HƯỚNG DẪN
PHÂN
LOẠI, XỬ LÝ ĐƠN KHIẾU NẠI, TỐ CÁO, KIẾN NGHỊ PHẢN ÁNH TRONG NGÀNH KIỂM SÁT NHÂN
DÂN
Thực hiện Kế hoạch số 111/KH-VKSTC ngày 07/5/2024 của
VKSND tối cao về việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 118-NQ/BCSĐ ngày
02/02/2024 của Ban cán sự đảng VKSND tối cao về tăng cường sự lãnh đạo đối với
công tác tiếp công dân, giải Quyết khiếu nại, tố cáo trong ngành Kiểm sát nhân
dân và kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; qua thực
tiễn theo dõi hoạt động phân loại, xử lý đơn, VKSND tối cao (Vụ 12) nhận thấy vẫn
còn những trường hợp sai sót do nhận thức chưa đúng về Đơn khiếu nại, tố cáo,
kiến nghị phản ánh trong các lĩnh vực của hoạt động tư pháp (sau đây viết
tắt là Đơn tư pháp), hoạt động hành chính nhà nước (sau
đây viết tắt là Đơn hành chính), trong các cơ quan của
Đảng... dẫn đến việc không thụ lý hoặc chậm thụ lý hoặc thụ lý, kiểm sát và
giải quyết khiếu nại, tố cáo không đúng quy định của pháp luật. Để hoạt động
phân loại, xử lý đơn được chính xác; góp phần nâng cao vị thế, vai trò của Ngành
và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; VKSND tối cao
(Vụ 12) hướng dẫn VKS các cấp, cụ thể như sau:
I. VỀ PHÂN LOẠI, XỬ LÝ ĐƠN KHIẾU
NẠI, TỐ CÁO, KIẾN NGHỊ PHẢN ÁNH
1. Nhận thức về khiếu nại, tố
cáo, kiến nghị phản ánh
1.1. Khái niệm
1.1.1 Khiếu nại nói chung, là việc
công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật quy định
(tùy lĩnh vực), đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết
định, hành vi (tùy lĩnh vực) của cơ quan, người có thẩm quyền trong cơ quan khi
có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền,
lợi ích hợp pháp của mình[1].
Khiếu nại trong hoạt động tư pháp là việc cá
nhân, cơ quan, tổ chức theo thủ tục do pháp luật quy định, đề nghị cơ quan, người
có thẩm quyền xem xét lại quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền
trong hoạt động tư pháp, khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái
pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình[2].
1.1.2. Tố cáo nói chung, là việc cá
nhân theo thủ tục quy định của Đảng, của pháp luật, báo cho cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm chủ trương, quy định của Đảng, vi
pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào làm ảnh hưởng đến uy tín của
bản thân, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị nơi đảng viên sinh hoạt; gây thiệt hại
hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của
cơ quan, tổ chức, cá nhân[3].
Tố cáo trong hoạt động tư pháp là việc cá
nhân, theo thủ tục do pháp luật quy định, báo cho cơ quan, người có thẩm quyền
biết về hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động
tư pháp gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức[4].
1.1.3. Kiến nghị phản ánh là việc
công dân cung cấp thông tin, trình bày ý kiến, nguyện vọng, đề xuất giải pháp với
cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền về những vấn đề liên quan đến
việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, công tác quản lý
trong các lĩnh vực đời sống xã hội thuộc trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn
vị, cá nhân đó[5]. Pháp luật hiện hành chưa có quy định về
trình tự, thủ tục giải quyết loại đơn này.
1.1.4. Khiếu nại, tố cáo, kiến nghị phản ánh
trong Đảng[6]
Khiếu nại trong Đảng là khiếu nại về những vấn đề
liên quan đến kỷ luật Đảng[7], về quyền của đảng viên.
Tố cáo trong Đảng là việc công dân, đảng viên báo
cho tổ chức đảng hoặc cán bộ, đảng viên có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm
Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định,
quy chế, kết luận của Đảng và pháp luật của Nhà nước của tổ chức đảng hoặc đảng
viên mà người tố cáo cho là gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến lợi ích
của Đảng, Nhà nước, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức hoặc cá
nhân.[8].
Kiến nghị phản ánh liên quan đến công tác
xây dựng Đảng, phẩm chất cán bộ đảng viên, về sinh hoạt trong nội bộ tổ chức Đảng,
về chủ trương đường lối, chính sách của Đảng.
