|
BỘ NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 1003/QĐ-BNN-CB
|
Hà Nội, ngày 13
tháng 5 năm 2014
|
QUYẾT ĐỊNH
PHÊ
DUYỆT ĐỀ ÁN NÂNG CAO GIÁ TRỊ GIA TĂNG HÀNG NÔNG LÂM THỦY SẢN TRONG CHẾ BIẾN VÀ
GIẢM TỔN THẤT SAU THU HOẠCH
BỘ TRƯỞNG BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Căn cứ Nghị định số 199/2013/NĐ-CP
ngày 26/11/2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu
tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;
Căn cứ Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia
tăng và phát triển bền vững;
Căn cứ Quyết định số 124/QĐ-TTg ngày 02/02/2012 của Thủ tướng Chính
phủ Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất ngành nông nghiệp đến năm
2020 và tầm nhìn đến 2030;
Căn cứ Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng
Chính phủ Phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020;
Căn cứ Quyết định số 1690/QĐ-TTg ngày 16/9/2010 về việc Phê duyệt Chiến
lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2020;
Căn cứ Quyết định số 161/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển sản xuất muối đến năm 2010 và năm 2020;
Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Chế biến nông
lâm thủy sản và nghề muối,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt "Đề án Nâng cao giá trị gia tăng (GTGT) hàng
nông lâm thủy sản trong chế biến và giảm tổn thất sau thu hoạch" gồm các nội
dung chính như sau:
I. QUAN ĐIỂM
1. Nâng cao GTGT hàng nông lâm thủy sản trên cơ sở phát triển của từng ngành hàng, gắn với bảo
vệ môi trường và phát triển bền vững.
2. Lấy thị trường làm cơ
sở để điều chỉnh cơ cấu các ngành sản xuất, chế biến nông lâm thủy sản
hàng hóa theo hướng thị trường cần, thay bằng việc cung ứng các sản phẩm hiện
có.
3. Áp dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ, đi thẳng vào
công nghệ hiện đại, chuyển dịch nhanh cơ cấu sản phẩm sang chế biến sâu để tham
gia vào chuỗi giá trị cung ứng toàn cầu ở phân khúc GTGT cao.
4. Đa dạng loại hình, quy mô chế biến công nghiệp;
hình thành các doanh nghiệp "đầu tàu" sản xuất các sản phẩm có thương
hiệu và sức cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế.
5. Huy động sự tham gia tích cực, chủ động của người
dân và các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, trong đó doanh nghiệp
đóng vai trò chủ đạo kết nối sản xuất, chế biến với thị trường. Nhà nước hỗ trợ
mạnh mẽ thông qua cơ chế chính sách đột phá.
II. MỤC TIÊU
1. Mục tiêu chung
Nâng cao giá trị, hiệu quả và khả năng cạnh tranh của
các ngành hàng nông lâm thủy sản thông qua việc tổ chức lại sản xuất, chuyển đổi
cơ cấu sản phẩm theo hướng nâng cao tỷ trọng sản phẩm GTGT cao, áp dụng khoa học
công nghệ, đổi mới công nghệ chế biến theo hướng hiện đại và giảm tổn thất sau
thu hoạch (cả số lượng và chất lượng), nâng cao chất lượng và an toàn thực phẩm
(ATTP).
2. Mục tiêu cụ thể
- Đến năm 2020, GTGT các ngành hàng nông lâm thủy sản
tăng bình quân 20% so với hiện nay.
Cụ thể đối với một số ngành hàng chủ lực: Gạo tăng
20%; cà phê tăng 13%; chè tăng 30%; thủy sản tăng 20%; cao su tăng 20%; muối
tăng 20%; đồ gỗ tăng trên 20%, giảm 50% lượng nguyên liệu đưa vào chế biến dăm
gỗ.
- Đến 2020, tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản,
thủy sản giảm 50% so với hiện nay.
III. NỘI DUNG VÀ GIẢI PHÁP
1. Nội dung
Các nội dung chính cần tập trung thực hiện để đạt
được mục tiêu nâng cao GTGT hàng nông lâm thủy sản và muối trong chế biến và giảm
tổn thất sau thu hoạch gồm:
1. Chuyển dịch cơ cấu sản phẩm chế biến theo hướng
nâng cao tỷ trọng các sản phẩm có GTGT cao, nâng cao chất lượng và ATTP, hạ giá
thành sản phẩm.
2. Thực hiện đồng bộ các giải pháp để đến năm 2020
mức tổn thất sau thu hoạch giảm xuống còn 50% so với hiện nay.
3. Nâng cao hiệu quả sử dụng phế phụ phẩm và phát
triển công nghiệp hỗ trợ.
