|
BAN CHẤP HÀNH
TRUNG ƯƠNG
*
|
ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM
---------------
|
|
Số 08-HD/TW
|
Hà Nội, ngày 10 tháng
06 năm 2025
|
HƯỚNG DẪN
THỰC
HIỆN MỘT SỐ NỘI DUNG QUY ĐỊNH SỐ 296-QĐ/TW, NGÀY 30/5/2025 CỦA BAN CHẤP HÀNH
TRUNG ƯƠNG ĐẢNG VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT VÀ KỶ LUẬT CỦA ĐẢNG
- Căn cứ Điều lệ Đảng;
- Căn cứ Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung
ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư khóa XIII;
- Căn cứ Quy định số 296-QĐ/TW, ngày 30/5/2025 của
Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của
Đảng,
Ban Bí thư hướng dẫn thực hiện một số nội dung Quy
định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng như sau:
I- Giải thích từ ngữ
1. Nhiệm vụ chuyên môn được giao là công việc thực
hiện theo chức danh được chỉ định, bổ nhiệm, bầu cử; theo vị trí việc làm, chức
trách, cương vị công tác trong tổ chức, cơ quan, đơn vị mà đảng viên đó là
thành viên.
2. Nhiệm vụ cấp ủy giao là nhiệm vụ do cấp ủy, ban
thường vụ cấp ủy (ở Trung ương là Bộ Chính trị, Ban Bí thư) phân công cấp ủy
viên, đảng viên thực hiện theo quy định.
3. Nhiệm vụ cấp trên giao là nhiệm vụ do cấp trên cử,
phân công, giao cho tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên thực hiện trong hoặc ngoài
phạm vi nhiệm vụ chuyên môn.
4. Chức vụ trong Đảng bao gồm chức vụ do tổ chức đảng
bầu, chỉ định hoặc bổ nhiệm đối với đảng viên theo quy định của Đảng (kể cả
chức vụ kiêm nhiệm).
5. Giám sát thường xuyên bao
gồm:
- Giám sát trực tiếp: Thông qua dự các kỳ họp của cấp
ủy, ban thường vụ cấp ủy; qua sinh hoạt kiểm điểm tự phê bình và phê bình của
tổ chức đảng, đảng viên; làm việc trực tiếp, dự các cuộc họp, hội nghị khác của
đối tượng giám sát.
- Giám sát gián tiếp: Qua phần mềm giám sát, hệ thống
cơ sở dữ liệu số; xem xét các báo cáo về tổ chức và hoạt động của tổ chức đảng
cấp dưới; nghiên cứu các văn bản, báo cáo, thông báo kết luận về các cuộc kiểm
tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán; kết quả tự phê bình và phê bình; ý kiến
trao đổi, phản ánh, kiến nghị của các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức,
cá nhân khác; phản ánh của các phương tiện thông tin đại chúng; xem xét đơn tố
cáo, phản ánh của đảng viên và quần chúng nhân dân...
6. Đối tượng kiểm tra, giám sát: Ngoài các đối tượng
quy định tại Khoản 6, Điều 3, Quy định số 296-QĐ/TW, ngày
30/5/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác kiểm tra, giám sát
và kỷ luật của Đảng còn bao gồm các ban chỉ đạo, tiểu ban, hội đồng, tổ đảng,
tổ công tác, đoàn (tổ) kiểm tra, giám sát do cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, tổ
chức đảng, ủy ban kiểm tra thành lập theo thẩm quyền.
7. Thời hiệu xử lý kỷ luật được
tính từ thời điểm tổ chức đảng, đảng viên có hành vi vi phạm đến khi tổ chức đảng
có thẩm quyền kết luận vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật. Thời điểm xảy ra
hành vi vi phạm phải được tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, làm rõ, kết luận.
Xác định thời điểm có hành vi vi phạm:
- Đối với hành vi vi phạm xác định được thời điểm
chấm dứt thì thời điểm có hành vi vi phạm được tính từ thời điểm chấm dứt.
- Đối với hành vi vi phạm chưa chấm dứt thì thời điểm
có hành vi vi phạm được tính từ thời điểm phát hiện.
- Đối với hành vi vi phạm không xác định được thời điểm
chấm dứt thì thời điểm có hành vi vi phạm được tính từ thời điểm có kết luận
của cấp có thẩm quyền.
8. Thời hạn kiểm tra, giám sát
8.1. Đối với đoàn kiểm tra giải quyết tố cáo, giải
quyết khiếu nại kỷ luật thì thời hạn được tính từ ngày công bố quyết định giải
quyết đến ngày thông qua dự thảo báo cáo kết quả thẩm tra, xác minh tại tổ chức
đảng bị tố cáo, khiếu nại hoặc tổ chức đảng quản lý đảng viên bị tố cáo, khiếu
nại.
8.2. Đối với đoàn kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm,
kiểm tra chấp hành, giám sát chuyên đề, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ kiểm
tra, giám sát và thi hành kỷ luật, kiểm tra tài chính đảng thì thời hạn được
tính từ ngày đoàn kiểm tra, giám sát nhận được báo cáo, tài liệu kèm theo của
đối tượng kiểm tra, giám sát đến ngày thông qua dự thảo báo cáo kết quả thẩm
tra, xác minh tại tổ chức đảng được kiểm tra, giám sát hoặc tổ chức đảng quản
lý đảng viên được kiểm tra, giám sát.
8.3. Đối với các đoàn kiểm tra, xem xét thi hành kỷ
luật đảng thì thời hạn được tính từ ngày chủ thể kiểm tra công bố quyết định kiểm
tra đến ngày thông qua dự thảo báo cáo đề nghị thi hành kỷ luật tại tổ chức
đảng bị kỷ luật hoặc tổ chức đảng quản lý đảng viên bị kỷ luật.
9. Tài liệu theo nội dung kiểm tra, giám sát bao gồm:
Quyết định, kế hoạch, đề cương gợi ý báo cáo, biên bản làm việc và các văn bản
thu thập trong quá trình thẩm tra, xác minh, báo cáo, thông báo kết luận, các
văn bản báo cáo kết quả thực hiện kết luận.
II- Công tác kiểm tra, giám sát
1. Cấp ủy, tổ chức đảng
(Điều 4)
1.1. Đảng ủy Công an Trung ương chủ trì, phối hợp với
các tỉnh ủy, Thành ủy trực thuộc Trung ương kiểm tra, giám sát đối với tổ chức
đảng, đảng viên ở đảng bộ công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
trong việc chấp hành các nghị quyết về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật
tự, an toàn xã hội và xây dựng lực lượng Công an nhân dân; tổ chức sơ kết, tổng
kết, đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết theo quy định.
1.2. Cấp ủy, ban thường vụ tỉnh ủy, Thành ủy trực
thuộc Trung ương chủ trì, phối hợp với Đảng ủy, Ban Thường vụ Đảng ủy Công an
Trung ương thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, giải quyết tố cáo, khiếu nại
kỷ luật đảng, thi hành kỷ luật đảng đối với tổ chức đảng và đảng viên thuộc
đảng bộ công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (đảng viên là cán bộ
thuộc diện tỉnh ủy, Thành ủy quản lý). Trường hợp có yếu tố liên quan đến nước
ngoài thì ban thường vụ tỉnh ủy, Thành ủy chủ trì, phối hợp với Ban Thường vụ
Đảng ủy Công an Trung ương xem xét, quyết định; nếu có ý kiến khác nhau thì báo
cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư cho ý kiến chỉ đạo để thực hiện.
1.3. Trong thực hiện nhiệm vụ giám sát thường
xuyên:
- Cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy trực thuộc Trung
ương, cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy trực thuộc Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung
ương, Đảng ủy Chính phủ, Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn
thể Trung ương có trách nhiệm mời thành viên Ủy ban kiểm tra Trung ương, cán bộ
được phân công theo dõi địa bàn dự các cuộc họp cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy;
khi thực hiện chế độ thông tin, báo cáo với cấp ủy cấp trên trực tiếp thì đồng
thời gửi Ủy ban kiểm tra Trung ương.
- Cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy trực thuộc tỉnh ủy,
Thành ủy và cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy trực thuộc đảng ủy các cơ quan đảng,
đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố có trách nhiệm mời thành viên ủy ban
kiểm tra tỉnh ủy, thành ủy, cán bộ được phân công theo dõi địa bàn dự các cuộc
họp cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy; khi thực hiện chế độ thông tin, báo cáo với
cấp ủy cấp trên trực tiếp thì đồng thời gửi ủy ban kiểm tra tỉnh ủy, thành ủy.
1.4. Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày ký quyết định,
kế hoạch kiểm tra, giám sát, phải công bố đến đối tượng kiểm tra, giám sát; đến
các tổ chức, cá nhân có liên quan. Trường hợp chưa thực hiện được thì phải
thông báo đến đối tượng kiểm tra, giám sát, các tổ chức, cá nhân có liên quan
để biết.
2. Các cơ quan tham mưu,
giúp việc của cấp ủy (Điều 5)
2.1. Các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy thực
hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực chuyên môn
được giao đối với tổ chức đảng và đảng viên, kể cả các ban chỉ đạo, tiểu ban,
hội đồng, tổ công tác, đoàn (tổ) kiểm tra, giám sát do cấp ủy, ban thường vụ
cấp ủy lập ra theo thẩm quyền. Kết thúc cuộc kiểm tra, giám sát phải có báo cáo
kết quả và thông báo kết luận gửi báo cáo cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy.
2.2. Khi được cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy giao thực
hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, giải quyết tố cáo hoặc giải quyết khiếu nại
kỷ luật đảng đối với tổ chức đảng cùng cấp hoặc cấp dưới, đảng viên thuộc diện
cấp ủy cùng cấp, cấp dưới quản lý thì cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy
xây dựng kế hoạch và sử dụng bộ máy của cơ quan, đơn vị mình để tiến hành kiểm
tra, giám sát hoặc đề nghị ủy ban kiểm tra cùng cấp, các cơ quan tham mưu, giúp
việc khác phối hợp xây dựng kế hoạch, cử cán bộ tham gia các đoàn kiểm tra,
giám sát.