1.2 . Phân biệt giữa khiếu nại
và tố cáo; giữa tố cáo và tố giác về tội phạm
1.2.1. Phân biệt giữa khiếu nại và tố cáo
Về bản chất:
Bản chất của khiếu nại là phản ứng của người khiếu
nại đối với quyết định, hành vi (tùy lĩnh vực) của cơ quan, người có thẩm quyền
để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Người khiếu nại đề nghị cơ quan,
người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại xem xét lại quyết định, hành vi đó.
Bản chất của tố cáo trước hết thể hiện quyền và
trách nhiệm của người tố cáo đối với xã hội trước hành vi vi phạm pháp luật. Người
tố cáo báo cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo biết về
hành vi vi phạm pháp luật đó.
Về chủ thể thực hiện:
Chủ thể có quyền tố cáo chỉ là cá nhân; cơ quan, tổ
chức không có quyền tố cáo. Trong khi đó, chủ thể có quyền khiếu nại rộng hơn,
có thể là cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thực tiễn giải quyết tố cáo cho thấy một số
tổ chức cũng thực hiện quyền tố cáo; tuy nhiên, Luật Tố cáo đã quy định chủ thể
tố cáo là cá nhân, vì vậy, không xem xét, giải quyết các đơn tố cáo của cơ
quan, tổ chức.
Về đối tượng:
Đối tượng của khiếu nại là quyết định hành chính,
hành vi hành chính, quyết định tố tụng, hành vi tố tụng, quyết định kỷ luật cán
bộ, công chức, quyết định kỷ luật đảng; kết luận đối với sai phạm của tổ chức đảng,
đảng viên; về quyền đảng viên có ảnh hưởng, tác động trực tiếp, đến quyền
và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, người khiếu nại.
Đối tượng của tố cáo là hành vi vi phạm pháp luật của
mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân. Đối tượng tố cáo rất rộng; mọi cá nhân có quyền
tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào; hành
vi vi phạm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị,
quy định, quy chế, kết luận của Đảng và pháp luật của Nhà nước của tổ chức đảng
hoặc đảng viên gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, của mình và của người khác.
Hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm quy định của đảng bị tố cáo có thể tác động
trực tiếp, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người tố cáo hoặc có thể
không ảnh hưởng đến quyền lợi của người tố cáo nhưng người tố cáo vẫn có
quyền tố cáo.
Về mục đích:
Khiếu nại và tố cáo đều hướng tới bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân (người khiếu nại) và bảo đảm pháp luật, quy định
của đảng được thực thi nghiêm minh, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa nhằm xây
dựng nhà nước pháp quyền. Tuy nhiên, mục đích trực tiếp hướng tới của khiếu nại
và tố cáo có sự khác biệt:
Mục đích của khiếu nại là trực tiếp nhằm bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khiếu nại. Mục đích
của tố cáo không chỉ nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của người tố cáo mà còn nhằm
bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích của xã hội, lợi ích của của tập thể, quyền
và lợi ích của cá nhân khác.
Sự khác biệt về bản chất, chủ thể, đối tượng và mục
đích giữa khiếu nại và tố cáo đòi hỏi phải có quy định khác biệt về quyền và
nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan, nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục,
thời hạn giải quyết trong giải quyết khiếu nại và giải quyết tố cáo[9].
1.2.2. Phân biệt giữa tố cáo với tố giác về tội
phạm
Về chủ thể thực hiện:
Chủ thể thực hiện tố cáo là những cá nhân biết về
các hành vi vi phạm, đây là quyền của công dân.
Chủ thể thực hiện tố giác về tội phạm là cá nhân
phát hiện hành vi có dấu hiệu phạm tội, đây vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của
công dân.
Về đối tượng:
Hành vi vi phạm pháp luật trong tố cáo nằm trong mọi
lĩnh vực, không phân biệt tính chất, mức độ vi phạm.
Hành vi vi phạm pháp luật trong tố giác có thể cấu
thành tội phạm; phải "có dấu hiệu của tội phạm" tương ứng tội danh được
quy định trong Bộ luật Hình sự.
