|
ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH KHÁNH HÒA
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 176/KH-UBND
|
Khánh Hòa, ngày
06 tháng 01 năm 2026
|
KẾ HOẠCH
VỀ VIỆC THỰC HIỆN PHỔ CẬP GIÁO DỤC MẦM NON CHO TRẺ EM MẪU
GIÁO TỪ 3 ĐẾN 5 TUỔI GIAI ĐOẠN 2026 - 2030 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KHÁNH HÒA
Căn cứ Nghị quyết số 71-NQ/TW
ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo;
Căn cứ Nghị định số 277/2025/NĐ-CP
ngày 20/10/2025 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Nghị quyết số
218/2025/QH15 ngày 26/6/2025 của Quốc hội về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ
em từ 3 đến 5 tuổi;
Căn cứ Nghị quyết số 01-NQ/TU
ngày 03/10/2025 của Tỉnh ủy về phát triển bền vững giáo dục và đào tạo tỉnh
Khánh Hòa đến năm 2035 và tầm nhìn đến 2045;
Theo báo cáo, đề xuất của Sở
Giáo dục và Đào tạo tại Tờ trình số 3274/TTr- SGDĐT ngày 30/12/2025;
Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế
hoạch thực hiện phổ cập giáo dục mầm non (GDMN) cho trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 5
tuổi giai đoạn 2026 - 2030, cụ thể như sau:
I. MỤC ĐÍCH,
YÊU CẦU
- Triển khai kịp thời, thống nhất,
hiệu quả Nghị định số 277/2025/NĐ-CP ngày 20/10/2025 của Chính phủ về phổ cập
GDMN cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi đến trường đạt mục tiêu đề ra trên địa bàn tỉnh;
cụ thể hóa các nhiệm vụ, giải pháp và phân công trách nhiệm cho các Sở, ngành,
địa phương; huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực để bảo đảm mọi trẻ em
trong độ tuổi được đến trường, góp phần nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm
sóc và giáo dục toàn diện cho trẻ em.
- Việc triển khai thực hiện Nghị
định số 277/2025/NĐ-CP ngày 20/10/2025 của Chính phủ phải bám sát mục tiêu, nhiệm
vụ phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương; bảo đảm kịp tiến độ, hiệu quả.
- Các Sở, ban, ngành và Ủy ban
nhân dân các xã, phường, đặc khu trong toàn tỉnh căn cứ chức năng, nhiệm vụ được
giao, chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện các nội dung, nhiệm vụ của Kế hoạch.
Phối hợp chặt chẽ, tổ chức thực hiện đồng bộ; thường xuyên kiểm tra, giám sát,
kịp thời tháo gỡ khó khăn, bảo đảm mục tiêu đạt chuẩn và nâng cao chất lượng phổ
cập GDMN cho trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi trên địa bàn tỉnh.
II. MỤC TIÊU
1. Mục tiêu chung:
- Thực hiện đảm bảo mục tiêu đạt
chuẩn phổ cập GDMN cho trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi. Nâng cao tỷ lệ huy động
trẻ trong độ tuổi đến trường; trẻ em được nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ
trong môi trường an toàn, thân thiện, chất lượng; trẻ được phát triển toàn diện
về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ, ngôn ngữ và hình thành tâm thế sẵn
sàng vào lớp Một; góp phần thực hiện bình đẳng trong tiếp cận giáo dục, không để
trẻ em nào bị bỏ lại phía sau.
- 100% các cơ sở GDMN công lập
bảo đảm 01 phòng học/lớp; phấn đấu có đủ các phòng chức năng, thư viện, đồ chơi
ngoài trời, đồ dùng, đồ chơi trong lớp, thiết bị dạy học, bếp ăn, nhà vệ sinh
và công trình nước sạch theo quy định. Tỷ lệ phòng học kiên cố đạt 100%.
- Năm 2030, tỷ lệ huy động trẻ
em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi đến trường đạt ít nhất 97%, đối với xã có điều kiện
kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đạt ít nhất 94%; tỷ lệ trẻ em từ 3 đến 5 tuổi
hoàn thành Chương trình GDMN cho trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi đạt ít nhất
96%; đối với xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đạt ít nhất
93%.
- Đến năm 2030, tỉnh Khánh Hòa
duy trì vững chắc đạt chuẩn phổ cập GDMN cho trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi.