2.3. Tham mưu giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng
theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đối
với tổ chức đảng, đảng viên khi được cấp có thẩm quyền giao; cử cán bộ tham gia
đoàn giải quyết khiếu nại.
2.4. Không cử cán bộ tham gia đoàn giải quyết tố
cáo, khiếu nại kỷ luật đảng trong các trường hợp sau: Là người đứng đầu tổ chức
đảng đã quyết định xử lý kỷ luật, giải quyết khiếu nại của tổ chức đảng, đảng viên
khiếu nại; người có liên quan trực tiếp đến vi phạm của tổ chức đảng, đảng
viên; đã tham gia là thành viên đoàn, chỉ đạo đoàn giải quyết tố cáo, giải
quyết khiếu nại trước đó; có quyền, lợi ích liên quan đến tổ chức đảng, đảng
viên đang tố cáo, khiếu nại hoặc tổ chức đảng, đảng viên bị tố cáo; có quan hệ
gia đình là vợ (chồng), bố, mẹ, người trực tiếp nuôi dưỡng hoặc bố, mẹ, người
trực tiếp nuôi dưỡng vợ (chồng), con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể, anh, chị,
em ruột hoặc anh, chị, em ruột của vợ (chồng) theo quy định của pháp luật với
đảng viên đang tố cáo, khiếu nại hoặc đảng viên bị tố cáo; đang có đơn, thư
khiếu nại, tố cáo thuộc trường hợp phải xác minh, kết luận nhưng chưa được xác
minh, kết luận hoặc đang trong thời gian xác minh, kết luận, kiểm điểm theo quy
định của Đảng, pháp luật; đang trong thời gian xem xét kỷ luật hoặc đang bị kỷ
luật (kể cả kỷ luật về Đảng, hành chính, đoàn thể); đang là đối tượng bị thanh
tra, kiểm tra, điều tra.
3. Chi bộ (Điều 6)
3.1. Chi bộ phải thường xuyên tự kiểm tra, giám
sát; xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát nhiệm kỳ, hằng năm (xác định cụ thể
về nội dung, đối tượng, mốc thời gian, thời gian tiến hành, phương pháp tiến
hành, phân công thành viên tổ kiểm tra, giám sát) và tiến hành kiểm tra chấp
hành, kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm, giám sát chuyên đề đối với đảng viên
trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên, thực hiện chức trách, nhiệm vụ chuyên
môn được giao; thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của Đảng.
3.2. Chi bộ chủ yếu giám sát thường xuyên đối với đảng
viên nơi công tác, sinh hoạt và nơi cư trú; chi bộ có chi ủy, chi bộ có trên 30
đảng viên và đảng viên hoạt động phân tán hoặc có nhiều tổ đảng trực thuộc thì
thực hiện giám sát theo chuyên đề.
3.3. Nếu phát hiện đảng viên là cấp ủy viên các cấp
sinh hoạt tại chi bộ (từ cấp ủy viên cơ sở trở lên) và cán bộ thuộc diện cấp ủy
cấp trên quản lý vi phạm trong thực hiện nhiệm vụ cấp trên giao thì chi bộ báo
cáo tổ chức đảng cấp trên trực tiếp để xem xét, kiểm tra hoặc đề nghị tổ chức
đảng có thẩm quyền xem xét, quyết định.
4. Ủy ban kiểm tra các cấp
(Điều 7)
4.1. Nguyên tắc tổ chức
4.1.1. Khi phân công, điều động chủ nhiệm ủy ban kiểm
tra sang công tác khác hoặc hội nghị cấp ủy chưa bầu được chức danh chủ nhiệm,
thì cấp ủy hoặc ban thường vụ cấp ủy phân công một đồng chí phó chủ nhiệm hoặc
thành viên ủy ban (nếu không có phó chủ nhiệm) điều hành công việc và ký văn
bản cho đến khi cấp ủy bầu được chức danh chủ nhiệm.
4.1.2. Khi thay đổi ủy viên ủy ban kiểm tra thì cấp
ủy hoặc ban thường vụ cấp ủy phải trao đổi, xin ý kiến bằng văn bản với ủy ban
kiểm tra cấp trên trực tiếp trước khi thực hiện quy trình công tác cán bộ. Phối
hợp với ban tổ chức của cấp ủy cùng cấp tham mưu thực hiện chủ trương bố trí
chủ nhiệm ủy ban kiểm tra của cấp ủy (cấp tỉnh và xã, phường, đặc khu) không
phải người địa phương theo quy định của Đảng về luân chuyển cán bộ.
4.1.3. Trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận được
văn bản trao đổi, xin ý kiến về nhân sự (ngày văn thư nhận trực tiếp hoặc theo
dấu bưu điện chuyển đến), ủy ban kiểm tra cấp trên phải có văn bản trả lời.
Trường hợp ủy ban kiểm tra cấp trên không đồng ý hoặc có ý kiến khác thì cấp ủy
hoặc ban thường vụ cấp ủy phải báo cáo cấp có thẩm quyền quyết định hoặc chuẩn
y cho ý kiến chỉ đạo để thực hiện.
4.1.4. Ủy ban kiểm tra chủ trì, phối hợp với ban tổ
chức cấp ủy cùng cấp và cấp ủy cấp dưới chuẩn bị về phương hướng, quy hoạch, số
lượng, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, thẩm định nhân sự ủy ban kiểm
tra cấp dưới trước đại hội, nhân sự tham gia ủy ban kiểm tra cấp ủy khóa mới,
kiện toàn, bổ sung ủy viên ủy ban kiểm tra và các chức danh cụ thể, chuẩn y kết
quả bầu cử, cho thôi giữ chức vụ,... để báo cáo cấp ủy, tổ chức đảng có thẩm
quyền xem xét, quyết định.
4.2. Quyền hạn
4.2.1. Ủy ban kiểm tra căn cứ theo các quy định của
Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật để chỉ đạo, hướng dẫn đối
với cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới hoặc căn cứ chỉ đạo của cấp ủy, ủy ban kiểm
tra cấp trên hoặc cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy cùng cấp (ở Trung ương là Bộ
Chính trị, Ban Bí thư) để quyết định nội dung chỉ đạo.
4.2.2. Văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện
của cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới về công tác xây dựng Đảng,
về chủ trương phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh, quốc phòng khi gửi
báo cáo cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy cấp trên đồng thời gửi ủy ban kiểm tra cấp
trên để phục vụ nhiệm vụ giám sát thường xuyên theo quy định.
4.2.3. Ủy ban kiểm tra Quân ủy Trung ương chỉ đạo,
hướng dẫn cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, ủy ban kiểm tra đảng ủy các quân khu,
bộ đội biên phòng phối hợp với ủy ban kiểm tra các tỉnh ủy, thành ủy (chủ trì)
tiến hành công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đối với tổ chức đảng,
đảng viên thuộc đảng bộ quân sự tỉnh, thành phố. Khi kiểm tra, giám sát, thi
hành kỷ luật đối với tổ chức đảng, đảng viên thuộc Đảng bộ Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà
Nội thì Ủy ban Kiểm tra Thành ủy Hà Nội chủ trì, phối hợp với Ủy ban kiểm tra
Quân ủy Trung ương để thực hiện.
4.2.4. Ủy ban kiểm tra Đảng ủy Công an Trung ương
chủ trì, phối hợp với ủy ban kiểm tra các tỉnh ủy, thành ủy giám sát (theo
chương trình công tác toàn khóa, kế hoạch hằng năm hoặc đột xuất theo yêu cầu
nhiệm vụ) đối với tổ chức đảng, đảng viên thuộc đảng bộ công an các tỉnh, thành
phố trong việc chấp hành nghị quyết của Đảng ủy Công an Trung ương về bảo vệ an
ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội và xây dựng lực lượng Công an
nhân dân.
4.3. Thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Điều lệ Đảng
4.3.1. Trong kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm, nếu
đối tượng kiểm tra bị tố cáo hoặc phát hiện thêm nội dung vi phạm mới thì ủy
ban kiểm tra (hoặc thường trực ủy ban kiểm tra) xem xét, quyết định bổ sung nội
dung kiểm tra và báo cáo chung khi kết thúc kiểm tra (đối với cấp ủy, ban
thường vụ cấp ủy các cấp và chi bộ kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm cũng thực
hiện tương tự như trên).
4.3.2. Trong kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm, giải
quyết tố cáo, đoàn (tổ) kiểm tra nhận thấy vi phạm đã rõ, đến mức phải thi hành
kỷ luật, đồng thời đối tượng kiểm tra tự giác nhận khuyết điểm, vi phạm và hình
thức kỷ luật thì trưởng đoàn (tổ) kiểm tra báo cáo thường trực Ủy ban hoặc ủy
ban kiểm tra (bằng văn bản) xem xét, cho kết hợp thực hiện quy trình xem xét,
thi hành kỷ luật đảng (gọi chung là quy trình kép).
4.3.3. Khi kiểm tra việc thi hành kỷ luật, nếu phát
hiện việc kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm không đúng nguyên tắc, thẩm
quyền, quy trình, thủ tục thì chủ thể kiểm tra căn cứ nội dung, tính chất, mức
độ, nguyên nhân vi phạm để xem xét, ban hành quyết định hoặc yêu cầu tổ chức
đảng đã quyết định kỷ luật hủy bỏ quyết định đã ban hành, thực hiện quy trình
xem xét, thi hành kỷ luật lại đối với tổ chức đảng, đảng viên vi phạm và ban
hành quyết định kỷ luật mới theo thẩm quyền.
4.3.4. Ủy ban kiểm tra các cấp hướng dẫn các cơ
quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy cùng cấp, cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới xây
dựng chương trình kiểm tra, giám sát toàn khóa, kế hoạch thực hiện kiểm tra,
giám sát hằng năm; khung chương trình bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ và việc
phân công, bố trí cán bộ tham gia thành viên các đoàn (tổ) kiểm tra, giám sát
của các tổ chức đảng.
4.3.5. Ủy ban kiểm tra các cấp yêu cầu đối tượng
giám sát có trách nhiệm mời thành viên ủy ban kiểm tra, cán bộ được phân công
theo dõi địa bàn dự các cuộc họp, hội nghị của cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy;
cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin, tài liệu liên quan đến công tác kiểm
tra, giám sát và kỷ luật của Đảng theo quy định; chấp hành nghiêm các quyết
định, kiến nghị, đề nghị, yêu cầu, kết luận; định kỳ hoặc đột xuất báo cáo theo
yêu cầu của ủy ban kiểm tra cấp trên.
