|
THANH
TRA NHÀ NƯỚC
********
|
CỘNG
HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********
|
|
Số:
3-TTNN
|
Hà
Nội, ngày 22 tháng 11 năm 1991
|
THÔNG TƯ
CỦA THANH TRA NHÀ NƯỚC SỐ 3-TTNN NGÀY 22 THÁNG 11 NĂM 1991
HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN QUY CHẾ THANH TRA VIÊN
Căn cứ Pháp lệnh Thanh tra
ngày 1-4-1990 và quy chế Thanh tra viên ban hành kèm theo Nghị định số 191-HĐBT
ngày 18-6-1991 của Hội đồng Bộ trưởng;
Tổng Thanh tra Nhà nước hướng dẫn thực hiện quy chế Thanh tra viên như sau:
I. NGUYÊN TẮC
CHUNG
1. Quy chế Thanh tra viên chỉ áp
dụng đối với công chức thuộc các tổ chức thanh tra Nhà nước được thành lập theo
quy định của Pháp lệnh Thanh tra ngày 1-4-1990, Nghị định 244-HĐBT ngày
30-6-1990 của Hội đồng Bộ trưởng và Thông tư số 124-TT-TTr ngày 18-7-1990 của
Thanh tra Nhà nước.
2. Những người làm công tác
thanh tra ở xã, phường, thị trấn và Thanh tra nhân dân không áp dụng quy chế
này.
3. Người được bổ nhiệm Thanh tra
viên phải bảo đảm tiêu chuẩn quy định tại điều 3 của Quy chế Thanh tra viên ban
hành kèm theo Nghị định 191-HĐBT ngày 16-8-1991 của Hội đồng Bộ trưởng và tiêu
chuẩn nghiệp vụ chung của từng cấp Thanh tra viên quy định tại quyết định số:
134-QĐ-TTNN ngày 9 tháng 11 năm 1991 của Tổng Thanh tra Nhà nước.
4. Khi xét bổ nhiệm Thanh tra
viên cần tính đến đặc điểm của đội ngũ cán bộ thanh tra hiện nay và yêu cầu thực
hiện nhiệm vụ của mỗi tổ chức thanh tra. Cùng với việc áp dụng quy chế Thanh
tra viên phải tiến hành kiện toàn tổ chức, bố trí cán bộ, xây dựng quy hoạch, kế
hoạch về đào tạo, bồi dưỡng, tuyển chọn và bổ nhiệm Thanh tra viên.
II. ĐỐI TƯỢNG
ĐƯỢC XÉT BỔ BỔ NHIỆM T.T.V
Đối tượng được xét bổ nhiệm
Thanh tra viên là công chức thuộc các tổ chức thanh tra Nhà nước bao gồm những
người thực hiện quyền thanh tra Nhà nước và quản lý Nhà nước về công tác thanh
tra.
Người được bổ nhiệm Thanh tra
viên phải có phẩm chất chính trị tốt, có ý thức trách nhiệm, trung thực, công
minh, khách quan và bảo đảm tiêu chuẩn nghiệp vụ của cấp Thanh tra viên được bổ
nhiệm quy định tại quyết định số 143-QĐ-TTNN ngày 9 tháng 11 năm 1991 của Tổng
Thanh tra Nhà nước. Đối với các tổ chức thanh tra Nhà nước thuộc Bộ thì áp dụng
tiêu chuẩn nghiệp vụ Thanh tra viên do Bộ trưởng ban hành trên cơ sở tiêu chuẩn
nghiệp vụ chung của từng cấp Thanh tra viên.
Khi áp dụng tiêu chuẩn nghiệp vụ
của từng cấp Thanh tra viên cần chú ý các trường hợp sau đây:
- Những người đang làm công tác
thanh tra có phẩm chất tốt, trong hoạt động thực tiễn chứng tỏ có năng lực hoàn
thành nhiệm vụ nhưng chưa tốt nghiệp đại học, chưa qua trường lý luận chính trị
cao cấp, trung cấp, chưa qua lớp bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra thì vẫn bổ nhiệm
Thanh tra viên lần đầu, nếu xét bổ nhiệm Thanh tra viên ở cấp cao hơn thì phải
bảo đảm tiêu chuẩn quy định.
- Những người đang làm thanh tra
có đủ tiêu chuẩn cán bộ, có năng lực tương ứng với tiêu chuẩn nghiệp vụ Thanh
tra viên ở cấp nào thì xét bổ nhiệm vào ngạch Thanh tra viên cấp đó không lệ
thuộc vào mức lương đang hưởng.