2. Giải pháp thực hiện
2.1. Tổ chức sản xuất theo hướng tăng cường
liên kết sản xuất nguyên liệu - chế biến - tiêu thụ
- Triển khai có kết quả Quyết định 62/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính
sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản,
xây dựng cánh đồng lớn để tăng cường liên kết doanh nghiệp - nông dân, nông dân
- nông dân, doanh nghiệp - doanh nghiệp. Đồng thời, thực hiện Quyết định số 01/2012/QĐ-TTg ngày 9/01/2012 của Thủ tướng
Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ việc áp dụng Quy trình thực hành sản xuất
nông nghiệp tốt (GAP) trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, nâng tỷ lệ diện
tích các vùng sản xuất nông sản hàng hóa được cấp chứng nhận VietGAP, GlobalGAP
và các chứng chỉ khác (ASC, 4C, RainForest...). Trên cơ sở liên kết sản xuất,
giảm thiểu đầu mối trung gian, tổ chức hệ thống kiểm tra, giám sát ATTP theo
chuỗi sản xuất sản phẩm.
- Tiếp tục đẩy mạnh dồn điền đổi thửa, tích tụ ruộng
đất, đồng bộ với việc cải tạo đồng ruộng, đầu tư cơ sở hạ tầng (giao thông, thủy
lợi, điện...) để áp dụng cơ giới hóa, tổ chức sản xuất hàng hóa lớn, cung cấp
cho chế biến và xuất khẩu. Tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt cho các doanh
nghiệp có đủ khả năng tự đầu tư vùng nguyên liệu để chủ động trong sản xuất
kinh doanh.
- Hình thành các doanh nghiệp "đầu tàu"
và doanh nghiệp vệ tinh, tập trung hỗ trợ đầu tư để đổi mới công nghệ và thiết
bị cho các doanh nghiệp thật sự có năng lực và hiệu quả. Áp dụng các hệ thống
quản lý chất lượng tiên tiến như HACCP, SSOP, ISO... trong chế biến, nhằm kiểm
soát tốt chất lượng và ATTP.
- Nhân rộng các mô hình sản xuất tiên tiến, thông
qua:
+ Ưu tiên các dự án khuyến nông nhằm nâng cao chất
lượng nguyên liệu cho chế biến, xây dựng các mô hình liên kết doanh nghiệp -
nông dân.
+ Hỗ trợ tập huấn về công nghệ thông tin, xây dựng và áp dụng chứng chỉ FSC, CoC, ISO,... cho
doanh nghiệp chế biến và người sản xuất nguyên liệu.
+ Ưu tiên phổ biến các công nghệ phù hợp, tạo ra
các sản phẩm có GTGT cao cho các doanh nghiệp chế biến.
2.2. Về chuyển dịch cơ cấu sản phẩm chế biến
theo hướng nâng cao tỷ trọng các sản phẩm có GTGT cao, nâng cao chất lượng và
ATTP, hạ giá thành sản phẩm
Trên cơ sở thị trường, đầu tư, tổ chức sản xuất
theo hướng:
- Chuyển dịch hợp lý cơ cấu sản phẩm theo hướng chế
biến sâu, chế biến tinh, nâng cao chất lượng và tỷ trọng các sản phẩm có GTGT
cao, hạn chế đến mức thấp nhất việc sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm thô.
- Xây dựng và tổ chức thực hiện các quy trình sản
xuất tiên tiến đối với từng loại sản phẩm, đảm bảo chất lượng, giảm tỷ lệ tiêu
hao vật tư, nguyên liệu và quản lý tốt ATTP.
- Xử lý nghiêm các cơ sở chế biến không đảm bảo các
điều kiện theo Quy chuẩn kỹ thuật về ATTP và xử lý ô nhiễm môi trường.
- Cải tiến, đa dạng hóa hình thức bao bì, mẫu mã sản
phẩm phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng.
Cụ thể đối với một số ngành hàng:
1) Lúa gạo:
- Thay đổi cơ cấu giống lúa, sử dụng giống chất lượng
cao có xác nhận; thay đổi cơ cấu sản phẩm gạo xuất khẩu theo hướng tăng tỷ trọng
sản phẩm gạo thơm, gạo chất lượng cao. Đến năm 2020, tăng tỷ lệ gạo thơm, gạo
chất lượng cao lên 70% sản lượng gạo xuất khẩu.
- Áp dụng công nghệ vi sinh (enzim), tạo tinh bột gạo
biến tính, phối hợp với các loại ngũ cốc khác (ngô, khoai, đậu) chế biến thực
phẩm chức năng; các sản phẩm ăn liền có giá trị cao (bánh bột gạo, bim bim, rượu
chất lượng cao...).