2. Mục tiêu cụ thể:
a) Giai đoạn 2026-2028:
* Đối với xã, phường, đặc khu:
Tỷ lệ huy động trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi đến lớp đạt ít nhất 90%, đối với
xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đạt ít nhất 87%, cụ thể:
- Huy động trẻ em mẫu giáo 3 tuổi
đến lớp đạt tỷ lệ ít nhất 83% (trong đó, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc
biệt khó khăn đạt tỷ lệ ít nhất 80%);
- Huy động trẻ em mẫu giáo 4 tuổi
đến lớp đạt tỷ lệ ít nhất 88% (trong đó, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc
biệt khó khăn đạt tỷ lệ ít nhất 85%);
- Duy trì trẻ em mẫu giáo 5 tuổi
đến lớp đạt tỷ lệ trên 99% (trong đó, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt
khó khăn đạt tỷ lệ trên 96%).
Trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi
hoàn thành Chương trình GDMN hằng năm đạt tỷ lệ ít nhất 88%; đối với xã có điều
kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đạt tỷ lệ ít nhất 85%;
100% các cơ sở GDMN công lập bảo
đảm 01 phòng học/lớp; có đủ các phòng chức năng, thư viện, đồ chơi ngoài trời,
đồ dùng, đồ chơi trong lớp, thiết bị dạy học, bếp ăn, nhà vệ sinh và công trình
nước sạch theo quy định. Tỷ lệ phòng học kiên cố đạt 100%.
Năm 2028, 100% các xã, phường,
đặc khu được công nhận đạt chuẩn phổ cập GDMN cho trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi.
* Đối với tỉnh:
- Huy động trẻ em mẫu giáo từ 3
đến 5 tuổi đến lớp đạt ít nhất 90%, đối với xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc
biệt khó khăn đạt ít nhất 87%.
- Năm 2028, tỉnh Khánh Hòa được
công nhận đạt chuẩn phổ cập GDMN cho trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi.
b) Giai đoạn 2029-2030:
* Đối với xã, phường, đặc khu:
Huy động trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi đến lớp đạt tỷ lệ ít nhất 97%, đối với
xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đạt ít nhất 94%, cụ thể:
- Huy động trẻ em mẫu giáo 3 tuổi
đến lớp đạt tỷ lệ ít nhất 95% (trong đó, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc
biệt khó khăn đạt tỷ lệ ít nhất 92%);
- Huy động trẻ em mẫu giáo 4 tuổi
đến lớp đạt tỷ lệ ít nhất 97% (trong đó, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc
biệt khó khăn đạt tỷ lệ ít nhất 94%);
- Huy động trẻ em mẫu giáo 5 tuổi
đến lớp đạt tỷ lệ ít nhất 99% (trong đó, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc
biệt khó khăn đạt tỷ lệ ít nhất 96%).
Tỷ lệ trẻ em mẫu giáo từ 3 đến
5 tuổi hoàn thành Chương trình GDMN hằng năm đạt tỷ lệ ít nhất 96%; đối với xã
có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đạt tỷ lệ ít nhất 93%.
100% các cơ sở GDMN công lập bảo
đảm 01 phòng học/lớp mẫu giáo; phấn đấu có đủ các phòng chức năng, thư viện, đồ
chơi ngoài trời, đồ chơi trong lớp, thiết bị dạy học, bếp ăn, nhà vệ sinh và
công trình nước sạch theo quy định. Tỷ lệ phòng học kiên cố đạt 100%.
Năm 2030, 100% các xã, phường,
đặc khu duy trì đạt chuẩn phổ cập GDMN cho trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi.
* Đối với tỉnh:
- Huy động trẻ em mẫu giáo từ 3
đến 5 tuổi đến lớp đạt ít nhất 97%, đối với xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc
biệt khó khăn đạt ít nhất 94%.
- Năm 2030, tỉnh Khánh Hòa duy
trì vững chắc đạt chuẩn phổ cập GDMN cho trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi.
III. NHIỆM VỤ
VÀ GIẢI PHÁP
1. Tăng cường
sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp, sự phối hợp đồng bộ
giữa các cấp, các ngành trong triển khai phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em mẫu
giáo từ 3 đến 5 tuổi:
- Quán triệt sâu sắc các chủ
trương, quan điểm của Đảng, Nhà nước và các văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục và
Đào tạo, của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân về phổ cập GDMN cho trẻ
em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi; xác định đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng, là
trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.
- Nêu cao vai trò lãnh đạo, chỉ
đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp; phát huy trách nhiệm của các Sở, ban,
ngành, đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội trong công tác tuyên truyền vận động,
huy động trẻ em mầm non đến trường; tăng cường kiểm tra, giám sát, kịp thời
tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện.
