ỦY
BAN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
-------------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
-------------------
|
Số:
15/2008/QĐ-UBND
|
Đà
Lạt, ngày 05 tháng 05 năm 2008
|
QUYẾT ĐỊNH
VỀ
VIỆC BAN HÀNH QUY ĐỊNH VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI
ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÂM ĐỒNG.
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng
nhân dân và UBND ngày 26/11/2003;
Căn cứ Luật Đất đai năm 2003;
Căn cứ Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử
dụng đất;
Căn cứ Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày
27/01/2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng
dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển Công ty
nhà nước thành Công ty cổ phần; Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của
Chính phủ Quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi
đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;
Căn cứ Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 và Thông tư số
69/2006/TT-BTC ngày 02/8/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số
197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư khi Nhà nước thu hồi đất; Thông tư liên tịch số 14/2008/TTLT/BTC-BTNMT ngày
31/01/2008 của Bộ Tài chính – Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một
số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ Quy định bổ
sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền
sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu
hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;
Theo đề nghị của Sở Tài chính,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban
hành kèm theo Quyết định này bản “Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng”.
Điều 2. Quyết
định này có hiệu lực thi hành sau 10 ngày kể từ ngày ký ban hành.
Bãi bỏ Quyết định số
95/2005/QĐ-UBND ngày 05/9/2005 về việc Ban hành Quy định một số nội dung về bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (hoặc thuê đất) trên địa
bàn tỉnh Lâm Đồng.
Các quy định trước đây của Ủy
ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất trái với Quy định này đều bãi bỏ.
Điều 3. Chánh
văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Giám đốc các sở, ban, ngành thuộc tỉnh; Chủ tịch
Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố Đà Lạt, thị xã Bảo Lộc; Thủ trưởng các tổ
chức, đơn vị và cá nhân có liên quan căn cứ quyết định thi hành./.
Nơi nhận:
- Văn phòng Chính phủ, Website Chính phủ;
- Bộ Tư pháp (Cục Kiểm tra văn bản);
- Các Bộ: TC, TN&MT, KH&ĐT, XD, NN&PTNT;
- Thường trực Tỉnh ủy, Thường trực HĐND tỉnh;
- Chủ tịch các Phó Chủ tịch UBND tỉnh;
- Các thành viên UBND tỉnh;
- Đoàn Đại biểu Quốc hội;
- Văn phòng và các Ban HĐND tỉnh;
- UB MTTQ Việt Nam tỉnh;
- Các đoàn thể cấp tỉnh;
- Đài PTTH Lâm Đồng, Báo Lâm Đồng;
- VPTU, VP HĐND tỉnh, VP Quốc hội;
- Trung tâm Công báo tỉnh;
- Như Điều 3;
- LĐ và CV VP UBND tỉnh;
- Lưu VP, KT.
|
TM.
ỦY BAN NHÂN DÂN
CHỦ TỊCH
Huỳnh Đức Hòa
|
QUY ĐỊNH
VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÂM ĐỒNG.
(Ban hành kèm theo Quyết định số: 15/2008/QĐ-UBND ngày 05 tháng 5 năm
2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng).
Chương 1.
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm
vi áp dụng
1. Quy định này được áp dụng để
thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng
vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích
phát triển kinh tế được quy định tại:
a) Điều 36 (không bao gồm điểm đ
khoản 1 và điểm b khoản 2) Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm
2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai (sau đây gọi là Nghị định số
181/2004/NĐ-CP);
b) Khoản 3 Điều 2 Nghị định số
17/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung
một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị định số
187/2004/NĐ-CP về việc chuyển Công ty Nhà nước thành Công ty cổ phần (sau đây gọi
là Nghị định số 17/2006/NĐ-CP);
c) Điều 34, Điều 35, Điều 38 và
Điều 39 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ Quy định
bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện
quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất (sau đây gọi là Nghị định số
84/2007/NĐ-CP);
2. Quy định này cũng được áp dụng
để thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với những trường hợp đặc biệt
Nhà nước không thu hồi mà Nhà nước thuê đất của hộ gia đình, cá nhân, sau đó
Nhà nước cho nhà đầu tư thuê lại để thực hiện dự án sản xuất, kinh doanh trên địa
bàn tỉnh Lâm Đồng.
