: gạo, rau màu, vải, ổi,
na (trồng trọt); lợn, gia cầm (chăn nuôi); các loại cá: trắm, rô phi (nuôi trồng
thủy sản); và một số sản phẩm lâm nghiệp.
- Công nghiệp:
Tính đến 2020, tổng sản phẩm
ngành công nghiệp, xây dựng đóng góp 58,6% vào GRDP toàn tỉnh, trong đó ngành
công nghiệp chiếm 90%. Tăng trưởng công nghiệp chủ yếu đến từ ngành công nghiệp
chế biến, chế tạo với 84,4%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng với
13,9%. Còn lại là các sản phẩm từ khai khoáng, năng lượng và xử lý chất thải.
Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo gồm 6 ngành sản xuất chính: Công nghiệp điện,
điện tử; công nghiệp cơ khí, luyện kim; công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản;
công nghiệp dệt may, da giày; công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng; công nghiệp
hóa chất và hóa dược.
- Thương mại, dịch vụ:
Tổng giá trị sản phẩm của ngành
thương mại - dịch vụ trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2010 - 2020 có xu hướng tăng
trưởng bền vững với tốc độ tăng trưởng kép hàng năm đạt 12%. Tỷ trọng của ngành
trong cơ cấu kinh tế của tỉnh đạt 31,71% trong năm 2020, thương mại - dịch vụ
là ngành có đóng góp cao thứ hai, sau công nghiệp - xây dựng.
2. Đặc điểm
cơ sở hạ tầng
2.1. Hệ thống giao thông
- Đường bộ: Có 01 tuyến cao tốc
và 07 tuyến quốc lộ đi qua với tổng chiều dài 230 Km, được phân bố tương đối hợp
lý bởi các trục tuyến Bắc - Nam (QL37, QL38), trục tuyến Đông - Tây (QL18, QL5,
QL17B, cao tốc Hà Nội-Hải Phòng) do Trung ương quản lý; có 24 tuyến đường tỉnh
bao gồm: đường tỉnh, đường gom cao tốc, đường 62m, đường trục Bắc - Nam với tổng
chiều dài 487,4 Km. Đường huyện có 119 tuyến, với 463 Km; hệ thống đường giao
thông nông thôn gồm đường xã, đường thôn, xóm, đường nội đồng có chiều dài khoảng
13.525 km. Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 48 cây cầu vượt sông trong đó có 20 cầu
vượt sông do trung ương quản lý và 28 cầu vượt sông do địa phương quản lý.
- Đường sông: Có 20 tuyến đường
sông với tổng chiều dài 419km (Trung ương quản lý 14 tuyến sông với chiều dài
297 km; địa phương quản lý 06 tuyến sông với tổng chiều dài 122 km nằm trên hệ
thống kênh trục Bắc Hưng Hải); có 43 cảng thủy nội địa nằm trên các tuyến đường
thủy do trung ương quản lý; có 378 bến thủy nội địa bao gồm các bến thủy, bến
khách.
- Đường sắt: Có 02 tuyến đường
sắt Quốc gia và 01 tuyến đường sắt chuyên dùng (Tuyến đường sắt Hà Nội- Hải
Phòng, dài 46km; tuyến đường sắt Kép - Hạ Long, dài 9km; tuyến đường sắt chuyên
dùng Bến Tắm - Phả Lại, phục vụ vận chuyển cung cấp nhiên liệu cho Nhà máy nhiệt
điện Phả Lại).
2.2. Hệ thống công trình Thủy lợi
Toàn tỉnh có 1.245 trạm bơm, với
2.325 máy bơm các loại, tổng công suất bơm 4.153.730m3/h; có 68 hồ đập
trên địa bàn thành phố Chí Linh; có 10.465km kênh mương các loại; Hệ thống Bờ
kênh trục và cống dưới bờ kênh trục Bắc Hưng Hải: Chiều dài bờ kênh trục:
291,91 km; 369 cống các loại dưới bờ kênh trục; 840,25km bờ bao, bờ vùng nội đồng.
2.3. Hệ thống công trình đê điều
Hệ thống công trình đê điều khá
lớn gồm 19 tuyến đê với tổng chiều dài 373,286km, trong đó đê từ cấp III trở
lên 255,923km, 117,363km đê dưới cấp III; 85 tuyến kè, 11 vị trí bờ lở và 278 cống
dưới đê, 08 tuyến đê bối, dài 28,81km.
2.4. Hệ thống điện lưới: Có
19km đường dây 220kV với 02 trạm biến áp; 49,4 km đường dây 110kV với 18 trạm
biến áp và 41 máy biến áp. Hiện nay trên địa bàn tỉnh có hơn 2.314,32km đường
dây trung thế, 3.795 trạm/4.071 máy biến áp với tổng công suất 1.875,250kVA. Lưới
điện hạ áp có 4.721,54km đường dây hạ áp; trong đó đường dây trần là 830,91km
chiếm 17,59%; cáp bọc là 3.841,75km chiếm 81,83%; cáp ngầm là 49,06km, chiếm
1,04%.
2.5. Hệ thống thông tin liên lạc,
phát thanh, truyền hình
- Hệ thống thông tin liên lạc:
100% các sở, ban, ngành, UBND cấp huyện và cấp xã đã xây dựng mạng nội bộ (LAN)
kết nối các phòng ban, đơn vị; tỷ lệ máy tính/cán bộ công chức đạt 100%. Hiện
nay trên toàn tỉnh 01 đài phát thanh và truyền hình tỉnh đặt tại thành phố Hải
Dương; có 12 đài phát thanh cấp huyện đặt tại trung các huyện, thị xã, thành phố
235/235 xã phường có đài phát thanh cấp xã.
- Viễn thông: Tổng số thuê bao
Internet băng thông rộng là 1.520.182 thuê bao, trong đó số thuê bao internet
băng thông rộng cố định đạt 363.129 thuê bao, số thuê bao internet băng rộng di
động ước đạt 1.157.053 thuê bao. Hiện nay toàn tỉnh Hải Dương ước có 1.605.452
điện thoại Smartphone/1.959.408 dân (đạt 82% dân số dùng Smartphone). Toàn tỉnh
hiện có 03 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông cố định trên địa bàn, có 04
doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông di động với trên 3.000 trạm thu phát
sóng di động (BTS).
- Bưu chính: Mạng Bưu cục cơ bản
bao gồm: Bưu cục cấp I: 01 bưu cục nằm ở thành phố Hải Dương; Bưu cục cấp II:
11 bưu cục phân bố tại các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh; Bưu cục
cấp III: 35 bưu cục. Bên cạnh đó, trên địa bàn toàn tỉnh có 192 điểm bưu điện -
Văn hóa xã; 11 thùng thư công cộng, đại lý; Bưu chính Viettel có 35 điểm phục vụ,
trong đó 14 bưu cục, 21 điểm phục vụ khác; 89 điểm phục vụ thuộc các chi nhánh,
văn phòng đại diện của các doanh nghiệp bưu chính khác. Tổng số thuê bao điện
thoại ước đạt 1.749.244 thuê bao, trong đó có 1.727.807 thuê bao di động và
21.437 thuê bao cố định).
2.6. Hệ thống tiêu thoát nước,
cấp nước sạch, xử lý môi trường
- Hệ thống thoát nước: Hệ thống
thoát nước mưa tại các khu vực đô thị mới đã có hệ thống riêng, các khu đô thị
cũ hầu như còn sử dụng hệ thống thoát nước chung.
- Công trình nước sạch: Trên địa
bàn tỉnh có 84 công trình cấp nước sạch tập trung. Tỷ lệ dân số đô thị được
cung cấp nước sạch qua hệ thống cấp nước tập trung hiện nay đạt 99,8%; tỉ lệ hộ
được sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh là 99,8%.
- Xử lý môi trường:
Hiện trạng thu gom chất thải:
Theo số liệu thống kê, tổng số đơn vị thu gom, vận chuyển xử lý rác thải sinh
hoạt trên địa bàn tỉnh là 1.181 đơn vị, trong đó số tổ đội thu gom là 1.149 tổ,
đội; 21 Hợp tác xã và 11 Công ty, trong đó một số công ty thực hiện thu gom cả
khu vực đô thị và khu vực nông thôn; 100% xã trên địa bàn tỉnh đã thành lập được
các tổ, đội thu gom rác thải.
Hiện trạng xử lý chất thải:
Trên địa bàn tỉnh hiện nay phương pháp chôn lấp và đốt rác thải đã và đang duy
trì thực hiện. Phương pháp chôn lấp đã được áp dụng từ lâu và áp dụng phổ biến
tại khu vực nông thôn. Hiện tại, trên địa bàn tỉnh có 03 Nhà máy xử lý rác thải
với công suất thiết kế 498 tấn/ngày đêm.
Công trình xử lý nước thải:
Trong 03 đô thị lớn của tỉnh là thành phố Hải Dương, thành phố Chí linh và thị
xã Kinh Môn thì chỉ thành phố Hải Dương có nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt với
công suất thiết kế 13.000m³/ngày đêm.
2.7. Hệ thống trường học, bệnh
viện, khu công nghiệp
- Cơ sở giáo dục đào tạo: Toàn
tỉnh hiện có 1.708 cơ sở giáo dục với 24.028 lớp và 461.510 học sinh, trong đó
có 314 trường mầm non, 244 trường tiểu học, 241 trường trung học cơ sở, 11 trường
trung học và trung học cơ sở, 55 trường trung học phổ thông, 01 trung tâm Giáo
dục Thường xuyên - Ngoại ngữ, Tin học cấp tỉnh và 12 trung tâm Giáo dục nghề
nghiệp-Giáo dục thường xuyên cấp huyện, 03 trường Trung cấp, 11 trường Cao đẳng,
05 trường Đại học; 100% xã, phường, thị trấn có trung tâm học tập cộng đồng đã
cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của Nhân dân.
- Cơ sở y tế: Hiện nay cơ cấu mạng
lưới y tế công lập của tỉnh là 27 đơn vị đầu mối: 02 chi cục (Chi cục Dân số kế
hoạch hóa gia đình; Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm); 03 trung tâm (Trung tâm
Kiểm nghiệm Thuốc MP-TP; Trung tâm Kiểm soát bệnh tật, Trung tâm Pháp Y); 10 bệnh
viện tuyến tỉnh (01 Bệnh viện đa khoa; 09 bệnh viện chuyên khoa); Tuyến huyện
12 trung tâm y tế (12 huyện, thành phố, thị xã); Tuyến xã 264 trạm y tế và 2 cơ
sở y tế Ngành thuộc quản lý của Bộ Y Tế và Bộ Quốc Phòng là Trường Cao đẳng Y tế
và Bệnh viện Quân Y 7.
Hệ thống y tế ngoài công lập:
Tính đến nay toàn tỉnh đã có 1.528 cơ sở hành nghề y, dược tư nhân có giấy phép
hoạt động bao gồm: 01 bệnh viện tư nhân, 38 phòng khám đa khoa, 260 phòng khám
chuyên khoa, 225 phòng chẩn trị y học cổ truyền, 191 cơ sở dịch vụ y tế; 28 cơ
sở (28 công ty) bán buôn thuốc, nguyên liệu làm thuốc, 175 nhà thuốc, 681 quầy
thuốc, 37 đại lý bán thuốc và 06 cơ sở bán lẻ dược liệu. Tổng số giường bệnh hiện
nay toàn tỉnh là 6.992 giường trong đó công lập là 5.770 giường, ngoài công lập
100 giường.
- Khu công nghiệp, cụm công
nghiệp: Đến năm 2020, tỉnh đã quy hoạch 18 khu công nghiệp và 03 hợp phần mở rộng,
trong đó 10 khu công nghiệp và 01 hợp phần mở rộng đã đi vào hoạt động. Tổng vốn
đầu tự hiện đạt 5,6 tỷ USD, tạo việc làm cho trên 108.000 lao động. Diện tích
khu công nghiệp được quy hoạch năm 2020 là 3.517 ha; tỷ lệ lấp đầy bình quân
các KCN đạt khoảng 83% trên diện tích đất công nghiệp được bàn giao.
+ Cụm công nghiệp: Đến nay,
trên địa bàn tỉnh có 58 CCN đã được thành lập, với tổng diện tích là
2.942,61ha; trong đó: 32 CCN đã có dự án đi vào hoạt động thu hút trên 400 dự
án đầu tư; 26 CCN đã được thành lập và gia cho chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ
thuật, với tổng diện tích đất tự nhiên là khoảng gần 1.500ha.
+ Thương mại: Tính đến nay, trên
địa bàn tỉnh có 188 chợ trong đó có 03 chợ đạt quy mô chợ hạng 1 và chợ đầu mối
(tương đương chợ hạng 1); còn lại chủ yếu là chợ hạng 2 (20 chợ) và chợ hạng 3
(165 chợ); có 03 trung tâm thương mại; trên 36 cơ sở hoạt động kinh doanh theo
mô hình siêu thị, trong đó có 8 cơ sở treo biển hiệu siêu thị, được phân hạng
và nhiều cửa hàng tiện ích hoạt động như mô hình siêu thị mini tại các khu dân
cư và các tuyến phố. Hải Dương hiện có 180 doanh nghiệp tham gia kinh doanh
xăng dầu, trong đó có 01 doanh nghiệp đầu mối kinh doanh xăng dầu, 02 đơn vị là
chi nhánh trực thuộc doanh nghiệp đầu mối kinh doanh xăng dầu; 06 thương nhân
phân phối xăng dầu; 01 đơn vị quản lý kho dự trữ, trung chuyển xăng dầu và 171
doanh nghiệp bán lẻ xăng dầu. Hệ thống bán lẻ xăng dầu gồm 266 cửa hàng, trong
đó 250 cửa hàng trên đất liền và 16 phao nổi trên sông.
2.8. Hệ thống nhà ở, chung cư,
nhà văn hóa, các khu nghỉ dưỡng, khách sạn, khu di tích lịch sử
- Nhà ở, chung cư, nhà ở riêng
lẻ, hội trường, nhà văn hóa… với tổng diện tích xây dựng trong hiện nay khoảng
4 triệu m2. Hiện nay các xã, phường, thị trấn đến thôn, khu dân cư đều
có các nhà văn hóa và một số các trụ sở khác có thể huy động làm các điểm sơ
tán dân khi có tình huống thiên tai khẩn cấp.
Hạ tầng văn hóa: Cấp tỉnh có
Trung tâm văn hoá Xứ Đông; Trung tâm Văn hóa Nghệ thuật, Nhà triển lãm; Trung
tâm Phát hành phim và Chiếu bóng; Thư viện; Bảo tàng; Nhà hát Chèo; Nhà thi đấu;
Trung tâm Đào tạo, Huấn luyện và Thi đấu thể thao; cấp huyện có 12 Trung tâm
Văn hóa, Thông tin - Thể thao; 12 thư viện; 04 rạp chiếu phim; 04 Nhà truyền thống;
01 Nhà thiếu nhi; 09 sân vận động trung tâm; nhà tập và thi đấu TDTT đơn giản;
12 bể bơi thông minh đặt tại các Trung tâm Văn hóa, Thông tin -Thể thao, Trung
tâm Văn hóa, Thể thao huyện, thị xã, thành phố; cấp xã có 235 nhà văn hóa xã,
phường, thị trấn; 30 thư viện; 01 nhà truyền thống; 215 sân vận động; thôn, khu
dân cư: có 1.484 nhà văn hóa thôn khu dân cư, 515 sân thể thao (diện tích từ
1.000-2.000m2).
- Các khu nghỉ dưỡng, khách sạn,
lưu trú: Đến năm 2020, trên địa bàn toàn tỉnh có trên 162 cơ sở lưu trú, với gần
5.000 phòng nghỉ, trong đó có 01 khách sạn hạng 4 sao, 04 khách sạn hạng 3 sao,
13 khách sạn hạng 2 sao, 6 khách sạn hạng 1 sao; 21 cơ sở lưu trú đủ điều kiện
phục vụ khách du lịch.
- Hệ thống di tích lịch sử: Hiện
nay tỉnh Hải Dương có 3.199 di tích các loại, trong đó có 04 di tích, quần thể
di tích quốc gia đặc biệt, 142 di tích quốc gia, 244 di tích cấp tỉnh.
IV. HIỆN TRẠNG
CÔNG TÁC PHÕNG, CHỐNG THIÊN TAI
1. Hệ thống
văn bản, chính sách liên quan đến phòng, chống thiên tai
Hàng năm, thực hiện các quy định
của Trung ương, căn cứ đặc điểm, tình hình của tỉnh, Tỉnh ủy, UBND tỉnh ban
hành các Nghị quyết, Chỉ thị, Văn bản để chỉ đạo về công tác PCTT&TKCN,
trong đó yêu cầu các cấp các ngành trong tỉnh phải đặc biệt quan tâm, tăng cường
công tác PCTT&TKCN.
2. Hệ thống
chỉ huy PCTT&TKCN các cấp và quy chế phối hợp
2.1. Tổ chức bộ máy của Ban Chỉ
huy PCTT&TKCN
2.1.1. Cấp tỉnh
Ban Chỉ huy PCTT&TKCN tỉnh
được thành lập gồm các thành viên Ban Chỉ huy PCTT&TKCN tỉnh và bộ máy giúp
việc để giúp UBND tỉnh chỉ huy, điều hành hoạt động phòng, chống thiên tai, tìm
kiếm cứu nạn trên địa bàn tỉnh. Ban Chỉ huy PCTT&TKCN tỉnh có con dấu, được
cấp kinh phí, mở tài khoản để hoạt động.
(Chi tiết theo Quyết định số
3121/QĐ-UBND ngày 26/10/2021 của UBND tỉnh Hải Dương về việc Thành lập Ban Chỉ
huy PCTT&TKCN tỉnh Hải Dương).
2.1.2. Cấp huyện
Ban Chỉ huy PCTT&TKCN cấp
huyện do Chủ tịch UBND cấp huyện thành lập, giúp UBND cấp huyện trong việc kiểm
tra, đôn đốc, chỉ huy điều hành công tác PCTT&TKCN tại địa phương. Ban Chỉ
huy PCTT&TKCN cấp huyện có con dấu, tài khoản và được cấp kinh phí để hoạt
động.
- Thành viên của Ban Chỉ huy
PCTT&TKCN cấp huyện gồm: Chủ tịch UBND làm Trưởng ban; Phó Chủ tịch UBND
làm Phó Trưởng ban Thường trực; Trưởng phòng hoặc thủ trưởng cơ quan được giao
nhiệm vụ quản lý nhà nước về phòng, chống thiên tai, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy
Quân sự cấp huyện và Trưởng Công an cấp huyện làm Phó Trưởng ban; Các ủy viên
là cấp trưởng hoặc đại diện lãnh đạo các phòng và cơ quan, đơn vị có liên quan
đến công tác PCTT&TKCN của địa phương; lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc, Hội Phụ nữ,
Chữ thập đỏ, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và các tổ chức đoàn thể xã hội
cấp huyện tham gia Ban Chỉ huy PCTT&TKCN.