- Phát huy vai trò của các Sở,
ban, ngành, đoàn thể trong tham mưu bảo đảm điều kiện, nguồn lực thực hiện; lồng
ghép hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội với nhiệm vụ
phát triển GDMN, nhất là ở vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
- Tiếp tục triển khai các văn bản
chỉ đạo của Trung ương và Ủy ban nhân dân tỉnh về phổ cập GDMN cho trẻ em mẫu
giáo từ 3 đến 5 tuổi; ưu tiên thực hiện, lồng ghép với các chương trình, dự án
phát triển giáo dục ở vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần
nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ, thực hiện công bằng
trong tiếp cận giáo dục cho trẻ em.
2. Công tác
truyền thông:
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền,
phổ biến sâu rộng mục đích, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện phổ cập
GDMN cho trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi; tăng cường vai trò, trách nhiệm của
các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, đội ngũ nhà giáo, cha mẹ trẻ và cộng đồng
trong việc chăm lo, đầu tư phát triển GDMN. Tập trung tuyên truyền về ý nghĩa
và lợi ích của việc huy động trẻ em từ 3 đến 5 tuổi đến trường, đặc biệt là trẻ
5 tuổi chuẩn bị vào lớp Một; phát huy vai trò phối hợp giữa gia đình với nhà
trường để nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em mẫu giáo
từ 3 đến 5 tuổi đến trường, đặc biệt là trẻ em 5 tuổi chuẩn bị vào lớp Một;
phát huy vai trò phối hợp giữa gia đình với nhà trường để nâng cao chất lượng
nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ.
- Triển khai có hiệu quả các
chuyên mục, chuyên trang trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm nâng cao
hiệu quả công tác truyền thông; trong đó, làm rõ vai trò của GDMN trong phát
triển toàn diện trẻ em và là nền tảng quan trọng cho giáo dục phổ thông. Phổ biến
đầy đủ, kịp thời và thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ đối với trẻ em, giáo
viên và cơ sở GDMN, đặc biệt ở vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số.
- Tăng cường các hình thức
tuyên truyền; phát huy vai trò truyền thông trong cộng đồng để đẩy mạnh công
tác vận động trẻ em từ 3 đến 5 tuổi đến trường; triển khai hiệu quả tuyên truyền
thực hiện giáo dục song ngữ Tiếng Việt - Tiếng dân tộc thiểu số tại vùng đồng
bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa.
3. Chính
sách đầu tư, phát triển mạng lưới trường, lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học,
đồ dùng, đồ chơi:
- Tăng cường đầu tư cơ sở vật
chất: Bố trí, lồng ghép các nguồn vốn từ ngân sách Trung ương, địa phương và
các chương trình, dự án liên quan để đầu tư xây mới, cải tạo, nâng cấp cơ sở vật
chất trường, lớp; các nguồn lực xã hội để đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất,
trang thiết bị dạy học, đồ dùng, đồ chơi; phát triển mạng lưới cơ sở GDMN bảo đảm
đủ trường, đủ lớp đáp ứng yêu cầu phổ cập GDMN cho trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 5
tuổi. Khuyến khích, thu hút các nguồn lực xã hội, doanh nghiệp, tổ chức và cá
nhân tham gia đầu tư phát triển GDMN theo hướng xã hội hóa, từng bước nâng chuẩn
cơ sở GDMN theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, đáp ứng yêu cầu thực hiện phổ cập
GDMN cho trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi.
- Ưu tiên bố trí quỹ đất sạch
trong quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch đô thị và nông thôn để xây dựng trường,
lớp mầm non; cho phép chuyển đổi linh hoạt mục đích sử dụng đất theo đúng quy định,
phục vụ nhu cầu mở rộng mạng lưới GDMN, nhất là tại các khu tái định cư và địa
bàn có tốc độ gia tăng dân số. Tập trung chỉ đạo công tác bồi thường, giải
phóng mặt bằng, giao đất kịp thời cho các dự án đầu tư xây dựng trường, lớp. Thực
hiện chính sách miễn, giảm tiền thuê đất, tiền thuế đất đối với cơ sở GDMN theo
quy định; không áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các cơ sở GDMN công
lập và cơ sở GDMN tư thục hoạt động không vì lợi nhuận. Ưu tiên bố trí, sử dụng
hợp lý trụ sở cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp dôi dư sau sắp xếp (sáp nhập
xã, phường khi thực hiện chính quyền 2 cấp) để làm cơ sở GDMN; xem xét cho thuê
hoặc giao quản lý, sử dụng công trình thuộc sở hữu nhà nước cho các cơ sở GDMN
tư thục có nhu cầu, bảo đảm đúng quy định và hiệu quả sử dụng đất.