3. Các trường hợp không thuộc phạm
vi áp dụng tại Quy định này:
a) Cộng đồng dân cư xây dựng, chỉnh
trang công trình phục vụ lợi ích chung của cộng đồng bằng nguồn vốn do nhân dân
đóng góp hoặc Nhà nước hỗ trợ.
b) Dự án phát triển kinh tế do
nhà đầu tư tự thỏa thuận với những người sử dụng đất để nhận chuyển nhượng quyền
sử dụng đất, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo
quy định của pháp luật, để thực hiện dự án sản xuất, kinh doanh phù hợp với quy
hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt, mà không thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi
đất,
c) Các trường hợp không thuộc phạm
vi quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này.
Điều 2. Đối
tượng áp dụng
1. Tổ chức, cộng đồng dân cư, cơ
sở tôn giáo, hộ gia đình, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước
ngoài; tổ chức, cá nhân nước ngoài đang sử dụng đất bị Nhà nước thu hồi đất (dưới
đây gọi chung là người bị thu hồi đất), bị thiệt hại về tài sản gắn liền với đất
thu hồi, được bồi thường đất, tài sản, được hỗ trợ và bố trí tái định cư theo
Quy định này.
2. Nhà nước khuyến khích người
có đất, tài sản thuộc phạm vi bị thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích quy định
tại khoản 1, khoản 2 Điều 1 của Quy định này tự nguyện hiến, tặng một phần hoặc
toàn bộ đất, tài sản cho Nhà nước.
3. Đối với các dự án thuộc diện
Nhà nước thu hồi đất: Nhà nước khuyến khích các nhà đầu tư thỏa thuận với người
sử dụng đất trên cơ sở khung chính sách quy định tại bản quy định này.
Điều 3. Chi
trả bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
1. Nhà nước tổ chức thực hiện việc
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng:
a) Tổ chức được Nhà nước giao đất
không thu tiền sử dụng đất thì tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư và kinh
phí tổ chức thực hiện bồi thường được tính vào vốn đầu tư của dự án. Dự án thực
hiện bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước thì các ngành, địa phương có liên quan
phải ưu tiên bố trí đủ kinh phí để thực hiện chi trả bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư đúng thời gian quy định.
b) Tổ chức, cá nhân được Nhà nước
giao đất có thu tiền sử dụng đất, hoặc được Nhà nước cho thuê đất và nộp tiền
thuê đất theo Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 của Chính phủ về thuê
đất, thuê mặt nước, đã chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ về đất theo Nghị định số
197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư khi Nhà nước thu hồi đất (sau đây gọi là Nghị định số 197/2004/NĐ-CP), thì
được trừ số tiền đã bồi thường về đất, hỗ trợ về đất hoặc chi phí đầu tư vào đất
vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp cho Nhà nước; mức được trừ không
vượt quá số tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp. Giá đất để tính toán khấu
trừ được quy định cụ thể như sau:
- Trường hợp Tổ chức, cá nhân tự
thỏa thuận mức bồi thường, hỗ trợ về đất và tài sản với người bị thu hồi đất,
không thông qua Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư huyện, thị xã, thành
phố thuộc tỉnh (sau đây gọi là Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cấp
huyện) quy định tại Điều 39 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP , thì giá đất để tính
toán khấu trừ là giá đất theo mục đích sử dụng của diện tích đất bị thu hồi tại
thời điểm có quyết định thu hồi đất và do UBND cấp tỉnh quy định;
- Trường hợp Tổ chức, cá nhân thực
hiện bồi thường, hỗ trợ về đất cho người bị thu hồi đất theo phương án bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư do Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cấp huyện
xác lập và được UBND tỉnh (hoặc UBND cấp huyện theo phân cấp của UBND tỉnh) phê
duyệt thì giá đất để tính toán khấu trừ là giá đất theo phương án đã được UBND
tỉnh hoặc UBND cấp huyện phê duyệt.