2. Phân loại đơn
2.1. Căn cứ phân loại
Đối với Đơn về hành chính: thực hiện theo
quy định tại Luật khiếu nại 2021, Luật tố cáo 2018; Luật cán bộ công chức 2008
và Luật viên chức 2010 (sửa đổi, bổ sung 2019); các văn bản hướng dẫn thi hành
Luật; các quy chế, quy định, quy tắc ứng xử của công chức, viên chức, người lao
động trong ngành Kiểm sát nhân dân.
Đối với Đơn tư pháp: thực hiện theo quy định
tại Bộ luật TTHS 2015; Bộ luật TTDS 2015; Luật TTHC 2015; Luật thi hành án dân
sự 2014; Luật Thi hành án Hình sự 2019; Luật thi hành tạm giữ, tạm giam 2015 và
các việc khác mà pháp luật quy định là hoạt động tư pháp[10];
các Thông tư liên tịch hướng dẫn một số điều về phối hợp giải quyết khiếu nại,
tố cáo trong các lĩnh vực tư pháp; Điều 9 Quy chế số 222.
Đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị phản ánh trong
Đảng thì thực hiện theo Điều lệ Đảng; Quy định số 22-QĐ/TW ngày 28/7/2021
quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng; Điều 4, Điều 5 Quy định
số 02-QĐ/ĐU ngày 15/6/2023 về Tiếp nhận, xử lý đơn thư, tiếp đảng viên và công
dân của Đảng ủy VKSND tối cao (áp dụng tại Đảng bộ VKSND tối cao); Đảng bộ
VKSND cấp tỉnh, Chi bộ VKSND cấp huyện thì thực hiện theo quy định của cấp ủy địa
phương về tiếp nhận, xử lý đơn thư, tiếp đảng viên và công dân.
2.2. Tiêu chí phân loại
2.2.1. Đơn Hành chính[11]:
- Khiếu nại: Quyết định hành
chính; Hành vi hành chính của Viện trưởng Viện kiểm sát[12];
Quyết định kỷ luật cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý của cấp mình[13].
- Tố cáo: hành vi vi phạm pháp luật của người
có thẩm quyền trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ[14];
hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực[15].
- Kiến nghị phản ánh: là việc công dân (nói
chung) hoặc công chức, viên chức, người lao động trong ngành Kiểm sát nhân dân
(nói riêng) cung cấp thông tin, trình bày ý kiến, nguyện vọng, đề xuất giải
pháp với cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền về những vấn đề liên
quan đến việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, công tác
quản lý hành chính thuộc trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân đó[16].
2.2.2. Đơn Tư pháp
- Khiếu nại: Quyết định tố tụng của
người tiến hành tố tụng; quyết định của người có thẩm quyền trong hoạt động
tư pháp[17]; Hành vi tố tụng của người tiến hành tố
tụng; hành vi của người có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp[18];
- Tố cáo: Hành vi vi phạm pháp luật của
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; hành vi vi phạm pháp luật của người có
thẩm quyền trong hoạt động tư pháp[19].
- Kiến nghị phản ánh: là việc công dân trình
bày ý kiến, nguyện vọng, đề xuất với cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm
quyền về những vấn đề liên quan đến các lĩnh vực hoạt động tư pháp[20].
2.2.3. Đơn Khiếu nại, tố cáo trong đảng
- Khiếu nại: Quyết định kỷ luật Đảng; về kết
luận đối với sai phạm của Tổ chức đảng, đảng viên[21];
về quyền của đảng viên.
- Tố cáo: Cán bộ, Đảng viên có hành
vi vi phạm điều lệ đảng, cương lĩnh chính trị, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị,
quy định, quy chế, kết luận của Đảng; phẩm chất cán bộ, đảng viên, về sinh hoạt
trong nội bộ tổ chức Đảng; hành vi vi phạm về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực[22].