4.3.6. Ủy ban kiểm tra chủ động phối hợp với ban tổ
chức cấp ủy (chủ trì) trong việc tham mưu giúp cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy
cùng cấp về thẩm định giới thiệu nhân sự tham gia cấp ủy cấp dưới, khen thưởng
hoặc luân chuyển, bổ nhiệm, điều động cán bộ kiểm tra giữ các chức vụ thuộc
diện cấp ủy cùng cấp quản lý, kiện toàn nhân sự, tổ chức bộ máy ủy ban kiểm tra
và cơ quan ủy ban kiểm tra, xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra cấp mình và cấp
dưới trực thuộc cấp ủy.
4.3.7. Khi thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát,
tùy nội dung, tính chất vụ việc hoặc trường hợp cần thiết, đoàn kiểm tra, giám
sát có thể thông qua hội nghị, hoạt động trực tuyến hoặc ủy quyền bằng văn bản
để thực hiện.
4.3.8. Trong thời hạn 5 ngày kể từ khi có kết quả
(kết luận) xử lý đảng viên vi phạm, cấp ủy hoặc ủy ban kiểm tra cùng cấp phải
thông báo kết quả bằng văn bản cho cơ quan đã chuyển thông tin, hồ sơ, tài liệu
biết (các cơ quan có thẩm quyền quyết định kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều
tra, truy tố, xét xử, thi hành án các vụ án, vụ việc).
4.3.9. Nhiệm vụ kiểm soát tài sản, thu nhập:
- Kiểm soát tài sản, thu nhập của đảng viên thuộc
diện ban thường vụ cấp ủy cùng cấp quản lý và đảng viên chuyên trách công tác
đảng hoặc có vị trí việc làm ở các cơ quan tham mưu, giúp việc cấp ủy. Cụ thể:
+ Đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp ủy cùng cấp quản
lý (theo phân cấp quản lý cán bộ).
+ Đảng viên là cán bộ chuyên trách làm công tác đảng
giữ chức vụ từ phó vụ trưởng và tương đương (tại Trung ương); phó trưởng phòng
và tương đương (tại tỉnh ủy, thành ủy); phó trưởng ban và tương đương (tại cấp
trên trực tiếp cơ sở) trở lên và các đảng viên là cán bộ chuyên trách làm công
tác đảng khác thuộc đối tượng phải kiểm soát theo quy định của pháp luật.
- Xác minh tài sản, thu nhập theo quy định của pháp
luật khi có đơn, thư tố cáo, phản ánh về việc kê khai tài sản, thu nhập không
trung thực; có dấu hiệu vi phạm về việc kê khai tài sản, thu nhập không trung
thực; có biến động tăng về tài sản, thu nhập mà không kê khai, giải trình không
hợp lý về nguồn gốc; theo yêu cầu hoặc kiến nghị của cơ quan có thẩm quyền hoặc
theo chỉ đạo của cấp trên; theo kế hoạch xác minh tài sản, thu nhập hằng năm.
4.3.10. Khi thực hiện giám sát chuyên đề, kiểm tra
khi có dấu hiệu vi phạm, giải quyết tố cáo có nội dung liên quan đến xác minh
tài sản, thu nhập thì thực hiện theo quy định, quy trình về công tác kiểm tra,
giám sát của Đảng.
III- Thi hành kỷ luật
1. Về nguyên tắc thi hành kỷ
luật trong Đảng (Điều 8)
1.1. Một số trường hợp liên quan khi xem xét, xử lý
kỷ luật
1.1.1. Cán bộ, đảng viên đang trong thời gian kiểm
tra, giám sát, giải quyết khiếu nại kỷ luật, tố cáo, xem xét xử lý kỷ luật hoặc
có hành vi vi phạm pháp luật đang trong thời gian bị đề nghị xử lý kỷ luật hoặc
đang trong thời gian bị điều tra, truy tố, xét xử mà đến tuổi nghỉ hưu, được
cấp có thẩm quyền giải quyết thủ tục hưởng chế độ hưu trí, thì tổ chức đảng có
thẩm quyền chỉ làm thủ tục chuyển sinh hoạt đảng tạm thời cho đảng viên đó về
nơi cư trú, đồng thời có văn bản thông báo cho tổ chức đảng quản lý đảng viên
nơi cư trú biết.
1.1.2. Khi đã có báo cáo đề nghị xử lý kỷ luật tổ
chức đảng, đảng viên có vi phạm nhưng tổ chức đảng có thẩm quyền chưa ra quyết
định kỷ luật hoặc báo cáo kiến nghị cấp trên thi hành kỷ luật mà phát hiện có
thêm các tình tiết liên quan đến vi phạm kỷ luật hoặc có hành vi vi phạm khác
thì tổ chức đảng có thẩm quyền tiếp tục xem xét, quyết định hoặc giao đoàn (tổ)
kiểm tra, thẩm tra, xác minh bổ sung nội dung vi phạm để đề nghị xem xét lại
hình thức kỷ luật.
1.1.3. Cán bộ, đảng viên đang trong thời gian giải
quyết tố cáo, khiếu nại kỷ luật, kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm, xem xét, xử
lý kỷ luật, bị kiến nghị xử lý vi phạm theo kết luận thanh tra, kiểm toán, bị
điều tra thì chưa thực hiện quy hoạch, điều động, luân chuyển, bổ nhiệm, biệt
phái, đào tạo, thi nâng ngạch, bậc, phong, thăng quân hàm, nâng lương, phong
tặng danh hiệu, khen thưởng, từ chức hoặc thôi việc. Chưa thực hiện khen thưởng
đối với tổ chức đảng, đảng viên; chưa quy hoạch, ứng cử, đề cử, bổ nhiệm, bổ
nhiệm lại, kéo dài thời gian giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý đối với đảng viên
khi chưa thực hiện đầy đủ, triệt để thông báo kết luận kiểm tra, giám sát của
cấp ủy, ủy ban kiểm tra (trừ các nội dung do yếu tố khách quan nên đảng viên
chưa thể thực hiện đầy đủ, triệt để và được tổ chức đảng có thẩm quyền chấp
thuận).
1.1.4. Đảng viên sau khi chuyển sinh hoạt đảng sang
tổ chức đảng mới, nếu phát hiện có vi phạm kỷ luật ở nơi sinh hoạt đảng trước
đây đối với các vi phạm trong thực hiện nhiệm vụ đảng viên, nhiệm vụ do chi bộ
giao, vi phạm chính sách dân số, vi phạm chế độ sinh hoạt đảng, thu nộp đảng
phí,... mà chưa được xem xét, xử lý thì tùy theo nội dung vi phạm, tổ chức đảng
cấp trên của các tổ chức đảng quản lý đảng viên trước đây và hiện nay xem xét,
giải quyết hoặc ủy quyền cho tổ chức đảng quản lý đảng viên hiện nay hoặc trước
đây xem xét, xử lý.
1.1.5. Trong thời hạn 30 ngày, khi nhận được văn bản
chỉ đạo hoặc đề nghị của tổ chức đảng có thẩm quyền, các tổ chức nhà nước, Mặt
trận Tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội phải xem xét, xử lý kỷ luật về hành
chính, đoàn thể đối với cán bộ, hội viên, đoàn viên là đảng viên. Trường hợp có
quy định khác hoặc hết thời hiệu, thời hạn xử lý kỷ luật về hành chính, đoàn
thể thì không xem xét lại hình thức kỷ luật nhưng phải báo cáo lại bằng văn bản
cho tổ chức đảng có thẩm quyền biết.
1.1.6. Tổ chức đảng bị kỷ luật thì tất cả thành
viên trong tổ chức đó đều phải chịu trách nhiệm, tổ chức đảng quản lý đảng viên
phải ghi rõ số quyết định, ngày, tháng, năm, tổ chức đảng Quyết định kỷ luật,
nội dung, hình thức kỷ luật đối với tổ chức vào lý lịch của từng thành viên.
Những thành viên không tán thành hoặc không liên quan trực tiếp đến vi phạm của
tổ chức đảng đó cũng được ghi rõ vào lý lịch đảng viên và được bảo lưu ý kiến
(nếu có); các nội dung về quản lý cán bộ đối với đảng viên đó (điều động, bổ
nhiệm, luân chuyển, khen thưởng,...) vẫn được thực hiện theo quy định.
1.1.7. Ngay sau khi quyết định kỷ luật tổ chức đảng
có hiệu lực (kể cả quyết định kỷ luật đảng viên, quyết định giải quyết khiếu nại
kỷ luật đảng của tổ chức đảng, đảng viên có hiệu lực), cấp ủy quản lý hồ sơ đảng
viên phải thực hiện việc ghi bổ sung vào lý lịch đảng viên theo đúng quy định.
1.2. Trường hợp được miễn, không xử lý hoặc chưa
xem xét, xử lý kỷ luật
1.2.1. Đảng viên chấp hành quyết định của cấp trên
nhưng đã kịp thời báo cáo bằng văn bản hoặc bảo lưu ý kiến trước tổ chức đảng
có thẩm quyền, cá nhân ra quyết định trái quy định của Đảng, pháp luật của Nhà
nước thì được xem xét miễn hoặc giảm nhẹ trách nhiệm khi tổ chức đảng có thẩm
quyền kết luận quyết định đó là vi phạm.
1.2.2. Tổ chức đảng có thẩm quyền bỏ phiếu biểu quyết
hình thức kỷ luật, đối chiếu kết quả với thời hiệu xử lý kỷ luật nếu đã quá
thời hạn theo quy định thì tổ chức đảng, đảng viên có vi phạm không bị xử lý kỷ
luật. Tổ chức đảng có thẩm quyền ban hành thông báo (bằng văn bản) nêu rõ nội
dung vi phạm, hình thức kỷ luật cần áp dụng đối với tổ chức đảng, đảng viên nhưng
không xử lý kỷ luật do hết thời hiệu đến tổ chức đảng, đảng viên vi phạm và tổ
chức đảng quản lý đảng viên.