c) Tổ chức, cá nhân người nước
ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư vào Việt Nam được Nhà nước
giao đất cho thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất thì không phải chịu chi phí
về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; trường hợp đã ứng trước tiền bồi thường về
đất, hỗ trợ về đất thì được trừ số tiền đã ứng trước chi trả bồi thường về đất,
hỗ trợ về đất vào số tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp cho Nhà nước theo
quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.
d) Đối với những trường hợp được
Nhà nước cho thuê đất, nếu đến hết thời hạn thuê đất mà chưa trừ hết tiền bồi
thường đất, hỗ trợ đất thì được trừ vào thời hạn được gia hạn thuê đất tiếp
theo; trường hợp hết thời hạn thuê đất, Nhà nước thu hồi đất thì tiền bồi thường
đất, hỗ trợ đất chưa trừ hết vào tiền thuê đất, được bồi thường theo quy định về
bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất.
e) Đối với trường hợp Nhà nước
không thu hồi đất mà thuê đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân, sau đó Nhà
nước cho nhà đầu tư thuê lại, thì các nhà đầu tư (kể cả nhà đầu tư là tổ chức,
cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài) ngoài việc phải trả tiền
thuê đất còn phải chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho các hộ gia
đình, cá nhân đó.
2. Chi phí bồi thường, hỗ trợ và
tái định cư được xác định thành một mục riêng trong tổng vốn đầu tư của dự án.
Nguồn kinh phí để thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án được bố
trí trong kế hoạch ngân sách hằng năm hoặc vốn của Nhà đầu tư. Nếu dự án đầu tư
có diện tích đất thu hồi và giá trị bồi thường lớn, thì Chủ đầu tư có thể phân
chia dự án thành nhiều giai đoạn, lập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư để thực hiện cho mỗi giai đoạn, phù hợp với điều kiện thực tế và năng lực
tài chính của địa phương, đơn vị.
3. Việc thực hiện chi trả tiền bồi
thường, hỗ trợ và việc xử lý phát sinh về giá đất thu hồi (nếu có) sau khi có
quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, thực hiện
theo quy định tại Điều 58 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ; một số khoán của điều này
được quy định cụ thể như sau:
a) Khi chi trả tiền bồi thường
cho người bị thu hồi đất, bị thiệt hại về tài sản phải lập đầy đủ chứng từ
thanh toán và có ký nhận của người được bồi thường, hỗ trợ (vợ hoặc chồng có
tên trong hộ khẩu gia đình). Trường hợp người được nhận tiền bồi thường ủy quyền
cho người khác nhận thay, thì người được bồi thường phải làm giấy ủy quyền có
xác nhận của UBND cấp xã, nơi người đó cư trú.
Toàn bộ chứng từ liên quan đến
việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phải được tổ chức lưu giữ và quản lý
theo quy định của pháp luật.
b) Xử lý đối với trường hợp thực
hiện bồi thường chậm:
- Bồi thường chậm do Cơ quan, Tổ
chức có trách nhiệm bồi thường gây ra mà giá đất tại thời điểm chi trả bồi thường
do UBND tỉnh công bố cao hơn giá đất tại thời điểm ban hành quyết định phê duyệt
phương án bồi thường thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm trả tiền bồi thường;
nếu giá đất tại thời điểm bồi thường thấp hơn giá đất tại thời điểm có quyết định
thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi; và tại
thời điểm này nếu có sự điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung chính sách bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư do UBND tỉnh quyết định ban hành, thì được bồi thường theo
chính sách mới (nếu chính sách mới có lợi cho người bị thu hồi đất). Nguồn kinh
phí để bồi thường bổ sung này do Cơ quan, Tổ chức có trách nhiệm bồi thường chi
trả.
- Bồi thường chậm do người bị
thu hồi đất gây ra, nếu giá đất tại thời điểm chi trả thấp hơn giá đất tại thời
điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm chi trả bồi
thường; nếu giá đất tại thời điểm chi trả bồi thường cao hơn giá đất tại thời
điểm có quyết định phê duyệt phương án bồi thường thì bồi thường theo giá đất tại
thời điểm có quyết định phê duyệt phương án bồi thường và không được áp dụng
chính sách bồi thường mới (do điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung).