- Thực hiện đúng quy trình xay xát, nâng cao chất
lượng sản phẩm gạo, đến năm 2020 tỷ lệ gạo thu hồi trong xay xát đạt trên 68%,
tỷ lệ hạt bạc bụng không lớn hơn 4%, hạt hư hỏng không quá 0,2%.
2) Cà phê:
- Chuyển dịch cơ cấu sản phẩm, nâng tỷ lệ cà phê
hòa tan, cà phê rang xay từ dưới 10% hiện nay lên 25% vào năm 2020. Thực hiện
hài hòa việc xuất khẩu cà phê nhân robusta với nhập khẩu cà phê arabica để tạo
sản phẩm tinh chế chất lượng cao.
- Nâng cao chất lượng chế biến cà phê nhân xuất khẩu:
Nâng tỷ lệ sử dụng nguyên liệu cà phê có chứng chỉ, nguyên liệu đạt TCVN 4193
lên 50% vào năm 2015 và 80% vào năm 2020; khuyến khích đầu tư công nghệ chế biến
ướt quy mô lớn, gắn với xử lý nước hạn chế ô nhiễm môi trường; nghiên cứu, nhân
rộng mô hình sử dụng enzim tách nhớt quả, thực hành chế biến ướt cà phê thóc
quy mô hộ, nâng tỷ lệ cà phê chế biến ướt từ 10% hiện nay lên 30% vào năm 2020
(trong đó 100% cà phê chè được chế biến ướt).
3) Chè:
- Đảm bảo trên 80% sản lượng chè được chế biến đúng
yêu cầu kỹ thuật (TCVN 1454:2013, TCVN 9740:2013, QCVN
01-7:2009/BNNPTNT,...)
- Đầu tư đồng bộ hệ thống bảo quản trong cơ sở chế
biến để giữ ổn định chất lượng, đảm bảo 80% sản lượng chè chế biến được bảo quản
đúng yêu cầu kỹ thuật.
- Đầu tư cải tiến công nghệ, thiết bị hiện đại để
thay đổi cơ cấu sản phẩm, nâng cao chất lượng và tăng tỷ lệ chế biến sâu, đa dạng
hóa sản phẩm đáp ứng thị hiếu của thị trường có tiềm năng nâng cao GTGT:
+ Chuyển dịch cơ cấu sản phẩm để đạt tỷ lệ 45% là
chè xanh, chè đặc sản (trong đó 85% là chè xanh, 15% là chè đặc sản) và 55% là
chè đen (chú trọng nâng cao tỷ lệ chè đen CTC, thay thế một phần chè Orthodox
hiện nay).
+ Phát triển các sản phẩm chè chế biến sâu gắn với
thương hiệu và cung cấp đến người sử dụng sau cùng, tỷ trọng đạt trên 20% tổng
sản lượng chè chế biến.
4) Cao su:
- Chuyển đổi cơ cấu sản phẩm mủ cao su sơ chế: Đến
năm 2020, cơ cấu sản phẩm như sau: Mủ cốm SVR 3L, SVR 5L chiếm khoảng 20%; SVR
CV50, 60 khoảng 25%; mủ kem 20%; mủ cao su kỹ thuật RSS, SR và SVR 10, SVR 20
chiếm khoảng 35% để nâng cao giá trị xuất khẩu và đưa tỷ trọng sử dụng sản phẩm
cao su thiên nhiên sơ chế trong nước lên tối thiểu 30%. Trong đó:
+ Đối với cao su đại điền: chuyển đổi giảm tỉ lệ sản
phẩm SVR 3L, tăng tỉ lệ SVR CV50, 60.
+ Đối với cao su tiểu điền: chuyển đổi cơ cấu sản
phẩm từ sản xuất SVR 3L sang mủ tờ xông khói RSS và SVR 10, 20.
- Đầu tư phát triển công nghiệp chế biến cao su sơ
chế thành các sản phẩm cao su công nghiệp (săm lốp ô tô, xe máy; găng tay y tế;
đệm mút...), nâng tỷ lệ cao su chế biến sử dụng nguyên liệu trong nước từ 17%
hiện nay lên 30% vào năm 2020.
- Ứng dụng KHCN, đầu tư thay thế khoảng 30-40% thiết
bị sấy theo công nghệ sấy từ sử dụng nhiên liệu hóa thạch hiện nay bằng thiết bị
sấy theo công nghệ sấy bằng sóng cao tần, đảm bảo khoảng 30-35% sản lượng cao
su thiên nhiên của Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam (VRG) được dán nhãn
Cac-bon Foot Print (ISO 14067).