1.2.3. Đảng viên thực hiện đề xuất về đổi mới sáng
tạo được cấp có thẩm quyền cho phép theo quy định của Trung ương mà không đạt
hoặc chỉ đạt được một phần mục tiêu đề ra hoặc gặp rủi ro, xảy ra thiệt hại thì
cấp có thẩm quyền phải kịp thời xác định rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan,
đánh giá công tâm để xem xét, xử lý, nếu đã thực hiện đúng chủ trương, có động
cơ trong sáng, vì lợi ích chung thì được xem xét miễn hoặc giảm nhẹ trách nhiệm.
1.2.4. Đảng viên được cơ quan có thẩm quyền xác nhận
mất năng lực hành vi dân sự, khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, hạn chế
về năng lực hành vi dân sự khi xảy ra vi phạm thì không xử lý kỷ luật; tổ chức
đảng có thẩm quyền phải làm thủ tục cho đảng viên ra khỏi Đảng.
1.2.5. Đảng viên là nữ giới đang trong thời gian
mang thai, nghỉ thai sản, đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi hoặc đảng viên là
nam giới (trong trường hợp vợ chết hoặc vì lý do khách quan, bất khả kháng
khác) đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì chưa xem xét, xử lý kỷ luật.
1.2.6. Đảng viên bị bệnh nặng có hồ sơ điều trị nội
trú, điều trị tích cực tại cơ sở y tế, có kết luận bệnh án của cơ quan y tế có
thẩm quyền thì được hoãn, chờ đến khi sức khỏe hồi phục mới xem xét, xử lý kỷ
luật.
2. Về thẩm quyền thi hành kỷ
luật đảng viên vi phạm (Điều 10)
2.1. Trường hợp cấp ủy viên cùng cấp đồng thời là
cán bộ thuộc diện cấp ủy cấp trên trực tiếp quản lý vi phạm nhiệm vụ do cấp
trên giao. Sau khi cấp ủy biểu quyết đề nghị kỷ luật bằng hình thức khiển
trách, cảnh cáo thì báo cáo để ban thường vụ cấp ủy hoặc ủy ban kiểm tra cấp
trên trực tiếp xem xét, quyết định; nếu là cấp ủy tỉnh, thành và đảng ủy trực
thuộc Trung ương thì báo cáo ủy ban kiểm tra Trung ương xem xét, quyết định
hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
2.2. Trường hợp biểu quyết đề nghị kỷ luật cách chức,
khai trừ cấp ủy viên cùng cấp, sau khi cấp ủy biểu quyết đủ số phiếu theo quy
định thì báo cáo ủy ban kiểm tra cấp trên để báo cáo ban thường vụ cấp ủy cùng
cấp xem xét, quyết định. Ở cấp tỉnh ủy, Thành ủy và đảng ủy trực thuộc Trung
ương thì báo cáo ủy ban kiểm tra Trung ương để báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí
thư.
3. Về thẩm quyền thi hành kỷ
luật tổ chức đảng vi phạm (Điều 11)
3.1. Cấp ủy hoặc ban thường vụ cấp ủy cấp trên trực
tiếp quyết định khiển trách, cảnh cáo cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, tổ chức đảng
cấp dưới. Đảng ủy cơ sở, ban thường vụ đảng ủy cơ sở quyết định kỷ luật khiển trách,
cảnh cáo chi ủy, chi bộ, đảng ủy bộ phận.
3.2. Ủy ban kiểm tra các cấp quyết định thi hành kỷ
luật khiển trách, cảnh cáo tổ chức đảng trực thuộc cấp ủy cấp dưới (tổ chức đảng
cách một cấp trở xuống) khi thực hiện nhiệm vụ kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm,
giải quyết tố cáo, giải quyết khiếu nại kỷ luật, xem xét thi hành kỷ luật đối
với tổ chức đảng cấp dưới, đảng viên hoặc qua kiểm tra việc thi hành kỷ luật
của tổ chức đảng cấp dưới, kiểm tra tài chính đảng.
4. Về trình tự xem xét, quyết
định thi hành kỷ luật (Điều 12)
4.1. Đại diện tổ chức đảng có thẩm quyền gặp, nghe
đại diện tổ chức đảng, đảng viên vi phạm trình bày ý kiến phải có từ 2 người,
ghi biên bản và được báo cáo đầy đủ tại hội nghị xem xét, xử lý kỷ luật.
4.2. Trường hợp đại diện tổ chức đảng, đảng viên vi
phạm khi được tổ chức đảng có thẩm quyền mời gặp nhưng không đến mà không có lý
do chính đáng thì tổ chức đảng vẫn xem xét, quyết định thi hành kỷ luật theo
quy định.
4.3. Trường hợp tổ chức đảng hoặc bí thư cấp ủy vi
phạm đến mức phải xem xét, xử lý kỷ luật thì bí thư cấp ủy hoặc đại diện tổ
chức đảng đó báo cáo để cấp ủy cấp trên trực tiếp cử đại diện chủ trì hội nghị
xem xét, kỷ luật.
4.4. Đảng viên vi phạm là cấp ủy viên hoặc cán bộ
thuộc diện cấp ủy quản lý, khi xem xét xử lý kỷ luật phải kiểm điểm ở chi bộ và
ở tổ chức đảng nơi đảng viên đó là thành viên hoặc có vi phạm; trường hợp đã
chuyển công tác, nghỉ việc, nghỉ hưu hoặc chuyển sinh hoạt đảng sang tổ chức
đảng khác thì do trưởng đoàn kiểm tra hoặc tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét,
quyết định.
4.5. Trường hợp phải xử lý kỷ luật ở mức cao hơn
hình thức cảnh cáo thì cấp ủy nơi đảng viên sinh hoạt tạm thời phải thông báo
bằng văn bản nội dung, tính chất, mức độ, tác hại và nguyên nhân vi phạm, đề
xuất hình thức kỷ luật để cấp ủy quản lý đảng viên đó xem xét, quyết định xử lý
kỷ luật; đồng thời báo cáo với cấp ủy cấp trên có thẩm quyền của tổ chức đảng
nơi quản lý chính thức đảng viên đó biết và chỉ đạo.
4.6. Đảng viên có vi phạm ở tổ chức đảng sinh hoạt
chính thức nhưng sau khi chuyển sinh hoạt đảng tạm thời mới bị phát hiện thì do
cấp ủy nơi quản lý chính thức đảng viên đó xem xét, xử lý kỷ luật; đồng thời
thông báo bằng văn bản cho tổ chức đảng nơi đảng viên sinh hoạt đảng tạm thời
biết.
4.7. Trường hợp tổ chức đảng cấp dưới không xem
xét, xử lý hoặc xử lý không đúng hành vi vi phạm thì tổ chức đảng có thẩm quyền
cấp trên căn cứ nội dung vi phạm để thực hiện quy trình, thủ tục bỏ phiếu và
quyết định thi hành kỷ luật mà không phải làm quy trình, thủ tục từ dưới lên.
4.8. Tổ chức đảng ban hành quyết định kỷ luật không
đúng thẩm quyền, nội dung vi phạm hoặc quyết định xóa tên, chấp nhận cho xin ra
khỏi Đảng, cho miễn nhiệm chức vụ, từ chức hoặc chấp nhận cho rút tên khỏi cấp ủy
không đúng quy định thì cấp ủy hoặc ủy ban kiểm tra cấp trên trực tiếp yêu cầu
tổ chức đảng đó ban hành quyết định thu hồi, hủy bỏ quyết định không đúng quy định
trước khi xem xét, kỷ luật và phải xem xét trách nhiệm của tổ chức đảng và
người đứng đầu tổ chức đảng đó.
4.9. Tổ chức đảng sau khi ban hành quyết định kỷ luật
mà phát hiện kỷ luật không đúng thẩm quyền, không đúng quy trình, thủ tục hoặc
nội dung vi phạm hoặc có tình tiết mới làm thay đổi bản chất vụ việc thì phải
chủ động xem xét lại quyết định kỷ luật của mình; trường hợp tổ chức đảng ban
hành quyết định kỷ luật đối với đảng viên mà tổ chức đảng đó đã bị sáp nhập,
chia tách, kết thúc hoạt động thì tổ chức đảng cấp trên của các tổ chức đảng
quản lý đảng viên trước đây và hiện nay xem xét, xử lý hoặc ủy quyền cho tổ
chức đảng quản lý đảng viên hiện nay xem xét, xử lý; nếu không có khiếu nại, chưa
gây hậu quả thì không phải xem xét trách nhiệm.
4.10. Tổ chức đảng vi phạm kỷ luật thì cấp ủy, ban
thường vụ cấp ủy, cơ quan lãnh đạo (thường trực cơ quan lãnh đạo) hoặc người
đứng đầu của tổ chức đảng đó chuẩn bị nội dung kiểm điểm (xây dựng báo cáo, dự
kiến nội dung, chương trình, thành phần mời dự hội nghị), báo cáo trước hội
nghị tổ chức mình để kiểm điểm làm rõ nội dung, mức độ, tính chất, hậu quả,
nguyên nhân của vi phạm, xác định trách nhiệm của tổ chức đảng, cá nhân có liên
quan, biểu quyết tự nhận hình thức kỷ luật của tổ chức đảng và báo cáo tổ chức
đảng cấp trên có thẩm quyền xem xét, quyết định. Đại diện của tổ chức đảng cấp
trên trực tiếp quản lý tổ chức đảng vi phạm dự và chỉ đạo hội nghị.
4.11. Tổ chức đảng sau khi chuyển giao, sáp nhập,
chia tách hoặc kết thúc nhiệm kỳ, kết thúc hoạt động mới phát hiện có vi phạm
thì người đứng đầu tổ chức đảng nhận chuyển giao, sáp nhập, chia tách, kết thúc
hoạt động hoặc tổ chức đảng cấp trên của các tổ chức đảng đó chuẩn bị nội dung
kiểm điểm và thực hiện các nội dung khác như nêu trên.