Điều 4. Nội
dung bồi thường, hỗ trợ cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất hoặc Nhà
nước thuê đất
1. Bồi thường hoặc hỗ trợ đối với
toàn bộ diện tích đất khi Nhà nước thu hồi.
2. Bồi thường hoặc hỗ trợ về tài
sản hiện có trên đất bao gồm: nhà, vật kiến trúc, công trình kết cấu hạ tầng kỹ
thuật, cây trồng, con vật nuôi (thủy sản) và các chi phí khi đã đầu tư vào đất
(nếu có).
3. Hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ ổn định
đời sống và ổn định sản xuất, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp và hỗ trợ
khác cho người bị thu hồi đất.
4. Ngoài phần bồi thường, hỗ trợ
trong phạm vi đất bị thu hồi quy định tại điểm 1, 2, 3 nói trên; nếu trong quá
trình thi công thực hiện dự án làm ảnh hưởng đến đất đai, tài sản khu vực đất
liền kề hoặc phải mở thêm đường công vụ thì bồi thường, hỗ trợ theo mức độ thiệt
hại thực tế bị ảnh hưởng.
5. Hỗ trợ sản xuất và đời sống tại
khu tái định cư.
Chương 2.
BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VỀ ĐẤT
Điều 5.
Nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ về đất
1. Người bị Nhà nước thu hồi đất
có đủ điều kiện quy định tại Điều 7 của Quy định này thì được bồi thường; trường
hợp không đủ điều kiện được bồi thường thì UBND huyện, thị xã, thành phố (sau
đây gọi chung là UBND cấp huyện) hoặc Tổ chức Phát triển quỹ đất cấp tỉnh đề
nghị UBND tỉnh xem xét, quyết định mức hỗ trợ cho phù hợp.
2. Người bị thu hồi đất (sử dụng
đất hợp pháp) đang sử dụng đất vào mục đích nào thì được bồi thường bằng việc
giao đất mới có cùng mục đích sử dụng. Nếu không có đất để bồi thường, thì được
bồi thường bằng tiền theo giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định
thu hồi đất.
Trường hợp bồi thường bằng việc
giao đất mới là đất sản xuất nông nghiệp, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp,
đất ở, nếu có sự chênh lệch về diện tích hoặc giá trị thì người bị thu hồi đất
được bồi thường thêm bằng tiền hoặc phải nộp thêm tiền vào ngân sách Nhà nước
cho phần chênh lệch lớn hơn đó.
3. Người sử dụng đất được bồi
thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất (hoặc khi Nhà nước thuê quyền sử dụng đất)
nhưng chưa thực hiện hoặc còn bị ghi nợ các khoản nghĩa vụ tài chính về đất đai
theo quy định của pháp luật thì phải trừ đi những khoản tiền chưa thực hiện hoặc
còn bị ghi nợ vào số tiền được chi trả bồi thường, hỗ trợ theo quy định sau
đây:
- Trường hợp diện tích đất bị
thu hồi (hoặc diện tích đất nông nghiệp được Nhà nước thuê) chưa thực hiện các
khoản nghĩa vụ tài chính thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng
có trách nhiệm tính toán xác định khấu trừ ngay trên phương án bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư;
- Trường hợp còn bị ghi nợ từ
các thửa đất khác thì trong quá trình chi trả tiền bồi thường, Tổ chức làm nhiệm
vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm phối hợp với cơ quan chức
năng liên quan của địa phương thu nộp để hoàn trả Ngân sách Nhà nước.
4. Diện tích đất được bồi thường,
hỗ trợ là diện tích được xác định trên thực địa, qua đo đạc thực tế diện tích đất
thu hồi và được ghi nhận trong hồ sơ bồi thường của từng người sử dụng đất. Trường
hợp diện tích đất thu hồi qua đo đạc thực tế khác với diện tích ghi trên Giấy tờ
chứng minh quyền sử dụng đất hợp pháp thì thực hiện theo quy định tại Điều 47
Nghị định số 84/2007/NĐ-CP của Chính phủ (tùy theo nguồn gốc và thời điểm sử dụng
đất được địa phương xác nhận đối với phần diện tích đất chênh lệch đó để tính
toán bồi thường, hỗ trợ).
