|
ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH NINH BÌNH
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 07/CT-UBND
|
Ninh Bình, ngày
07 tháng 6 năm 2026
|
CHỈ THỊ
VỀ VIỆC TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUYẾT TOÁN CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ CÔNG
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH
Trong thời gian qua, dưới sự
lãnh đạo của Tỉnh ủy, sự đồng hành của Hội đồng nhân dân tỉnh và sự chỉ đạo quyết
liệt, sát sao của Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; cùng sự
nỗ lực, quyết tâm của các cấp, ngành, địa phương, công tác quyết toán các dự án
đầu tư công trên địa bàn tỉnh đã đạt được nhiều kết quả tích cực; từng bước
nâng cao chất lượng quản lý đầu tư, góp phần kiểm soát chi ngân sách nhà nước,
xác định giá trị tài sản hình thành sau đầu tư, nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng
vốn đầu tư công và tăng cường trách nhiệm giải trình trong đầu tư công. Tuy
nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác quyết toán vốn đầu tư công
dự án hoàn thành vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế; tình trạng chậm lập hồ sơ, chậm
nộp báo cáo quyết toán, chậm thẩm tra, phê duyệt quyết toán vẫn còn diễn ra ở một
số cơ quan, đơn vị, địa phương[1]; ảnh
hưởng đến việc đánh giá hiệu quả đầu tư, xác định giá trị tài sản công sau đầu
tư, gây khó khăn cho công tác tổng hợp, điều hành ngân sách, bố trí kế hoạch vốn
đầu tư công; đồng thời làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực nhà nước, tiềm ẩn
nguy cơ thất thoát, lãng phí và ảnh hưởng đến kỷ luật, kỷ cương trong quản lý đầu
tư công. Nguyên nhân chủ yếu là chủ quan do một số cơ quan, đơn vị, địa phương
và chủ đầu tư chưa thực sự quan tâm đúng mức đến công tác quyết toán; việc phối
hợp giữa các cơ quan liên quan còn chưa chặt chẽ; công tác theo dõi, kiểm tra,
đôn đốc và xử lý trách nhiệm ở một số nơi chưa thực sự quyết liệt.
Để tăng cường hiệu quả quản lý,
thanh toán và quyết toán vốn đầu tư công; khắc phục tình trạng chậm quyết toán;
nâng cao kỷ luật, kỷ cương hành chính và quản lý, sử dụng vốn đầu tư công đảm bảo
công khai, minh bạch, hiệu quả, đúng quy định của pháp luật, Chủ tịch Ủy ban
nhân dân tỉnh yêu cầu các Sở, ban, ngành, địa phương, các chủ đầu tư và các cơ
quan, đơn vị có liên quan tập trung triển khai thực hiện một số nhiệm vụ trọng
tâm sau:
1. Thủ trưởng
các sở, ban, ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã, phường và các cơ quan, đơn
vị liên quan căn cứ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền được giao,
lĩnh vực được phụ trách và phạm vi, địa bàn quản lý thực hiện các nội dung sau:
- Tiếp tục quán triệt, thực hiện
nghiêm các quy định về công tác quyết toán vốn đầu tư công dự án hoàn thành; đảm
bảo việc lập, thẩm tra, phê duyệt quyết toán được thực hiện đúng thời hạn,
trình tự, thủ tục và đáp ứng đầy đủ các nội dung, yêu cầu theo quy định tại Nghị
định số 254/2025/NĐ-CP ngày 26 tháng 9 năm 2025, Nghị định số 193/2026/NĐ-CP
ngày 01 tháng 6 năm 2026 của Chính phủ (từ ngày 01 tháng 7 năm 2026) và
Nghị định sửa đổi, bổ sung, thay thế (nếu có), hướng dẫn của Bộ Tài
chính và các chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh về công tác quyết toán vốn đầu tư
công dự án hoàn thành trên địa bàn tỉnh[2].
- Tập trung chỉ đạo các chủ đầu
tư/ ban quản lý dự án khẩn trương lập hồ sơ quyết toán đối với các dự án chậm lập
hồ sơ báo cáo quyết toán và khẩn trương thẩm tra, phê duyệt các dự án vi phạm
thời gian thẩm tra, phê duyệt; xác định rõ nguyên nhân, trách nhiệm của tập thể,
cá nhân không thực hiện đúng quy định về thời gian quyết toán (chậm lập, chậm
nộp báo cáo quyết toán và chậm thẩm tra, phê duyệt quyết toán). Kiên quyết
áp dụng các chế tài xử lý theo quy định, như: Công khai danh sách chủ đầu tư
vi phạm thời gian nộp quyết toán; thực hiện xử phạt vi phạm hành chính chủ đầu
tư vi phạm thời gian nộp quyết toán; đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ, bình
xét thi đua của cá nhân, tổ chức thực hiện công tác quyết toán vốn đầu tư công
dự án hoàn thành.