- Văn Phòng Thường trực Ban Chỉ
huy PCTT&TKCN cấp huyện: Thành phố Chí Linh, Văn phòng HĐND-UBND thành phố
là Văn phòng Thường trực; Thành phố Hải Dương, phòng Kinh tế là Văn phòng Thường
trực; 5/12 huyện Phòng Nông nghiệp và PTNT là Văn phòng Thường trực (Thanh Miện,
Ninh Giang, Tứ Kỳ, Gia Lộc và Bình Giang); 5/12 huyện Hạt Quản lý đê là Văn
phòng Thường trực (Cẩm Giàng, Nam Sách, Thanh Hà, Kinh Môn và Kim Thành).
2.1.3. Cấp xã
Ban Chỉ huy PCTT&TKCN cấp
xã do Chủ tịch UBND cấp xã thành lập, tham mưu giúp UBND cấp xã trong việc kiểm
tra, đôn đốc, chỉ huy, điều hành công tác PCTT&TKCN trong phạm vi địa
phương.
- Thành viên của Ban Chỉ huy
PCTT&TKCN cấp xã gồm: Chủ tịch UBND cấp xã làm Trưởng ban; một Phó Chủ tịch
UBND cấp xã làm Phó Trưởng ban Thường trực; Trưởng Công an xã làm Phó Trưởng
ban và Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự xã làm Phó Trưởng ban phụ trách cứu hộ,
cứu nạn và lực lượng xung kích phòng, chống thiên tai cấp xã; các ủy viên là
công chức cấp xã và trưởng các tổ chức chính trị, đoàn thể cấp xã; công chức xã
làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về phòng, chống thiên tai kiêm Ủy viên Thường trực
Ban Chỉ huy PCTT&TKCN.
2.2. Nguồn nhân lực, năng lực của
lực lượng chuyên trách, kiêm nhiệm phòng, chống thiên tai của cơ quan Thường trực
phòng, chống thiên tai các cấp
Khi thiên tai xảy ra, ngoài lực
lượng chỉ huy tổ chức thực hiện công tác phòng, chống thiên tai trên địa bàn tỉnh
còn có các lực lượng khác: Lực lượng trực tiếp ứng phó giờ đầu là lực lượng
xung kích phòng, chống thiên tai tại chỗ với nòng cốt là dân quân tự vệ, thanh
niên tình nguyện và các lực lượng khác của cấp xã, cấp huyện. Tùy theo tình
hình diễn biến và mức độ ảnh hưởng, thiệt hại của thiên tai, Ban Chỉ huy
PCTT&TKCN tỉnh quyết định việc điều động và phân công, bố trí lực lượng để
chi viện cho các địa phương theo yêu cầu.
- Lực lượng quân đội: Bao gồm lực
lượng Thường trực của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh và lực lượng tăng cường ứng cứu của
Bộ Quốc phòng, Quân khu 3: 2.211 đồng chí (trong đó lực lượng Thường trực Bộ Chỉ
huy Quân sự tỉnh: 481 đồng chí; lực lượng quân đội của Bộ Quốc phòng, Quân khu
3 tăng cường ứng cứu do Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh chủ trì tổ chức hiệp đồng: 1730
đồng chí).
- Lực lượng công an: Bao gồm
công an tỉnh, huyện, thành phố, thị xã; nòng cốt là Phòng cảnh sát Phòng cháy,
chữa cháy và cứu hộ cứu nạn, tổng số lực lượng công an tham gia công tác phòng,
chống thiên tai khoảng 1.800 người (Công an các huyện, thành phố, thị xã: 1.200
người; Công an tỉnh và các lực lượng khác đóng trên địa bàn: 600 người) và lực
lượng Công an xã, phường, thị trấn.
- Lực lượng xung kích phòng chống
thiên tai: Hiện nay trên địa bàn tỉnh Hải Dương đã thành lập được 235/235 Đội
xung kích phòng, chống thiên tai cấp xã với tổng số thành viên là 29.649 người.
- Lực lượng tuần tra canh gác
đê: Mỗi điếm canh đê thành lập 01 đội, quân số từ 12 ÷18 người/đội; Lực lượng cắm
cừ đào mò, các huyện đều tổ chức thành lập, mỗi huyện từ 1 ÷ 3 đội, nhiệm vụ
chính là xử lý các sự cố đê điều, thủy lợi.
- Ngoài các lực lượng chính nêu
trên, trong trường hợp có tình huống thiên tai khẩn cấp, Ban Chỉ huy
PCTT&TKCN các cấp sẵn sàng phương án huy động các lực lượng khác tại địa
phương, đơn vị mình (Lực lượng có thể huy động khoảng 72.112 người; Lực lượng
của Công ty TNHH một thành viên khai thác công trình thủy lợi tỉnh Hải Dương
1.597 người; Lực lượng của Công ty TNHH một thành viên khai thác công trình thủy
lợi Bắc Hưng Hải: 121 người; Lực lượng cán bộ chuyên môn ngành nông nghiệp: 610
người).
2.3. Cơ sở vật chất, trang thiết
bị tại Văn phòng Thường trực Ban Chỉ huy PCTT&TKCN cấp tỉnh và cấp huyện
2.3.1. Văn phòng Thường trực
Ban Chỉ huy PCTT&TKCN tỉnh
Trong những năm qua, Ban Chỉ
huy PCTT&TKCN tỉnh đang thực hiện được một số nội dung nâng cao năng lực,
trang thiết bị và hoàn thiện thể chế của Văn phòng Thường trực như: Máy đo độ
sâu (12), máy toàn đạc điện tử (01), máy flycam (01), thiết bị đo mực nước tự động
(01), kết nối dữ liệu đo mưa tự động của 5 trạm do Đài Khí tượng Thủy văn quản
lý, lắp đặt và quản lý 10 hệ thống camera giám sát các trọng điểm công trình đê
điều trên địa bàn tỉnh... và đã thực hiện mua mới bàn ghế phòng họp, phòng trực
ban văn phòng, thay thế các loại bản đồ phục vụ công tác phòng, chống thiên
tai, máy tính (02), máy chiếu (01); Camera, loa phục vụ họp trực tuyến, chủ động
thực hiện việc kết nối trực tuyến với Văn phòng Thường trực Ban Chỉ đạo quốc
gia về phòng, chống thiên tai...
3.2. Văn phòng Thường trực Ban
Chỉ huy PCTT&TKCN cấp huyện
Ban Chỉ huy PCTT&TKCN các
huyện, thành phố, thị xã chủ động thực hiện nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết
bị tại Văn phòng Thường trực Ban Chỉ huy PCTT&TKCN cấp huyện phù hợp với
tình hình tại địa phương, đảm bảo thực hiện việc kết nối trực tuyến với Văn
phòng Thường trực Ban Chỉ huy PCTT&TKCN tỉnh.
2.4. Quy định về phân công nhiệm
vụ các thành viên, quy chế phối hợp giữa các cơ quan liên quan
- Ban Chỉ huy PCTT&TKCN tỉnh
hoạt động theo Quy chế được ban hành theo tại Quyết định số 31/QĐ-PCTT&TKCN
ngày 09/4/2021 của Ban Chỉ huy PCTT&TKCN tỉnh.
- Sở Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn (Cơ quan thường trực phòng, chống thiên tai) tiếp tục phối hợp
với Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh (Tiểu ban Tìm kiếm cứu nạn) theo Quy chế số
2877/QCPH-QS-NN ngày 23/10/2017 về việc phối hợp giữa Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh với
Sở Nông nghiệp & PTNT trong hoạt động phòng, chống thiên tai ở cơ sở.
- Quy chế phối hợp giữa Công ty
TNHH Một thành viên KTCTTL Bắc Hưng Hải với Công ty Khai thác công trình thủy lợi
các tỉnh, các cấp chính quyền và cơ quan chuyên môn trong hệ thống công trình
thủy lợi Bắc Hưng Hải (Số 541/QCPH-BHH ngày 27/11/2017): Trao đổi thông tin điều
hành hệ thống, thực hiện quy hoạch, tổng kết quản lý khai thác hệ thống công
trình thủy lợi, điều hành hệ thống chống hạn phục vụ sản xuất, phòng chống
thiên tai và đảm bảo an toàn công trình thủy lợi.
3. Công tác
dự báo, cảnh báo sớm
- Đài Khí tượng thủy văn tỉnh
xây dựng, tổ chức thực hiện phương án đảm bảo thông tin dự báo, cảnh báo bão,
mưa, lũ trên địa bàn tỉnh; thường xuyên cập nhật thông tin về diễn biến thời tiết
thủy văn của Trung tâm dự báo Khí tượng thủy văn trung ương, các đài Khí tượng
khu vực, tổng hợp phát hành các bản tin thông báo, dự báo, cảnh báo về mưa, lũ,
ATNĐ - bão trên địa bàn toàn tỉnh. Dự báo lũ trên sông Thái Bình tại trạm thủy
văn Phả Lại, thành phố Chí Linh; trên sông Luộc tại Bến Trại, huyện Thanh Miện.
Yêu cầu dự báo phải chính xác, kịp thời, có chất lượng cao.
- Phối hợp đồng bộ, chặt chẽ với
Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh chi tiết hóa bản tin dự báo, cảnh báo thiên
tai. Tăng cường dự báo, nhận định tình hình nắng nóng, hạn hán, xâm nhập mặn,
rét đậm, rét hại, dông lốc, sét... thường xuyên cung cấp cho các cơ quan liên
quan và địa phương để phục vụ chỉ đạo phòng, chống thiên tai.
4. Phương
tiện, vật tư, trang thiết bị phục vụ phòng, chống thiên tai
4.1. Về vật tư, phương tiện,
trang thiết bị
Hàng năm Ban Chỉ huy
PCTT&TKCN các cấp tổ chức kiểm kê số lượng, chất lượng các loại vật tư,
phương tiện dự trữ chuyên dùng để trên địa bàn; Kiểm tra, sửa chữa các lối ra
vào các kho, bãi để vật tư, sẵn sàng huy động vật tư bất cứ lúc nào khi có sự cố
đê điều xảy ra.
- Vật tư chuyên dùng phòng, chống
thiên tai gồm các loại vật tư như đá hộc, đá dăm, cát vàng, vải lọc, rọ thép,
báo tải, bao ni lon, nhà bạt, bạt chống sóng, thuyền composit...
- Vật tư trong dân: Với phương
châm "bốn tại chỗ" các địa phương cấp huyện, xã chủ động huy động
phương tiện, trang thiết bị của địa phương để tham gia ứng phó (bao gồm của cá
nhân, cơ quan, đơn vị đóng trên địa bàn), số lượng chủng loại từng loại trang
thiết bị được thể hiện trong phương án ứng phó của địa phương.
- Về phương tiện, thiết bị
chuyên dùng (gồm xuồng máy, ô tô, máy phát điện, máy cưa..., phương tiện, thiết
bị trong các tổ chức, doanh nghiệp và trong dân), Ban Chỉ huy cấp huyện, cấp
xã; Sở Kế hoạch và Đầu tư nắm bắt, thống kê để huy động khi có yêu cầu.
(Chi
tiết Phụ lục số 01; 02; 03 kèm theo)
4.2. Về Thông tin liên lạc
Sở Thông tin và Truyền thông
xây dựng kế hoạch, phương án đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt trong mọi
tình huống, đặc biệt khi có bão; xây dựng phương án dự phòng đảm bảo thông tin
liên lạc cho tình huống xấu nhất có thể xảy ra.
Các sở, ban, ngành, đoàn thể của
tỉnh, Ban Chỉ huy PCTT&TKCN các cấp tăng cường, chủ động phương án kết nối,
chỉ đạo trực tuyến và ứng dụng công nghệ thông tin (email, phần mềm, mạng xã hội
facebook, zalo, viber…) phục vụ công tác chỉ đạo, chỉ huy điều hành ứng phó và
thông tin về thiên tai. Tiếp tục triển khai đưa vào sử dụng việc cấp thông tin
phòng, chống thiên tai qua dịch vụ tin nhắn SMS.
Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh,
Báo Hải Dương và các cơ quan Thông tấn, Báo chí trên địa bàn tỉnh, Đài phát thanh
các huyện, thành phố, thị xã thực hiện việc phát các bản tin dự báo, cảnh báo sớm
về thiên tai trên các phương tiện thông tin đại chúng để các cấp chính quyền,
người dân biết để chủ động phòng, tránh, ứng phó.
- Phương án sử dụng hệ thống
thông tin liên lạc hiện có qua các công ty viễn thông.
Khi có tình huống thiên tai xảy
ra ảnh hưởng tới hệ thống thông tin liên lạc, Sở Thông tin truyền thông phải
ban hành Công điện yêu cầu các doanh nghiệp, đơn vị hoạt động trong lĩnh vực
thông tin truyền thông sẵn sàng chủ động phối kết hợp để đảm bảo thông tin,
liên lạc được thông suốt trong mọi tình huống.
Công tác chỉ đạo điều hành được
sử dụng chủ yếu bằng hệ thống viễn thông di động vệ tinh (IMMARSAT) chuyên dùng
đã được cấp cho Viễn thông Hải Dương quản lý. Viễn thông Hải Dương có trách nhiệm
triển khai hệ thống IMMARSAT theo yêu cầu của Ban Chỉ huy PCTT&TKCN tỉnh, Sở
Thông tin truyền thông đảm bảo thông tin liên lạc trong mọi tình huống thiên
tai theo quy định của Pháp luật.
- Phương án đặc biệt khi xảy ra
sự cố mất điện, mạng thông tin liên lạc bị gián đoạn: Sử dụng thông tin liên lạc
qua vệ tinh (máy do VNPT đang quản lý để phục vụ công tác chỉ đạo điều hành).
Trong trường hợp toàn bộ hệ thống
thông tin liên lạc trong tỉnh bị sự cố không thể khắc phục buộc phải sử dụng hệ
thống thông tin liên lạc ở tỉnh khác, Sở Thông tin truyền thông phải báo cáo
ngay Ban Chỉ huy PCTT&TKCN tỉnh để Ban Chỉ huy PCTT&TKCN tỉnh báo cáo
Ban Chỉ đạo quốc gia về phòng, chống thiên tai điều động xe ôtô thông tin di động
từ địa bàn tỉnh, thành phố gần nhất đến để đảm bảo kết nối thông tin liên lạc
trong chỉ huy, ứng phó với thiên tai.
4.3. Về hậu cần
- Bố trí hậu cần của nhà nước:
Đảm bảo dự trữ số lượng các
hàng hóa thiết yếu như lương thực, thực phẩm, nhiên liệu… phục vụ công tác
phòng, chống thiên tai, không để tình trạng khan hiếm hàng hóa xảy ra, trên địa
bàn tỉnh.
Chủ động chuẩn bị nguồn hàng dự
trữ đối với các mặt hàng thiết yếu như: Xăng, dầu hỏa, muối ăn, mì ăn liền, nước
sạch, lương thực, vải mưa, quần áo mưa… để khi có tình huống xấu xảy ra, kịp thời
sử dụng cho công tác ứng phó với tình huống thiên tai.
Với kịch bản thiên tai xảy ra
làm cô lập một bộ phận dân cư dự kiến khoảng 10.000 hộ (tương đương khoảng
40.000 người), lượng hàng dự trữ đảm bảo cung cấp đủ cho từ 02 đến 03 ngày.
Việc dự trữ thuốc chữa bệnh,
các thiết bị cấp cứu người bị nạn… giao cho Sở Y tế phụ trách.
Sở Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn chủ động chỉ đạo các đơn vị dự phòng các loại giống cây trồng, gia
súc, gia cầm, vật tư nông nghiệp để khôi phục sản xuất sau thiên tai.
- Dự trữ hậu cần của Nhân dân:
Tăng cường công tác tuyên truyền
giáo dục cộng đồng để Nhân dân nhận thức rõ tính chất quan trọng và phức tạp của
công tác phòng, chống thiên tai, xác định phòng, chống thiên tai là trách nhiệm
của toàn dân, mọi người dân tự ý thức được trách nhiệm của mình và tự giác tham
gia đóng góp sức người, sức của nhằm phát huy sức mạnh của cả cộng đồng cho sự
nghiệp phòng, chống giảm nhẹ thiên tai. Thông tin kịp thời về tình hình thời tiết,
thủy văn, kiến thức phòng tránh thiên tai để nâng cao nhận thức của cộng đồng về
khả năng tự phòng tránh, tự cứu mình, phát huy tinh thần tương thân tương ái
trong khó khăn do thiên tai gây ra.
Ban Chỉ huy PCTT&TKCN các
huyện, thành phố, thị xã, các cấp, các ngành trong tỉnh tuyên truyền tới người
dân, có phương án hướng dẫn Nhân dân tự dự trữ lương thực, thực phẩm, thuốc chữa
bệnh… để chủ động tự cứu mình khi Nhà nước chưa kịp cứu trợ.
5. Công tác
ứng phó thiên tai và tìm kiếm cứu nạn
Thực hiện các quy định của pháp
luật, chỉ đạo của Chính phủ và các Bộ, Ngành Trung ương, trong thời gian qua,
UBND tỉnh Hải Dương đã chỉ đạo các Sở, Ngành của tỉnh tham mưu thực hiện nhiều
giải pháp trong công tác ứng phó sự cố thiên tai và tìm kiếm cứu nạn. Trong đó
đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, các Chỉ thị, Quyết định, Kế hoạch,
Phương án…về công tác thực hiện pháp luật về ứng phó sự cố thiên tai và tìm kiếm
cứu nạn.
- Trong những năm qua công tác ứng
phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn được xác định là nhiệm vụ chính trị
quan trọng của các cấp chính quyền, được Tỉnh ủy, UBND tỉnh quan tâm lãnh đạo,
chỉ đạo sâu sát và coi đây là nhiệm vụ thường xuyên, đột xuất của các cấp chính
quyền, cơ quan, đơn vị.
- Hằng năm Ban Chỉ huy
PCTT&TKCN tỉnh đã thực hiện việc quán triệt các chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh
Hải Dương đối với công tác ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn đến các
cấp ủy, chính quyền. Đồng thời phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa
phương, các ban, ngành, các tổ chức chính trị xã hội tuyên truyền sâu rộng
trong Nhân dân có nhận thức đầy đủ về nhiệm vụ phòng, chống thiên tai, tìm kiếm
cứu nạn.
- Căn cứ vào tình hình thực tiễn
và diễn biến mưa, bão, lũ, thiên tai, hàng năm Ban Chỉ huy PCTT&TKCN tỉnh,
Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Công an tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị xây dựng kế
hoạch PCTT&TKCN, phòng chống cháy nổ, cháy rừng, cứu sập phù hợp với đơn vị,
địa bàn. Chuẩn bị tốt phương án, lực lượng, phương tiện sẵn sàng cơ động xử lý
có hiệu quả tình huống có thể xảy ra.
- Tiểu ban Tìm kiếm cứu nạn tỉnh
tổ chức xây dựng lực lượng ứng cứu, khắc phục hậu quả.
- Các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ
Chỉ huy Quân sự tỉnh, Công an tỉnh luôn bảo đảm lực lượng, phương tiện thường
trực, sẵn sàng làm nhiệm vụ khi có tình huống xảy ra.