5) Gỗ:
- Cơ cấu lại sản phẩm chế biến gỗ, giảm tối đa xuất
khẩu dăm gỗ sang chế biến các sản phẩm phù hợp với quy mô nguyên liệu từng
vùng. Trong đó, đến năm 2020 giảm tỷ lệ sản phẩm dăm gỗ, ván bóc từ 22% xuống 6%,
gỗ ghép thanh tăng lên 12%; sản phẩm ngoại thất là 25%; ván dăm 7%; MDF 26%; sản
phẩm gỗ mỹ nghệ, nội thất là 24%.
- Khuyến khích đầu tư các nhà máy sản xuất ván sợi
MDF có công suất từ 120.000 m3/năm trở lên.
- Đối với những vùng gỗ rừng trồng phân tán: khuyến
khích sản xuất ván gỗ dăm, gia công bóng bề mặt và đồ mộc cấp thấp phục vụ nhu
cầu trong vùng.
6) Thủy sản:
- Đa dạng hóa sản phẩm thủy sản chế biến, tập trung
sản xuất các sản phẩm có GTGT phù hợp với thị hiếu từng thị trường. Nâng tỷ trọng
sản phẩm GTGT lên 60-70% so với tổng sản lượng thủy sản chế biến. Tập trung chế
biến các sản phẩm thủy sản GTGT cao như: tôm (PTO, Sushi, Nobashi, Tempura,
Butterfly PTO,...); cá ngừ (sashimi, đóng hộp, xông khói,...); cá tra (file bao
gói nhỏ, bao bột, chả viên, khô cá tra tẩm gia vị,...); cá biển (surimi, khô tẩm
gia vị ăn liền, đồ hộp,...); nhuyễn thể (Sushi, sashimi, bánh nhân bạch tuộc,
thực phẩm chức năng từ hàu,...);
- Từ nay đến 2020 hạn chế đầu tư mới các cơ sở chế
biến thủy sản sản xuất ra sản phẩm sơ chế vì đã dư thừa 40% công suất, chỉ khuyến
khích đầu tư cơ sở chế biến ra các sản phẩm GTGT.
- Ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong chế biến,
bảo quản thủy sản như: Công nghệ cấp đông siêu nhanh, sấy chân không thăng hoa,
sấy bức xạ hồng ngoại, công nghệ enzyme, công nghệ bảo quản thủy sản sống bằng
phương pháp ngủ đông, bao gói MAP, .... Áp dụng tiêu chuẩn quốc tế như: HACCP,
Codex, ISO, BRC-food, Halal,... đáp ứng tốt yêu cầu về chất lượng và ATTP. Tăng
cường quản lý chặt chẽ việc sử dụng kháng sinh, hóa chất cấm, chất tăng trọng,...
trong toàn chuỗi sản xuất từ nguyên liệu đến chế biến, tiêu thụ sản phẩm nhằm tạo
ra bước chuyển rõ rệt về chất lượng và vượt qua được các hàng rào kỹ thuật của
các nước nhập khẩu.
7) Muối:
- Tập trung đầu tư sản xuất muối công nghiệp để
chuyển dịch cơ cấu sản phẩm, nâng tỷ lệ muối công nghiệp từ 29% hiện nay lên
70% so với tổng sản lượng muối, trước mắt đầu tư hoàn thành dự án muối Quán Thẻ,
quy mô 2.550 ha. Đầu tư nâng cấp hệ thống thủy lợi, giao thông phục vụ sản xuất
muối, hỗ trợ nhân rộng các mô hình liên kết, hợp tác sản xuất muối sạch để nâng
cao năng suất, chất lượng, sản lượng muối, tạo nguồn nguyên liệu sạch, ổn định
cho chế biến muối tinh chất lượng cao (99,5% NaCl).
- Đầu tư nâng cấp các cơ sở chế biến quy mô nhỏ, hoạt
động gián đoạn hiện nay về kho chứa, nhà xưởng, dây chuyền máy, thiết bị chế biến
muối tinh, muối tinh iốt liên tục, đảm bảo các điều kiện ATTP gắn với vùng
nguyên liệu, nâng tỷ lệ muối chế biến từ 35% hiện nay lên 45% vào năm 2015 và
100% vào năm 2020. Cơ cấu sản phẩm muối chế biến của các cơ sở chủ yếu là muối
tinh chất lượng cao cho công nghiệp thực phẩm và muối tinh trộn iốt cho nhu cầu
tiêu dùng.