- Chỉ đạo các chủ đầu tư và các
cơ quan, đơn vị có liên quan rà soát số vốn đầu tư công còn lại phải bố trí của
các dự án đã hoàn thành so với giá trị quyết toán được duyệt hoặc giá trị đề
nghị quyết toán hoặc giá trị khối lượng hoàn thành được nghiệm thu. Trên cơ sở
đó ưu tiên bố trí vốn để xử lý theo đúng quy định tại điểm d khoản 4 Điều 54 Luật
Đầu tư công năm 2024, điểm d khoản 8 Điều 3 Nghị quyết số 70/2025/UBTVQH15 ngày
07 tháng 02 năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về nguyên tắc, tiêu
chí và định mức phân bổ vốn đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn
2026-2030.
- Chịu trách nhiệm toàn diện về
tính chính xác của toàn bộ số liệu báo cáo công tác quyết toán trước pháp luật
và các cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm toán nhà nước, giám sát của Hội đồng
nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp và cơ quan tài chính cấp trên.
- Tăng cường công khai minh bạch
thông tin về tình hình thực hiện quyết toán dự án hoàn thành thuộc phạm vi quản
lý; định kỳ công bố tỷ lệ dự án đã quyết toán, số lượng dự án chậm quyết toán
và kết quả xử lý vi phạm nhằm nâng cao trách nhiệm giải trình.
2. Các chủ
đầu tư/ ban quản lý dự án, nhà thầu
- Chấp hành nghiêm quy định về
hồ sơ, báo cáo, thời gian lập quyết toán. Thực hiện quản lý và lưu trữ hồ sơ
theo đúng quy định để đảm bảo có đầy đủ hồ sơ khi quyết toán.
- Chủ động xử lý dứt điểm các tồn
tại về hợp đồng trước khi lập quyết toán dự án hoàn thành; không để tồn tại các
tranh chấp, khối lượng chưa thống nhất, nghĩa vụ tài chính chưa hoàn thành kéo
dài sang giai đoạn quyết toán.
- Thực hiện rà soát số vốn đầu
tư công còn lại phải bố trí của các dự án đã hoàn thành so với giá trị quyết
toán được duyệt hoặc giá trị đề nghị quyết toán hoặc giá trị khối lượng hoàn
thành được nghiệm thu để báo cáo cấp có thẩm quyền ưu tiên bố trí vốn theo quy
định.
- Rà soát các dự án đầu tư đã
hoàn thành, bàn giao, đưa vào sử dụng đến nay chưa thực hiện quyết toán; xác định
rõ nguyên nhân chậm quyết toán, những khó khăn, vướng mắc cụ thể của từng dự
án, làm rõ trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân có liên quan, trên cơ sở đó đề
xuất các biện pháp xử lý; chủ động giải quyết các nội dung thuộc thẩm quyền, đối
với các nội dung vượt thẩm quyền thì đề xuất phương án xử lý theo quy định, báo
cáo người quyết định đầu tư xem xét giải quyết, xử lý dứt điểm tình trạng chậm
quyết toán.
- Đối với các dự án sử dụng vốn
đầu tư công hoàn thành chưa đủ hồ sơ, chứng từ quyết toán theo quy định: (i)
Xác định rõ nguyên nhân chậm lập quyết toán, những khó khăn vướng mắc cụ
thể của từng dự án, làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân có liên quan,
trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp xử lý; (ii) Rà soát lại các hợp
đồng đã ký (đặc biệt là đối với các hợp đồng đã quá thời gian thực hiện,
chưa quyết toán hợp đồng), các nội dung công việc không qua hợp đồng, căn cứ
quy định của pháp luật về xây dựng (Luật Xây dựng và các Nghị định của Chính
phủ,...) và pháp luật về dân sự để phối hợp với các nhà thầu xử lý, giải
quyết các vấn đề còn vướng mắc thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của các bên theo
nguyên tắc thương lượng, hòa giải, sử dụng trọng tài thương mại hoặc khởi kiện
tại tòa án theo hợp đồng đã ký và quy định của pháp luật; (iii) Căn
cứ kết quả xử lý vướng mắc nêu trên, chủ đầu tư thực hiện quyết toán hợp đồng,
quyết toán các nội dung công việc đã thực hiện, lập báo cáo quyết toán vốn đầu
tư công dự án hoàn thành để làm cơ sở cho việc thẩm tra, phê duyệt quyết toán vốn
đầu tư công dự án hoàn thành theo quy định.