4.12. Về kiểm điểm tổ chức đảng, đảng viên bị xử lý
kỷ luật nhưng hết thời hiệu quy định hoặc có vi phạm nhưng chưa đến mức phải xử
lý kỷ luật:
- Tổ chức đảng, đảng viên bị xử lý kỷ luật nhưng hết
thời hiệu quy định hoặc tổ chức đảng, đảng viên bị tổ chức đảng có thẩm quyền
kết luận có vi phạm, khuyết điểm nhưng chưa đến mức phải xử lý kỷ luật thì phải
làm bản tự kiểm điểm và xây dựng kế hoạch khắc phục vi phạm, khuyết điểm, hậu
quả đã gây ra theo kết luận kiểm tra.
- Trường hợp tổ chức đảng, đảng viên do nhiều cấp ủy
quản lý phải kiểm điểm thì trưởng đoàn kiểm tra báo cáo tổ chức đảng có thẩm quyền
xem xét, quyết định (kể cả cấp ủy viên).
- Tổ chức đảng trực tiếp quản lý tổ chức đảng, đảng
viên vi phạm chịu trách nhiệm giám sát việc thực hiện hoặc kiểm tra, giám sát
việc thực hiện các thông báo kết luận và việc khắc phục những vi phạm, khuyết
điểm. Tổ chức đảng, đảng viên có vi phạm phải nghiêm túc chấp hành và báo cáo
với tổ chức đảng có thẩm quyền việc chấp hành kết luận kiểm tra, giám sát theo
mốc thời gian quy định.
5. Về kỷ luật cách chức đối
với đảng viên (Điều 13)
5.1. Cấp ủy có ban thường vụ, trường hợp chỉ cách
chức bí thư, phó bí thư thì còn chức Ủy viên Ban thường vụ. Cách chức Ủy viên
Ban thường vụ thì còn chức cấp ủy viên. Cách chức cấp ủy viên thì không còn
chức bí thư, phó bí thư, ủy viên ban thường vụ. Nếu bị cách chức ở nhiệm kỳ
trước (một, một số chức vụ hoặc cách tất cả các chức vụ) thì tổ chức đảng có
thẩm quyền phải xem xét, quyết định cách chức một, một số hoặc tất cả các chức
vụ ở nhiệm kỳ sau hoặc quyết định cho miễn nhiệm chức vụ, từ chức.
5.2. Cách chức chủ nhiệm, phó chủ nhiệm thì vẫn còn
là ủy viên ủy ban kiểm tra. Cách chức ủy viên ủy ban kiểm tra thì không còn là
chủ nhiệm, phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra của cấp ủy đó.
5.3. Chi bộ có chi ủy, nếu chỉ cách chức bí thư hoặc
phó bí thư chi bộ thì còn chức chi ủy viên; nếu cách chức chi ủy viên thì đồng
thời không còn là bí thư hoặc phó bí thư chi bộ.
5.4. Trường hợp vi phạm đã rõ, đảng viên thành khẩn
nhận vi phạm, khuyết điểm, tự giác bồi thường, khắc phục hậu quả gây ra, có đơn
xin thôi giữ các chức vụ đang đảm nhiệm, xin thôi việc thì xem xét, quyết định
giảm nhẹ hình thức kỷ luật.
6. Về trình tự, thủ tục,
cách thức bỏ phiếu thi hành kỷ luật (Điều 14)
6.1. Sau khi thảo luận thống nhất, việc bỏ phiếu biểu
quyết thi hành kỷ luật đối với tổ chức đảng và đảng viên chỉ thực hiện một lần
bằng hình thức bỏ phiếu kín (trừ trường hợp bị truy nã, tạm giam, bị Tòa án tuyên
phạt từ hình phạt cải tạo không giam giữ trở lên).
6.2. Khi thực hiện kết luận của cấp ủy, tổ chức đảng
cấp trên về hình thức kỷ luật cụ thể đối với tổ chức đảng, đảng viên vi phạm
thì cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới bỏ phiếu kỷ luật phải theo đúng kết luận của
tổ chức đảng cấp trên (về tính chất, mức độ vi phạm, hình thức kỷ luật), không
được bỏ phiếu hình thức kỷ luật thấp hơn kết luận của cấp ủy, tổ chức đảng cấp
trên (trừ trường hợp phát hiện tổ chức đảng, đảng viên có tình tiết mới dẫn đến
làm thay đổi bản chất vụ việc). Trường hợp kết quả bỏ phiếu kỷ luật khác so với
kết luận của tổ chức đảng cấp trên thì phải báo cáo tổ chức đảng cấp trên xem
xét, cho ý kiến trước khi ban hành quyết định kỷ luật.
6.3. Việc cộng dồn phiếu chỉ thực hiện đối với việc
biểu quyết ở cấp có thẩm quyền quyết định hình thức kỷ luật khi phiếu biểu quyết
phân tán, không có hình thức kỷ luật cụ thể nào có đủ số phiếu theo quy định;
trường hợp đã cộng dồn phiếu nhưng vẫn không có đủ số phiếu để quyết định hình
thức kỷ luật theo quy định thì báo cáo tổ chức đảng có thẩm quyền cấp trên xem
xét, quyết định (kèm theo hồ sơ liên quan đến việc xem xét, quyết định kỷ luật).
6.4. Đảng viên có nhiều chức vụ thì ghi tất cả các
chức vụ trong Đảng từ khi thực hiện hành vi vi phạm đến thời điểm tổ chức đảng
có thẩm quyền xem xét, kỷ luật vào phiếu biểu quyết; đối với hình thức kỷ luật
chỉ cách chức một, một số chức vụ của đảng viên thì cộng dồn số phiếu đã biểu
quyết từ hình thức kỷ luật cách chức vụ cao nhất xuống đến hình thức kỷ luật
cách chức vụ liền kề thấp hơn cho đến hình thức cách chức mà kết quả cộng dồn
phiếu có đủ số lượng theo quy định thì lấy hình thức đó để quyết định (trừ hình
thức kỷ luật cách chức tất cả các chức vụ trong Đảng).
6.5. Đảng viên vi phạm đến mức phải khai trừ hoặc tổ
chức đảng vi phạm đến mức phải giải tán nhưng chưa đủ hai phần ba số đảng viên
chính thức của chi bộ hoặc thành viên của tổ chức đảng bỏ phiếu đề nghị thì báo
cáo và chuyên hồ sơ để tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền xem xét, quyết định.
7. Về hiệu lực quyết định kỷ
luật (Điều 15)
7.1. Chi bộ chỉ có bí thư chi bộ, nếu bí thư chi bộ
bị xử lý kỷ luật thuộc thẩm quyền của chi bộ thì bí thư chi bộ báo cáo cấp ủy cấp
trên quản lý trực tiếp để cử đại diện chủ trì hội nghị xem xét, kỷ luật. Sau
khi biểu quyết quyết định kỷ luật, trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày kết thúc
hội nghị, chi bộ phải gửi báo cáo kết quả hội nghị (biên bản họp, bản tự kiểm
điểm, phiếu biểu quyết quyết định hình thức kỷ luật, biên bản kiểm phiếu của bí
thư chi bộ) đến tổ chức đảng có thẩm quyền để ban hành quyết định kỷ luật.
7.2. Hội nghị công bố quyết định kỷ luật hoặc quyết
định giải quyết khiếu nại kỷ luật phải có đại diện tổ chức đảng ban hành quyết
định (hoặc được ủy quyền công bố quyết định), đại diện tổ chức đảng quản lý tổ
chức đảng hoặc đảng viên bị kỷ luật, đại diện tổ chức đảng bị kỷ luật hoặc đảng
viên bị kỷ luật và lập biên bản lưu hồ sơ. Trường hợp đại diện tổ chức đảng
hoặc đảng viên bị kỷ luật đã nhận được văn bản mời họp nhưng không đến hoặc có
mặt tại hội nghị nhưng không nhận quyết định kỷ luật thì ghi vào biên bản,
quyết định kỷ luật vẫn được công bố và có hiệu lực thi hành kể từ ngày công bố.
7.3. Đảng viên bị truy nã, bị tạm giam, bị Tòa án
tuyên phạt từ hình phạt cải tạo không giam giữ trở lên thì tổ chức đảng ban
hành quyết định kỷ luật ủy quyền hoặc công bố quyết định kỷ luật tại các tổ
chức đảng mà đảng viên đã sinh hoạt trước khi bị đình chỉ sinh hoạt đảng.
7.4. Đảng viên bị kỷ luật khiển trách thì không được
cơ cấu vào cấp ủy, bố trí làm cán bộ chủ chốt, bầu làm đại biểu Quốc hội, Hội
đồng nhân dân các cấp, quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu bầu vào các chức vụ tương
đương hoặc cao hơn khi quyết định kỷ luật chưa hết hiệu lực.
7.5. Trong thời gian chấp hành quyết định kỷ luật
hoặc giải quyết khiếu nại kỷ luật, nếu tổ chức đảng, đảng viên không khiếu nại
hoặc khiếu nại nhưng sau đó rút đơn thì thời gian chấm dứt hiệu lực kỷ luật
hoặc quyết định giải quyết khiếu nại được tính là sau một năm kể từ ngày công
bố quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật cuối cùng
đối với tổ chức đảng, đảng viên đó.
7.6. Trường hợp quyết định thay đổi hình thức kỷ luật
khiển trách, cảnh cáo đối với tổ chức đảng, đảng viên (kể cả do tổ chức đảng
cấp dưới thực hiện không đúng quy định, do thay đổi hình thức kỷ luật hành chính,
đoàn thể) thì thời hạn chấp hành kỷ luật được tính từ ngày quyết định kỷ luật
đầu tiên có hiệu lực.
Khi thay đổi hình thức kỷ luật từ khai trừ đối với
đảng viên hoặc hình thức giải tán đối với tổ chức đảng thì thời hạn chấp hành
kỷ luật được tính từ ngày quyết định kỷ luật thay thế có hiệu lực.
7.7. Quyết định kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên
không đúng với nội dung vi phạm, không đúng thẩm quyền, không đúng quy trình,
thủ tục quy định (kể cả giải quyết khiếu nại kỷ luật) thì phải xem xét trách
nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc tham mưu cho tổ chức
đảng có thẩm quyền ban hành quyết định kỷ luật nêu trên.