3. Xử lý đơn
3.1. Xử lý Đơn Hành chính
- Đối với đơn thuộc thẩm quyền giải quyền của Viện
kiểm sát thì Viện kiểm sát đã nhận đơn xử lý theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Quy chế Tổ chức và hoạt động của Thanh tra VKSND tối
cao (ban hành kèm theo Quyết định 185/QĐ-VKSTC ngày 10/6/2024 của Viện trưởng
VKSND tối cao) và Điều 5 Quy định về tiếp nhận, xử lý, quản lý
đơn ngoài lĩnh vực hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền giải quyết của Viện trưởng
VKSND tối cao (Ban hành kèm theo Quyết định số 233/QĐ-VKSTC ngày 13/9/2022
của Viện trưởng VKSND tối cao - sau đây gọi tắt là Quy định số 233); Điều 59 Thông tư số 01/VBHN-VKSTC ngày 17/5/2021 của VKSND tối
cao quy định về công tác thi đua, khen thưởng trong ngành Kiểm sát nhân dân;
Quy chế phân cấp quản lý công chức, viên chức và người lao động trong ngành Kiểm
sát nhân dân (Ban hành kèm theo Quyết định số 208/QĐ-VKSTC ngày 08 tháng 6 năm
2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao);
- Đối với đơn không thuộc thẩm quyền giải quyết
của Viện kiểm sát thì Viện kiểm sát đã nhận đơn xử lý đơn theo quy định của
Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo và văn bản hướng dẫn thi hành[23].
3.2. Xử lý Đơn Tư pháp
- Đối với đơn thuộc thẩm quyền giải quyết
của Viện kiểm sát thì thực hiện theo quy định tại Điều 12,
Điều 15 Quy chế số 222 và quy định tại Quy trình giải quyết khiếu nại, tố
cáo; kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật và kiểm
sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp (ban hành kèm
theo Quyết định số 546/QĐ-VKSTC ngày 03/12/2018 của Viện trưởng VKSND tối cao).
- Đối với đơn thuộc thẩm quyền kiểm sát của Viện
kiểm sát thì Viện kiểm sát đã nhận đơn chuyển đơn đến cơ quan tư pháp có thẩm
quyền, đồng thời gửi phiếu chuyển đơn đến Viện kiểm sát cùng cấp để kiểm sát việc
giải quyết (theo quy định tại Điều 16, 17 Quy chế số 222) và
báo tin cho người gửi đơn biết.
3.3. Xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị
phản ánh trong Đảng
- Đối với đơn thuộc thẩm quyền giải quyết
của Đảng ủy VKSND tối cao thì thực hiện việc xử lý theo Quy định số
02-QĐ/ĐU ngày 15/6/2023 của Đảng ủy VKSND tối cao về tiếp nhận, xử lý đơn thư,
tiếp đảng viên và công dân.
- Đối với đơn thuộc thẩm quyền của Đảng ủy, Chi
bộ VKS các cấp thì thực hiện việc xử lý theo quy định của cấp ủy địa phương
và Ban cán sự đảng (đối với VKSND cấp tỉnh) hoặc Chi bộ.
- Đối với đơn không thuộc thẩm quyền của Tổ chức
Đảng ngành Kiểm sát thì chuyển đến Tổ chức Đảng có thẩm quyền giải quyết
theo quy định của Đảng.
II. MỘT SỐ NỘI DUNG CẦN LƯU Ý KHI
PHÂN LOẠI, XỬ LÝ ĐƠN
1. Không phân loại theo tiêu đề
đơn
Để phân loại đơn chính xác, yêu cầu phải đọc kỹ
đơn, xác định nội dung, mục đích, yêu cầu của người viết đơn, tuyệt đối không
tiến hành phân loại chỉ căn cứ vào tiêu đề của đơn[24]; đặc
biệt đối với những đơn có tiêu đề Tố cáo.
Ví dụ: Đơn có tiêu đề tố cáo nhưng nội
dung người gửi đơn trình bày vi phạm về tố tụng, nội dung của bản án và đề nghị
huỷ bản án (sơ thẩm hoặc phúc thẩm).
Trường hợp này cần phân biệt:
- Nếu bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật
thì xác định là loại đơn kháng cáo (người gửi đơn là bị cáo hoặc đương sự trong
vụ án);
- Trường hợp bản án đã có hiệu lực pháp luật
(người gửi đơn là bị cáo hoặc đương sự trong vụ án) thì xác định là loại đơn đề
nghị xem xét lại bản án theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm; cần thông báo
hướng dẫn người gửi làm lại đơn và bổ sung bản án, tài liệu cần thiết theo quy
định của BLTTHS, BLTTDS, Luật TTHC.