3. Các sở,
ban, ngành có chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền kiểm tra công tác nghiệm thu công
trình xây dựng
- Theo dõi, hướng dẫn, xử lý kịp
thời các nội dung vướng mắc của các chủ đầu tư trong quá trình thực hiện để quyết
toán dự án; đẩy nhanh tiến độ công tác kiểm tra nghiệm thu hoàn thành đưa công
trình vào sử dụng.
- Có biện pháp kiểm tra, kiểm
soát, xử lý việc chủ đầu tư chậm nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào sử dụng
theo đúng quy định.
4. Kho bạc
Nhà nước khu vực V và các cơ quan, đơn vị liên quan có trách nhiệm
phối hợp sao y, cung cấp hồ sơ, tài liệu đối với các dự án không còn đủ hồ sơ
quyết toán dự án khi có đề nghị của chủ đầu tư, ban quản lý dự án hoặc yêu cầu
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
5. Sở Tài
chính
- Rà soát tình hình thực hiện
công tác thẩm tra, phê duyệt quyết toán thuộc phạm vi quản lý (đặc biệt là
các dự án chậm thẩm tra, phê duyệt quyết toán), làm rõ trách nhiệm của tổ
chức, cá nhân trong việc chậm thẩm tra, phê duyệt quyết toán, đề xuất, báo cáo
người quyết định phê duyệt dự án đầu tư có biện pháp xử lý dứt điểm.
- Theo dõi, hướng dẫn, kiểm
tra, đôn đốc các cơ quan, đơn vị, địa phương tổ chức triển khai thực hiện Chỉ
thị này theo đúng quy định; chủ động giải quyết các khó khăn, vướng mắc (nếu
có) trong công tác quyết toán vốn đầu tư công dự án hoàn thành theo thẩm
quyền; trường hợp vượt thẩm quyền, báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh để kịp thời xem
xét, chỉ đạo tháo gỡ theo quy định.
6. Các cơ
quan chủ quản, các chủ đầu tư dự án và các đơn vị quản lý sử dụng công trình, dự
án thực hiện nghiêm việc giám sát, đánh giá đầu tư theo quy định
tại Nghị định số 19/2026/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2026 của Chính phủ; trong
đó, sau khi dự án quyết toán hoàn thành, bàn giao đưa vào khai thác, sử dụng,
phát huy hiệu quả đầu tư, các cơ quan chủ quản và đơn vị quản lý, sử dụng cần
có đánh giá kết thúc nhằm xem xét các kết quả đạt được, rút ra các bài học kinh
nghiệm và đánh giá tác động nhằm làm rõ hiệu quả, tính bền vững và tác động
kinh tế - xã hội so với mục tiêu đặt ra ban đầu theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng
Chính phủ tại Chỉ thị 16/CT-TTg ngày 23 tháng 4 năm 2026 và Chủ tịch Ủy ban
nhân dân tỉnh tại Công văn số 2795/UBND-VP4 ngày 03 tháng 5 năm 2026.
7. Các đồng
chí Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh theo lĩnh vực phân công,
phụ trách trực tiếp chỉ đạo các sở, ban, ngành, địa phương tổ chức thực hiện nội
dung trên; yêu cầu Giám đốc, Thủ trưởng các sở, ban, ngành và Chủ tịch Ủy ban
nhân dân các xã, phường báo cáo và xem xét, chỉ đạo, cho ý kiến đối với các dự
án thuộc ngành, lĩnh vực được phân công, phụ trách.
8. Chế độ
báo cáo: Định kỳ 06 tháng (trước ngày 20 tháng 6) và hằng năm (trước
ngày 20 tháng 12) gửi báo cáo kết quả thực hiện về Sở Tài chính để tổng hợp,
báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh (báo cáo 06 tháng trước ngày 25 tháng 6; hằng
năm trước ngày 25 tháng 12).
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh
yêu cầu Thủ trưởng các Sở, ban, ngành, các chủ đầu tư; Chủ tịch Ủy ban nhân dân
các xã, phường và các cơ quan, đơn vị liên quan nghiêm túc triển khai thực hiện
Chỉ thị này./.
|
Nơi nhận:
- Bộ Tài chính;
- Ban Thường vụ Tỉnh ủy;
- Thường trực HĐND tỉnh;
- Đảng ủy UBND tỉnh;
- Chủ tịch và các PCT UBND tỉnh;
- Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh;
- UBMTTQVN tỉnh và các đoàn thể;
- Các sở, ban, ngành;
- Đảng ủy, HĐND, UBND các xã, phường;
- Văn phòng UBND tỉnh: CVP, các PCVP và các VP, Ban, TT;
- Lưu: VT, VP4.
TT_VP4_05.01.CT
|
CHỦ TỊCH
Nguyễn Thanh Bình
|