2.3. Về giảm tổn thất sau thu hoạch
Thực hiện đồng bộ các giải pháp và triển khai có hiệu
quả Quyết định 68/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng
Chính phủ về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp. Cụ thể đối
với một số ngành hàng chủ lực như sau:
1) Lúa gạo:
Giảm tổn thất sau thu hoạch từ 11-13% hiện nay xuống
còn 5-6% bằng các biện pháp cơ giới hóa thu hoạch, đầu tư máy sấy, kho chứa
thóc:
- Thực hiện thu hoạch lúa bằng máy đạt 60% vào năm
2020, trong đó khu vực đồng bằng sông Cửu Long đạt 90%, chủ yếu sử dụng máy gặt
đập liên hợp có tính năng kỹ thuật cao, mức độ gặt sót dưới 1,5%.
- Đầu tư phát triển các loại máy sấy phù hợp với
quy mô, trình độ sản xuất, phấn đấu đến năm 2020 năng lực sấy lúa cả nước đạt
trên 80%; trong đó, tỷ lệ sấy tầng sôi, sấy tháp đạt khoảng 60%.
- Chuyển giao các mẫu hình kho bảo quản lúa, gạo
quy mô hộ gia đình theo hướng tiện ích, an toàn. Xây dựng mới và nâng cấp hệ thống
kho chứa thóc, kết hợp các hệ thống sấy, làm sạch để có thể thu mua thóc ướt
cho dân vào mùa mưa lũ. Cơ giới hóa các kho đạt 80%, với 20% được tự động hóa,
nâng cao năng suất lao động và kiểm soát các thông số kỹ thuật trong quá trình bảo quản.
2) Cà phê:
Giảm tổn thất về khối lượng và chất lượng trong thu hái quả, phơi sấy (Quy mô hộ):
- Áp dụng thu hái quả chín, đến năm 2020 có 80% sản
lượng cà phê quả tươi đạt tiêu chuẩn TCVN
9728-2012.
- Cà phê quả tươi ở quy mô nông hộ được làm khô
đúng kỹ thuật để hạn chế sự nhiễm nấm và giảm phẩm cấp trong quá trình phơi sấy:
Không sử dụng phương pháp xát dập trước khi phơi; đầu tư sân phơi đảm bảo kỹ
thuật (sân phơi bằng xi măng hoặc bằng bạt, không phơi sân đất); hỗ trợ nông
dân đầu tư máy sấy cà phê.
3) Chè:
Áp dụng VIETGAP, QCVN
132:2013/BNNPTNT trong thu hoạch, vận chuyển, bảo quản chè để giảm tổn thất
về chất lượng. Đến năm 2020, đảm bảo trên 80% chè nguyên liệu được thu hoạch, vận
chuyển, bảo quản đúng yêu cầu kỹ thuật.
4) Thủy sản:
Giảm tổn thất sau thu hoạch đối với khai thác hải sản
từ 20% hiện nay xuống 10%, thông qua:
- Tổ chức tốt dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển và
tại cảng cá. Áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong khai thác thủy sản, thay
đổi phương pháp đánh bắt và ngư lưới cụ để đảm bảo chất lượng sản phẩm khai
thác được.
- Ưu tiên đầu tư trang thiết bị và hệ thống hầm lạnh
bảo quản sản phẩm trên tàu đánh bắt xa bờ. Tổ chức hệ thống thu gom hải sản
trên biển để kịp thời đưa sản phẩm vào bờ.
5) Muối:
Áp dụng khoa học công nghệ, thực hiện cơ giới hóa
trong sản xuất, chế biến muối, nhất là khâu thu hoạch và rửa muối sau thu hoạch
để nâng cao năng suất, chất lượng muối, giảm tổn thất về sản lượng trong lưu
kho, bãi, bảo quản muối từ 15% xuống 10% và tăng tỷ lệ thu hồi muối trong chế
biến muối tinh từ 80% lên 90%.
2.4. Về nâng cao hiệu quả sử dụng phế phụ phẩm
và phát triển công nghiệp hỗ trợ
Đầu tư công nghệ, thiết bị nhằm xử lý và tận dụng
triệt để các phế phụ phẩm nông nghiệp tạo sản phẩm có GTGT cao, phát triển công
nghiệp hỗ trợ để nâng cao hiệu quả sản xuất. Cụ thể đối với một số ngành hàng
như sau:
1) Lúa gạo:
- Toàn bộ phế phụ phẩm (trấu, cám) trong xay xát
lúa gạo được chế biến thành các sản phẩm có giá trị như: củi trấu, trấu viên,
ván ép, dầu cám, thức ăn chăn nuôi,... và góp phần bảo vệ môi trường.