- Tập trung huy động và sử dụng
hiệu quả nguồn vốn đầu tư từ ngân sách trung ương, địa phương và các chương
trình, dự án hỗ trợ phát triển giáo dục để nâng cấp, xây dựng cơ sở vật chất của
các cơ sở GDMN để bảo đảm đến năm 2028: 100% cơ sở GDMN công lập và cơ sở GDMN
tại các xã đặc biệt khó khăn, vùng khó khăn, dân tộc thiểu số, miền núi, hải đảo,
bãi ngang, ven biển, khu đông dân cư, khu/cụm công nghiệp, khu chế xuất … có đủ
trường lớp; bảo đảm 01 phòng học/lớp, 100% phòng học kiên cố, đầy đủ phòng chức
năng, thư viện, đồ chơi trong lớp và ngoài trời, thiết bị dạy học, bếp ăn, nhà
vệ sinh và công trình nước sạch theo quy định.
- Ưu tiên bố trí vốn đầu tư
theo hướng tập trung, tránh dàn trải; kết hợp lồng ghép nguồn lực từ các chương
trình mục tiêu quốc gia, chương trình phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền
núi để nâng cao hiệu quả sử dụng kinh phí, bảo đảm tiến độ và tính bền vững
công tác phổ cập GDMN cho trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi.
4. Thực hiện
hiệu quả các chính sách phát triển giáo dục mầm non ở xã có điều kiện kinh tế -
xã hội đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào có trẻ em dân tộc thiểu số:
- Rà soát, xác định đối tượng
ưu tiên theo quy định tại Nghị định số 277/2025/NĐ-CP ngày 20/10/2025 của Chính
phủ và các Nghị định liên quan khác; triển khai các chính sách hỗ trợ đối với
cơ sở GDMN bảo đảm đúng đối tượng, công khai, minh bạch. Đồng thời, tích hợp
các nội dung chính sách ưu tiên phát triển GDMN vào quy hoạch mạng lưới trường,
lớp giai đoạn 2026 - 2030 của tỉnh.
- Bố trí nguồn kinh phí để triển
khai các chính sách hỗ trợ theo đúng quy định. Các sở, ban, ngành liên quan phối
hợp lồng ghép nguồn lực từ các chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án phát
triển vùng dân tộc thiểu số, giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, nhằm
tăng hiệu quả sử dụng ngân sách. Đẩy mạnh huy động nguồn lực xã hội hóa từ
doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân và các tổ chức phi Chính phủ để đầu tư, nâng cấp
cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi cho trẻ em vùng khó khăn.
- Các Sở, ban, ngành, Ủy ban
nhân dân các xã, phường, đặc khu chủ động tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh
trong việc bảo đảm các điều kiện và nguồn lực thực hiện chính sách; hướng dẫn,
thẩm định, phân bổ và quyết toán kinh phí đúng định mức, đúng đối tượng. Các địa
phương chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện, triển khai kịp thời, đạt hiệu quả.
5. Bảo đảm
điều kiện triển khai thực hiện hiệu quả các chính sách phát triển đội ngũ giáo
viên mầm non, chính sách cho trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi:
- Đánh giá thực trạng đội ngũ
cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên mầm non để xác định nhu cầu, xây dựng kế
hoạch tuyển dụng bảo đảm đủ số lượng theo định mức quy định. Thực hiện hiệu quả
công tác phát triển đội ngũ với quy hoạch mạng lưới trường, lớp mầm non và kế
hoạch phổ cập GDMN cho trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi giai đoạn 2026 - 2030.
- Thực hiện đúng, đủ và kịp thời
các chế độ, chính sách cho đội ngũ nhà giáo. Quan tâm tạo điều kiện về nhà ở
công vụ (nếu có), điều kiện làm việc cho giáo viên vùng sâu, vùng xa, vùng đặc
biệt khó khăn. Đảm bảo môi trường làm việc an toàn, thân thiện, nâng cao đời sống
vật chất và tinh thần cho đội ngũ nhà giáo.