- Xây dựng các kế hoạch: Phòng
chống bão mạnh, siêu bão; Kế hoạch ứng phó sự cố hóa chất độc hại; Kế hoạch ứng
phó sự cố tràn dầu; Kế hoạch PCTT&TKCN; Kế hoạch Phòng chống cháy nổ, cháy
rừng, cứu sập. Tổ chức hiệp đồng với các đơn vị của Bộ và Quân khu 3 đóng quân
trên địa bàn sẵn sàng tham gia ứng cứu khi có tình huống thiên tai xảy ra. Chỉ
đạo, triển khai Ban chỉ huy Quân sự các huyện, thành phố, thị xã, xây dựng, điều
chỉnh Kế hoạch PCTT&TKCN, phòng chống cháy nổ, cháy rừng, cứu sập của đơn vị.
6. Thông
tin, truyền thông về phòng, chống thiên tai
Các địa phương, đơn vị tích cực
phổ biến, tuyên truyền các kiến thức cơ bản, kinh nghiệm về phòng, chống thiên
tai tới cộng đồng để người dân biết, chủ động phòng ngừa, ứng phó, giảm thiểu thiệt
hại.
- Các cơ quan thông tấn báo chí
thực hiện tuyên truyền và phổ biến rộng rãi Luật Phòng, chống thiên tai, các
Nghị định, văn bản hướng dẫn thi hành.
- Thực hiện công tác tuyên truyền
với các hình thức: Báo cáo tham luận về quản lý thiên tai dựa vào cộng đồng tại
các cuộc tập huấn PCTT&TKCN của tỉnh, của các huyện, thành phố, thị xã;
phát tờ rơi về quản lý thiên tai dựa vào cộng đồng tới các hộ ven đê được kết hợp
trong quá trình ký cam kết không vi phạm đê điều.
- Hưởng ứng Tuần lễ Quốc gia
phòng, chống thiên tai (15-22/5) hàng năm. Ban Chỉ huy PCTT&TKCN các cấp đã
tổ chức nhiều hoạt động thiết thực như: Treo băng rôn, khẩu hiệu về hoạt động
phòng chống thiên tai; tuyên truyền lồng ghép một số nội dung vào giờ chào cờ đầu
tuần ở một số trường học; xây dựng các chương trình, phóng sự tuyên truyền về Hệ
thống công trình phòng, chống thiên tai trên địa bàn tỉnh, công tác chuẩn bị
phòng, chống thiên tai, các trọng điểm xung yếu, các kỹ năng phòng tránh, ứng
phó với các loại hình thiên tai, công tác chỉ đạo, điều hành phòng, chống thiên
tai của các cấp, các ngành, chiếu phim về thiên tai...
7. Năng lực
và nhận thức của cộng đồng về phòng, chống thiên tai
- Thực hiện Đề án “Nâng cao nhận
thức cộng đồng và Quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng, đến năm 2030”
theo Quyết định số 553/QĐ-TTg ngày 06/4/2021 của Thủ tướng Chính phủ, ngày
31/12/2021, UBND tỉnh Hải Dương đã ban hành Kế hoạch số 4788/KH-UBND triển khai
thực hiện Đề án “Nâng cao nhận thức cộng đồng và Quản lý rủi ro thiên tai dựa
vào cộng đồng, đến năm 2030” trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
- Thực hiện Chiến lược Quốc gia
phòng, chống thiên tai đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 theo Quyết định số
379/CT-TTg ngày 17/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ, ngày 14/12/2021, UBND tỉnh Hải
Dương đã ban hành Kế hoạch số 4573/KH-UBND triển khai thực hiện Chiến lược Quốc
gia phòng, chống thiên tai đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 trên địa bàn tỉnh
Hải Dương.
- Công tác đào tạo, tập huấn, tập
dượt:
Hàng năm, toàn tỉnh đã thành lập
trên 300 đội tuần tra canh gác đê với khoảng 2.000 đến 4.000 người; trên 40 đội
cắm cừ đào mò với khoảng 1.000 người; 20 đội giao thông hỏa tốc với khoảng 200
người, lực lượng xung kích ứng cứu cơ động khoảng 25.000 người. Ban Chỉ huy
PCTT&TKCN cấp huyện, xã đã tổ chức tập huấn, tập dượt cho các lực lượng để
đáp ứng yêu cầu công tác phòng, chống thiên tai tại chỗ.
8. Cơ sở hạ
tầng phòng, chống thiên tai
8.1. Công trình đê điều
Hệ thống công trình đê điều gồm
19 tuyến đê với tổng chiều dài 373,286km, trong đó đê từ cấp III trở lên
255,923km, 117,363km đê dưới cấp III; đến hết năm 2021 có: 85 tuyến kè, 11 vị
trí bờ lở và 276 cống dưới đê; có 08 tuyến đê bối, dài 28,81km, bảo vệ 1.104,64
ha đất bãi sông.
- Về đê: Hầu hết các tuyến đê
cơ bản đủ độ cao gia thăng so với mực nước thiết kế; còn lại 32,03km đê thiếu
cao trình so với cao trình thiết kế, 153,322km đê mặt đê còn nhỏ, hẹp chưa đảm
bảo theo mặt cắt thiết kế. Hiện tại, còn nhiều đoạn chân đê phía sông, phía đồng
là đầm, ao sâu, ruộng trũng chưa có điều kiện lấp và nhiều đoạn đê thiếu cơ hoặc
có cơ nhưng còn thấp bé; địa chất nền đê xấu, thân đê còn nhiều ẩn họa...
- Về kè, bờ lở: Toàn tỉnh có 85
tuyến kè và 11 vị trí bờ sông lở. Do ảnh hưởng của biến đổi dòng chảy, nhiều vị
trí kè, bờ lở đang có diễn biến sạt lở mạnh.
- Về cống: Toàn tỉnh có 276 cống
dưới đê. Nhiều cống xây dựng từ lâu đã quá tuổi thọ, trải qua các giai đoạn bồi
trúc đê dẫn đến cống ngắn, mang cống dốc đứng, cống bị quá tải, nhiều cống bị
hư hỏng phải tu sửa nối dài, chắp vá nhiều lần, khả năng chống lũ giảm đáng kể
khi gặp lũ cao.
- Công trình quản lý, điếm canh
đê, kho vật tư: Toàn tỉnh hiện tại có 24 cụm chống lụt bão, 239 điếm (trong đó
71 điếm cần cải tạo, sửa chữa; 33 điếm cần xây mới). Một số cụm chống lụt bão,
kho vật tư xây dựng từ lâu nên đã bị xuống cấp; hầu hết các kho để vật tư dự trữ
quá chật chội không đảm bảo yêu cầu bảo quản vật tư theo quy định... trong thời
gian tới cần phải đầu tư xây dựng lại, xây mới.
- Tre chắn sóng: Hiện nay đã có
236,8/373,28 km đê đã có tre chắn sóng; 136,4 km chưa trồng tre, trong đó 71,5
km do địa hình đê sát sông, qua thùng trũng và những khu dân sinh không trồng
được tre và khoảng 64,9 km chưa có tre chủ yếu tập trung ở đê hạ lưu và xen kẽ
một số đoạn đê thượng lưu.
- Giao thông mặt đê: Toàn tỉnh
đã có 327,45 km mặt đê được cứng hoá bằng bê tông, cải tạo bằng đá cộn, cùng với
những đoạn có mặt và cơ đê kết hợp giao thông. Hiện nay còn 45,83 km mặt đê
chưa được cải tạo và cứng hoá nên việc giao thông phục vụ chống lụt trên một số
tuyến còn gặp nhiều khó khăn..
- Tổ mối và ẩn hoạ trong đê:
Hàng năm các tuyến đê đều xuất hiện nhiều ẩn hoạ tiềm ẩn trong thân đê như tổ mối,
3000) tổ mối trongtổ chuột... các địa phương đã phát hiện, xử lý từ
(2000 thân đê, đào xử lý và đắp trả lại các tổ chuột; ngoài ra còn có các
ẩn hoạ khác như lỗ rò, hà rồ, nứt đê luôn là những hiểm hoạ cho đê cần phải được
kiểm tra phát hiện và xử lý.
(Chi
tiết Phụ lục số 04 kèm theo)
8.2. Hệ thống công trình thủy lợi
nội đồng
- Hệ thống tưới, tiêu động lực:
Toàn tỉnh có 1.245 trạm bơm, với 2.325 máy bơm các loại, tổng công suất bơm
4.153.730 m3/h.
- Hồ trữ nước phục vụ sản xuất
nông nghiệp trên địa bàn thành phố Chí Linh: 68 hồ.
- Hệ thống kênh dẫn tưới, tiêu:
Toàn tỉnh có 10.465km kênh mương các loại (Kênh tưới thuộc trạm bơm, hồ chứa:
6.475km; Hệ thống kênh dẫn tiêu theo trạm bơm: 2.930 km; Hệ thống kênh dẫn tưới,
tiêu không thuộc trạm bơm, hồ chứa: 1.060km).
- Bờ kênh trục và cống dưới bờ
kênh trục Bắc Hưng Hải thuộc địa phận tỉnh Hải Dương: Chiều dài bờ kênh trục:
291,91 km; 369 cống các loại dưới bờ kênh trục; 840,25 km bờ bao, bờ vùng nội đồng.
Nhìn chung, hệ thống công trình
thủy lợi mức đảm bảo thấp, nếu xảy ra tình huống bất lợi về khí tượng, thuỷ văn
thì nguy cơ xảy ra úng ngập và sự cố hư hỏng công trình rất cao. Thiết bị máy
bơm một số lạc hậu, hiệu suất thấp, tiêu tốn nhiều điện năng. Hệ thống kênh trục
Bắc Hưng Hải còn nhiều đoạn thấp, mảnh. Nhiều công trình tưới, tiêu bị xâm hại;
kênh mương, sông trục bị ô nhiễm, bồi lắng, vi phạm nhiều gây ách tắc dòng chảy....
ảnh hưởng rất lớn đến công tác tiêu chống úng trên địa bàn.
(Chi
tiết Phụ lục số 05 kèm theo)
8.3. Công trình phòng, chống
thiên tai khác
Trên địa bàn tỉnh có 02 trạm
khí tượng, 45 điểm đo mưa, 08 trạm thuỷ văn, có 25 trạm đo mực nước tự động, 10
hệ thống camera giám sát công trình đê điều, 12 hệ thống camera giám sát cống,
01 khu neo đậu tàu thuyền phục vụ công tác tìm kiếm cứu nạn và trên 100 vị trí
cảng, bến thuỷ nội địa của các tổ chức, cá nhân có thể neo đậu tàu thuyền khi
có thiên tai xảy ra.
Hệ thống điện, hệ thống thông
tin liên lạc, truyền thanh, truyền hình; hệ thống giao thông phục vụ cứu hộ, cứu
nạn cơ bản đáp ứng yêu cầu về phòng, chống thiên tai trên địa bàn tỉnh.
9. Đánh giá
lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai trong các chương trình, dự án, quy hoạch,
kế hoạch phát triển ngành, kinh tế - xã hội
Trong giai đoạn 2016-2020 đã đầu
tư sửa chưa, cải tạo, nâng cấp đảm bảo an toàn công trình đê điều, thủy lợi, dự
án bố trí, sắp xếp dân cư ở vùng thiên tai,… với tổng kế hoạch trung hạn đã bố
trí kế hoạch đến năm 2020 là 1.508.947 triệu đồng.
Thực hiện theo quy định, UBND tỉnh
đã chỉ đạo các sở, ngành liên quan và các địa phương tổ chức triển khai việc lồng
ghép từ rà soát, đánh giá việc thực hiện phòng, chống thiên tai trong thực hiện
quy hoạch, kế hoạch; phân tích tình trạng và khả năng chống chịu thiên tai của
các đối tượng dễ bị tổn thương trong tương lai về kinh tế, xã hội và môi trường;
xác định các nguyên nhân dẫn đến thiệt hại của từng lĩnh vực, đến xác định các
giải pháp phòng, chống thiên tai theo thứ tự ưu tiên phù hợp với các loại hình
thiên tai thường xuyên xảy ra trong công tác lập, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch,
kế hoạch phát triển ngành, kinh tế - xã hội của từng ngành, từng cấp theo hướng
dẫn.
10. Đánh
giá về công tác phục hồi, tái thiết sau thiên tai
Công tác khắc phục hậu quả, tái
thiết sau thiên tai được các cấp, các ngành trong tỉnh khẩn trương thực hiện. Tổ
chức thăm hỏi, hỗ trợ các gia đình bị thiệt hại nặng; thu dọn, vệ sinh môi trường
sau thiên tai, bão, úng ngập; sửa chữa, tu bổ lại cơ sở hạ tầng bị thiệt hại,
triển khai nhanh phương án phục hồi sản xuất nông nghiệp sau thiên tai, bão,
úng ngập...
Ngay khi kết thúc các đợt thiên
tai, UBND tỉnh chỉ đạo các cơ quan kiểm tra, đánh giá thiệt hại, xác định ưu tiên
và xây dựng kế hoạch khôi phục và tái thiết, huy động nguồn lực tại địa phương,
bao gồm ngân sách dự phòng, Quỹ phòng, chống thiên tai tổ chức khôi phục và tái
thiết. Trường hợp nhu cầu vượt quá khả năng nguồn lực của địa phương, UBND tỉnh
báo cáo Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương xem xét hỗ trợ.
11. Đánh
giá về nguồn lực tài chính thực hiện công tác phòng, chống thiên tai ở địa
phương, đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp
- Nguồn kinh phí phục vụ cho
công tác phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai chủ yếu từ nguồn hỗ trợ từ
ngân sách Trung ương; ODA.
- Ngân sách địa phương, Quỹ
phòng, chống thiên tai tỉnh chưa đáp ứng đủ nhu cầu thực hiện công tác phòng,
chống thiên tai ở địa phương, chủ yếu để xử lý cấp bách một số sự cố do thiên
tai gây ra.
- Ngân sách chi cho các hoạt động
thường xuyên của Ban Chỉ huy PCTT và TKCN tỉnh còn hạn hẹp. Ở cấp huyện, xã,
phường kinh phí dành cho hoạt động này hầu như là không có.
- Ngân sách chi cho nhiệm vụ
tuyên truyền, tập huấn, diễn tập và mua sắm trang thiết bị, vật tư, dụng cụ
PCTT&TKCN ở các cấp hầu như là không được bố trí trong kế hoạch hàng năm hoặc
chỉ có với chi phí rất thấp.
- Ngân sách các sở, ngành, đơn
vị trang bị nhưng điều kiện thiết yếu phục vụ công tác PCTT&TKCN, khắc phục
sự cố theo phương châm “bốn tại chỗ”.
12. Những
tồn tại và hạn chế trong công tác phòng chống thiên tai
- Còn tư tưởng chủ quan về
thiên tai, lụt, bão do một số năm gần đây không có lũ cao, bão lớn, thiên tai
nghiêm trọng ảnh hưởng đến địa bàn tỉnh; công tác quản lý đê điều, phòng, chống
thiên tai có lúc, có nơi còn chưa chú trọng.
- Việc quản lý vật tư, phương
tiện dự trữ phòng, chống thiên tai gặp nhiều khó khăn, do kinh phí có hạn nên
việc bổ sung chủng loại vật tư, phương tiện còn thiếu; việc thanh lý vật tư lâu
ngày, kém chất lượng... thủ tục còn mất nhiều thời gian; việc xây dựng kho tàng
để bảo quản chưa đảm bảo; việc chuẩn bị vật tư, phương tiện dữ trữ phòng, chống
thiên tai trong dân theo phương châm 4 tại chỗ còn gặp nhiều khó khăn…
- Công tác “bốn tại chỗ” còn hạn
chế, nhiều bất cập, chưa đáp ứng tình hình thực tiễn, việc triển khai lực lượng,
vật tư, phương tiện của một số địa phương để xử lý giờ đầu còn lúng túng, chưa
chủ động và trông chờ vào sự điều động của tỉnh.
- Công tác báo cáo nhanh, báo
cáo thiệt hại thiên tai của các huyện, thị xã, thành phố còn chậm, chưa theo biểu
mẫu hướng dẫn của Trung ương.
- Việc cải tạo, nâng cấp các
công trình đê điều, thủy lợi, lòng dẫn thoát lũ, chống biến đổi khí hậu cũng
như việc bảo trì, tu bổ, sửa chữa công trình phòng, chống thiên tai nhìn chung
còn chậm do thiếu vốn đầu tư.
- Giải pháp PCTT&TKCN chưa
được triển khai đồng bộ, mới chỉ tập trung vào các giải pháp công trình, chưa đẩy
mạng thực hiện các giải pháp phi công trình.
13. Xu thế
diễn biến thiên tai và thách thức trong điều kiện mới
- Về nhiệt độ: Nhiệt độ trung
bình năm tăng 1,7 - 2,4°C, ở phía Bắc tăng 1,9 - 2,4°C, ở phía Nam 1,7 - 1,9°C.
- Về mưa: Tổng lượng mưa năm
tăng phổ biến từ 5 - 15% ở hầu hết Bắc Bộ, trong đó có tỉnh Hải Dương. Giá trị
trung bình lượng mưa 1 ngày lớn nhất có xu thế tăng (10 - 70%) so với trung
bình thời kỳ cơ sở.
- Về gió mùa và một số hiện tượng
cực đoan: Số lượng bão mạnh đến rất mạnh có xu thế tăng; gió mùa mùa hè có xu
thế bắt đầu sớm hơn và kết thúc muộn hơn. Mưa trong thời kỳ hoạt động của gió
mùa có xu hướng tăng. Số ngày rét đậm, rét hại ở các tỉnh miền núi phía Bắc, đồng
bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ đều giảm. Số ngày nắng nóng trên 35°C có xu thế tăng
trên phần lớn cả nước. Hạn hán có thể trở nên khắc nghiệt hơn ở một số vùng do
nhiệt độ tăng và khả năng giảm lượng mưa trong mùa khô.
- Mực nước biển có thể dâng cao
từ 75 - 100 cm so với thời kỳ 1980 - 1999. Nếu mực nước dâng cao 100cm, sẽ có
trên 10% diện tích đồng bằng sông Hồng trong đó có tỉnh Hải Dương sẽ bị ngập.
Biến đổi khí hậu và nước biển
dâng ngày càng thể hiện rõ nét thông qua các hiện tượng bão, áp thấp nhiệt đới
không theo quy luật, hạn hán, xâm nhập mặn, suy giảm đa dạng sinh học, thay đổi
nhiệt độ, phát thải khí nhà kính… gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống kinh
tế - xã hội và người dân tỉnh Hải Dương. Lượng mưa diễn biến phức tạp, ngày
càng cực đoan và không theo quy luật trung bình nhiều năm, nền nhiệt có xu hướng
tăng trong vòng 30 năm trở lại đây. Tình trạng xâm nhập mặn và nước biển dâng
diễn biến thất thường. Xâm nhập mặn lấn sâu vào cửa sông khu vực hạ lưu trên địa
bàn tỉnh. Bên cạnh đó, do ảnh hưởng quá trình phát triển kinh tế - xã hội nhanh
và nóng trong những năm qua cũng làm ảnh hưởng đến công tác phòng, chống thiên
tai trên địa bàn tỉnh.