8. Về thi hành kỷ luật đối với
đảng viên vi phạm pháp luật (Điều 16)
8.1. Đảng viên bị tuyên phạt thấp hơn hình phạt cải
tạo không giam giữ thì tổ chức đảng có thẩm quyền căn cứ nội dung, tính chất, mức
độ, hậu quả, nguyên nhân vi phạm, tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ để xem xét,
xử lý kỷ luật cho phù hợp.
8.2. Đảng viên có hành vi vi phạm pháp luật mà cơ
quan bảo vệ pháp luật kết luận chưa đến mức xử lý hình sự hoặc đã hết thời hiệu
truy cứu trách nhiệm hình sự; đã có kết quả xử lý đối với đảng viên có hành vi
phạm tội bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử thì cơ quan bảo vệ pháp luật
phải có văn bản thông báo cho cấp ủy, tổ chức đảng trực tiếp quản lý đảng viên
trong thời hạn 15 ngày sau khi có quyết định về hình thức xử lý hành vi vi phạm
pháp luật đó theo quy định của pháp luật.
8.3. Trường hợp đảng viên bị truy nã, tạm giam hoặc
bị Tòa án tuyên phạt từ hình phạt cải tạo không giam giữ trở lên thì cấp ủy,
ban thường vụ cấp ủy hoặc ủy ban kiểm tra báo cáo đề xuất (bằng văn bản) để tổ
chức đảng có thẩm quyền xem xét, quyết định kỷ luật, không phải làm quy trình,
thủ tục từ dưới lên, không phải bỏ phiếu kín.
Đối với đảng viên bị khởi tố, truy tố trong thời
gian chờ xét xử, tổ chức đảng có thẩm quyền căn cứ kết luận, kiến nghị của các
cơ quan tố tụng để xem xét, kết luận và xử lý kỷ luật (không phải gặp đảng
viên).
9. Về kỷ luật giải tán tổ chức
đảng (Điều 17)
9.1. Đảng viên vi phạm thuộc tổ chức đảng bị kỷ luật
giải tán nhưng chưa đến mức phải khai trừ thì tổ chức đảng có thẩm quyền kỷ
luật căn cứ nội dung, mức độ, tính chất, hậu quả và nguyên nhân vi phạm của từng
đảng viên mà xem xét, xử lý kỷ luật trước khi quyết định chuyển sinh hoạt đảng
hoặc giới thiệu sinh hoạt đảng. Những đảng viên vi phạm đến mức phải kỷ luật
khai trừ thì phải khai trừ, tổ chức đảng có thẩm quyền kỷ luật ra quyết định
khai trừ từng đảng viên.
9.2. Đảng viên đang bị đình chỉ sinh hoạt đảng hoặc
cấp ủy viên bị đình chỉ sinh hoạt cấp ủy của tổ chức đảng bị kỷ luật giải tán
thì trong thời hạn 30 ngày, tổ chức đảng quản lý hồ sơ của đảng viên phải bàn
giao đầy đủ hồ sơ cho tổ chức đảng quản lý đảng viên, cấp ủy viên được chuyển
đến sinh hoạt để quản lý và làm thủ tục quyết định cho đảng viên trở lại sinh
hoạt đảng theo quy định; đối với cấp ủy viên, khi tổ chức đảng bị giải tán thì
không còn là cấp ủy viên của tổ chức đảng đó nữa, không phải làm thủ tục cho
cấp ủy viên trở lại sinh hoạt cấp ủy.
IV- Giải quyết tố cáo
1. Về thẩm quyền giải quyết
tố cáo (Điều 18)
Việc giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng cấp dưới
do tổ chức đảng cấp trên trực tiếp giải quyết (Ủy ban kiểm tra, cấp ủy hoặc ban
thường vụ cấp ủy). Việc giải quyết tố cáo đối với đảng viên theo phân cấp quản
lý cán bộ. Ban thường vụ cấp ủy và cấp ủy được quy định là một cấp giải quyết
tố cáo, trước hết thuộc trách nhiệm của ban thường vụ cấp ủy; trường hợp thật
sự cần thiết ban thường vụ cấp ủy báo cáo và đề nghị cấp ủy trực tiếp giải
quyết tố cáo.
2. Về nguyên tắc giải quyết
tố cáo (Điều 19)
2.1. Đảng viên mới được phát hiện hoặc bị tố cáo vi
phạm trước khi kết nạp vào Đảng hoặc khi cơ quan, tổ chức hợp nhất, sáp nhập,
chia tách, giải thể thì tổ chức đảng quản lý đảng viên đó kiểm tra, xem xét xử
lý theo quy định của Đảng.
2.2. Đơn tố cáo của công dân (kể cả đảng viên) phải
ghi rõ họ tên, địa chỉ, ký tên hoặc điểm chỉ, trình bày trung thực sự việc, chịu
trách nhiệm về nội dung tố cáo và bằng chứng (nếu có) của mình. Nếu tố cáo trực
tiếp thì phải được ghi lại thành văn bản, người tố cáo phải ký tên hoặc điểm
chỉ chịu trách nhiệm về nội dung tố cáo.
2.3. Tổ chức đảng hoặc đảng viên bị tố cáo phải
trình bày trung thực, đầy đủ, kịp thời những vấn đề bị tố cáo, cung cấp đầy đủ
hồ sơ, tài liệu, hiện vật có liên quan cho đoàn giải quyết tố cáo; tự giác nhận
khuyết điểm, vi phạm (nếu có) và có quyền sử dụng bằng chứng để chứng minh nội
dung tố cáo không đúng hoặc vu khống; không được đối phó, gây khó khăn, trở
ngại cho đoàn giải quyết tố cáo, không được truy tìm, trấn áp, trù dập, trả thù
người tố cáo.
2.4. Việc thông báo kết luận giải quyết tố cáo bằng
hình thức trực tiếp (tại buổi làm việc), trường hợp cần thiết thì trích nội
dung kết luận giải quyết tố cáo bằng văn bản hoặc cung cấp biên bản làm việc để
trả lời người tố cáo được biết (trừ nội dung tố cáo có liên quan đến bí mật của
Đảng và Nhà nước hoặc liên quan đến các vụ việc, tài liệu chưa được phép công
bố).
2.5. Người tố cáo được quyền xin rút một, một số nội
dung tố cáo hoặc rút toàn bộ đơn tố cáo bằng văn bản (phải lập biên bản, ký xác
nhận của người tố cáo) trước khi tổ chức đảng giải quyết tố cáo ra kết luận.
2.6. Tổ chức đảng có thẩm quyền chấp nhận cho kết
thúc giải quyết một phần hoặc toàn bộ nội dung đơn tố cáo khi người tố cáo có
đơn tự nguyện hoặc trong biên bản làm việc xin rút một phần hay rút toàn bộ nội
dung đơn tố cáo.
2.7. Nếu người tố cáo xin rút đơn tố cáo hoặc một số
nội dung trong đơn tố cáo, nhưng tổ chức đảng có thẩm quyền xác định nội dung
tố cáo có cơ sở thì thực hiện nắm tình hình để phục vụ công tác kiểm tra, giám
sát.
2.8. Nếu có cơ sở khẳng định hoặc phát hiện người tố
cáo bị ép buộc, đe dọa, mua chuộc thì tổ chức đảng có thẩm quyền không đồng ý
cho rút đơn tố cáo mà tiếp tục giải quyết tố cáo và phải có biện pháp hoặc yêu
cầu cơ quan chức năng có biện pháp bảo vệ người tố cáo; quyết định kiểm tra hoặc
chuyển cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý đối với người tố cáo bị mua chuộc
và người mua chuộc.
2.9. Trong quá trình giải quyết tố cáo nếu phát hiện
đối tượng bị tố cáo có dấu hiệu vi phạm khác thì chuyển sang kiểm tra khi có
dấu hiệu vi phạm, đưa nội dung tố cáo thành nội dung kiểm tra vào báo cáo chung
về kết quả kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm và kết luận; trích nguyên kết luận
kiểm tra liên quan đến nội dung tố cáo để trả lời người tố cáo; lập hồ sơ kết
thúc việc giải quyết tố cáo.
2.10. Đơn tố cáo nặc danh, giấu tên, mạo tên có nêu
cụ thể địa chỉ, đối tượng bị tố cáo, có nội dung rõ ràng thì tổ chức đảng có thẩm
quyền giao nắm tình hình để kiểm tra hoặc giám sát chuyên đề.
2.11. Không giải quyết tố cáo đối với người tố cáo
tự nguyện xin rút đơn, đã được tổ chức đảng có thẩm quyền cho rút đơn hoặc đã
xem xét, kết luận nhưng tố cáo lại nội dung cũ mà không có thêm tài liệu, chứng
cứ mới làm thay đổi bản chất vụ việc.
2.12. Tổ chức đảng có thẩm quyền phải thông báo cho
người tố cáo biết lý do đơn tố cáo không được giải quyết bằng văn bản hoặc gặp
trực tiếp (có biên bản làm việc); làm thủ tục kết thúc việc giải quyết tố cáo
theo quy định.
2.13. Tổ chức đảng giải quyết tố cáo phải xử lý hoặc
đề nghị xử lý nghiêm theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước những trường
hợp sau: Truy tìm, trù dập, trả thù người tố cáo; cản trở, không xem xét, giải
quyết tố cáo; bao che những việc làm sai trái của đối tượng bị tố cáo; để lộ
tên, nơi công tác hoặc cư trú của người tố cáo cho người không có trách nhiệm
biết; lợi dụng tố cáo để bôi nhọ, xuyên tạc, thông tin sai sự thật, tố cáo mang
tính bịa đặt, vu khống, đả kích, gây dư luận xấu, ảnh hưởng đến uy tín, danh dự
của tổ chức, cá nhân liên quan, gây mất đoàn kết nội bộ.
2.14. Người tố cáo được bảo vệ bí mật thông tin cá
nhân, bảo vệ vị trí công tác, việc làm, tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự,
nhân phẩm của mình và vợ (hoặc chồng), cha, mẹ, con của người tố cáo.