- Thực hiện tổ chức tuyển dụng
giáo viên mầm non công khai, minh bạch, đúng quy định, đẩy mạnh đào tạo và tuyển
dụng tại chỗ để bảo đảm tính ổn định lâu dài. Thực hiện chi trả các chế độ bảo
đảm đúng định mức, đúng đối tượng; rà soát, xác định rõ đối tượng được hưởng,
công khai, minh bạch trong quá trình thực hiện.
- Tăng cường công tác đào tạo,
bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển
đổi số trong giáo dục trẻ; khuyến khích giáo viên đổi mới phương pháp, xây dựng
môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, chất lượng, tăng cường tự học và biết
tiếng dân tộc thiểu số trên địa bàn công tác, nhằm tăng hiệu quả công tác tuyên
truyền, vận động đối với gia đình, cha mẹ học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu
số góp phần thực hiện mục tiêu phổ cập GDMN cho trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi
trên địa bàn tỉnh.
- Nghiên cứu thực hiện đảm bảo
trình tự, thời gian xét duyệt và phương thức chi trả chính sách hỗ trợ; bảo đảm
chi trả đầy đủ, đúng đối tượng, đúng tiến độ và minh bạch chính sách đối với trẻ
em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi; có cơ sở dữ liệu chính xác về trẻ em thuộc các
nhóm ưu tiên; nguồn ngân sách bảo đảm kịp thời và đầy đủ. Tăng cường giám sát,
kiểm tra, hướng dẫn thực hiện và có giải pháp kịp thời xử lý khó khăn, vướng mắc
trong quá trình tổ chức thực hiện chế độ cho trẻ.
6. Huy động
các nguồn lực triển khai thực hiện công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em
mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi:
- Đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo
dục đảm bảo tính toàn diện, hiệu quả; tăng cường hợp tác quốc tế nhằm huy động
sự tham gia đóng góp nguồn lực của các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể,
các đơn vị, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, các nhà hảo
tâm, các nguồn vốn hợp pháp khác để tài trợ, hỗ trợ về kinh phí, đầu tư cơ sở vật
chất, trang thiết bị dạy học, đồ dùng, đồ chơi, phát huy sáng kiến của cộng đồng
nhằm phát triển GDMN, đặc biệt đối với GDMN vùng có điều kiện kinh tế - xã hội
đặc biệt khó khăn.
- Tăng cường công tác phối hợp
liên ngành nhằm huy động sức mạnh, phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị
trong triển khai thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ theo kế hoạch.
IV. KINH PHÍ
THỰC HIỆN
Kinh phí thực hiện Kế hoạch được
bảo đảm từ ngân sách trung ương, ngân sách địa phương, nguồn lồng ghép từ các
chương trình, dự án có liên quan và các nguồn kinh phí huy động, tài trợ, xã hội
hóa hợp pháp khác.
V. TỔ CHỨC
THỰC HIỆN
1. Sở Giáo dục và Đào tạo:
- Là cơ quan thường trực, chịu
trách nhiệm tham mưu, tổ chức, theo dõi, hướng dẫn, đôn đốc việc triển khai thực
hiện kế hoạch phổ cập GDMN cho trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi theo từng năm và
giai đoạn đạt mục tiêu đề ra.
- Chủ trì, phối hợp với các Sở,
ngành, địa phương tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh
ban hành Nghị quyết về xây dựng Đề án phổ cập GDMN cho trẻ em mẫu giáo từ 3 đến
5 tuổi giai đoạn 2026 - 2030 trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa, trong đó tập trung đề
xuất bố trí, lồng ghép và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn từ ngân sách và các
chương trình, dự án liên quan để đầu tư về quỹ đất, xây mới, cải tạo, nâng cấp
trường, lớp mầm non đảm bảo đủ cơ số phòng học, phòng chức năng theo quy định;
đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị trong cơ sở GDMN; khuyến khích huy động
các nguồn lực xã hội tham gia phát triển GDMN, từng bước chuẩn hóa, hiện đại
hóa cơ sở vật chất đáp ứng mục tiêu yêu cầu theo kế hoạch đề ra.
- Chủ trì, phối hợp với các Sở,
ngành, Ủy ban nhân dân các xã, phường, đặc khu rà soát, đánh giá thực trạng đội
ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên mầm non; xác định nhu cầu giáo viên
theo từng năm học, từng địa bàn để tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh có kế hoạch bổ
sung, bảo đảm đủ số lượng giáo viên theo định mức quy định. Gắn công tác phát
triển đội ngũ với quy hoạch mạng lưới trường, lớp mầm non và kế hoạch phổ cập
GDMN cho trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi của tỉnh.