V. XÁC ĐỊNH,
ĐÁNH GIÁ RỦI RO THIÊN TAI
1. Xác định
loại hình thiên tai thường gặp
1.1. Các loại hình thiên tai
Trên địa bàn tỉnh có thể xảy ra
21/23 loại hình thiên tai (trừ 2 loại hình: gió mạnh trên biển và sóng thần),
các loại hình thiên tai đã xảy ra như: Bão, áp thấp nhiệt đới, lốc, sét, mưa lớn,
lũ, lũ quét, ngập lụt; sạt lở đất, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy hoặc hạn
hán; nước dâng, xâm nhập mặn, nắng nóng, cháy rừng do tự nhiên, rét hại, mưa
đá, sương mù, sương muối, động đất và các loại thiên tai khác.
- Về Áp thấp nhiệt đới, bão,
mưa: Mùa mưa bão bắt đầu từ tháng 6 và kết thúc vào tháng 10 hàng năm, tập
trung chủ yếu vào các tháng 7, 8, 9 (một số năm gần đây đã xuất hiện bão muộn với
cường độ khá mạnh vào tháng 11). Trung bình mỗi năm tỉnh ta chịu ảnh hưởng trực
tiếp từ 2 - 3 cơn bão và áp thấp nhiệt đới.
- Về dông, lốc, sét: Thời kỳ
chuyển mùa trên địa bàn tỉnh xảy ra nhiều dông, lốc, sét gây ảnh hưởng khá lớn.
- Về lũ: Các năm gần đây do điều
tiết lũ của các hồ Sơn La, Hòa Bình, Tuyên Quang, Thác Bà nên các sông trong tỉnh
không xuất hiện lũ lớn. Tuy nhiên do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu nên có năm
xuất hiện mưa lớn kéo dài ở thượng nguồn, các hồ thủy điện đã thực hiện quy
trình vận hành liên hồ, mực nước lũ các tuyến sông không theo quy luật, xuất hiện
lũ ở mức xấp xỉ báo động số 1 kéo dài ngày hoặc lũ cao vào các tháng cuối mùa
(giữa tháng 10/2017 hồ Hòa Bình mở 8 cửa xả đáy, lũ các sông lên nhanh và ở mức
cao hơn: sông Luộc tại Bến Trại ở mức báo động II, sông Thái Bình tại Phả Lại ở
mức báo động I).
Lũ lớn trên các sông đã từng xảy
ra sự cố vỡ đê gây thiệt hại lớn về tài sản, hoa màu như: Vỡ đê Nhất Trai
(8/1971), vỡ đê tả sông Thái Bình, xã Thanh Hồng - Thanh Hà (năm 1996)...
- Về úng ngập: Hàng năm trên địa
bàn tỉnh do ảnh hưởng của mưa bão đều xuất hiện các diện tích lúa, hoa màu, các
khu đô thị bị ngập úng, trong đó có năm bị ngập úng trên diện rộng.
- Về nắng nóng, hạn hán: Do lượng
mưa phân bố không đều, mực nước các sông trục đều thấp hơn thiết kế, đặc biệt đối
với các địa phương thuộc khu vực hạ lưu Bắc Hưng Hải nguồn nước phụ thuộc chính
vào thủy triều, nên hàng năm thường xảy ra hạn hán vào vụ Đông Xuân ảnh hưởng
trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp. Mùa hè thường xuất hiện các đợt nắng nóng,
với nhiệt độ cao nhất phổ biến 38,0 - 40,0°C.
- Về rét đậm, rét hại: Hàng năm
trên địa bàn tỉnh đều xuất hiện các đợt rét đậm, rét hại: Đợt rét đậm, rét hại
kéo dài nhất xuất hiện 30 ngày; nhiệt độ thấp nhất đã từng xảy ra là 3,2°C.
- Sương muối: Thường xuất hiện
về mùa Đông, nhiều nhất ở những thung lũng khuất gió vùng bán sơn địa thành phố
Chí Linh, thị xã Kinh Môn.
- Xâm nhập mặn: Các năm gần đây
xu hướng xâm nhập mặn gia tăng do vào mùa kiệt, mực nước các sông thiếu hụt và ở
mức thấp và ảnh hưởng của nước biển dâng nên đã xảy ra hiện tượng xâm nhập mặn
vào sâu trong đất liền, ảnh hưởng khá lớn đến việc lấy nước đổ ải, chống hạn.
- Các loại thiên tai khác:
Ngoài các loại thiên tai trên, tỉnh ta còn chịu ảnh hưởng của động đất với cường
độ yếu và có thể xảy ra sự cố sạt lở đất, lũ quét, cháy rừng do tự nhiên tại
vùng núi thuộc thành phố Chí Linh, thị xã Kinh Môn; mưa đá, sương mù từng xảy
ra ở các địa phương...
1.2. Cấp độ rủi ro thiên tai
Cấp độ rủi ro thiên tai được
xác định cho từng loại thiên tai và được công bố cùng nội dung bản tin dự báo,
cảnh báo về thiên tai; làm cơ sở cho việc phân công, phân cấp trách nhiệm và phối
hợp ứng phó với thiên tai.
2. Đánh
giá rủi ro thiên tai
2.1. Đánh giá về phạm vi ảnh hưởng
của thiên tai
2.1.1. Về Áp thấp nhiệt đới,
bão
- Cấp độ rủi ro thiên tai có 3
cấp (từ cấp 3 đến cấp 5).
- Vùng ảnh hưởng của bão, áp thấp
nhiệt đới trên phạm vi toàn tỉnh.
2.1.2. Về dông lốc, sét, mưa đá
- Cấp độ rủi ro thiên tai có 2
cấp (cấp 1 và cấp 2).
- Vùng ảnh hưởng: Trên phạm vi
một số địa bàn cấp huyện, xã.
2.1.3. Về mưa lớn, lũ, ngập lụt
- Cấp độ rủi ro thiên tai về
mưa lớn: có 4 cấp (từ cấp 1 đến cấp 4).
- Cấp độ rủi ro thiên tai về
lũ, ngập lụt: có 5 cấp (từ cấp 1 đến cấp 5).
- Vùng ảnh hưởng của mưa lớn,
lũ, ngập lụt: Trên phạm vi toàn tỉnh hoặc một số địa bàn cấp huyện, xã.
2.1.4. Về nắng nóng, hạn hán,
xâm nhập mặn
- Cấp độ rủi ro thiên tai do nắng
nóng có 4 cấp (từ cấp 1 đến cấp 4).
- Cấp độ rủi ro thiên tai do hạn
hán có 4 cấp (từ cấp 1 đến cấp 4).
- Cấp độ rủi ro thiên tai do
xâm nhập mặn có 4 cấp (từ cấp 1 đến cấp 4)
- Vùng ảnh hưởng của nắng nóng,
hạn hán, xâm nhập mặn: Trên phạm vi toàn tỉnh hoặc một số địa bàn cấp huyện,
xã.
2.1.5. Về rét hại, sương muối
- Cấp độ rủi ro thiên tai có 3
cấp (từ cấp 1 đến cấp 3).
- Vùng ảnh hưởng do rét đậm,
rét hại, sương muối trên phạm vi toàn tỉnh hoặc một số địa bàn cấp huyện, xã.
2.2. Đánh giá tình trạng dễ bị
tổn thương
2.2.1. Phân tích nguyên nhân dẫn
đến tình trạng dễ bị tổn thương
Thiên tai diễn biến hiện nay bất
thường và có xu hướng cực đoan hơn, gây thiệt hại về người, tài sản, ảnh hưởng
đến đời sống, sản xuất và sinh hoạt của Nhân dân, đe dọa đến tính mạng và nguy
cơ mất an toàn cho các công trình hạ tầng cơ sở.
Trong giai đoạn 2010 - 2020, mặc
dù thiên tai xảy ra trên địa bàn tỉnh không quá lớn tuy nhiên thiên tai đã gây
ra các thiệt hại lớn về người, cơ sở hạ tầng, sản xuất nông nghiệp, hệ thống
công trình đê điều, thủy lợi...
+ Thiệt hại về người: 6 người
chết, 11 người bị thương.
+ Thiệt hại do thiên tai gây ra
ước khoảng: 1.612 tỷ đồng.
2.2. Xác định các yếu tố dễ bị
tổn thương do thiên tai trên địa bàn tỉnh
Ba đối tượng chính dễ bị tổn
thương là con người, phát triển kinh tế - xã hội và cơ sở hạ tầng bị thiệt hại
nghiêm trọng.
- Tổng hợp số dân phải di rời
tránh bão, áp thấp nhiệt đới.
(Chi
tiết Phụ lục số 06 kèm theo)
- Cơ sở hạ tầng:
+ Các công trình đê điều, thủy
lợi, công trình giao thông, hệ thống điện.
+ Các công trình nhà ở cũ, nhà
tạm, nhà ở khu vực trũng, thấp….
Tổng hợp khu vực nguy hiểm cần bảo
vệ khi xảy ra bão, áp thấp nhiệt đới.
(Chi
tiết Phụ lục số 07 kèm theo)
- Hoạt động sản xuất: Tổng hợp
những khu vực sản xuất nông nghiệp; khu nuôi trồng thủy sản tập trung, khu vực
nuôi cá lồng trên sông; khu vực có nguy cơ bị ngập úng; khu vực xảy ra lũ quét,
sạt lở đất; khu vực hạn hán.
(Chi
tiết Phụ lục số 08, 09 kèm theo)
VI. CÁC BIỆN
PHÁP PHÕNG, CHỐNG THIÊN TAI
1. Tổ chức
phòng ngừa, giảm thiểu
1.1. Giải pháp phi công trình
1.1.1. Hoàn thiện hệ thống văn
bản pháp luật, cơ chế chính sách
- Rà soát và kiện toàn Ban Chỉ
huy PCTT&TKCN các cấp và phân công nhiệm vụ các thành viên nhằm huy động tối
đa nguồn lực của các cơ quan, tổ chức tham gia công tác phòng, chống giảm nhẹ
thiệt hại do thiên tai.
- Bảo đảm kinh phí hoạt động
thường xuyên cho Ban Chỉ huy PCTT&TKCN các cấp. Tăng cường quản lý và sử dụng
hiệu quả, đúng mục đích Quỹ Phòng, chống thiên tai tỉnh,
- Xây dựng các tiêu chí bảo đảm
yêu cầu phòng , chống thiên tai đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng công
trình, nhà ở thuộc quyền sở hữu của mình.
- Rà soát chính sách hỗ trợ sản
xuất nông nghiệp để khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh
trên địa bàn tỉnh.
1.1.2. Kiện toàn tổ chức, bộ
máy tăng cường năng lực quản lý thiên tai
- Kiện toàn tổ chức, bộ máy, sửa
đổi, bổ sung Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban Chỉ huy PCTT&TKCN các cấp.
- Nâng cao năng lực đội ngu làm
công tác phòng , chống thiên tai các cấp tỉnh, huyện, xã bằng các lớp đào tạo,
bồi dưỡng, tập huấn.
- Rà soát, xây dựng lực lượng xung
kích phòng, chống thiên tai cấp xã với lực lượng dân quân tự vệ làm nòng cốt
theo hướng dẫn của Ban Chỉ đạo quốc gia về phòng, chống thiên tai.
- Đầu tư trang thiết bị cho Văn
phòng Thường trực Ban Chỉ huy PCTT&TKCN các cấp; tăng cường năng lực và trang
thiết bị cho lực lượng PCTT&TKCN.
- Hoàn chỉnh hệ thống thông tin
liên lạc PCTT&TKCN, đảm bảo liên lạc thông suốt của Ban Chỉ huy
PCTT&TKCN các cấp.
- Xây dựng quy chế phối hợp giữa
Ban Chỉ huy PCTT&TKCN tỉnh với các Tổ chức chính trị, xã hội: Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Chữ thập đỏ tỉnh cùng
tham gia phòng, chống thiên tai.
- Tổ chức diễn tập
PCTT&TKCN cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã.
1.1.3. Lập, rà soát và thực hiện
các kế hoạch, quy hoạch, phương án
- Rà soát quy hoạch bố trí dân
cư các vùng có nguy cơ thiên tai giai đoạn 2021-2025 và định hướng đến năm 2030
nhằm xây dựng và thực hiện các dự án Tái định cư, ổn định đời sống và sản xuất
Nhân dân.
- Rà soát, cập nhật các phương
án, kế hoạch ứng phó thiên tai các cấp theo cấp độ rủi ro thiên tai.
1.1.4. Nâng cao năng lực dự
báo, cảnh báo thiên tai
- Cơ quan Khí tượng Thủy văn
cung cấp đầy đủ, kịp thời các loại bản tin khí tượng thủy văn phục vụ công tác
phòng chống thiên tai , nhất là khi có ảnh hưởng của bão, mưa, lũ lớn. Tuân thủ
chặt chẽ quy trình ra bản tin dự báo; thực hiện đa dạng hóa các loại hình bản
tin dự báo Khí tượng Thủy văn.
- Lắp đặt hệ thống tự động quan
trắc lượng mưa, mực nước tại các kênh trục, hồ chứa thủy lợi, và các khu vực
xung yếu trong tỉnh. Tổ chức nhân rộng việc lắp đặt camera giám sát việc quản
lý vận hành công trình thủy lợi, các trọng điểm công trình đê điều, phòng, chống
thiên tai theo quy định.
- Lắp đặt thiết bị cảnh báo các
khu vực bị ngập sâu, ngầm tràn, trũng thấp, sạt lở đất.
- Lắp đặt hệ thống cảnh báo lu
trực tuyến ở các lưu vực sông có nguy cơ lũ nhằm kịp thời theo dõi lưu lượng
dòng chảy để dự báo , cảnh báo khi có ảnh hưởng của bão, mưa, lũ.
1.1.5. Nâng cao nhận thức, kiến
thức phòng, chống thiên tai cộng đồng
- Tổ chức tuyên truyền, phổ biến
pháp luật về phòng chống thiên tai:
+ Tổ chức thông tin, tuyên truyền
về thiên tai thông qua hệ thống thông tin đại chúng, nâng cao nhận thức và kiến
thức của cộng đồng về phòng tránh thiên tai bằng các chương trình phát thanh
trên Đài Phát thanh cấp xã; phổ biến kiến thức phòng, chống thiên tai trong nhà
trường; tuyên truyền với hình thức băng rôn, tờ rơi, panô, áp phích...
+ Tổ chức bồi dưỡng, tập huấn
cho các huyện, xã, tập trung ưu tiên nhưng khu vực có mức độ rủi ro cao; lồng
ghép các chương trình hội nghị, hội thảo các cấp để tăng cường năng lực, nhận
thức, nhằm tuyên truyền, truyền thông đến mọi người trong cộng đồng.
Tổ chức các lớp tập huấn nâng
cao năng lực, kỹ năng phòng, chống thiên tai cho đội ngu cán bộ công tác phòng,
chống thiên tai các cấp; tổ chức các đợt tuyên truyền tuyên truyền, phổ biến kỹ
năng phòng, chống thiên tai trên hệ thống truyền thanh - truyền hình huyện và hệ
thống loa ở các thôn/khu dân cư; các huyện, thành phố, thị xã; tổ chức diễn tập
PCTT&TKCN cho các xã, phường, thị trấn trọng điểm; tổ chức diễn tập
PCTT&TKCN cho các đơn vị cấp huyện.
1.1.6. Chương trình trồng và bảo
vệ rừng
Trồng, bảo vệ và phục hồi rừng
phòng hộ; chống xói lở đất, điều hòa lượng nước đến của các hồ chứa trên địa
bàn thành phố Chí Linh, thị xã Kinh Môn.
1.1.7. Ứng dụng khoa học công
nghệ trong sản xuất nông nghiệp
Chuyển đổi giống cây trồng, vật
nuôi, ứng dụng KHCN trong sản xuất nông nghiệp phù hợp với thiên tai.
Tổng nguồn vốn đầu tư thực hiện
biện pháp phi công trình đến năm 2025 là 192 tỷ đồng.
(Chi
tiết Phụ lục số 10 kèm theo)
1.2. Giải pháp công trình:
Đề xuất danh mục các dự án cần
đầu tư, sửa chữa nâng cấp (các công trình đảm bảo an toàn công trình đê điều,
thủy lợi, hồ chứa, các trọng điểm xung yếu) để chủ động phòng, chống thiên
tai giai đoạn 2021-2025. Hàng năm rà soát, bổ sung danh mục dự án/công trình để
đảm bảo nhiệm vụ phòng, chống thiên tai trên địa bàn tỉnh.
Tổng nguồn vốn đầu tư thực hiện
biện pháp công trình đến năm 2025 là 2.547,495 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư công
trung hạn vốn ngân sách Nhà nước đã được phê duyệt (thực hiện 2021-2025) là
1.358,996 tỷ đồng và vốn ngân sách Nhà nước bố trí hàng năm (04 năm, từ năm
2022-2025) là 842 tỷ đồng.
(Chi
tiết Phụ lục số 11 kèm theo)
Ngoài các nguồn vốn đầu tư công
trung hạn và vốn ngân sách Nhà nước bố trí hàng năm, Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn, UBND tỉnh và các địa phương cần quan tâm bố trí kinh phí từ nguồn dự
phòng ngân sách và các nguồn kinh phí hợp pháp khác để thực hiện xử lý các trọng
điểm công trình với tổng kinh phí là 1.275,6 tỷ (trong đó công trình đê điều tại
phụ lục 04 với kinh phí khoảng 108 tỷ đồng; công trình thủy lợi nội đồng, hồ đập
xung yếu tại phụ lục 05 với kinh phí khoảng 1.167,6 tỷ đồng).
(Chi
tiết Phụ lục số 12 kèm theo)
2. Biện
pháp ứng phó
2.1. Trách nhiệm ứng phó với từng
cấp độ rủi ro thiên tai
Trách nhiệm ứng phó với từng cấp
độ rủi ro thiên tai từ cấp độ 1 đến cấp độ 5 được quy định cụ thể tại Điều 7,
8, 9, 10, 11 Nghị định 66/2021/NĐ-CP .
2.2. Triển khai phương án ứng
phó với thiên tai
2.2.1. Phòng, chống bão, áp thấp
nhiệt đới, lũ
Mục tiêu:“Đảm bảo an toàn
tuyệt đối cho các tuyến đê khi lũ, bão chưa vượt thiết kế; khi lũ, bão vượt thiết
kế hoặc gặp tổ hợp bất lợi phải quyết tâm hộ đê, kiên quyết giữ đê đến cùng, hạn
chế thấp nhất thiệt hại khi tình huống xấu nhất xảy ra”. Cụ thể:
- Tăng cường công tác quản lý về
đê điều, thuỷ lợi:
+ Thực hiện tuyên truyền về Luật
đê điều, Luật phòng chống thiên tai, Luật Thủy lợi và các văn bản hướng dẫn thi
hành, các Chỉ thị, Quy chế phối hợp trong công tác phòng ngừa, xử lý vi phạm.