2. Xử lý đơn có nhiều nội
dung
Đối với đơn có nhiều nội dung: tố cáo, khiếu nại,
kiến nghị phản ánh... cần xử lý hướng dẫn người gửi đơn viết tách các nội dung
thành các đơn riêng; sau đó thực hiện theo quy định xử lý đối với từng loại đơn[25];
Ví dụ: Nguyên đơn trong vụ án dân sự
trình bày kêu cứu về vụ án tranh chấp đất đai; có nội dung tố cáo thẩm phán cấp
sơ thẩm làm sai lệch hồ sơ vụ án, thêm bớt bút lục trái pháp luật; ngoài ra
đương sự khiếu nại quyết định thi hành án của Cơ quan thi hành án dân sự.
Trường hợp này cần hướng dẫn người gửi đơn viết
thành đơn riêng đối với từng nội dung và gửi đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết,
cụ thể:
- Đối với nội dung kêu cứu về vụ án dân sự.
+ Trường hợp có căn cứ tại Điều 326
BLTTDS và còn thời hạn theo quy định tại Điều 327 BLTTDS,
thì đương sự làm đơn đề nghị xem xét lại bản án theo thủ tục giám đốc thẩm gửi
đến người có thẩm quyền theo quy định tại Điều 331 BLTTDS để
được xem xét giải quyết.
+ Trường hợp có căn cứ tại Điều 352
BLTTDS thì đương sự làm đơn đề nghị xem xét lại bản án theo thủ tục tái thẩm
gửi đến người có thẩm quyền theo quy định tại Điều 354 BLTTDS
để được xem xét giải quyết[26].
- Đối với nội dung tố cáo thẩm phán làm sai lệch
hồ sơ vụ án:
Trường hợp phát hiện thẩm phán có hành vi xâm phạm
hoạt động tư pháp, đề nghị đương sự làm đơn riêng gửi tới Cơ quan điều tra
VKSND tối cao để được xem xét giải quyết theo thẩm quyền (theo quy định tại Điều 163 BLTTHS). Trường hợp này cần lưu ý công dân phải gửi
kèm các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho nội dung tố cáo.
- Đối với nội dung khiếu nại quyết định thi hành
án dân sự: Đề nghị đương sự làm đơn khiếu nại gửi đến Cơ quan thi hành án
dân sự có thẩm quyền để được xem xét giải quyết (theo quy định tại Điều 152 Luật thi hành án dân sự).
3. Phân biệt giữa Đơn tư pháp
và Đơn hành chính
Tại khoản 1 Điều 2 Quy định số 233
quy định “Đơn trong hoạt động tư pháp là đơn trong các lĩnh vực tố tụng hình
sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thủ tục phá sản, thi hành án hình sự,
thi hành án dân sự, thi hành án hành chính, tạm giữ, tạm giam, xem xét, quyết định
áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án và những việc khác mà pháp luật
quy định là hoạt động tư pháp; đơn có nội dung xuất phát từ việc xử lý, giải
quyết các đơn nêu trên”. Thực tiễn phân loại cho thấy vẫn còn nhận thức
chưa thống nhất về đơn có nội dung xuất phát từ việc xử lý, giải quyết các
đơn nêu trên dẫn đến lúng túng trong việc xác định thẩm quyền, quy trình giải
quyết. Từ thực tiễn giải quyết một số vụ việc, VKSND tối cao (Vụ 12) nhận thấy
cần phân biệt loại đơn này như sau:
3.1. Đơn khiếu nại, tố cáo đối với kết quả xử
lý, giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo liên quan đến quyết định tố tụng, hành vi
tố tụng của người có thẩm quyền đối với vụ việc cụ thể trong các lĩnh vực: hình
sự, dân sự, hành chính, thi hành án dân sự, ...
Loại đơn này thuộc thẩm quyền tham mưu, giải quyết
của đơn vị Kiểm sát và giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp
hoặc đơn vị nghiệp vụ khác (theo Quy chế số 222 của Ngành); theo đó nội dung
tham mưu là đánh giá về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, nội dung của hoạt động
giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp có đảm bảo đúng quy định của
pháp luật và của Ngành hay không.
Ví dụ: Khiếu nại cho rằng việc giải
quyết khiếu nại của VKSND cấp tỉnh đối với quyết định không khởi tố vụ án hình
sự của Cơ quan điều tra là không khách quan, vi phạm luật tố tụng, bỏ lọt tội
phạm; hoặc tố cáo VKSND cấp tỉnh giải quyết tố cáo không đúng, không đủ nội
dung đơn tố cáo của bị hại, giải quyết tố cáo vi phạm thời hạn theo quy định của
pháp luật.