- Tổ chức kiểm tra, hướng dẫn,
tập huấn cho các cơ sở GDMN trong việc triển khai phổ cập GDMN cho trẻ em mẫu
giáo từ 3 đến 5 tuổi; thực hiện công tác kiểm tra, đánh giá, tham mưu Ủy ban
nhân dân tỉnh công nhận các địa phương đạt chuẩn phổ cập GDMN cho trẻ em mẫu
giáo từ 3 đến 5 tuổi.
- Chủ trì, phối hợp với các cơ
quan, đơn vị liên quan, tham mưu, thẩm định, đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh khen
thưởng cho các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong thực hiện phổ cập
GDMN cho trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi khi tiến hành tổng kết giai đoạn trình
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét quyết định theo quy định.
- Chủ trì tham mưu tổ chức sơ kết,
tổng kết việc thực hiện phổ cập GDMN cho trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi theo kế
hoạch của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ủy ban nhân dân tỉnh.
2. Sở Tài chính: Chủ
trì, phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo, các Sở, ngành liên quan và Ủy ban
nhân dân các xã, phường, đặc khu tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh bố trí đủ kinh
phí thực hiện; cân đối nguồn lực tài chính thực hiện các chính sách tại địa
phương theo đúng quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đầu tư công và các
văn bản hướng dẫn hiện hành.
3. Sở Nội vụ:
- Chủ trì, phối hợp với Sở Giáo
dục và Đào tạo, các cơ quan liên quan tham mưu giao biên chế trên cơ sở số biên
chế được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định để đảm bảo thực hiện hiệu quả
mục tiêu phổ cập GDMN cho trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi.
- Phối hợp với Sở Giáo dục và
Đào tạo thẩm định hồ sơ đề nghị khen thưởng theo quy định, trình Chủ tịch Ủy
ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định.
4. Sở Nông nghiệp và Môi trường:
- Phối hợp Sở Giáo dục và Đào tạo
tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh về công tác thực hiện quy hoạch và tạo lập quỹ đất
để bố trí đất dành cho các sở GDMN; tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh tháo gỡ những
khó khăn, vướng mắc về đất đai tại các cơ sở GDMN theo quy định nhằm đảm bảo
các điều kiện đáp ứng mục tiêu phổ cập GDMN cho trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi.
- Phối hợp với Sở Giáo dục và
Đào tạo và các đơn vị liên quan tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh về việc lồng ghép
các nguồn lực của các chương trình mục tiêu vào kế hoạch triển khai Đề án phổ cập
GDMN cho trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi.
5. Sở Y tế:
- Chủ trì, phối hợp với Sở Giáo
dục và Đào tạo và các đơn vị liên quan chăm sóc sức khỏe ban đầu; theo dõi tình
trạng dinh dưỡng, phòng chống dịch bệnh cho trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi tại
các cơ sở GDMN; hướng dẫn và kiểm tra việc bảo đảm an toàn thực phẩm, dinh dưỡng
học đường tại các bếp ăn bán trú.
- Chỉ đạo hệ thống y tế cơ sở
phối hợp thực hiện công tác y tế trường học, bảo đảm các điều kiện vệ sinh, nước
sạch, nhà vệ sinh, phòng chống tai nạn thương tích; tham gia thu thập, chia sẻ
dữ liệu về sức khỏe trẻ phục vụ công tác phổ cập GDMN cho trẻ em mẫu giáo từ 3
đến 5 tuổi, đặc biệt trẻ em tại các vùng khó khăn.
6. Sở Khoa học và Công nghệ:
Phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo và các đơn vị liên quan triển khai các
hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số nhằm nâng cao hiệu quả
công tác giáo dục và đào tạo nói chung, công tác phổ cập giáo dục nói riêng.
7. Sở Văn hóa, Thể thao và
Du lịch: Định hướng các cơ quan báo chí, truyền thông của tỉnh và hệ thống
thông tin cơ sở giáo dục thông tin, tuyên truyền về mục tiêu phổ cập giáo dục
trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, phục vụ phát triển kinh tế
- xã hội của tỉnh, tăng cường tuyên truyền về công tác phổ cập giáo dục trên
các phương tiện thông tin đại chúng.