+ Tăng cường công tác kiểm tra,
phát hiện, xử lý các vi phạm theo quy định, các vi phạm phải được phát hiện xử
lý nghiêm theo quy định.
+ Tiếp tục rà soát, bổ sung quy
hoạch, kế hoạch trung và dài hạn phù hợp với đặc điểm công trình và điều kiện của
từng địa phương. Tiếp tục thực hiện phong trào thi đua xây dựng “đê kiểu mẫu”,
“hạt quản lý đê điển hình”.
- Thực hiện tổng kiểm tra đánh
giá chất lượng công trình và xây dựng phương án bảo vệ trọng điểm:
+ Ban Chỉ huy PCTT&TKCN các
huyện, thị xã, thành phố tổ chức tổng kiểm tra đánh giá chất lượng công trình
trước lũ; hệ thống thoát nước, phương án chống úng nội đô... nếu phát hiện có
hư hỏng phải tiến hành sửa chữa ngay; trong trường hợp không có điều kiện tu sửa
phải xây dựng ngay phương án trọng điểm để bảo vệ. Kết quả kiểm tra, đánh giá
báo cáo bằng văn bản về Ban Chỉ huy PCTT&TKCN tỉnh.
+ Đối với các khu vực nuôi cá lồng
trên sông, Ban Chỉ huy PCTT&TKCN các huyện, thành phố, thị xã kiểm tra và
hướng dẫn, có phương án đảm bảo an toàn cho người và tài sản khi có tình huống
thiên tai xảy ra.
- Hoàn thành việc tu bổ đê điều,
thủy lợi:
+ Đẩy nhanh tiến độ thực hiện
tu bổ, sửa chữa, nâng cấp, duy tu bảo dưỡng các hạng mục công trình theo kế hoạch,
đảm bảo tiến độ.
+ Rà soát các vị trí công trình
đang có diễn biến hư hỏng đặc biệt các vị trí bờ lở nguy hiểm để xử lý kịp thời,
đảm bảo an toàn công trình phòng chống lụt bão.
- Chuẩn bị các lực lượng chuyên
trách phục vụ phòng chống lụt bão:
+ Các huyện, thị xã, thành phố
tổ chức thành lập và tập huấn cho các lực lượng tuần tra canh gác đê, đội cắm cừ
đào mò, đội giao thông hoả tốc, lực lượng xung kích phòng, chống thiên tai ở cấp
xã, duy trì hoạt động đảm bảo; xử lý nhanh các tình huống thiên tai xảy ra trên
địa bàn theo phương châm bốn tại chỗ.
+ Tổ chức tập huấn kỹ thuật hộ
đê cho cán bộ ở Văn phòng thường trực Ban Chỉ huy PCTT&TKCN các cấp, các lực
lượng quản lý đê chuyên trách và cán bộ kỹ thuật xử lý ứng cứu.
- Chuẩn bị vật tư, phương tiện
phòng, chống lụt bão:
Ban Chỉ huy PCTT&TKCN các
huyện, thị xã, thành phố chỉ đạo các xã, phường, thị trấn có phương án chuẩn bị,
huy động vật tư sẵn có như tre, bao tải, đá dăm, cát vàng, rơm rạ. Nắm chắc các
phương tiện sẵn có trong dân và trong các đơn vị đóng trên địa bàn nhất là các
phương tiện cơ giới nhỏ như xe ô tô, xuồng hoặc thuyền máy... Căn cứ vào kế hoạch
sử dụng vật tư, phương tiện của các phương án trọng điểm và toàn tuyến có kế hoạch
giao cho từng đơn vị, từng hộ dân chuẩn bị.
- Thực hiện nguyên tắc trong tổ
chức chỉ huy, chỉ đạo phòng, chống lụt, bão:
+ Phân công cụ thể trách nhiệm
của từng thành viên trong Ban Chỉ huy để phụ trách các tuyến đê, các địa bàn hoặc
từng mặt công tác để tập trung chỉ đạo.
+ Việc tuần tra canh gác đê phải
tuân thủ nghiêm ngặt quy định về tuần tra canh gác. Khi lũ ở mức báo động III
hoặc khi có bão khẩn cấp phải thường trực ngày đêm trên đê, bám địa bàn để chỉ
huy tại chỗ.
+ Ưu tiên thực hiện phương án bảo
vệ các trọng điểm. Đối với những vùng có đặc điểm riêng, giao thông đi lại ứng
cứu khó khăn, xa trung tâm, dân cư... phải có phương án chi tiết chủ động thực
hiện. Tăng cường kiểm tra thực hiện các phương án bảo vệ các trọng điểm và
phương án phối hợp với các lực lượng hỗ trợ đặc biệt là lực lượng quân đội. Khi
có tình huống lũ bão khẩn cấp đe dọa đến an toàn đê điều chỉ bố trí cơ số người,
phương tiện phù hợp cho công tác hậu phương còn lại phải dồn tổng lực lên đê ứng
cứu, nhất là lực lượng quân đội, công an và lực lượng xung kích, trong đó lực
lượng quân đội là nòng cốt.
+ Thông tin kịp thời, chính xác
tình hình lũ, bão tới các lực lượng hộ đê, cơ sở thôn, xóm, khu dân cư và tới tận
người dân.
- Phòng chống bão, bão mạnh,
siêu bão:
+ Trước mùa mưa bão Ban Chỉ huy
PCTT&TKCN huyện, thị xã, thành phố các xã phải tổ chức kiểm tra kho tàng,
trường học, nhà cửa, các vị trí xung yếu, khu vực nguy hiểm... phân loại chất
lượng để có biện pháp đối phó chủ động; hướng dẫn Nhân dân cách phòng tránh
bão, cứu người bị nạn. Tổ chức kiểm tra, thực hiện phát quang cây cối trong
hành lang bảo vệ đường dây cao thế và đường dây điện sinh hoạt, sản xuất.
+ Các huyện, thị xã, thành phố,
các ngành sẵn sàng triển khai các phương án ứng phó với bão mạnh, siêu bão như:
sơ tán dân; bảo vệ công trình phòng, chống thiên tai, công trình trọng điểm; đảm
bảo an ninh trật tự, giao thông, thông tin liên lạc; huy động nguồn lực ứng
phó; dự trữ vật tư, phương tiện, trang thiết bị, nhu yếu phẩm; phương án khắc
phục hậu quả....
+ Trong mùa mưa bão phải tổ chức
theo dõi bão từ xa, thông báo, cảnh báo kịp thời cho Nhân dân và các tổ chức để
chủ động phòng tránh; theo dõi chặt chẽ các bản tin dự báo để chủ động huy động
vật tư, vật liệu chống sóng cho đê trước khi bão đổ bộ vào; có kế hoạch sơ tán
người, hàng hoá, tài sản đến nơi an toàn; chú ý thông tin cho các phương tiện
thuỷ trên sông, các bến cảng, đò, phà; chuẩn bị tốt phương án y tế dự phòng
trong mùa mưa lũ.
- Đối phó lũ vượt thiết kế hay
tổ hợp lũ, bão bất lợi:
+ Xây dựng, cập nhật số liệu và
tổ chức thực hiện phương án ứng phó với tình huống khẩn cấp theo 23 kịch bản ngập
lụt hạ du.
+ Xây dựng phương án huy động sức
mạnh tổng lực của toàn xã hội tập trung vào việc cứu hộ đê.
+ Xây dựng phương án sơ tán dân
trước khi nguy cơ xảy ra vỡ đê, vỡ bối đến nơi an toàn; xây dựng phương án ứng
cứu, bảo vệ tài sản; sắp xếp, bố trí sinh hoạt ăn, ở cho các lực lượng tăng cường
về làm nhiệm vụ cứu hộ đê và tìm kiếm cứu nạn.
+ Đối với các tuyến đê bối: Chỉ
giữ đến mức báo động II, riêng bối Nhân Huệ (TP Chí Linh), bối Đại Đồng (huyện
Ninh Giang) có thể giữ đến mức lũ báo động III, phải theo dõi chặt chẽ diễn biến
của lũ, bão để không xảy ra vỡ bối đột ngột có thể gây ra thiệt hại lớn về người,
tài sản và nguy hiểm cho an toàn của đê chính. Các địa phương có bối tiến hành
kiểm tra tất cả các điểm dân cư trong bối, xây dựng phương án cụ thể để chủ động
sơ tán dân, tài sản trong vùng bối khi có lũ lớn xảy ra; chủ động chuẩn bị các
phương tiện vượt sông và xây dựng kế hoạch khắc phục hậu quả khôi phục sản xuất,
bảo vệ môi trường sau khi lũ rút.
+ Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Công
an tỉnh có phương án sẵn sàng chi viện giúp đỡ các địa phương sơ tán, cứu hộ
người và tài sản đến nơi an toàn và khắc phục hậu quả sau lũ lụt.
2.2.2. Phòng chống mưa lớn, úng
ngập, nước dâng
- Mục tiêu: Chủ động thực hiện
các giải pháp phòng, chống mưa lớn, úng ngập, dông, lốc, nước dâng cho toàn bộ
diện tích lúa, hoa màu, nuôi trồng thủy sản, các khu công nghiệp, dân cư, đô thị
... trên địa bàn tỉnh. Hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại đối với sản xuất
nông nghiệp và dân sinh kinh tế, đảm bảo an toàn công trình khi có mưa lớn, úng
ngập xảy ra.
- Những nhiệm vụ chủ yếu:
+ Ban Chỉ huy PCTT&TKCN các
huyện, thị xã, thành phố kiểm tra toàn bộ hệ thống công trình từ đầu mối đến mặt
ruộng, riêng các cống dưới đê phải có biên bản kiểm tra tổng hợp báo cáo về Ban
Chỉ huy PCTT&TKCN tỉnh. Các công trình trọng điểm phải có phương án bảo vệ
riêng. Kiểm tra đánh giá kỹ hiện trạng của toàn bộ các đập, hồ chứa nước, xây dựng
phương án bảo vệ trọng điểm đối với các đập, hồ chứa nước có nguy cơ xảy ra sự
cố; tổ chức thực hiện phương án đảm bảo an toàn đập, hồ chứa nước trong suốt
mùa mưa bão.
+ Các doanh nghiệp Khai thác
công trình thuỷ lợi, quản lý đô thị tổ chức sửa chữa máy móc, thiết bị, nạo
vét, giải toả những tuyến kênh mương bị ách tắc, tôn cao áp trúc bờ kênh, bờ
vùng còn xung yếu, tìm diệt tổ mối ẩn hoạ bờ kênh nhất là các đê ống của các trạm
bơm tiêu ra sông ngoài. Điều hành, vận hành hệ thống công trình phải bảo đảm
yêu cầu nước tưới và tiêu úng.
+ Đối với các trọng điểm có
nguy cơ tràn, sạt bờ kênh, bờ vùng nội đồng, cống dưới bờ kênh trục Bắc Hưng Hải;
Ban Chỉ huy PCTT&TKCN cấp huyện phối hợp với các doanh nghiệp khai thác
công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh kiểm tra lại cao độ đỉnh, mặt cắt bờ
kênh, đánh giá khả năng chống úng và xây dựng phương án trọng điểm, chuẩn bị đầy
đủ vật tư, phương tiện sẵn sàng xử lý khi có tình huống xảy ra, đảm bảo an toàn
cho các hệ thống bờ kênh, bờ vùng.
- Tổ chức thực hiện:
+ Ngành Nông nghiệp và PTNT:
Thường xuyên tổng hợp mọi diễn
biến tình hình về thiên tai, kết quả xử lý, khắc phục thiên tai báo cáo UBND tỉnh.
Bố trí lực lượng sẵn sàng cơ động để tham mưu, chỉ đạo, hướng dẫn kỹ thuật, xử
lý, ứng cứu công trình thuỷ lợi nội đồng khi có sự cố do thiên tai xảy ra.
Xây dựng cụ thể kế hoạch khắc
phục hậu quả do thiên tai gây ra; chuẩn bị đủ giống dự phòng cho phương án khôi
phục sản xuất, có phương án phòng chống dịch bệnh trong đàn gia súc, gia cầm...
+ UBND các huyện, thành phố, thị
xã:
Tăng cường công tác tuyên truyền
phổ biến pháp luật về quản lý, khai thác và bảo vệ hệ thống công trình thuỷ lợi,
xác định rõ phòng, chống thiên tai là nhiệm vụ của toàn dân, tránh tư tưởng chủ
quan, lơ là, xem nhẹ, ỷ lại.
Xác định rõ mục tiêu, biện
pháp, phương châm chỉ đạo, điều hành trong công tác phòng, chống mưa úng và khắc
phục hậu quả do thiên tai gây ra; phân chia thành các giai đoạn phòng và chống
thiên tai. Xác định cụ thể những vùng thấp trũng có nguy cơ bị úng cao, vùng
còn thiếu công suất bơm tiêu, những vùng còn bấp bênh, những vùng trọng điểm chống
úng; xây dựng phương án tiêu úng cụ thể cho những vùng này theo các tình huống
bất lợi có thể xảy ra.
+ Các doanh nghiệp khai thác
công trình thủy lợi:
Kiểm tra, đánh giá cụ thể chất
lượng công trình, xây dựng kế hoạch phòng, chống mưa úng và khắc phục hậu quả
do thiên tai gây ra.
Đảm bảo 100% phương tiện, máy
móc thiết bị công trình đủ điều kiện phòng chống úng; chuẩn bị kinh phí, nhân lực
sẵn sàng phục vụ chống úng; xây dựng phương án bảo vệ và tổ chức thực hiện đối
với các trọng điểm thuộc phạm vi quản lý của đơn vị theo quy định; phối hợp chặt
chẽ với chính quyền các địa phương trong việc thực hiện công tác phòng chống
thiên tai.
+ Công ty TNHH Một thành viên
Điện lực Hải Dương:
Kiểm tra, rà soát lại toàn bộ hệ
thống máy móc thiết bị, đường dây, đường vào các trạm biến thế. Tổ chức triển
khai tu sửa, bảo dưỡng hệ thống máy móc, thiết bị, đường vào các trạm biến thế,
đường dây tải điện và biến thế, hướng dẫn các địa phương tổ chức phát quang
hành lang bảo vệ đường dây tải điện, chuẩn bị đầy đủ vật tư, thiết bị dự phòng
theo quy định, sẵn sàng khắc phục, sửa chữa các hư hỏng đảm bảo 100% máy móc,
thiết bị vận hành tốt trong suốt mùa mưa bão.
2.2.3. Phòng, chống hạn vụ
chiêm và vụ đông xuân
- Mục tiêu: Cung cấp đủ nguồn
nước và đảm bảo chất lượng nước tưới cho công tác đổ ải, gieo cấy vụ chiêm
xuân, nhu cầu sinh trưởng, phát triển của lúa, hoa màu, cây trồng cạn, không để
xảy ra tình trạng có diện tích không được gieo cấy, không kịp thời vụ hoặc bỏ
hoang do không được cung cấp đủ hoặc không kịp thời nguồn nước tưới; đảm bảo đủ
tổng lượng và chất lượng nguồn nước cho chăn nuôi, diện tích nuôi trồng thuỷ sản
đồng thời cung cấp nước phục vụ dân sinh và các ngành kinh tế khác.
- Nhiệm vụ chủ yếu:
+ Tập trung kiểm tra hệ thống
công trình thủy lợi làm nhiệm vụ tưới do các địa phương, đơn vị đang quản lý,
triển khai thực hiện tu sửa hệ thống công trình, máy móc thiết bị, giải toả các
vi phạm, nạo vét, khơi thông dòng chảy để sẵn sàng phục vụ sản xuất.
+ Căn cứ kế hoạch sản xuất, thời
vụ gieo trồng của từng địa phương, kế hoạch đổ ải của tỉnh, kế hoạch xả nước
các hồ thuỷ điện... để chủ động xây dựng phương án lấy nước, trữ nước phù hợp;
tận dụng tối đa các đỉnh triều để lấy nước trữ vào đồng và tăng cường diện tích
tưới tự chảy.
+ Chủ động xây dựng các phương
án điều hành chống hạn hán theo các trường hợp thiếu nước, hạn hán có thể xảy
ra khi mực nước xuống thấp, kéo dài.
+ Theo dõi sát tình hình nhiễm
mặn tại các cửa cống, kiểm tra kỹ độ mặn trước khi mở cửa cống lấy nước, khi chất
lượng nước đảm bảo cần chủ động lấy nước ngược vào hệ thống và chủ động thau rửa
nguồn nước trong hệ thống.
- Tổ chức thực hiện:
+ Ngành Nông nghiệp và PTNT:
Thường xuyên theo dõi diễn biến
của thời tiết, khí tượng thuỷ văn, nguồn nước, tình hình xâm nhập mặn, việc vận
hành hệ thống công trình thuỷ lợi, kịp thời chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc các địa
phương, đơn vị thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng chống hạn. Hướng dẫn các địa
phương bố trí cơ cấu giống, thời vụ, các biện pháp, kỹ thuật gieo cấy, chăm sóc
và bảo vệ cây trồng phù hợp với nguồn nước.
+ UBND các huyện, thành phố, thị
xã:
Tập trung tu sửa hệ thống máy
móc, thiết bị, công trình phục vụ tưới do địa phương, đơn vị quản lý, đảm bảo
100% số lượng máy móc, thiết bị, công trình phục vụ tưới đủ điều kiện hoạt động
tốt để chủ động đưa nước đổ ải và tưới dưỡng vụ Đông Xuân.
Xây dựng kế hoạch sản xuất vụ
Đông Xuân hợp lý, bố trí diện tích và cơ cấu, thời vụ gieo trồng phù hợp với
năng lực nguồn nước. Đối với diện tích trồng lúa không đảm bảo đủ nước tưới suốt
vụ, phải kiên quyết chỉ đạo chuyển sang cây trồng cạn sử dụng ít nước.
+ Các doanh nghiệp khai thác
công trình thủy lợi:
Chủ động chuẩn bị đủ các điều
kiện để khai thác, vận hành quản lý hệ thống công trình; thường xuyên theo dõi,
kiểm tra chất lượng nước, chủ động cảnh báo kịp thời để lấy nước vào đồng đảm bảo
chất lượng; Nắm chắc tình hình hạn hán, diễn biến thời tiết khí tượng thuỷ văn,
tình hình cung cấp và sử dụng điện năng, tình hình vận hành công trình, máy móc
thiết bị, kiểm tra đôn đốc các cụm, trạm bơm, phát hiện xử lý kịp thời các sự cố
xảy ra.
+ Công ty TNHH Một thành viên
Điện lực Hải Dương: Trên cơ sở kế hoạch sử dụng điện để phục vụ cho công tác tưới
ải, tưới dưỡng và nguồn điện cần phát sinh khi có tình huống hạn hán xảy ra
theo các kịch bản. Chủ động sửa chữa máy móc thiết bị, cân đối nguồn điện, ưu
tiên cung cấp điện cho công tác phục vụ bơm tưới, chống hạn.