3.2. Đơn có nội dung kiến nghị xem xét trách
nhiệm của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có hành vi vi phạm trong quá
trình thực thi công vụ
Trong thực tiễn, loại đơn này thường là loại đơn có
nhiều nội dung; cán bộ phân loại, xử lý cần lưu ý:
- Nếu có nội dung tiếp tục khiếu nại, tố cáo đối với
kết quả xử lý, giải quyết đơn tư pháp trước đó thì thẩm quyền tham mưu thuộc về
đơn vị Kiểm sát và giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp;
- Nếu có nội dung kiến nghị xem xét trách nhiệm của
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã có hành vi vi phạm trong quá trình thực
hiện các nhiệm vụ thuộc phạm vi công vụ trong hoạt động tư pháp (hành vi công vụ
là các yêu cầu tác nghiệp, được quy định tại các Bộ luật, Luật về tư pháp và
Quy định, Quy chế, Quy trình nghiệp vụ của Ngành kiểm sát).
Quá trình xem xét giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo
nêu trên, có cơ sở xác định người có thẩm quyền tiến hành tố tụng của ngành Kiểm
sát có dấu hiệu vi phạm pháp luật, vi phạm quy chế nghiệp vụ, quy định của
Ngành thì đơn vị Kiểm sát và giải quyết đơn trong hoạt động tư pháp phải báo
cáo Viện trưởng VKS cấp mình phân công cho một đơn vị khác, có thẩm quyền tiến
hành tiếp nhận hồ sơ, nghiên cứu, giải quyết, đề xuất xử lý theo quy định của
pháp luật và của ngành Kiểm sát.
Ví dụ: Trong quá trình giải quyết vụ
án hình sự, đại diện bị hại tố cáo nhiều nội dung: (1) Tố cáo Kiểm sát viên có
vi phạm nghiêm trọng trong quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát điều
tra, kiểm sát xét xử vụ án dẫn đến bỏ lọt tội phạm. Hậu quả là vụ án bị huỷ, trả
hồ sơ và yêu cầu điều tra, xét xử lại nhiều lần; bản án có hiệu lực pháp luật
đã xác định và kết án với đối tượng bị bỏ lọt; (2) Tố cáo Lãnh đạo VKSND cấp tỉnh
có hành vi bao che sai phạm của Kiểm sát viên; cho rằng việc giải quyết tố cáo
của Viện trưởng cấp tỉnh chung chung, chưa xác định rõ trách nhiệm của từng KSV
trong giải quyết vụ án, vi phạm thời hạn trong giải quyết tố cáo; không xử lý kỷ
luật hành chính đối với kiểm sát viên có vi phạm; (3) Đề nghị xem xét trách nhiệm
của Viện trưởng VKSND tỉnh và Lãnh đạo VKS tỉnh trong việc kỷ luật cán bộ công
chức có vi phạm.
Trong ví dụ nêu trên, nội dung (1) và (2) cần xác
định là đơn tố cáo trong hoạt động tư pháp. Việc nghiên cứu, xem xét lại việc
giải quyết tố cáo (về trình tự, thủ tục, nội dung) của VKS cấp tỉnh trong giải
quyết tố cáo của công dân thuộc trách nhiệm của đơn vị Kiểm sát và giải quyết
khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp.
Đối với nội dung (3) cần xác định là kiến nghị
xem xét trách nhiệm của Lãnh đạo Viện và Viện trưởng VKS tỉnh trong việc kỷ luật
cán bộ công chức có vi phạm trong thực hiện nhiệm vụ công vụ. Trường hợp này
đơn vị Kiểm sát và giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp xây
dựng văn bản báo cáo Viện trưởng VKSND tối cao giao đơn vị Thanh tra tham mưu đề
xuất xử lý theo quy định của pháp luật và của ngành Kiểm sát nhân dân.
4. Xử lý Đơn Tố cáo
4.1. Chỉ thụ lý Đơn tố cáo khi Đơn
đáp ứng đủ 4 điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều 29 Luật Tố cáo
năm 2018[27].