8. Sở Xây dựng:
- Chủ trì, nghiên cứu, tham mưu
Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng các chính sách, kế hoạch và giải pháp liên quan đến
công tác đầu tư, xây dựng, cải tạo, nâng cấp các công trình giáo dục trên địa
bàn tỉnh trong đó tập trung cho các cơ sở GDMN trong thực hiện kế hoạch phổ cập
GDMN cho trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi. Đồng thời đảm bảo thiết kế, quy hoạch,
xây dựng trường, lớp mầm non đạt tiêu chuẩn, bảo đảm an toàn, phù hợp với quy
hoạch phát triển đô thị và nông thôn, đáp ứng yêu cầu phổ cập GDMN cho trẻ em mẫu
giáo từ 3 đến 5 tuổi hiệu quả, bền vững.
- Phối hợp với các cơ quan ban
ngành, địa phương trong quá trình triển khai thực hiện để xử lý kịp thời những
khó khăn, vướng mắc phát sinh liên quan đến hạ tầng GDMN.
9. Sở Dân tộc và Tôn giáo:
- Phối hợp với Sở Giáo dục và Đào
tạo, các đơn vị liên quan tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh để lồng ghép các nguồn
lực từ các chương trình mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân
tộc thiểu số và miền núi vào kế hoạch triển khai Đề án phổ cập GDMN cho trẻ em
mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi.
- Phối hợp và triển khai thực
hiện đầy đủ các chính sách phát triển dành cho đối tượng trẻ em dân tộc thiểu số,
cán bộ quản lý, giáo viên vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các cơ sở GDMN tại
khu vực theo quy định nhằm đảm quyền lợi giáo dục bình đẳng, nâng cao chất lượng
nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em người dân tộc thiểu số, góp phần thực
hiện đạt mục tiêu phổ cập GDMN cho trẻ em mẫu giáo 3 đến 5 tuổi theo kế hoạch
giai đoạn 2026 - 2030 trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa.
10. Công an tỉnh:
- Phối hợp với Sở Giáo dục và
Đào tạo, Ủy ban nhân dân xã, phường rà soát, cập nhật và chia sẻ dữ liệu từ cơ
sở dữ liệu quốc gia về dân cư để xác định, huy động đầy đủ trẻ em mẫu giáo từ 3
đến 5 tuổi trong diện phổ cập GDMN. Đảm bảo cung cấp thông tin chính xác, kịp
thời và tuân thủ quy định, đặc biệt với các nhóm đối tượng được hưởng chính
sách hỗ trợ như trẻ em vùng khó khăn, trẻ em hộ nghèo, trẻ em khuyết tật, con
công nhân lao động tại khu công nghiệp, ...
- Bảo vệ an ninh, bảo mật thông
tin cá nhân trong quá trình khai thác, sử dụng dữ liệu phục vụ công tác phổ cập
GDMN cho trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi trên toàn tỉnh Khánh Hòa.
11. Đề nghị Ban Tuyên giáo
và Dân vận Tỉnh ủy: Quan tâm chỉ đạo, định hướng Báo và Phát thanh, Truyền
hình Khánh Hòa, Ban Tuyên giáo và Dân vận/Ban Tuyên huấn/Ban Xây dựng Đảng, Đảng
ủy các xã, phường tăng cường tuyên truyền về mục tiêu, ý nghĩa, nội dung và kết
quả thực hiện phổ cập GDMN cho trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi nhằm nâng cao nhận
thức, trách nhiệm của các cấp uỷ, chính quyền, các tầng lớp nhân dân, tạo sự thống
nhất trong toàn xã hội về vai trò của công tác phổ cập GDMN cho trẻ em mẫu giáo
từ 3 đến 5 tuổi.
12. Đề nghị Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam tỉnh: Phối hợp với chính quyền các cấp và ngành giáo dục
tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên và Nhân dân tích cực tham gia thực
hiện phổ cập GDMN cho trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi; huy động các nguồn lực
xã hội hỗ trợ cơ sở GDMN vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;
giám sát việc triển khai các chính sách, chương trình liên quan đến GDMN; đồng
thời phát huy vai trò nêu gương, lan tỏa phong trào toàn dân chăm lo sự nghiệp
giáo dục, góp phần nâng cao chất lượng phổ cập và phát triển GDMN bền vững.
13. Đề nghị Báo và Phát
thanh, Truyền hình tỉnh:
- Phối hợp với Sở Giáo dục và
Đào tạo, các Sở, ban, ngành, địa phương xây dựng các chuyên trang, chuyên mục,
phóng sự, tin bài tuyên truyền về mục tiêu, ý nghĩa và kết quả triển khai thực
hiện phổ cập GDMN cho trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi; góp phần nâng cao nhận
thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành và toàn xã hội đối với công tác chăm
lo phát triển GDMN.