- Đối với rơm: sử dụng trong sản xuất nấm; đóng
bánh làm thức ăn chăn nuôi, làm chất đốt; làm phân hữu cơ,...
2) Thủy sản:
Sử dụng phế phụ phẩm trong các loại hình chế biến,
đầu tư công nghệ hiện đại để sản xuất các chế phẩm có GTGT sử dụng trong các
ngành thực phẩm và phi thực phẩm như: Colagen; Chitin, Chitosan, Glucosamin,
can xi hoạt tính, bột cá, dầu cá, bột đạm thủy phân, các chất có hoạt tính sinh
học cao,...
3) Gỗ:
- Tận dụng triệt để củi cành ngọn, mùn cưa, đề
xê...tạo các viên ép làm chất đốt, tinh dầu...
- Phát triển công nghiệp hỗ trợ sản xuất gồm: sơn,
keo, các phụ tùng, linh kiện lắp ráp đồ gỗ.
4) Muối: Tận thu các sản phẩm phụ (thạch cao bằng
6,5% sản lượng muối công nghiệp; nước ót bằng 0,7 m3/tấn) để nâng
cao hiệu quả sản xuất và góp phần bảo vệ môi trường.
2.5. Về thị trường
1) Thị trường nội địa:
- Tiếp tục thực hiện có kết quả cuộc vận động
"Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam". Xây dựng hình ảnh sản phẩm
thông qua chất lượng cao, đảm bảo ATTP và phù hợp thị hiếu người tiêu dùng.
- Đầu tư, hiện đại hóa hệ thống hạ tầng thương mại,
kết nối giữa người sản xuất với nhà phân phối thông qua Chợ đầu mối bán buôn sản
phẩm có đầy đủ các phân khu chức năng và kiểm soát ATTP đến hệ thống bán lẻ,
các cửa hàng tiện ích đưa sản phẩm nông nghiệp tiếp cận người tiêu dùng thuận lợi.
- Nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến thương mại
thông qua hoạt động Hội chợ Triển lãm với sự tham gia của cộng đồng, nhất là
các doanh nghiệp hàng đầu.
2) Thị trường xuất khẩu
- Tổ chức nghiên cứu, phân tích và dự báo thị trường
về nhu cầu, xu hướng tiêu thụ sản phẩm, biến động thị trường để xây dựng chiến
lược phát triển thị trường cho các sản phẩm chủ lực đặc biệt là các nhóm sản phẩm
mới, có tiềm năng GTGT
- Tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân sản xuất
kinh doanh, chế biến xây dựng phát triển thương hiệu lớn, có uy tín, gắn với chỉ
dẫn địa lý. Phấn đấu năm 2020, có 40-50% đơn vị sản xuất kinh doanh xuất khẩu
xây dựng và phát triển các thương hiệu lớn, có uy tín tại thị trường EU, Mỹ và
Nhật Bản.
- Tổ chức quảng bá sản phẩm theo hướng tăng dần tỷ
trọng các mặt hàng nông lâm thủy sản chế biến ở phân khúc GTGT cao sang các thị
trường "khó tính" như Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia... Tổ chức
tốt các hoạt động quảng bá nông lâm thủy sản Việt Nam đến nhà phân phối lớn, hệ
thống siêu thị, người tiêu dùng các nước, đặc biệt là đối với sản phẩm chủ lực,
sản phẩm mới, sản phẩm có GTGT được mang nhãn mác, thương hiệu của Việt Nam.
- Đa dạng hóa thị trường nhất là phát triển các thị
trường tiềm năng, thị trường "ngách" nhằm tạo điều kiện tiêu thụ các
sản phẩm có GTGT cao, trong đó quan tâm đặc biệt đến thị trường Trung Quốc để
cân bằng cán cân thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc vào năm 2020.
- Vận động để Việt Nam được sớm công nhận là nền
kinh tế thị trường nhằm chủ động xây dựng các biện pháp phòng vệ thương mại
thích hợp để đối phó với tranh chấp thương mại, rào cản kỹ thuật (chất lượng,
thuế bảo hộ sản phẩm chế biến... ) giúp sản phẩm chủ lực của ta nhất là các sản
phẩm chế biến có GTGT thâm nhập sâu vào thị trường quốc tế.
- Xử lý nghiêm và công bố công khai các hành vi
gian lận thương mại, vi phạm các quy định
về chất lượng, an toàn thực phẩm, cạnh tranh không lành mạnh làm mất uy tín sản
phẩm nông lâm thủy sản Việt Nam.