*
*
*
Chánh thanh tra căn cứ vào chức
năng nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của tổ chức thanh tra để xác định đúng đối tượng
được xét bổ nhiệm Thanh tra viên, hướng dẫn cho đối tượng được xét bổ nhiệm
Thanh tra viên nắm vững các tiêu chuẩn cán bộ và tiêu chuẩn nghiệp vụ của từng
cấp Thanh tra viên.
Chánh thanh tra Bộ, Chánh thanh
tra tỉnh xem xét từng trường hợp cụ thể, bảo đảm tính khách quan công khai, dân
chủ, trên cơ sở tiêu chuẩn quy định và năng lực thực tiễn của cán bộ thanh tra,
làm văn bản đề nghị bổ nhiệm Thanh tra viên. Danh sách đề nghị bổ nhiệm Thanh
tra viên được công bố công khai trước khi gửi cấp có thẩm quyền bổ nhiệm.
Đối với những người không phù hợp
với công tác thanh tra, không có khả năng bồi dưỡng nâng cao trình độ hoặc phẩm
chất cán bộ, không bảo đảm quy định thì cho chuyển công tác hoặc giải quyết
theo chế độ hiện hành của Nhà nước.
III. PHÙ HIỆU,
BIỂN HIỆU, THẺ THANH TRA VIÊN,CÁC CHẾ ĐỘ ĐỐI VỚI THANH TRA VIÊN
Phù hiệu, biển hiệu, thẻ Thanh
tra viên do Tổng Thanh tra Nhà nước cấp thống nhất trong cả nước. Chánh Thanh
tra có trách nhiệm quản lý, kiểm tra việc sử dụng phù hiệu, biển hiệu, thẻ
Thanh tra viên theo thẩm quyền.
Phù hiệu, biển hiệu, thẻ Thanh
tra viên chỉ sử dụng khi thi hành nhiệm vụ thanh tra, trường hợp sử dụng phù hiệu,
biển hiệu, thẻ Thanh tra viên để thực hiện hành vi trái pháp luật thì tuỳ theo
mức độ nhẹ hoặc nặng mà bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Thanh tra viên có trách nhiệm bảo
quản phù hiệu, biển hiệu, thẻ Thanh tra viên được cấp phát. Trường hợp mất phù
hiệu, biển hiệu, thẻ Thanh tra viên thì Thanh tra viên phải báo cáo ngay cơ
quan công an nơi gần nhất và thủ trưởng tổ chức thanh tra, Chánh thanh tra Bộ,
tỉnh có trách nhiệm báo cáo lên Tổng Thanh tra Nhà nước để giải quyết. Khi thôi
giữ chức danh Thanh tra viên thì Thanh tra viên phải trả lại phù hiệu, biển hiệu,
thẻ cho tổ chức thanh tra. Khi bị tước chức danh Thanh tra viên thì Thanh tra
viên đó phải trả lại cho tổ chức thanh tra các phù hiệu, biển hiệu, thẻ đã được
cấp phát. Thủ trưởng tổ chức thanh tra trực tiếp quản lý Thanh tra viên đó có
trách nhiệm thu hồi các phù hiệu, biển hiệu, thẻ Thanh tra viên. Chánh Thanh
tra Bộ, Tỉnh có trách nhiệm báo cáo với Tổng Thanh tra Nhà nước.
Chế độ cấp phát trang phục và
nguồn kinh phí mua sắm trang phục, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ thanh tra thực
hiện theo Thông tư số 1-TT-LB ngày 16-9-1991 của Liên Bộ Thanh tra Nhà nước và
Bộ Tài chính.
Chế độ tiền lương của Thanh tra
viên thực hiện theo thông tư số 2-TT-LB ngày 28-10-1991 của Liên Bộ Thanh tra
Nhà nước và Bộ Lao động - TBXH.
Căn cứ vào Thông tư này, Bộ trưởng,
Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước, Thủ trưởng cơ quan thuộc HĐBT, Chủ tịch UBND tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo việc thực hiện quy chế Thanh tra viên ở
các tổ chức thanh tra Nhà nước theo thẩm quyền quản lý của mỗi cấp, mỗi ngành.
Trong quá trình thực hiện nếu có
vấn đề vướng mắc đề nghị trao đổi với Thanh tra Nhà nước.