- Tăng cường công tác tuyên
truyền, phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và của tỉnh về phổ cập
GDMN cho trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi; kịp thời phản ánh những mô hình hay,
cách làm hiệu quả, điển hình tiên tiến trong công tác nuôi dưỡng, chăm sóc và
giáo dục trẻ.
14. Ủy ban nhân dân các xã,
phường, đặc khu:
- Xây dựng kế hoạch và tổ chức
thực hiện công tác phổ cập GDMN cho trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi trên địa
bàn; chỉ đạo, phân công nhiệm vụ cụ thể cho các tổ chức, cá nhân, các phòng ban
liên quan, các thôn, tổ dân phố và các lực lượng liên quan tại địa phương trong
công tác huy động trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi đến lớp đảm bảo đạt mục tiêu
đề ra.
- Đánh giá thực trạng, đề xuất
nhu cầu phát triển trường lớp tại địa phương; kịp thời tập trung bố trí, lồng
ghép và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn từ ngân sách và các chương trình, dự án
liên quan để đầu tư mở rộng về quỹ đất, xây mới, cải tạo, nâng cấp trường, lớp
mầm non đảm bảo đủ cơ số phòng học, phòng chức năng theo quy định; đảm bảo đáp ứng
đầy đủ cơ sở vật chất, thiết bị đồ dùng, đồ chơi và các điều kiện cần thiết
khác cho công tác nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ tại các cơ sở GDMN công
lập trên địa bàn.
- Rà soát, đánh giá thực trạng
đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên mầm non; xác định nhu cầu giáo
viên theo từng năm học, để báo cáo về Sở Giáo dục và Đào tạo tham mưu Ủy ban
nhân dân tỉnh có kế hoạch bổ sung, bảo đảm đủ số lượng giáo viên theo định mức
quy định. Gắn công tác phát triển đội ngũ với quy hoạch mạng lưới trường, lớp mầm
non và kế hoạch phổ cập GDMN cho trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi của địa
phương.
- Thực hiện chính sách miễn, giảm
tiền thuê đất, tiền thuế đất đối với các đơn vị doanh nghiệp tham gia phát triển
cơ sở GDMN ngoài công lập theo quy định; không áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp
đối với các cơ sở GDMN công lập và cơ sở GDMN tư thục hoạt động không vì lợi
nhuận.
- Tuyên truyền, vận động các tổ
chức, cá nhân, cha mẹ trẻ phối hợp với các cơ sở GDMN huy động trẻ đến trường,
đảm bảo duy trì và nâng cao chất lượng phổ cập GDMN cho trẻ em mẫu giáo từ 3 đến
5 tuổi.
- Chỉ đạo các cơ sở GDMN triển
khai thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các chế độ chính sách đối với trẻ em, giáo
viên, nhân viên, cán bộ quản lý tham gia thực hiện phổ cập GDMN cho trẻ em mẫu
giáo từ 3 đến 5 tuổi.
- Theo dõi, cập nhật và báo cáo
số liệu trẻ em trong độ tuổi mầm non; phối hợp với ngành giáo dục, công an, y tế
và các tổ chức đoàn thể rà soát, xác định đúng đối tượng trẻ em trong diện phổ
cập.
15. Cơ sở giáo dục mầm non
và gia đình trẻ em mầm non:
- Các cơ sở GDMN có trách nhiệm
tổ chức thực hiện phổ cập GDMN cho trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi theo chức
năng, nhiệm vụ và quyền hạn quy định; triển khai thực hiện nghiêm túc, đầy đủ
các chế độ chính sách đối với trẻ em, giáo viên, nhân viên, cán bộ quản lý tham
gia thực hiện phổ cập GDMN cho trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi.
- Gia đình trẻ em mầm non có
trách nhiệm tạo điều kiện cho trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi được đến trường,
lớp; phối hợp với nhà trường tổ chức các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo
dục trẻ tại các cơ sở GDMN để đạt chuẩn phổ cập GDMN cho trẻ em mẫu giáo từ 3 đến
5 tuổi./.
|
Nơi nhận:
- Bộ Giáo dục và Đào tạo;
- TT.Tỉnh ủy, TT HĐND (báo cáo);
- CT và các PCT UBND tỉnh;
- Các cơ quan, đơn vị, địa phương tại Mục V;
- VPUB: LĐ;
- Lưu: VT, KGVX. ĐNĐ
|
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Nguyễn Long Biên
|