2.15. Tổ chức đảng giải quyết tố cáo có trách nhiệm
bảo vệ bí mật thông tin, vị trí công tác, việc làm của vợ (hoặc chồng), cha, mẹ,
con của người tố cáo thuộc quyền quản lý; trường hợp không thuộc thẩm quyền thì
yêu cầu hoặc đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền áp dụng các biện
pháp bảo vệ.
2.16. Tổ chức đảng giải quyết tố cáo quyết định áp
dụng biện pháp bảo vệ theo thẩm quyền hoặc đề nghị, yêu cầu cơ quan có thẩm
quyền áp dụng biện pháp bảo vệ cần thiết khi có căn cứ cho thấy vị trí công
tác, việc làm, tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của vợ (hoặc
chồng), cha, mẹ, con của người tố cáo đang bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm
hại hoặc bị trù dập, phân biệt đối xử.
2.17. Trường hợp đảng viên đã chuyển sinh hoạt đảng
sang tổ chức đảng khác; tổ chức đảng đã hợp nhất, sáp nhập, chia tách, kết thúc
hoạt động nếu bị tố cáo vi phạm ở nơi sinh hoạt đảng hoặc khi hoạt động trước
đây mà chưa được xem xét, giải quyết thì tổ chức đảng cấp trên của các đảng bộ
nơi quản lý tổ chức đảng, đảng viên trước đây và hiện nay giải quyết hoặc chỉ
đạo tổ chức đảng cấp dưới xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.
2.18. Những nội dung tố cáo mà ủy ban kiểm tra chưa
đủ điều kiện xem xét thì kiến nghị cấp ủy cùng cấp yêu cầu cơ quan tham mưu cấp
ủy cùng cấp, tổ chức đảng trực thuộc giải quyết hoặc phối hợp giải quyết và
trao đổi, cung cấp kết luận để ủy ban kiểm tra xem xét, xử lý hoặc xem xét, đề
nghị xử lý trách nhiệm của tổ chức đảng, đảng viên liên quan đến vi phạm (nếu
có). Cụ thể:
- Ban Tổ chức cấp ủy chủ trì giải quyết những nội
dung tố cáo liên quan đến tiêu chuẩn chính trị.
- Ban Tuyên giáo và Dân vận chủ trì giải quyết những
nội dung tố cáo liên quan đến quan điểm, tư tưởng chính trị, lĩnh vực báo chí,
xuất bản, văn hóa - văn nghệ, công tác trí thức; việc thực hiện quy chế dân chủ
ở cơ sở và chính sách về dân tộc, tôn giáo.
- Ban Nội chính tham mưu, giúp cấp ủy chỉ đạo việc
phối hợp giữa các cơ quan có chức năng giải quyết những nội dung tố cáo liên
quan đến khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; chủ trì hoặc chỉ đạo
giải quyết những nội dung tố cáo liên quan đến phòng, chống tham nhũng, lãng
phí, tiêu cực theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
- Ban Chính sách, chiến lược Trung ương tham mưu,
giúp Bộ Chính trị, Ban Bí thư chỉ đạo việc phối hợp giữa các cơ quan có chức
năng giải quyết những nội dung tố cáo liên quan đến lĩnh vực kinh tế - xã hội
theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
- Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo giải quyết những nội
dung tố cáo liên quan đến quản lý nhà nước theo quy định của Luật Tố cáo.
- Đảng ủy Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân;
Công an nhân dân, Tư pháp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được
giao, chỉ đạo giải quyết và kết luận những nội dung tố cáo liên quan đến việc
khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án theo quy định của Đảng và pháp
luật của Nhà nước.
- Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị
- xã hội chỉ đạo giải quyết và kết luận những nội dung tố cáo liên quan về việc
chấp hành điều lệ đoàn thể mình.
Ngoài các nội dung nêu trên, tùy nội dung, đối tượng
tố cáo và tình hình thực tiễn, ủy ban kiểm tra các cấp tham mưu cho cấp ủy cùng
cấp chỉ đạo các cơ quan, tổ chức, đơn vị khác giải quyết tố cáo theo quy định
của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
V- Giải quyết khiếu nại kỷ luật
đảng
1. Về thẩm quyền, trách nhiệm
(Điều 21)
1.1. Việc giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng thông
thường được tiến hành tuần tự từ dưới lên, ban thường vụ cấp ủy hoặc cấp ủy
được quy định là một cấp giải quyết khiếu nại. Việc giải quyết khiếu nại trước
hết thuộc trách nhiệm của ủy ban kiểm tra, ban thường vụ cấp ủy; trường hợp
thật sự cần thiết thì ban thường vụ cấp ủy báo cáo và đề nghị cấp ủy trực tiếp
giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng.
1.2. Đảng viên là cấp ủy viên, cán bộ thuộc diện đảng
ủy cơ sở quản lý bị chi bộ kỷ luật thì ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở hoặc ban
thường vụ đảng ủy cơ sở (nơi không có ban thường vụ đảng ủy là đảng ủy cơ sở)
là cấp giải quyết khiếu nại lần đầu; đảng viên là cán bộ thuộc diện ban thường
vụ cấp ủy cấp trên quản lý bị chi bộ kỷ luật thì ủy ban kiểm tra của cấp ủy cấp
trên quản lý đảng viên đó là cấp giải quyết khiếu nại lần đầu; nếu là cán bộ
thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý thì ủy ban kiểm tra Trung ương là
cấp giải quyết khiếu nại lần đầu.
1.3. Ban thường vụ cấp ủy hoặc cấp ủy đã quyết định
kỷ luật thì ủy ban kiểm tra cấp trên trực tiếp là cấp giải quyết khiếu nại lần
đầu. Trường hợp Ủy ban Kiểm tra Trung ương giải quyết khiếu nại kỷ luật, quyết
định thay đổi bằng hình thức khai trừ, nếu đảng viên có khiếu nại thì Ban Bí
thư là cấp giải quyết cuối cùng.
1.4. Chi bộ chỉ có bí thư, nếu bí thư bị chi bộ (trực
thuộc đảng bộ cơ sở) kỷ luật có khiếu nại hoặc bí thư chi bộ trực thuộc đảng bộ
bộ phận bị chi bộ kỷ luật có khiếu nại thì ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở hoặc
ban thường vụ đảng ủy cơ sở (nơi không có ban thường vụ là đảng ủy cơ sở) là
cấp giải quyết khiếu nại kỷ luật lần đầu.
1.5. Về giải quyết khiếu nại kỷ luật tổ chức đảng
1.5.1. Tổ chức đảng bị kỷ luật khiển trách, cảnh
cáo có khiếu nại thì ban thường vụ cấp ủy hoặc cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ
chức đảng bị kỷ luật là cấp giải quyết khiếu nại lần đầu; ban thường vụ cấp ủy
hoặc cấp ủy cấp trên của tổ chức đảng đã giải quyết khiếu nại lần đầu là cấp
giải quyết khiếu nại kỷ luật tiếp theo.
1.5.2. Tổ chức đảng bị kỷ luật giải tán nếu có khiếu
nại thì ban thường vụ cấp ủy hoặc cấp ủy cấp trên của tổ chức đảng đã quyết
định kỷ luật là cấp giải quyết khiếu nại kỷ luật lần đầu. Ở Trung ương, cấp
giải quyết khiếu nại tiếp theo là Ban Bí thư, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung
ương Đảng; Ban Chấp hành Trung ương Đảng là cấp giải quyết khiếu nại kỷ luật
cuối cùng.
1.5.3. Ban thường vụ cấp ủy hoặc cấp ủy cùng cấp là
cấp giải quyết khiếu nại kỷ luật lần đầu đối với tổ chức đảng do ủy ban kiểm
tra cùng cấp quyết định kỷ luật; Ban Bí thư là cấp giải quyết khiếu nại kỷ luật
lần đầu của tổ chức đảng do ủy ban kiểm tra Trung ương quyết định kỷ luật.
1.5.4. Trường hợp tổ chức đảng kỷ luật tổ chức đảng,
đảng viên vi phạm đã hợp nhất, sáp nhập hoặc kết thúc hoạt động mà tổ chức
đảng, đảng viên bị kỷ luật khiếu nại trong thời hạn quy định thì tổ chức đảng
tiếp nhận hợp nhất, sáp nhập (nếu thuộc thẩm quyền) hoặc tổ chức đảng cấp trên
của tổ chức đảng đã kỷ luật hoặc đã giải quyết khiếu nại (sau khi hợp nhất, sáp
nhập hoặc kết thúc hoạt động) giải quyết khiếu nại.
Khi tổ chức đảng có thẩm quyền đang giải quyết khiếu
nại kỷ luật mà tổ chức đảng nơi đảng viên đó đang sinh hoạt thực hiện hợp nhất,
sáp nhập hoặc kết thúc hoạt động thì tổ chức đảng đang giải quyết khiếu nại đề
nghị tổ chức đảng cấp trên chỉ đạo tổ chức đảng có thẩm quyền giải quyết.
2. Về phạm vi, đối tượng giải
quyết khiếu nại (Điều 23)
2.1. Chỉ giải quyết khiếu nại về nội dung vi phạm,
hình thức kỷ luật, về nguyên tắc, thủ tục, quy trình và thẩm quyền thi hành kỷ
luật, giải quyết khiếu nại kỷ luật; các trường hợp khiếu nại không thuộc phạm
vi, trách nhiệm, thẩm quyền giải quyết thì tổ chức đảng phải chuyển các cơ quan
có thẩm quyền giải quyết theo quy định.
2.2. Khi giải quyết khiếu nại phải xác định rõ nội
dung, tính chất, mức độ, tác hại, hậu quả, nguyên nhân vi phạm, các tình tiết
tăng nặng hoặc giảm nhẹ so với hình thức kỷ luật đã quyết định để thảo luận
thống nhất, biểu quyết tập trung không bị phân tán.
2.3. Quyết định kỷ luật, quyết định giải quyết khiếu
nại kỷ luật không đúng thẩm quyền thì tổ chức đảng giải quyết khiếu nại yêu cầu
tổ chức đảng đã quyết định kỷ luật hủy bỏ quyết định kỷ luật, quyết định giải
quyết khiếu nại kỷ luật và đề nghị tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, xử lý kỷ
luật theo quy định.