2.2.4. Phòng, chống các loại
thiên tai khác
- Kế hoạch phòng chống động đất:
+ Tăng cường công tác phổ biến,
giáo dục các kiến thức cơ bản về phòng, tránh, ứng phó với động đất để Nhân dân
hiểu, chủ động trú, tránh, đảm bảo an toàn khi động đất xảy ra.
+ Khi nhận được tin động đất,
chính quyền địa phương các cấp, Đài phát thanh và truyền hình tỉnh, Đài phát
thanh các địa phương và mọi tổ chức, cá nhân có trách nhiệm sử dụng mọi phương
tiện, thiết bị thông tin hiện có để thông báo kịp thời tin động đất đến cộng đồng
trong khu vực bị ảnh hưởng để chủ động phòng, tránh.
+ UBND các cấp khi nhận được
tin động đất tổ chức hướng dẫn sơ tán dân và huy động các phương tiện trên địa
bàn để giúp dân sơ tán đến nơi an toàn, đồng thời có biện pháp bảo đảm an ninh,
trật tự trong khu vực.
+ Tiểu ban Tìm kiếm cứu nạn chủ
trì phối hợp với các lực lượng khác triển khai thực hiện ngay phương án tìm kiếm
cứu nạn, tìm kiếm, cứu người mất tích, cứu chữa người bị thương, bố trí nơi ở tạm
cho Nhân dân vùng xảy ra động đất, hỗ trợ lương thực, thuốc chữa bệnh, nước uống,
nhu yếu phẩm khác cho Nhân dân bị ảnh hưởng.
+ Đảm bảo an ninh, trật tự an
toàn xã hội, bảo vệ tài sản của Nhà nước và Nhân dân tại khu vực xảy ra động đất.
- Kế hoạch phòng, chống sương
muối, rét hại, cháy rừng do tự nhiên, dông, lốc, sét, mưa đá:
+ Đài phát thanh và truyền hình
tỉnh, các cơ quan truyền thông có trách nhiệm thông tin, thông báo kịp thời các
bản tin dự báo, cảnh báo có khả năng xảy ra dông lốc, sét, mưa đá, sương muối,
rét hại, các khu vực bị ảnh hưởng lốc, sét mưa đá, sương muối để Nhân dân chủ động
phòng, tránh, ứng phó đảm bảo an toàn cho người, vật nuôi, cây trồng và các tài
sản khác.
+ UBND các huyện, thị xã, thành
phố xây dựng phương án phòng, chống rét cho đàn gia súc, gia cầm và thủy sản để
kịp thời ứng phó với các tình huống bất lợi, cực đoan của thời tiết.
+ Có biện pháp chỉ đạo kịp thời,
chủ động bón phân cân đối, phủ nilon, tưới nước rửa sương muối… phòng, trừ kịp
thời các loại sâu bệnh mới phát sinh gây hại trên các loại cây trồng.
+ UBND thành phố Chí Linh, thị
xã Kinh Môn xây dựng phương án phòng, chống cháy rừng; thực hiện công tác
phòng, chống cháy rừng, cứu hộ, cứu nạn khi xảy ra sự cố cháy rừng.
+ Chi cục Kiểm lâm tỉnh tích cực
phối hợp với các lực lượng chức năng tăng cường tuần tra, kiểm soát nhằm giảm
nguy cơ xảy ra cháy; đồng thời, triển khai có hiệu quả phương án chữa cháy khi
có sự cố xảy ra.
2.2.5. Phương án khắc phục hậu
quả thiên tai
- Công tác khắc phục hậu quả
thiên tai bao gồm:
+ Tiếp tục triển khai công tác
tìm kiếm cứu nạn, cứu trợ, hỗ trợ lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, nhu yếu
phẩm thiết yếu khác và hỗ trợ tâm lý để ổn định đời sống của người dân.
+ Thống kê, đánh giá thiệt hại
do thiên tai gây ra, nhu cầu cứu trợ, hỗ trợ và đề xuất phương án khắc phục hậu
quả.
+ Hỗ trợ giống cây trồng, vật
nuôi, vật tư, trang thiết bị, nhiên liệu thiết yếu khác để phục hồi sản xuất.
+ Cung ứng vật tư, hàng hóa thiết
yếu và thực hiện biện pháp quản lý giá, bình ổn thị trường.
+ Thực hiện vệ sinh môi trường,
phòng chống dịch bệnh ở khu vực bị tác động của thiên tai.
+ Sửa chữa, khôi phục, nâng cấp
công trình phòng, chống thiên tai, giao thông, thông tin, thủy lợi, điện lực,
trường học, cơ sở y tế và công trình hạ tầng công cộng; tổ chức tuyên truyền
nâng cao nhận thức và năng lực của cộng đồng về phòng, chống thiên tai.
- Trách nhiệm thực hiện công
tác khắc phục hậu quả thiên tai được quy định như sau:
+ Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân
có trách nhiệm chủ động khắc phục hậu quả thiên tai đối với cơ sở hạ tầng, tài
sản thuộc phạm vi quản lý; tham gia hỗ trợ hoạt động khắc phục hậu quả thiên
tai theo sự huy động của cơ quan có thẩm quyền.
+ UBND, Ban Chỉ huy
PCTT&TKCN các cấp có trách nhiệm tổ chức thực hiện công tác khắc phục hậu
quả thiên tai trên địa bàn theo các nội dung nêu trên.
+ Các sở, ban, ngành, đoàn thể
của tỉnh có trách nhiệm chủ động khắc phục hậu quả thiên tai trong phạm vi quản
lý và tham gia khắc phục hậu quả thiên tai khi có yêu cầu.
+ Ban Chỉ huy PCTT&TKCN tỉnh
có trách nhiệm tổng hợp báo cáo đánh giá thiệt hại và nhu cầu cứu trợ, hỗ trợ từ
các địa phương và các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh; chỉ đạo công tác khắc
phục hậu quả thiên tai và báo cáo UBND tỉnh về biện pháp và nguồn lực để hỗ trợ
khắc phục hậu quả thiên tai.
VII. LỒNG
GHÉP NỘI DUNG PHÒNG, CHỐNG THIÊN TAI VÀO QUY HOẠCH, KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ,
XÃ HỘI
1. Nội
dung lồng ghép
1.1. Lồng ghép nội dung phòng,
chống thiên tai vào Quy hoạch tỉnh Hải Dương thời kỳ 2021 -2030, tầm nhìn đến
năm 2050
Việc lồng ghép nội dung phòng,
chống thiên tai vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội theo hướng dẫn
tại Thông tư số 10/2021/TT-BKHĐT ngày 22/12/2021 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Căn cứ các nội dung của dự án
Khảo sát, tính toán kỹ thuật các nội dung thủy lợi, đê điều và phòng chống
thiên tai tỉnh Hải Dương, các sở, ngành, địa phương thực hiện tích hợp nội dung
thủy lợi, đê điều và phòng chống thiên tai vào Quy hoạch tỉnh thời kỳ
2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
1.2. Lồng ghép trong các biện
pháp phòng ngừa, giảm thiểu tác động của thiên tai đến con người và sinh kế
- Nâng cao tiêu chuẩn an toàn
các công trình cơ sở hạ tầng.
- Di dời người dân ra khỏi vùng
nguy cơ nguy hiểm của thiên tai.
- Nâng cao nhận thức và kiến thức
của cán bộ, người dân về an toàn phòng chống thiên tai, ứng phó với biến đổi
khí hậu.
- Nâng cấp các công trình phòng
chống thiên tai.
1.3. Lồng ghép trong các biện
pháp phòng ngừa, giảm thiểu tác động của thiên tai đến các ngành kinh tế
- Chuyển đổi cơ cấu cây trồng,
vật nuôi, phát triển nông nghiệp xanh, sạch gắn với khả năng chống chịu thiên
tai.
- Đảm bảo không gian thoát lũ qua
hệ thống đường bộ, đường sắt cần được lồng ghép vào quy hoạch mạng lưới đường bộ,
đường sắt, quy hoạch kết cấu hạ tầng đường thủy nội địa và kế hoạch phát triển
của ngành giao thông vận tải.
- Nâng cấp các công trình cấp,
tiêu thoát nước cho khu vực đô thị, công nghiệp, kinh tế, chính trị quan trọng
có lồng ghép và tính đến phòng chống thiên tai; kết hợp các công trình công cộng
phòng chống thiên tai.
- Quản lý, khai thác tài nguyên
không làm trầm trọng hơn tác động của thiên tai.
- Nâng cấp các trường học đảm bảo
an toàn phòng, chống thiên tai và kết hợp làm nơi tránh trú an toàn; Lồng ghép
nội dung phòng, chống thiên tai vào chương trình đào tạo các cấp học; chương
trình dạy bơi cho học sinh; khắc phục kịp thời những thiệt hại về cơ sở vật chất
phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập sau thiên tai.
- Đầu tư, nâng cấp trang thiết
bị, phương tiện đảm bảo an ninh, quốc phòng gắn với nhiệm vụ cứu hộ cứu nạn.
- Thực hiện cơ chế, chính sách
hỗ trợ các đối tượng dễ bị tổn thương, thiệt hại do thiên tai theo Nghị định số
136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ về quy định chính sách trợ giúp xã
hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội.
- Triển khai các biện pháp đảm
bảo an toàn cho các cơ sở y tế, khám chữa bệnh và an toàn cho người bệnh khi xảy
ra thiên tai, dịch bệnh, chuẩn bị nhân lực, phương tiện, cơ số thuốc phòng, chống
thiên tai đủ dùng để thực hiện nhiệm vụ sơ, cấp cứu, điều trị nạn nhân, xử lý
nguồn nước uống cho người, gia súc, gia cầm, đảm bảo vệ sinh môi trường không để
dịch bệnh bùng phát trong và sau khi lũ, bão, thiên tai xảy ra.
1.4. Lồng ghép trong các biện
pháp phòng ngừa, giảm thiểu tác động của thiên tai đến đến cơ sở hạ tầng
- Xây dựng nâng cấp an toàn các
công trình đê điều, thủy lợi đảm bảo phòng, chống thiên tai; tiếp tục thực hiện
các dự án tái định cư, sắp xếp lại nơi ở mới cho những vùng có nguy cơ thiên
tai; xây dựng hệ thống kiểm tra, đo đạc, giám sát an toàn công trình; áp dụng
khoa học công nghệ trong phòng ngừa, giảm thiểu tác động của thiên tai đến đến
cơ sở hạ tầng.
- Đảm bảo an toàn công trình
xây dựng và kết hợp phòng chống thiên tai; nâng cấp công trình cấp, thoát nước
cho khu vực đô thị, công nghiệp, kinh tế, chính trị quan trọng. Hướng dẫn, chỉ
đạo lồng ghép, triển khai nội dung phòng, chống thiên tai trong quy hoạch xây dựng,
quy hoạch đô thị tại những vùng thường bị tác động của lũ, bão, sạt lở đất để
giảm thiểu rủi ro thiên tai.
- Xây dựng, nâng cấp các công
trình giao thông kết hợp phòng chống thiên tai, lồng ghép công trình giao thông
kết hợp cứu hộ, cứu nạn khi có thiên tai xảy ra.
- Đầu tư, tăng cường trang thiết
bị thông tin, truyền thông phát triển kinh tế-xã hội lồng ghép phòng, chống
thiên tai giảm thiểu tác động của thiên tai đến cơ sở hạ tầng.
2. Cách
thức lồng ghép
2.1. Lồng ghép nội dung phòng,
chống thiên tai trong lĩnh vực Tài nguyên nước
- Lập quy hoạch có liên quan đến
phát triển bền vững tài nguyên nước trên cơ sở gắn kết với quy hoạch phát triển
kinh tế - xã hội của tỉnh.
- Xây dựng và hoàn thiện cơ chế
quản lý tổng hợp tài nguyên nước.
- Nâng cao nhận thức cộng đồng
về tác động của biến đổi khí hậu, sử dụng an toàn hợp lý nước mặt và nước ngầm.
- Thực hiện sử dụng nguồn nước
tiết kiệm và hợp lý.
- Đánh giá tác động của biến đổi
khí hậu và nước biển dâng đến tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội của vùng
ven sông.
- Bổ sung giải pháp quan trắc
đánh giá chất lượng và trữ lượng tài nguyên nước mặt để kiểm soát chặt chẽ việc
khai thác, sử dụng nước mặt hạn chế việc gia tăng xâm nhập mặn.
- Lồng ghép các hoạt động ứng
phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai trong lĩnh vực tài nguyên nước
vào các chương trình được thực hiện tại địa phương.
2.2. Lồng ghép nội dung phòng,
chống thiên tai trong lĩnh vực Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
- Lồng ghép các hoạt động
phòng, chống thiên tai với ứng phó biến đổi khí hậu vào các chương trình được
thực hiện tại địa phương.
- Thực hiện công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp nông thôn; áp dụng công nghệ canh tác phù hợp với hoàn cảnh
biến đổi khí hậu.
- Đánh giá hiện trạng và xác định
khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu của các hệ thống công trình thủy lợi.
- Xây dựng các giải pháp tưới
tiêu, quy trình quản lý, vận hành, điều tiết hệ thống công trình thủy lợi, nhằm
né tránh các tác động bất lợi, hạn chế thiệt hại, rủi ro do biến đổi khí hậu
gây ra.
- Rà soát quy hoạch, nâng cấp,
duy tu, bảo dưỡng hệ thống đê sông đảm bảo chống được nước biển dâng theo kịch
bản biến đổi khí hậu đã được xác lập cho từng giai đoạn.
- Xây dựng phương án hỗ trợ đặc
biệt cho các vùng dân cư, ở các vùng thường xảy ra lũ lụt để người dân có nơi
trú ẩn an toàn vào mùa lũ, di dời dân ra khỏi các vùng bị sạt lở ven sông, các
bối ngoài đe dọa tới an toàn của người dân.
- Lồng ghép các vấn đề biến đổi
khí hậu vào quá trình xây dựng các biện pháp bảo đảm an ninh nước cho các hệ thống
thủy lợi, an toàn hệ thống đê điều; tu bổ, cải tạo, chống tổn thất nước trên hệ
thống kênh mương, vận hành hệ thống hợp lý để tăng diện tích tự chảy, tiết kiệm
năng lượng bơm nước.
2.3. Lồng ghép nội dung PCTT
trong lĩnh vực năng lượng, giao thông vận tải và cơ sở hạ tầng
- Lồng ghép vấn đề biến đổi khí
hậu vào các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển năng lượng, giao thông vận
tải của tỉnh.
- Đánh giá tác động của biến đổi
khí hậu đến công tác thi công thiết kế, quy hoạch hệ thống giao thông hiện tại
và trong tương lai.
- Kiên cố hoá các công trình
giao thông vận tải, hệ thống cột truyền tải điện ở vùng có nguy cơ thường xuyên
bị ngập lụt, gia cố mái ta-luy các công trình đường bộ.
- Ưu tiên sử dụng các loại vật
liệu có khả năng chống chịu tốt với những tác động của biến đổi khí hậu.
- Quy hoạch lại khu dân cư,
nâng cấp và hệ thống thoát nước có tính đến ảnh hưởng của thiên tai tại các
vùng nhạy cảm như vùng ven sông, những khu vực đất thấp, vũng thường xuyên bị
ngập lụt do lũ và mưa lớn.
- Xây dựng và hoàn chỉnh Quy hoạch
phát triển giao thông vận tải trong đó chú trọng lồng ghép nội dung phòng, chống
thiên tai vào các kế hoạch, dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông.
- Chương trình tiết kiệm năng
lượng; sử dụng năng lượng mới và năng lượng tái tạo.
2.4. Lồng ghép nội dung PCTT
trong thực hiện Đề án Nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai
dựa vào cộng đồng
- Đảm bảo 100% cán bộ chính quyền
địa phương các cấp trực tiếp làm công tác Quản lý thiên tai được tập huấn, nâng
cao năng lực và trình độ về Quản lý thiên tai dựa vào cộng đồng.
- Hoàn thiện bộ máy phòng chống
và quản lý thiên tai của cơ quan chuyên trách các cấp.
- Trang bị công cụ hỗ trợ công
tác phòng, chống thiên tai cho các cơ quan chính quyền các cấp.
- Cải tạo, nâng cấp và xây dựng
mới trụ sở cơ quan chuyên trách về phòng, chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai cấp
tỉnh, huyện, thành phố, thị xã.
VIII. XÁC ĐỊNH
NGUỒN LỰC VÀ TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN
1. Dự kiến
nguồn lực thực hiện
- Nguồn bổ sung có mục tiêu của
ngân sách Trung ương cho tỉnh; nguồn ngân sách địa phương phân cấp theo ngân
sách hiện hành (bao gồm nguồn vốn chi thường xuyên và nguồn vốn đầu tư công).
- Vốn từ nguồn trái phiếu Chính
phủ.
- Vốn hỗ trợ chính thức (ODA)
và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài.
- Vốn tín dụng đầu tư phát triển
của Nhà nước (các khoản vốn của Ngân hàng phát triển Việt Nam và Ngân hàng
chính sách xã hội).
- Nguồn Quỹ dự trữ tài chính”
(sử dụng theo Quy định tại Điều 11 Luật Ngân sách nhà nước và được đồng ý của
Chính phủ, Bộ Tài chính).
- Nguồn kinh phí từ Quỹ phòng,
chống thiên tai tỉnh.
- Nguồn kinh phí của các sở,
ngành, đơn vị, địa phương mua sắm vật tư, vật liệu, phương tiện, trang thiết bị
theo phương châm “4 tại chỗ”.
- Nguồn chi thường xuyên cho
công tác lập quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch và xây dựng kế hoạch phát triển
ngành, kinh tế - xã hội tỉnh, cấp huyện.
- Nguồn kinh phí hợp pháp khác
theo quy định của pháp luật.
- Nguồn kinh phí các tổ chức,
cá nhân đóng góp do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh huy động, hỗ trợ gia
đình có người chết, bị thương để mai táng, điều trị; nhà sập, nhà bị hư hỏng nặng
để xây cất lại; cứu trợ lương thực, nhu yếu phẩm thiết yếu, hỗ trợ sinh kế nhằm
sớm ổn định cuộc sống người dân.
- Vốn đầu tư từ khối tư nhân và
khuyến khích người dân đầu tư nâng cấp nhà ở bảo đảm an toàn với thiên tai:
Theo chính sách trong hỗ trợ đầu tư, vay vốn của chương trình, dự án.
2. Tiến độ
thực hiện
Giải pháp phòng, chống thiên
tai được thống kê và ưu tiên phân bổ vốn (phân kỳ đầu tư) thực hiện trong giai
đoạn 2021-2025 và các năm tiếp theo.
(Chi tiết Phụ lục số 10, 11,
12 kèm theo)
IX. TỔ CHỨC
THỰC HIỆN
1. Nhiệm
vụ các cấp, các ngành
1.1. Ban Chỉ huy PCTT&TKCN
tỉnh
- Chỉ đạo, đôn đốc các sở, ban,
ngành, đoàn thể của tỉnh và các địa phương xây dựng kế hoạch phòng, chống thiên
tai gắn với thực hiện kế hoạch phòng, chống thiên tai của tỉnh, của quốc gia;
chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức điều phối các hoạt động
mang tính liên ngành, liên vùng trong kế hoạch phòng, chống thiên tai của tỉnh,
của quốc gia.