5. Đối với trường hợp người sử dụng
đất có yêu cầu Nhà nước thu hồi phần diện tích còn lại sau khi Nhà nước thực hiện
việc thu hồi đất, thì tùy từng trường hợp cụ thể: do diện tích đất còn lại
không thể tiếp tục sử dụng theo quy hoạch được duyệt, bị cô lập hoặc diện tích
đất còn lại quá nhỏ,… thì phần diện tích đất còn lại này được Nhà nước xem xét
thu hồi một phần hoặc toàn bộ và được tính toán bồi thường, hỗ trợ theo thiệt hại
thực tế.
Điều 6. Những
trường hợp thu hồi đất không được bồi thường
1. Người sử dụng đất không đủ điều
kiện bồi thường đất theo quy định tại Điều 7 của Quy định này.
2. Tổ chức được Nhà nước giao đất
không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà
tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước; được Nhà nước cho thuê đất
thu tiền thuê đất hàng năm, đất nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà tiền trả
cho việc thuê đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân
sách Nhà nước.
3. Đất bị thu hồi thuộc một
trong các trường hợp quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12
Điều 38 Luật Đất đai năm 2003, cụ thể:
a) Tổ chức được Nhà nước giao đất
không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà
tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước hoặc cho thuê đất thu tiền
đất hàng năm nhưng bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác hoặc không còn nhu
cầu sử dụng đất;
b) Sử dụng đất không đúng mục
đích, sử dụng đất không có hiệu quả;
c) Người sử dụng đất cố ý hủy hoại
đất;
d) Đất được giao không đúng đối
tượng hoặc không đúng thẩm quyền mà chưa nộp tiền để được sử dụng đất;
đ) Đất bị lấn, chiếm trong các
trường hợp sau đây:
- Đất chưa sử dụng bị lấn, chiếm;
- Đất không được chuyển quyền sử
dụng đất theo quy định của Luật Đất đai mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm
để bị lấn, chiếm;
e) Cá nhân sử dụng đất đã chết
mà không có người thừa kế;
g) Người sử dụng đất tự nguyện
trả đất;
h) Người sử dụng đất cố ý không
thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước;
i) Đất được Nhà nước giao, cho
thuê có thời hạn mà không được gia hạn khi hết thời hạn;
k) Đất trồng cây hàng năm không
được sử dụng trong thời hạn mười hai tháng liền (12 tháng); đất trồng cây lâu
năm không được sử dụng trong mười tám tháng (18 tháng); đất trồng rừng không được
sử dụng trong thời hạn hai mươi bốn tháng liền (24 tháng);
l) Đất được Nhà nước giao, cho
thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong mười hai tháng liền
(12 tháng) hoặc tiến độ sử dụng đất chậm hơn hai mươi bốn tháng (24 tháng) so với
tiến độ ghi trong dự án đầu tư, kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa mà
không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất đó
cho phép kéo dài.
Việc xử lý tiền sử dụng đất, tiền
thuê đất, tài sản đã đầu tư trên đất đối với đất bị thu hồi quy định tại khoản
3 nêu trên, được thực hiện theo quy định tại Điều 35 Nghị định số
181/2004/NĐ-CP .
4. Đất nông nghiệp do cộng đồng
dân cư sử dụng.
5. Đất nông nghiệp sử dụng vào mục
đích công ích của xã, phường, thị trấn.
6. Người bị thu hồi đất có một
trong các điều kiện quy định tại Điều 7 của Quy định này nhưng thuộc một trong
các trường hợp quy định tại khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này.