4.2. Đơn tố cáo đối với người ký ban
hành các Quyết định giải quyết khiếu nại (đã được giải quyết đúng thẩm
quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật); Bản án, quyết định có
hiệu lực pháp luật của Tòa án…; cần xem xét động cơ của người gửi đơn là do
không đạt được mục đích nên tố cáo người giải quyết, thì không thụ lý, giải quyết;
trường hợp này sẽ tiến hành lưu đơn và thông báo cho công dân biết việc sẽ tiến
hành lưu đơn (tương tự) loại này của các lần tiếp theo, nếu không có nội dung
nào khác hoặc có tài liệu chứng minh cho nội dung tố cáo[28].
4.3. Không thụ lý, giải quyết Đơn khiếu
nại đối với Quyết định giải quyết tố cáo trong hoạt động tư pháp; do Quyết định
giải quyết tố cáo không phải là đối tượng được khiếu nại theo quy định của pháp
luật tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính...[29].
4.4. Đối với các trường hợp tố cáo tiếp
trong hoạt động tư pháp, do các bộ luật, luật về tư pháp không quy định việc giải
quyết lại tố cáo nên không xem xét giải quyết tố cáo đã được cơ quan có thẩm
quyền giải quyết. Để tránh nhầm lẫn, cần phân biệt rõ giữa thẩm quyền giải
quyết và thẩm quyền kiểm tra (đã được hướng dẫn tại Mục 9
phần II Công văn số 1066/VKSTC-V12 ngày 22/3/2021 của VKSND tối cao v/v giải
đáp một số khó khăn, vướng mắc trong công tác tiếp công dân, giải quyết và kiểm
sát việc giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp).
5. Xử lý đối với đơn kiến nghị,
phản ánh
Hiện nay pháp luật chưa có quy định cụ thể về quy
trình xử lý đối với loại đơn này. Tuy nhiên, quá trình xử lý cần vận dụng tinh
thần quy định tại Điều 20 Thông tư số 05/TT-TTCP ngày
01/10/2021 của Thanh tra Chính phủ quy định về quy trình xử lý đơn khiếu nại,
tố cáo, kiến nghị, phản ánh; theo đó hướng xử lý cụ thể như sau:
- Trường hợp nội dung thuộc trách nhiệm quản lý
của ngành Kiểm sát: đề xuất chuyển tới đơn vị kiểm sát có thẩm quyền giải
quyết;
- Trường hợp nội dung thuộc trách nhiệm quản lý
của các cơ quan khác: đề xuất chuyển tới cơ quan, đơn vị có thẩm quyền giải
quyết và thông báo cho người gửi đơn. Tuy nhiên cần lưu ý, nếu cơ quan, đơn vị
có thẩm quyền giải quyết là cơ quan tư pháp thì cần thông báo cho VKS cùng cấp
để biết, phối hợp.
Trên đây là Hướng dẫn phân loại, xử lý đơn khiếu nại,
tố cáo, kiến nghị phản ánh trong ngành Kiểm sát nhân dân. Đề nghị Thủ trưởng
các đơn vị thuộc VKSND tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp chỉ đạo
nghiên cứu, triển khai thống nhất trong toàn ngành; Viện kiểm sát cấp trên cần
tăng cường thanh tra, kiểm tra Viện kiểm sát cấp dưới về công tác tiếp nhận,
phân loại, xử lý đơn để kịp thời chấn chỉnh công tác này đi vào nền nếp. Trong
quá trình thực hiện, nếu phát sinh các vướng mắc, khó khăn; đề nghị các đồng
chí kịp thời phản ánh về VKSND tối cao (Vụ 12) để tổng hợp, nghiên cứu, giải
đáp./.
|
Nơi nhận:
- Đ/c Viện trưởng VKSTC (để báo
cáo);
- Đ/c Nguyễn Quang Dũng, PVT VKSTC (để b/cáo);
- Lãnh đạo VKSND tối cao (để báo cáo);
- VKSQS TW; Các đơn vị thuộc VKSND tối cao; VKSND cấp cao 1,2,3; VKSND các tỉnh,
thành phố trực thuộc TW; VKSQS cấp quân khu (để nghiên cứu, thực hiện);
- Lưu: VT, V12.
|
TL. VIỆN TRƯỞNG
VỤ TRƯỞNG VỤ KIỂM SÁT VÀ
GIẢI QUYẾT ĐƠN KHIẾU NẠI, TỐ CÁO
TRONG HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP
KIỂM SÁT VIÊN VKSND TỐI CAO
Trần Hưng Bình
|