- Chủ trì, tham mưu cho UBND tỉnh
chỉ huy, điều hành hoạt động phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn trong phạm
vi toàn tỉnh theo nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại quyết định của UBND tỉnh
thành lập Ban Chỉ huy PCTT&TKCN tỉnh và kế hoạch phòng, chống thiên tai của
tỉnh được duyệt.
- Các thành viên Ban Chỉ huy
PCTT&TKCN tỉnh: Theo địa bàn và nhiệm vụ được phân công kiểm tra đôn đốc
các địa phương thực hiện việc phòng, chống, khắc phục hậu quả do thiên tai gây
ra; chỉ đạo công tác tuần tra canh gác đê, việc thực hiện “bốn tại chỗ” và xử
lý các vi phạm pháp luật về đê điều, thuỷ lợi, phòng, chống thiên tai trên địa
bàn.
- Tổ chức đánh giá công tác
phòng, chống thiên tai trên địa bàn tỉnh theo Quyết định số 01/QĐ-TWPCTT ngày
08/02/2021 của Ban Chỉ đạo quốc gia về phòng, chống thiên tai Ban hành Bộ chỉ số
đánh giá công tác phòng, chống thiên tai cấp tỉnh và kế hoạch thực hiện giai đoạn
từ 2021-2025.
1.2. UBND cấp huyện
- Bám sát kế hoạch phòng, chống
thiên tai của tỉnh, chỉ đạo các phòng, ban chuyên môn, UBND cấp xã xây dựng, cập
nhật, hoàn thiện kế hoạch phòng, chống thiên tai gắn với kế hoạch phát triển
kinh tế xã hội của địa phương; Xây dựng, hoàn thiện các phương án phòng, chống
thiên tai, phương án ứng phó với bão mạnh, siêu bão, phương án ứng phó với
thiên tai theo cấp độ rủi ro thiên tai, phương án phòng, chống hạn hán, phương
án hậu phương, phương án TKCN.... Kiểm tra, đôn đốc các xã, phường, thị trấn,
các ngành của huyện thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các mục tiêu, nội dung kế hoạch,
phương án của địa phương và các chỉ đạo của Ban Chỉ huy PCTT&TKCN tỉnh; phối
hợp chặt chẽ với lực lượng quân đội tăng cường khi có tình huống thiên tai phức
tạp xảy ra; chủ trì, phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban Quản lý các khu
công nghiệp hướng dẫn các doanh nghiệp đóng trên địa bàn xây dựng kế hoạch
Phòng, chống thiên tai, Tìm kiếm cứu nạn, phương án hậu phương để tổ chức thực
hiện; tổ chức thanh tra, kiểm tra, giám sát thực hiện kế hoạch ở các cấp địa
phương.
- Kiểm tra, rà soát Kế hoạch,
Phương án ứng phó phù hợp với tình hình, điều kiện cụ thể tại địa phương. Quán
triệt Ban Chỉ huy PCTT&TKCN cấp xã phát huy tối đa phương châm "bốn tại
chỗ", chuẩn bị vật tư, phương tiện phòng, chống mưa đá, dông kèm lốc, lực
lượng xung kích phòng, chống thiên tai ở cơ sở để sẵn sàng huy động giúp dân khắc
phục hậu quả nhanh chóng, kịp thời, hiệu quả và đảm bảo các điều kiện phòng chống
dịch bệnh.
- Chủ động xây dựng phương án
hiệp đồng với lực lượng dân quân tự vệ của các cơ quan, nhà máy, trường học,
các đơn vị quân đội đóng trên địa bàn và lực lượng khác gắn vào từng trọng điểm,
tuyến đê cụ thể để khi có tình huống xảy ra huy động các lực lượng này tham gia
ứng cứu sự cố thiên tai, tìm kiếm cứu nạn.
- Ưu tiên các nguồn lực đầu tư
trang thiết bị, cơ sở vật chất, nâng cao năng lực Văn phòng Thường trực Ban Chỉ
huy cấp huyện, cấp xã để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. Tổ chức kiểm kê nắm
chắc số lượng, chất lượng các loại vật tư, phương tiện dự trữ chuyên dùng để
trên địa bàn; kiểm tra, sửa chữa các lối ra vào các kho, bãi để vật tư, sẵn
sàng huy động vật tư bất cứ lúc nào khi có sự cố đê điều xảy ra. Đặc biệt chú ý
việc tổ chức thành lập các đội xung kích phòng, chống thiên tai, tuần tra canh
gác đê, đầu tư kinh phí cho việc mua sắm phương tiện, trang thiết bị, công cụ cần
trang bị cho Đội xung kích phòng, chống thiên tai cấp xã theo hướng dẫn tại Quyết
định số 08/QĐ- TWPCTT của Ban Chỉ đạo quốc gia về phòng, chống thiên tai ngày
27/3/2020 để chủ động ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai ngay từ giờ đầu.
- Chỉ đạo, triển khai có hiệu
quả Đề án nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng
đồng gắn với thực hiện tiêu chí 3.2. "Đảm bảo đủ điều kiện đáp ứng yêu cầu
dân sinh và theo quy định về phòng, chống thiên tai tại chỗ" trong chương
trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới. Chú trọng việc tổ chức các lớp
tập huấn, hướng dẫn việc triển khai thực hiện và đánh giá tiêu chí đảm bảo thực
chất, tránh hình thức.
- Thực hiện lồng ghép nội dung
PCTT&TKCN trong quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa
phương mình.
- Tổ chức kiểm tra, thống kê,
xác định các vị trí xung yếu, khu vực nguy hiểm, những nơi không đảm bảo an
toàn như nhà ở tạm, khu vực có thể bị ảnh hưởng của sạt lở đất, các khu vực ngập
úng cục bộ trong khu dân cư, các khu vực nuôi cá lồng trên sông, các khu vực chứa
rác thải có nguy cơ ảnh hưởng về môi trường sau thiên tai... trên địa bàn để
triển khai các biện pháp phòng ngừa, ứng phó nhằm đảm bảo an toàn tính mạng và
tài sản cho người dân, doanh nghiệp và Nhà nước, đảm bảo vệ sinh môi trường sau
thiên tai. Kiểm tra kỹ tất cả các điểm dân cư ở bãi sông và trong các đê bối,
phối hợp chặt chẽ với Bộ chỉ huy quân sự tỉnh xây dựng phương án bảo vệ tài sản,
tính mạng của Nhân dân ở khu vực này trong mùa lũ kể cả khi xảy ra tình huống vỡ
bối hoặc phải tháo nước vào bối.
- Tăng cường tổ chức các lớp tập
huấn, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, kỹ năng trong PCTT&TKCN trên địa
bàn. Hướng dẫn, hỗ trợ Nhân dân các biện pháp chằng chống nhà cửa an toàn nhằm
phòng tránh tốc mái, sụp đổ khi xảy ra giông, gió, lốc xoáy.
- Phân định chi tiết ranh giới
và giao trách nhiệm cụ thể cho từng thành viên của Ban Chỉ huy PCTT&TKCN
huyện, xã.
- Chỉ đạo lực lượng tuần tra
canh gác đê của các địa phương trong huyện thực hiện công tác kiểm tra, phát hiện,
báo cáo kịp thời các sự cố đê điều, các vi phạm an toàn công trình đê điều phát
sinh trên địa bàn. Các huyện có bờ kênh trục của hệ thống Bắc Hưng Hải cần phối
hợp chặt chẽ với Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải
trong công tác quản lý, bảo vệ hệ thống công trình đặc biệt lập phương án bảo vệ
các trọng điểm xung yếu, các cống dưới đê, dưới bờ kênh Bắc Hưng Hải, chuẩn bị
vật tư, phương tiện, nhân lực xử lý khi có tình huống xảy ra.
- Thực hiện công tác khắc phục
hậu quả sau thiên tai, thống kê, báo cáo, đánh giá thiệt hại do thiên tai gây
ra trên địa bàn theo quy định.
- Phối hợp với Sở Nông nghiệp
và PTNT rà soát, xác định các điểm đê xung yếu để có biện pháp khắc phục phù hợp,
đảm bảo an toàn hệ thống công trình phòng, chống lũ; xây dựng phương án phòng,
chống xâm nhập mặn ở một số huyện trên địa bàn tỉnh như Thanh Hà, Kim Thành, Tứ
Kỳ; xác định cụ thể về nguồn lực để tổ chức thực hiện.
- Tăng cường, chủ động phương
án kết nối, chỉ đạo trực tuyến và ứng dụng công nghệ thông tin (email, phần mềm,
mạng xã hội facebook, zalo, viber…) phục vụ công tác chỉ đạo, chỉ huy điều hành
ứng phó và thông tin về thiên tai giữa Ban Chỉ huy PCTT&TKCN tỉnh với Ban
Chỉ huy PCTT&TKCN các cấp phù hợp với tình hình và điều kiện cụ thể của từng
địa phương.
- Tổ chức thực hiện nghiêm túc
Chỉ thị số 15/CT-UBND ngày 08/11/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh về việc tăng cường
xử lý vi phạm pháp luật về đê điều trên địa bàn tỉnh. Chủ tịch UBND huyện chủ
trì thực hiện việc kiểm tra, xử lý nghiêm, dứt điểm đối với tất cả các vi phạm
Luật đê điều, Luật phòng, chống thiên tai, Luật thủy lợi trên địa bàn, đặc biệt
lưu ý đến việc giải tỏa các bến bãi ngoài bãi sông để đảm bảo hành lang thoát
lũ.
1.3. Sở Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn
- Rà soát, hoàn thiện các văn bản
về cơ chế, chính sách trong hoạt động phòng, chống thiên tai; tăng cường kiểm
tra, giám sát việc thực thi pháp luật về phòng, chống thiên tai; nghiên cứu, đề
xuất cơ chế huy động nguồn lực, khuyến khích đầu tư vào các hoạt động phòng, chống
thiên tai; tham mưu việc lập, điều chỉnh các quy hoạch thuộc phạm vi quản lý gắn
với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.
- Có trách nhiệm kiểm tra, đôn
đốc, hướng dẫn, thẩm định phương án và tổ chức thực hiện kế hoạch PCTT, kế hoạch
phòng chống úng, hạn hán... hướng dẫn điều chỉnh mùa vụ, chuyển đổi cơ cấu cây
trồng, vật nuôi cho phù hợp với tình hình thiên tai. Cân đối các loại vật tư giống
mạ dự phòng cho phương án phục hồi sản xuất; chuẩn bị phương tiện máy móc sẵn
sàng cơ động phục vụ cho chống úng, hạn cục bộ; chỉ đạo các huyện, thành phố,
thị xã quản lý chặt chẽ các kho hoá chất, kho thuốc bảo vệ thực vật đề phòng
úng lụt xảy ra; đảm bảo an toàn môi trường và có kế hoạch hướng dẫn các địa
phương dự trữ lương thực để cứu trợ các hộ dân ở vùng bị thiên tai. Có kế hoạch
chuẩn bị giống cây trồng và thuốc dự phòng, phát hiện và ngăn chặn kịp thời các
bệnh dịch có thể xảy ra đối với gia súc, cây trồng. Phối hợp với Công ty TNHH
MTV Điện lực Hải Dương để điều độ phân phối điện cho tiêu nước đệm và tiêu úng
theo kế hoạch. Kiểm tra, đôn đốc UBND các huyện, thị xã, thành phố xử lý các vi
phạm về đê điều, PCTT, thuỷ lợi trên địa bàn. Thường xuyên báo cáo mọi diễn biến
tình hình, kết quả về UBND tỉnh và Ban Chỉ huy PCTT&TKCN tỉnh để kịp thời
chỉ đạo, giải quyết.
- Nghiên cứu việc chuyển đổi cơ
cấu cây trồng, đặc biệt vùng không chủ động nguồn nước, thường xuyên xảy ra hạn
hán, thiếu nước, xâm nhập mặn sang phát triển nông nghiệp đa dạng (thủy sản -
cây ăn quả - lúa), đáp ứng nhu cầu của thị trường, chuyển từ phát triển theo số
lượng sang chất lượng.
- Chủ trì xây dựng kế hoạch,
phương án và tổ chức thực hiện công tác phòng, chống các loại thiên tai: Nắng
nóng, hạn hán, rét hại, mưa đá, sương muối, úng ngập, sạt lở đất, xâm nhập mặn...
và công tác khắc phục hậu quả do thiên tai gây ra trên địa bàn tỉnh.
- Phối hợp với UBND các huyện,
thị xã, thành phố rà soát, xác định các điểm đê xung yếu để có biện pháp khắc
phục phù hợp, đảm bảo an toàn hệ thống công trình phòng, chống lũ.
- Trên cơ sở hiện trạng hệ thống
công trình, các phương án phòng ngừa, ứng phó với thiên tai... xác định cụ thể
về nguồn lực để thực hiện.
- Chỉ đạo rà soát, thực hiện
nâng cao năng lực Văn phòng Thường trực Ban Chỉ huy PCTT&TKCN tỉnh theo yêu
cầu của Ban Chỉ đạo quốc gia về Phòng, chống thiên tai.
- Hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc
việc thực hiện kế hoạch của các sở, ban, ngành, đơn vị và UBND các huyện, thị xã,
thành phố; tổ chức rà soát, đánh giá việc thực hiện kế hoạch hàng năm.
1.4. Bộ chỉ huy quân sự tỉnh
- Trực tiếp là cơ quan Thường
trực của Tiểu ban Tìm kiếm cứu nạn, chủ động xây dựng phương án chuẩn bị về lực
lượng, trang bị, phương tiện sẵn sàng huy động lực lượng bộ đội thường trực,
Dân quân tự vệ, Dự bị động viên trong tỉnh làm nhiệm vụ ứng cứu các sự cố thiên
tai, tìm kiếm cứu nạn. Hiệp đồng chặt chẽ với các đơn vị bộ đội của Quân Khu
III, Bộ Quốc phòng, sẵn sàng triển khai các phương án bảo vệ trọng điểm. Báo
cáo Quân Khu và Bộ Quốc phòng chi viện lực lượng và phương tiện hỗ trợ khi xảy
ra tình huống khẩn cấp giúp địa phương trong thực hiện phòng, chống, khắc phục
hậu quả, tìm kiếm cứu nạn khi có tình huống nghiêm trọng hoặc thảm hoạ xảy ra.
Chủ trì, phối hợp với Công an tỉnh, Sở Giao thông vận tải, Sở Y tế tổ chức thực
hiện phương án tìm kiếm cứu nạn khi có tình huống thiên tai.
- Triển khai kế hoạch và quy chế
tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ trên địa bàn tỉnh; trong đó cần lập kế hoạch quản lý,
từng bước đầu tư trang bị bổ sung các phương tiện, trang thiết bị hiện đại, đủ
công năng, công suất đáp ứng yêu cầu tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ.
1.5. Công an tỉnh
Chỉ đạo các phòng, ban, Công an
các huyện, thành phố, thị xã xây dựng các phương án sẵn sàng huy động lực lượng,
phương tiện, trang thiết bị thuộc quyền quản lý để bảo vệ trật tự an ninh trong
tỉnh nhất là khi có tình huống thiên tai xảy ra, chú ý phương án bảo vệ các
công trình trọng điểm, đồng thời bố trí lực lượng, phương tiện của ngành sẵn
sàng giúp các địa phương sơ tán người và tài sản, khắc phục hậu quả thiên tai.
Đặc biệt phát huy vai trò của lực lượng Công an cấp xã trong phòng, chống thiên
tai nhất là trong công tác nắm hộ, nắm người, tuyên truyền, vận động Nhân dân
và giải quyết các tình huống phát sinh về thiên tai ngay từ cơ sở; khai thác dữ
liệu dân cư để xác định các trường hợp người dân đang cư trú tại các khu vực, địa
điểm bị ảnh hưởng bởi thiên tai để có phương án tuyên truyền, sơ tán. Tổ chức tập
huấn cho các lực lượng tham gia bảo vệ các công trình trọng điểm và tham gia
tìm kiếm cứu nạn, khắc phục hậu quả do thiên tai gây ra. Phối hợp với các địa
phương giải toả các vi phạm đê điều, hành lang thoát lũ, vi phạm công trình thủy
lợi, phòng chống xử lý khai thác cát trái phép. Phối hợp với Bộ chỉ huy quân sự
tỉnh trong công tác tìm kiếm cứu nạn khi có yêu cầu. Chủ động nghiên cứu, nắm
chắc tình hình, tham mưu và tổ chức triển khai các phương án, kế hoạch, biện
pháp phát hiện, phòng ngừa, đấu tranh hiệu quả, kịp thời với âm mưu, phương thức,
thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, các loại tội phạm lợi dụng thiên
tai để chống phá, hoạt động.
1.6. Sở Giao thông vận tải
- Xây dựng và tổ chức thực hiện
phương án đảm bảo giao thông thông suốt, an toàn phục vụ công tác phòng, chống
thiên tai, cứu hộ, cứu nạn trên các tuyến đường bộ, đường thủy theo phân cấp quản
lý. Phối hợp với các cơ quan, đơn vị của Trung ương tổ chức đảm bảo giao thông
trên các tuyến đường bộ, đường thủy, đường sắt do Trung ương quản lý.
- Phối hợp với địa phương, đơn
vị tăng cường kiểm tra hoạt động kinh doanh tại các bến đò ngang, đò dọc và các
phương tiện vận tải lưu thông trên sông, bảo đảm tuyệt đối an toàn khi tham gia
giao thông đường thủy.
- Chuẩn bị phương tiện vượt
sông ở các bến phà, đặc biệt chú ý đảm bảo giao thông để nối liên lạc với các
vùng giao thông còn khó khăn. Có kế hoạch bố trí phương tiện vận tải của ngành
và của đơn vị vận tải khác trong tỉnh sẵn sàng huy động phục vụ yêu cầu di chuyển
dân cư, lực lượng cứu nạn, cứu hộ, cứu trợ. Phối hợp với Bộ chỉ huy quân sự tỉnh
trong công tác tìm kiếm cứu nạn khi có yêu cầu.
1.7. Sở Tài nguyên và Môi trường
- Xây dựng và triển khai Phương
án ứng phó và khắc phục hậu quả động đất, sạt, sụt lún đất. Phổ biến, tuyên
truyền sâu rộng đến Nhân dân các tình huống và biện pháp ứng phó khi xảy ra động
đất, sạt lở đất.
- Chịu trách nhiệm giải quyết
các thủ tục về đất đai khi phải sử dụng đất để xử lý các sự cố về đê điều, tổ
chức các đội xung kích để xử lý môi trường sau khi thiên tai xảy ra. Chủ trì,
phối hợp với các cơ quan liên quan, UBND các huyện, thị xã, thành phố kiểm soát
chặt chẽ việc khai thác khoáng sản, cát sỏi, nước ngầm hạn chế làm gia tăng
nguy cơ sạt lở, sụt lún đất.