3) Phát triển hạ tầng thương mại:
- Từng bước hiện đại hóa hạ tầng thương mại (kho
tàng, bến bãi, các sàn giao dịch đấu giá, trung tâm bán buôn, kho ngoại
quan...), trước mắt là các khu vực cửa khẩu tiếp giáp biên giới phía Bắc để đáp
ứng được yêu cầu tiêu thụ sản phẩm nông sản của ta vào thị trường Trung Quốc.
- Quy hoạch xây dựng hệ thống các chợ đầu mối cận với
vùng hàng hóa lớn (mỗi tỉnh có 1-2 chợ
đầu mối quy mô 1-3 ha); hỗ trợ các tổ chức kinh tế hoặc hộ tư nhân có dự án
xây dựng cơ sở thu mua tiêu thụ sản phẩm.
2.6. Về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực
- Tổ chức đào tạo, xây dựng đội ngũ chuyên gia về
quản lý nhà nước ngành chế biến nông, lâm thủy
sản và muối; bồi dưỡng kỹ năng quản trị, nghiệp vụ kinh doanh cho các doanh
nghiệp chế biến nông lâm thủy sản và muối.
- Hỗ trợ các doanh nghiệp đào tạo, đào tạo lại,
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật trình độ cao, đáp ứng
nhu cầu sản xuất, yêu cầu vận hành các dây chuyền thiết bị hiện đại, công nghệ
tiên tiến.
- Thực hiện hợp tác, liên kết giữa các cơ sở đào tạo
với các doanh nghiệp, gắn đào tạo với sử dụng lao động tại chỗ hoặc đặt hàng về
đào tạo.
- Lồng ghép các chương trình đào tạo khác nhau, thực
hiện tốt Chương trình đào tạo nghề theo Quyết định số 1956/2009/QĐ-TTg.
2.7. Về khoa học, công nghệ
- Xây dựng nhiệm vụ nghiên cứu khoa học hàng năm
trên cơ sở đặt hàng của Bộ và các cơ quan liên quan, tập trung vào các lĩnh vực
nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, thiết bị chế biến sâu đối với các sản phẩm
chủ lực, bảo quản giảm tổn thất sau thu hoạch, tận dụng phế phụ phẩm; đa dạng
hóa sản phẩm chế biến theo hướng nâng cao GTGT sản phẩm và bảo vệ môi trường.
- Có cơ chế khuyến khích các cơ sở nghiên cứu hợp
tác với các doanh nghiệp thực hiện các đề tài có tính ứng dụng cao, gắn kết quả
nghiên cứu với sản phẩm cuối cùng.
- Đổi mới công tác Khuyến nông, gắn khuyến nông Nhà
nước với khuyến nông xã hội, thông qua việc dành một phần kinh phí khuyến nông
của Nhà nước kết hợp với nguồn lực của các doanh nghiệp để xây dựng các mô
hình, dự án khuyến nông ứng dụng công nghệ cao, hỗ trợ nông dân sản xuất hàng
hóa lớn gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm.
- Đề xuất cơ chế Hỗ trợ các tổ chức, cá nhân mua
công nghệ sản xuất các sản phẩm có GTGT cao, áp dụng công nghệ sản xuất sạch và
sạch hơn, bảo vệ môi trường.
2.8. Về cơ chế, chính sách
1) Xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tạo
hành lang pháp lý cho hoạt động của từng ngành hàng:
- Xây dựng nghị định quản lý ngành hàng, trước mắt
tập trung xây dựng và ban hành Nghị định về sản xuất và kinh doanh mía đường.
- Xây dựng và ban hành quy hoạch các ngành hàng gắn
kết sản xuất - chế biến và thị trường, đồng bộ với các cơ chế để thực hiện đúng
theo quy hoạch.
- Xây dựng và hoàn thiện các quy chuẩn kỹ thuật quốc
gia cho các ngành hàng.
2) Về đất đai:
Rà soát cơ chế chính sách tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp chế biến tiếp cận về đất đai, nhất là các dự án đầu tư vào chế biến
sâu sản phẩm, cụm liên hoàn sấy - bảo quản - chế biến công nghiệp để giảm tổn
thất sau thu hoạch.
3) Về đầu tư:
- Triển khai có kết quả Nghị định 210/2013/NĐ-CP ngày 19/12/2013 của Chính phủ về
Khuyến khích Doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; bổ sung chính sách
hỗ trợ bảo vệ vùng nguyên liệu, xây dựng cơ sở hạ tầng, ưu đãi thuế, hợp tác
công - tư (PPP) trong đầu tư chế biến nông lâm thủy
sản.
- Tăng cường đầu tư của Nhà nước và ưu tiên nguồn vốn
ODA để đầu tư hỗ trợ phát triển lĩnh vực chế biến nông lâm thủy sản.
- Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến
khích các doanh nghiệp trong nước đầu tư vào chế biến sâu, chế biến phế phụ phẩm.
- Rà soát lại các chính sách, nhằm thu hút tốt hơn
đầu tư nước ngoài vào nông nghiệp nói chung và chế biến nông lâm thủy sản nói
riêng, nhằm thu hút vốn và công nghệ hiện đại.
4) Về tài chính, tín dụng:
- Kiến nghị Bộ Tài chính nghiên cứu, trình Chính phủ
và Quốc hội xem xét mở rộng ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp đầu tư chế biến
sâu nông lâm thủy sản và muối.
- Rà soát giảm bớt các loại phí nông nghiệp, làm rõ
các khoản phí và giá dịch vụ; bảo hiểm nông nghiệp tập trung vào các hộ sản xuất
lớn, nhất là các hộ cỏ tham gia liên kết với các doanh nghiệp chế biến để giảm
rủi ro cho các doanh nghiệp đầu tư vào vùng nguyên liệu.
- Phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nghiên cứu
tăng tiếp cận của các doanh nghiệp chế biến nông lâm thủy sản về tín dụng.
Điều 2. Tổ chức thực hiện
1. Cục Chế biến nông lâm thủy sản và nghề muối
- Chủ trì, phối hợp với các Cục, Vụ chức năng và địa
phương xây dựng Kế hoạch hành động và triển khai thực hiện Đề án; nghiên cứu, đề
xuất cơ chế, chính sách huy động các nguồn lực xã hội cho Đề án.
- Tổng hợp, đánh giá tình hình thực hiện hàng năm,
đề xuất sửa đổi, bổ sung Đề án khi cần thiết.
2. Các Tổng cục, Cục, Vụ và các đơn vị liên quan
Theo chức năng nhiệm vụ được giao, phối hợp với Cục
Chế biến nông lâm thủy sản và nghề muối trong việc triển khai thực hiện Đề án.
3. Các địa phương
- Sở Nông nghiệp và PTNT các tỉnh và thành phố trực
thuộc Trung ương cụ thể hóa các nội dung của Đề
án sát với điều kiện cụ thể của địa phương, tham mưu cho cấp ủy, chính
quyền chỉ đạo đạt hiệu quả cao.
- Tổ chức rà soát quy hoạch, xây dựng chiến lược
phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản trên địa bàn, chú trọng quy
hoạch các vùng nguyên liệu tập trung, phù hợp với quy hoạch chung của cả nước.
- Đề xuất các chương trình, dự án để triển khai thực
hiện Đề án trên địa bàn, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.
4. Các hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp
- Hiệp hội từng ngành hàng xây dựng chiến lược phát
triển của ngành hàng gắn với các nội dung cụ thể của Đề án; phát hiện và củng cố
các doanh nghiệp "đầu tàu", tạo động lực phát triển ngành hàng.
- Các doanh nghiệp: xây dựng kế hoạch hành động
theo hướng đẩy mạnh các hoạt động liên doanh, liên kết để tăng cường sức mạnh
khi tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu; nhanh chóng khắc phục tình trạng nhỏ lẻ,
manh mún và thiếu sự liên kết giữa các tác nhân khi tham gia vào chuỗi giá trị
toàn cầu; đẩy mạnh hoạt động xây dựng và phát triển thương hiệu, khai thác chỉ
dẫn địa lý đối với hàng hóa xuất khẩu.
- Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, liên kết, liên doanh với
các doanh nghiệp nước ngoài để thu hút vốn đầu tư và công nghệ hiện đại, tạo đột
phá trong chuyển dịch cơ cấu sản phẩm theo hướng nâng cao GTGT.
Điều 3. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
Điều 4. Chánh Văn phòng Bộ, Cục trưởng Cục Chế biến nông lâm thủy sản
và nghề muối, Thủ trưởng các đơn vị liên
quan thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Giám đốc Sở Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các tổ chức,
cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
Nơi nhận:
- Như Điều 4;
- Văn phòng Chính phủ;
- Các Bộ: KHĐT; Tài chính; Công Thương; KHCN; TNMT; NHNN;
- Bộ trưởng và các Thứ trưởng;
- Ban cán sự Đảng Bộ;
- UBND các tỉnh, TP trực thuộc TW;
- Hiệp hội các ngành hàng nông lâm thủy
sản;
- Cổng thông tin điện tử Chính phủ, Bộ NNPTNT;
- Lưu: VT, CB.
|
BỘ TRƯỞNG
Cao Đức Phát
|