2.4. Đơn vừa khiếu nại, vừa tố cáo thì tổ chức đảng
chỉ giải quyết nội dung khiếu nại và hướng dẫn người khiếu nại thực hiện quyền
tố cáo theo quy định.
2.5. Nếu đảng viên tự nguyện xin rút đơn khiếu nại
(bằng văn bản) thì tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét cho rút đơn khiếu nại và
kết thúc việc giải quyết (phải lập biên bản có ký xác nhận của người khiếu nại).
2.6. Đơn khiếu nại về xử lý kỷ luật hành chính, lịch
sử chính trị, xác định tuổi đảng, xoá tên trong danh sách đảng viên thì chuyển
cơ quan có thẩm quyền giải quyết và báo cho người khiếu nại biết bằng văn bản.
2.7. Tổ chức đảng có thẩm quyền giải quyết khiếu nại
phải thông báo bằng văn bản cho tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật biết lý do
đơn khiếu nại không được giải quyết.
3. Về trình tự, thủ tục,
phương pháp tiến hành (Điều 26)
3.1. Biểu quyết đề nghị hình thức kỷ luật bằng phiếu
kín tại tổ chức đảng đã quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại
kỷ luật trước đó chỉ áp dụng đối với trường hợp cần phải thay đổi hình thức kỷ
luật (tăng, giảm hoặc xoá hình thức kỷ luật); nếu đề nghị giữ nguyên hình thức
kỷ luật như quyết định của cấp dưới thì tổ (đoàn) kiểm tra của tổ chức đảng
giải quyết khiếu nại trao đổi thống nhất bằng văn bản với tổ chức đảng đã quyết
định kỷ luật hoặc giải quyết khiếu nại kỷ luật gần nhất, không cần bỏ phiếu lại.
3.2. Đối tượng bị kỷ luật là cấp ủy viên cùng cấp
hoặc tổ chức đảng trực thuộc cấp ủy cùng cấp quản lý có khiếu nại thì trưởng
đoàn giải quyết khiếu nại kỷ luật là Ủy viên Ban thường vụ cấp ủy trở lên; ở
Trung ương nếu đối tượng khiếu nại là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng
hoặc tổ chức đảng trực thuộc Trung ương thì trưởng đoàn giải quyết khiếu nại kỷ
luật là Ủy viên Ban Bí thư hoặc Ủy viên Bộ Chính trị.
3.3. Đoàn giải quyết khiếu nại kỷ luật do cấp ủy,
ban thường vụ cấp ủy thành lập làm việc với đại diện tổ chức đảng đã quyết định
kỷ luật, đã giải quyết khiếu nại để tiến hành thẩm tra, xác minh; tùy nội dung,
tính chất vụ việc, trưởng đoàn giải quyết khiếu nại quyết định nội dung, kế
hoạch, lịch làm việc với các tổ chức đảng có thẩm quyền đã quyết định kỷ luật
hoặc đã giải quyết khiếu nại (nếu dự kiến có sự thay đổi về nội dung, hình thức
kỷ luật hoặc tình tiết mới dẫn đến thay đổi bản chất vụ việc) hoặc tổ chức đảng
giải quyết khiếu nại kỷ luật gần nhất (nếu dự kiến giữ nguyên hình thức kỷ
luật).
3.4. Trước khi tổ chức đảng có thẩm quyền quyết định
giải quyết khiếu nại họp để xem xét, bỏ phiếu quyết định kỷ luật thì đại diện
tổ chức đảng có thẩm quyền gặp, nghe ý kiến của đối tượng khiếu nại, của đại
diện cấp ủy, tổ chức đảng quản lý trực tiếp tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật
và báo cáo đầy đủ ý kiến đó tại cuộc họp.
VI- Đình chỉ sinh hoạt đảng
1. Trường hợp bị đình chỉ
sinh hoạt đảng (Điều 27)
1.1. Đảng viên bị đình chỉ sinh hoạt đảng, cấp ủy
viên bị đình chỉ sinh hoạt cấp ủy hoặc tổ chức đảng bị đình chỉ hoạt động phải
chấp hành nghiêm các yêu cầu của tổ chức đảng hoặc cơ quan pháp luật (thực hiện
các nhiệm vụ được giao, tường trình sự việc, tự kiểm điểm về những vi phạm...);
được đề đạt ý kiến của mình nhưng không được lấy danh nghĩa tổ chức đảng, danh
nghĩa cấp ủy viên, chức vụ, công tác đã bị đình chỉ để điều hành công việc.
Đảng viên bị đình chỉ sinh hoạt đảng, sinh hoạt cấp ủy thì đồng thời bị đình
chỉ các chức vụ trong Đảng.
1.2. Khi có yêu cầu của cơ quan bảo vệ pháp luật về
làm thủ tục đình chỉ sinh hoạt đảng đối với đảng viên đã làm thủ tục chuyển
sinh hoạt đảng về địa phương, nơi cư trú hoặc đến đơn vị, địa phương khác,
nhưng phát hiện đảng viên đó không làm thủ tục chuyển sinh hoạt đảng đến nơi
mới theo quy định hoặc quá 3 tháng không tham gia sinh hoạt đảng mà không có lý
do, thì tổ chức đảng cấp trên của tổ chức đảng quản lý đảng viên ủy quyền hoặc
chỉ đạo tổ chức đảng nơi tiếp nhận làm thủ tục xoá tên đảng viên, trong thời
hạn 5 ngày phải thông báo kết quả cho đảng viên, tổ chức đảng chuyển sinh hoạt
cho đảng viên và cơ quan bảo vệ pháp luật biết.
1.3. Trường hợp cơ quan pháp luật ra quyết định khởi
tố, truy nã, truy tố đảng viên thì phải đình chỉ sinh hoạt đảng (quyết định
đình chỉ được công bố tại các tổ chức đảng mà đảng viên đang sinh hoạt và gửi 1
bản cho cơ quan pháp luật để lưu hồ sơ vụ việc).
2. Về thẩm quyền đình chỉ
sinh hoạt đảng (Điều 28)
2.1. Đình chỉ hoạt động của một tổ chức đảng do cấp
ủy hoặc ban thường vụ cấp ủy cấp trên trực tiếp đề nghị, cấp ủy hoặc ban thường
vụ cấp ủy cấp trên cách một cấp quyết định. Đình chỉ hoạt động của một cấp ủy
hoặc ban thường vụ cấp ủy trực thuộc Trung ương do Bộ Chính trị hoặc Ban Bí thư
quyết định và báo cáo Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đối với cấp ủy các cấp bị
đình chỉ hoạt động, sau khi có quyết định đình chỉ thì cấp ủy cấp trên trực
tiếp chỉ định ngay một cấp ủy lâm thời để tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ của
cấp ủy đã bị đình chỉ hoạt động.
2.2. Cấp ủy, tổ chức đảng bị đình chỉ được quyết định
trở lại hoạt động hoặc bị kỷ luật giải tán và đã lập lại tổ chức đảng thì cấp
ủy lâm thời đương nhiên giải thể.
2.3. Đình chỉ sinh hoạt đảng của đảng viên do chi bộ
và đảng ủy cơ sở đề nghị, ủy ban kiểm tra cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở
đảng hoặc đảng ủy cơ sở được ủy quyền quyết định. Đối với đảng viên là cán bộ thuộc
diện cấp ủy cấp trên quản lý, chi bộ và đảng ủy cơ sở đề nghị, ban thường vụ
cấp ủy quản lý cán bộ đó quyết định.
2.4. Trường hợp có thông báo bằng văn bản của cơ
quan pháp luật về việc đảng viên bị khởi tố, truy tố, truy nã, tạm giam, cấp ủy
viên bị khởi tố mà chi bộ, cấp ủy cơ sở chưa đề nghị hoặc không đề nghị tổ chức
đảng cấp trên xem xét đình chỉ thì ủy ban kiểm tra, ban thường vụ cấp ủy hoặc
cấp ủy cấp trên có thẩm quyền căn cứ hồ sơ đề nghị của cơ quan pháp luật để
quyết định đình chỉ sinh hoạt đảng, sinh hoạt cấp ủy theo quy định.
2.5. Trường hợp đối với đảng viên là cán bộ diện
Trung ương quản lý (theo phân cấp quản lý cán bộ) thì tổ chức đảng mà đảng
viên, cấp ủy viên đó là thành viên hoặc tổ chức đảng nơi đảng viên đó sinh hoạt
có văn bản báo cáo, đề nghị ủy ban kiểm tra Trung ương xem xét hoặc báo cáo cấp
có thẩm quyền xem xét, quyết định; ủy viên Trung ương Đảng do Bộ Chính trị
quyết định và báo cáo Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
2.6. Đối với vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật
rất nghiêm trọng trở lên, dấu hiệu tham nhũng, khi cần thiết thì ủy ban kiểm
tra báo cáo đề nghị ban thường vụ cấp ủy hoặc cấp ủy cùng cấp đình chỉ hoặc yêu
cầu đình chỉ chức vụ trong Đảng đối với đảng viên hoặc yêu cầu tạm đình chỉ
công tác đối với cán bộ, đảng viên.
VII- Tổ chức thực hiện
- Giao Ủy ban kiểm tra Trung ương hướng dẫn những vấn
đề thuộc về quy trình, thủ tục và nghiệp vụ phù hợp với tình hình và yêu cầu
thực tiễn của công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.
- Các tổ chức đảng đang trong quá trình thực hiện hợp
nhất, sáp nhập, kết thúc hoạt động không được quy định trong Quy định số
296-QĐ/TW, ngày 30/5/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác kiểm
tra, giám sát và kỷ luật của Đảng thì tiếp tục thực hiện theo Quy định số
22-QĐ/TW, ngày 28/7/2021.
- Hướng dẫn này được phổ biến đến chi bộ và thực hiện
kể từ ngày ký. Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc thì báo cáo Ban Bí
thư (qua ủy ban kiểm tra Trung ương) để xem xét, quyết định.
|
Nơi nhận:
- Các tỉnh ủy, Thành ủy, đảng ủy trực
thuộc Trung ương,
- Các ban, cơ quan, đơn vị của Đảng ở Trung ương,
- Các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng,
- Lưu Văn phòng Trung ương Đảng.
|
T/M BAN BÍ THƯ
Trần Cẩm Tú
|