1.8. Sở Thông tin và Truyền
thông
- Chỉ đạo các Doanh nghiệp bưu
chính, viễn thông làm tốt công tác kiểm tra toàn bộ hệ thống thông tin liên lạc
phục vụ công tác phòng, chống thiên tai; thay thế dây cũ, lắp đặt điện thoại ở
các điểm chống thiên tai theo yêu cầu của Ban Chỉ huy PCTT&TKCN tỉnh; quy định
chế độ ưu tiên về thông tin, truyền tin, các dịch vụ bưu chính phục vụ phòng,
chống thiên tai đảm bảo nhanh chóng, an toàn, chính xác, thông suốt trong mọi
tình huống, đặc biệt khi có bão; xây dựng phương án dự phòng đảm bảo thông tin
liên lạc cho tình huống xấu nhất (bão mạnh, siêu bão, ngập lụt khẩn cấp, vỡ đê)
có thể xảy ra.
- Chỉ đạo Báo Hải Dương, Đài
Phát thanh - truyền hình tỉnh, cổng thông tin điện tử tỉnh, các cơ quan truyền
thông đẩy mạnh công tác tuyên truyền, đặc biệt là những thời điểm có bão, lũ,
thiên tai xảy ra trên địa bàn tỉnh. Xây dựng văn bản tuyên truyền các quy định
pháp luật về đê điều, kiến thức phòng chống giảm nhẹ thiên tai tới cộng đồng.
- Xây dựng văn bản, tổ chức thực
hiện tăng cường thông tin truyền thông về phòng, chống thiên tai, hướng dẫn kỹ
năng phòng ngừa, ứng phó với các loại hình thiên tai thường hay xảy ra trên địa
bàn để Nhân dân biết, chủ động phòng, tránh.
1.9. Sở Lao động Thương binh và
Xã hội
Nắm chắc lực lượng lao động của
các địa phương, các cơ quan, đơn vị, các trường chuyên nghiệp đóng trên địa bàn
để chủ động huy động nhân lực phục vụ ứng cứu thiên tai khi có yêu cầu. Chủ trì
cùng các ngành, các địa phương tổ chức khắc phục hậu quả, cứu trợ xã hội... Hướng
dẫn UBND các huyện, thị xã, thành phố giải quyết các chính sách, chế độ trợ
giúp đột xuất cho các đối tượng bị ảnh hưởng bởi thiên tai theo quy định hiện
hành.
1.10. Sở Y tế
Chuẩn bị thuốc dự phòng, phương
tiện cấp cứu và cán bộ y tế để chăm sóc bảo vệ sức khoẻ ban đầu cho Nhân dân
khi xảy ra thiên tai; phát hiện và ngăn chặn kịp thời các bệnh dịch. Tổ chức một
số đội y tế xung kích với biên chế, phương tiện, thiết bị và cơ số thuốc phù hợp
sẵn sàng nhận nhiệm vụ đột xuất khi được điều động phục vụ ứng cứu thiên tai, cấp
cứu người bị nạn, khắc phục hậu quả sau thiên tai. Chỉ đạo các phòng, trung tâm
y tế, bệnh viện các huyện, thị xã, thành phố tổ chức các đội y tế xung kích để
phục vụ công tác Phòng, chống thiên tai trên địa bàn. Phối hợp với Bộ chỉ huy
quân sự tỉnh trong công tác tìm kiếm cứu nạn khi có yêu cầu.
1.11. Sở Công Thương
Ngoài việc xây dựng kế hoạch
Phòng, chống thiên tai của ngành, phối hợp với UBND cấp huyện, Sở Kế hoạch và Đầu
tư kiểm tra công tác xây dựng kế hoạch Phòng, chống thiên tai và các phương án
bảo vệ đơn vị tại chỗ, phương án phối hợp ứng cứu của các doanh nghiệp khi có
yêu cầu đột xuất của công tác phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn. Xây dựng
Kế hoạch cung ứng một số mặt hàng thiết yếu phục vụ công tác phòng, chống thiên
tai và tìm kiếm cứu nạn.
1.12. Sở Kế hoạch và Đầu tư
Nắm chắc vật tư, phương tiện, thiết
bị của tất cả các ngành, các doanh nghiệp, các hợp tác xã dịch vụ, nhà máy đóng
trên địa bàn và chịu trách nhiệm huy động theo lệnh điều động đến vị trí có yêu
cầu sử dụng được nhanh nhất, kịp thời phục vụ xử lý ứng cứu sự cố thiên tai.
Tham mưu cho UBND tỉnh, cân đối,
bố trí vốn đầu tư công cho công tác PCTT&TKCN theo quy định của Luật Đầu tư
công.
Hướng dẫn các ngành, địa phương
thực hiện lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai vào quy hoạch, kế hoạch
phát triển ngành, kinh tế - xã hội theo hướng dẫn tại Thông tư số 10/2021/TT-
BKHĐT ngày 22/12/2021 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Phối hợp với Ban quản lý các
Khu công nghiệp tỉnh nắm chắc vật tư, phương tiện, thiết bị của các doanh nghiệp
trong khu công nghiệp và huy động theo lệnh điều động đến vị trí có yêu cầu sử
dụng được nhanh nhất, kịp thời phục vụ xử lý ứng cứu sự cố thiên tai, hướng dẫn,
yêu cầu các cơ quan, doanh nghiệp trong khu công nghiệp đóng trên địa bàn thành
lập Ban Chỉ huy và lực lượng PCTT, TKCN của đơn vị mình, sẵn sàng ứng cứu tại
chỗ và hỗ trợ địa phương khi xảy ra những tình huống thiên tai phức tạp.
* Đối với Ban quản lý các Khu
công nghiệp tỉnh:
- Nắm chắc vật tư, phương tiện,
thiết bị của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp và phối hợp với Sở Kế hoạch
và Đầu tư huy động theo lệnh điều động đến vị trí có yêu cầu sử dụng được nhanh
nhất, kịp thời phục vụ xử lý ứng cứu sự cố thiên tai.
- Hướng dẫn, yêu cầu các cơ
quan, doanh nghiệp trong khu công nghiệp đóng trên địa bàn thành lập Ban Chỉ
huy và lực lượng PCTT, TKCN của đơn vị mình, sẵn sàng ứng cứu tại chỗ và hỗ trợ
địa phương khi xảy ra những tình huống thiên tai phức tạp.
1.13. Sở Tài chính
Tham mưu cho UBND tỉnh có kế hoạch
ưu tiên giải quyết kịp thời các kinh phí chi thường xuyên và đột xuất phục vụ
phòng, chống thiên tai, đặc biệt khi có các sự cố đê điều phải xử lý ứng cứu khẩn
cấp.
Cân đối nguồn vốn, báo cáo UBND
tỉnh xem xét bố trí vốn hàng năm để thực hiện các nhiệm vụ, chương trình, dự án
được phê duyệt đối với vốn sự nghiệp.
1.14. Thanh tra tỉnh
Tổ chức kiểm tra vật tư dự trữ
phòng, chống thiên tai và việc thực hiện “bốn tại chỗ” của các huyện. Thực hiện
việc thanh tra, kiểm tra, giám sát thực hiện kế hoạch phòng, chống thiên tai ở
các cấp địa phương.
1.15. Sở Văn hoá Thể thao và Du
lịch
- Tổ chức ít nhất 2 đội bơi lặn
để phục vụ công tác Phòng, chống thiên tai, Tìm kiếm cứu nạn khi xảy ra sự cố vỡ
bối, vỡ đê. Thực hiện việc tuyên truyền về công tác phòng, chống, giảm nhẹ
thiên tai; tuyên truyền, phổ biến việc thực hiện Luật đê điều và Luật phòng chống
thiên tai; hướng dẫn địa phương bảo vệ hệ thống di tích lịch sử - văn hóa, danh
lam thắng cảnh... thành lập các tổ, đội xung kích phục vụ công tác phòng, chống
thiên tai và khắc phục hậu quả.
- Phối hợp với UBND các huyện,
thị xã, thành phố kiểm tra, yêu cầu các tổ chức, cá nhân có biển quảng cáo
ngoài trời, thực hiện chằng chống, gia cố đảm bảo yêu cầu kỹ thuật đề phòng gãy
đổ khi có bão, dông lốc.
1.16. Sở Xây dựng
Hướng dẫn các chủ đầu tư thực
hiện dự án áp dụng các quy chuẩn, tiêu chuẩn trong quy hoạch, thiết kế, thi
công xây dựng mới các công trình nhằm an toàn đối phó với bão và các loại thiên
tai khác; phối hợp với UBND các huyện, thị xã, thành phố và các đơn vị liên
quan tiếp tục phổ biến, tuyên truyền việc thực hiện các biện pháp phòng, chống
thiên tai tại các công trình xây dựng ở các địa phương; hướng dẫn các địa
phương, các ngành phân loại, đánh giá, xác định mức độ an toàn của các công
trình đã xây dựng (chủ yếu các công trình công cộng như trường học, trụ sở cơ
quan nhà nước, nhà chung cư...) để phục vụ di dân tránh bão khi cần thiết và
các loại thiên tai khác.
1.17. Sở Giáo dục và Đào tạo
Xây dựng, tổ chức thực hiện
phương án đảm bảo an toàn cho các trường học, lớp học, giáo viên, học sinh,
sinh viên khi có bão, lũ, thiên tai xảy ra. Tổ chức thành lập các tổ, đội xung
kích phục vụ công tác phòng, chống thiên tai và khắc phục hậu quả.
1.18. Doanh nghiệp quản lý,
khai thác công trình thuỷ lợi
- Công ty TNHH MTV Khai thác
công trình thủy lợi tỉnh, Công ty TNHH MTV quản lý công trình đô thị Hải Dương:
Kiểm tra, đánh giá chất lượng công trình, xây dựng phương án bảo vệ trọng điểm
đối với hệ thống công trình do đơn vị quản lý và kế hoạch, phương án phòng chống
úng, chống hạn, chống xâm nhập mặn... Chuẩn bị phương tiện, máy móc sẵn sàng cơ
động phục vụ chống úng, chống hạn, chống xâm nhập mặn. Tổ chức thực hiện các
phương án phòng, chống thiên tai theo kế hoạch.
- Công ty TNHH MTV Khai thác
công trình thuỷ lợi Bắc Hưng Hải: Kiểm tra, đánh giá chất lượng và thực hiện
phương án bảo vệ bờ kênh trục Bắc Hưng Hải, cống An Thổ, Cầu Xe, Âu thuyền Cầu
Cất, cống xả trạm bơm My Động. Phối hợp với các địa phương trong công tác
phòng, chống úng, hạn, xử lý vi phạm công trình Bắc Hưng Hải; xử lý các sự cố
công trình do đơn vị quản lý. Tổ chức vận hành hợp lý công trình thủy lợi để
tranh thủ lấy nước khi độ mặn ở mức cho phép để tăng cường tích trữ nước vào nội
đồng, hệ thống kênh, khẩn trương đóng cống ngăn mặn xâm nhập khi độ mặn lên
cao.
- Công ty TNHH MTV Khai thác
công trình thủy lợi tỉnh, Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thuỷ lợi Bắc
Hưng Hải chỉ đạo các đơn vị trực thuộc thực hiện nghiêm công tác kiểm tra, phát
hiện, ngăn chặn, lập biên bản, kiến nghị phối hợp với chính quyền địa phương xử
lý nghiêm các vi phạm pháp luật thủy lợi theo quy định.
1.19. Công ty TNHH một thành
viên Điện lực Hải Dương
- Có trách nhiệm đảm bảo cung cấp
điện, hướng dẫn các địa phương tổ chức phát quang hành lang bảo vệ đường dây tải
điện, cung cấp điện đảm bảo số lượng và chất lượng; có chế độ cấp điện ưu tiên
cho công tác phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn đặc biệt là các vùng trọng
điểm về úng ngập, để tiêu nhanh hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại. Bố trí lực
lượng thường trực, trực ban để sửa chữa, thay thế kịp thời đường dây và các máy
biến thế khi có sự cố đặc biệt khi có bão, đảm bảo cung cấp điện cho các trạm
bơm. Chuẩn bị cơ sở vật chất, biến thế, thiết bị, phụ tùng dự phòng phù hợp với
yêu cầu của công tác Phòng, chống thiên tai.
- Chủ trì phối hợp với các địa
phương, đơn vị có liên quan kiểm tra, sửa chữa đường vào trạm biến thế các trạm
bơm để khi có sự cố có thể sửa chữa, thay thế được kịp thời.
1.20. Đài Khí tượng thủy văn tỉnh
Thực hiện Quy định về dự báo, cảnh
báo và truyền tin thiên tai theo Quyết định số 18/2021/QĐ-TTg của Thủ tướng
Chính phủ. Tổ chức theo dõi chặt chẽ diễn biến lũ, bão, thiên tai từ xa; nâng
cao độ chính xác trong dự báo, thông tin, báo cáo kịp thời về nguy cơ các loại
thiên tai có thể xảy ra trên địa bàn giúp lãnh đạo tỉnh, các cấp, các ngành chủ
động chỉ huy, chỉ đạo phòng, chống có kết quả; có chế độ thông tin đặc biệt khi
có tình huống thiên tai khẩn cấp xảy ra.
1.21. Đài Phát thanh - truyền
hình tỉnh, Báo Hải Dương, các cơ quan thông tin đại chúng các cấp:
- Phối hợp chặt chẽ với Đài khí
tượng thuỷ văn tỉnh, Ban Chỉ huy PCTT&TKCN các cấp đưa tin kịp thời, đúng
quy định về dự báo, cảnh báo về tình hình thiên tai... và công tác chỉ đạo, điều
hành phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn trên địa bàn tỉnh.
- Xây dựng kế hoạch hợp tác với
Thường trực Ban Chỉ huy PCTT&TKCN tỉnh để thực hiện các chương trình chuyên
đề về phòng, chống, ứng phó thiên tai, hiểm họa. Nghiên cứu, khai thác các tài
liệu truyền thông do Ban Chỉ đạo quốc gia về phòng, chống thiên tai đã xây dựng
để phổ biến, tuyên truyền đến cộng đồng.
- Có biện pháp đẩy mạnh tuyên
truyền, truyền tin, phổ biến thường xuyên với nhiều hình thức phù hợp về chủ
trương chỉ đạo, kế hoạch, biện pháp, tình hình phòng, chống thiên tai, các
thông tin dự báo, thời tiết, thuỷ văn, công tác xử lý vi phạm đê điều, công trình
thuỷ lợi và hướng dẫn Nhân dân biện pháp phòng tránh.
1.22. Các ngành khác
Tuỳ theo chức năng của mình có
kế hoạch phòng, chống thiên tai cụ thể để chủ động đối phó với thiên tai và chi
viện cho các đơn vị khác khi có yêu cầu. Tổ chức thành lập Ban Chỉ huy
PCTT&TKCN và tổ chức lực lượng PCTT&TKCN của đơn vị.
1.23. Văn phòng Thường trực Ban
Chỉ huy PCTT&TKCN tỉnh
Ngoài nhiệm vụ thường xuyên do
Ban Chỉ huy PCTT&TKCN tỉnh giao, khi có sự cố về đê điều tham mưu lập
phương án xử lý (kể cả thiết kế kỹ thuật). Việc xử lý phải quán triệt thật
tốt phương châm “bốn tại chỗ”, chủ yếu giao cho Ban Chỉ huy PCTT&TKCN các
huyện, thị xã, thành phố và các lực lượng tăng cường thực hiện. Khi cần phải
huy động lực lượng quân đội, các đơn vị, công ty, xí nghiệp trong tỉnh tham gia
xử lý ứng cứu và làm chủ đầu tư, chịu trách nhiệm giám sát, nghiệm thu thanh
toán các công trình xử lý khẩn cấp theo quy định.
2. Chế độ
thông tin báo cáo
- Các sở, ban, ngành, UBND các
huyện, thị xã, thành phố phân công cán bộ chuyên trách giám sát, đánh giá và
báo cáo việc thực hiện các nhiệm vụ, chương trình, dự án trong kế hoạch được
giao.
- Trên cơ sở báo cáo đánh giá của
UBND cấp huyện, các sở, ban, ngành và đơn vị, Sở Nông nghiệp và PTNT rà soát nội
dung, tiến độ thực hiện kế hoạch phòng, chống thiên tai tỉnh Hải Dương đến năm
2025, tiến hành điều chỉnh, cập nhật kế hoạch hàng năm phù hợp với tình hình thực
tiễn, báo cáo UBND tỉnh xem xét, phê duyệt.
- Sở Nông nghiệp và PTNT chủ
trì tổ chức đánh giá định kỳ hàng năm việc thực hiện kế hoạch phòng, chống
thiên tai cấp tỉnh. Đánh giá những khó khăn, vướng mắc trong triển khai thực hiện
và kiến nghị UBND tỉnh điều chỉnh nội dung, giải pháp thực hiện. Trong điều kiện
thiên tai xảy ra đặc biệt lớn, thiệt hại nặng nề, Sở Nông nghiệp và PTNT tổ chức
đánh giá thiệt hại, nhu cầu tái thiết sau thiên tai và rà soát, cập nhật kế hoạch
phòng, chống thiên tai tỉnh Hải Dương đến năm 2025.
- Báo cáo đột xuất: Các sở,
ban, ngành và UBND cấp huyện trong quá trình thực hiện kế hoạch gặp khó khăn về
nhân lực, tài chính hoặc gặp sự cố ảnh hưởng đến tính mạng, tài sản phải báo
cáo về UBND tỉnh, Ban Chỉ huy PCTT&TKCN tỉnh (qua Sở Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn) để kịp thời xử lý.
- Báo cáo định kỳ: Trước 15/12
hằng năm, các sở, ban, ngành, đơn vị và UBND cấp huyện báo cáo kết quả thực hiện
kế hoạch phòng, chống thiên tai về UBND tỉnh, Ban Chỉ huy PCTT&TKCN tỉnh
qua Sở Nông nghiệp và PTNT để tổng hợp. Trong báo cáo định kỳ nêu rõ kết quả đạt
được, những khó khăn và tồn tại cần giải quyết.
Căn cứ Kế hoạch phòng, chống
thiên tai tỉnh Hải Dương đến năm 2025, các cấp, các ngành trong tỉnh chủ động
xây dựng kế hoạch của ngành mình, cấp mình thật cụ thể, sát với điều kiện của địa
phương, của ngành nhằm chủ động đối phó thắng lợi với mọi tình huống thiên tai
có thể xảy ra./.
Nơi nhận:
- Ban chỉ đạo QG về PCTT; (để báo
cáo)
- UBQG ƯPSC, TT và TKCN; (để báo cáo)
- Bộ Nông nghiệp và PTNT; (để báo cáo)
- Thường trực tỉnh ủy; (để báo cáo)
- Thường trực HĐND tỉnh; (để báo cáo)
- Lãnh đạo UBND tỉnh;
- Các sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh;
- UBND các huyện, thành phố, thị xã;
- Lưu: VT, KTN, Ô Chính.
|
TM. ỦY BAN NHÂN
DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Trần Văn Quân
|