7. Người bị thu hồi đất mà diện
tích đất thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Vi phạm quy hoạch chi tiết
xây dựng đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt và công khai;
b) Vi phạm quy hoạch chi tiết mặt
bằng xây dựng đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt và công khai đối với diện
tích đất đã giao cho tổ chức, cộng đồng dân cư quản lý;
c) Lấn, chiếm hành lang bảo vệ
an toàn công trình công cộng đã được công bố, cắm mốc;
d) Lấn, chiếm lòng đường, lề đường,
vỉa hè đã có chỉ giới xây dựng;
đ) Lấn, chiếm đất sử dụng cho mục
đích công cộng, đất chuyên dùng, đất của tổ chức, đất chưa sử dụng và các trường
hợp vi phạm khác đã có văn bản ngăn chặn nhưng người sử dụng đất vẫn cố tình vi
phạm.
e) Diện tích đất không có giấy tờ
gì về quyền sử dụng đất và không có xác nhận gì của chính quyền địa phương về
nguồn gốc quá trình sử dụng đất.
f) Diện tích đất không đủ điều
kiện được bồi thường và người có diện tích đất thu hồi này đã được xem xét giao
đất mới phù hợp với điều kiện của địa phương.
Điều 7. Điều
kiện để được bồi thường đất
Người bị thu hồi đất, có một
trong các điều kiện sau đây thì được bồi thường:
1. Có giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
2. Có quyết định giao đất của cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đất đai.
3. Hộ gia đình, cá nhân đang sử
dụng đất ổn định, được UBND xã, phường, thị trấn (gọi chung là UBND cấp xã) xác
nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau đây:
a) Giấy tờ về quyền được sử dụng
đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá
trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa,
Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa Xã hội
Chủ nghĩa Việt Nam;
b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất tạm thời được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng
ký ruộng đất, sổ địa chính;
c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế,
tặng, cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà
tình nghĩa gắn liền với đất;
d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử
dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay
được UBND cấp xã xác nhận là đất sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;
đ) Giấy tờ về thanh lý, hóa giá
nhà ở, mua nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật;
e) Giấy tờ do cơ quan có thẩm
quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất.
4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử
dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 3 Điều này mà trên giấy
tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển nhượng quyền sử dụng
đất có chữ ký của các bên liên quan, nhưng đến thời điểm có quyết định thu hồi
đất chưa làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay
được UBND cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp.
5. Hộ gia đình, cá nhân đang sử
dụng đất có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp,
lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó
khăn, đặc biệt khó khăn, nay được UBND cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử
dụng đất ổn định, không có tranh chấp.
6. Hộ gia đình, cá nhân được sử
dụng đất theo bản án hoặc quyết định của toà án, quyết định thi hành án của cơ
quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền đã được thi hành.
7. Hộ gia đình, cá nhân đang sử
dụng đất mà trước đây Nhà nước đã có quyết định quản lý trong quá trình thực hiện
chính sách đất đai, nhưng trong thực tế Nhà nước chưa quản lý mà hộ gia đình,
cá nhân đó vẫn sử dụng.
8. Cộng đồng dân cư đang sử dụng
đất có các công trình là đình, đền, chùa, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ tộc,
nhà làng truyền thống được UBND cấp xã nơi có đất xác nhận là đất sử dụng chung
cho cộng đồng và không có tranh chấp.
9. Tổ chức sử dụng đất trong các
trường hợp sau đây:
a) Đất được Nhà nước giao có thu
tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã nộp không có nguồn gốc từ ngân sách Nhà
nước;
b) Đất nhận chuyển nhượng của
người sử dụng đất hợp pháp mà tiền trả cho việc chuyển nhượng không có nguồn gốc
từ ngân sách Nhà nước;
c) Đất sử dụng có nguồn gốc hợp
pháp từ hộ gia đình, cá nhân.
10. Điều kiện để xác nhận nguồn
gốc và thời điểm sử dụng đất:
Người bị thu đất không có giấy tờ
gì chứng minh quyền sử dụng đất hợp pháp, thì phải có một trong các giấy tờ dưới
đây phù hợp với thửa đất bị thu hồi, gửi chính quyền địa phương (thôn, bản, khu
phố, tổ dân phố) để thực hiện việc kiểm tra, xác nhận. Các giấy tờ gồm:
- Biên lai thu thuế nhà, đất hợp
lệ.
- Bản sao hợp lệ hộ khẩu ghi rõ
thời gian chuyển đến sử dụng nhà ở, đất ở.
- Giấy tờ khác có liên quan đến
nhà ở, đất ở.
Trên cơ sở các giấy tờ nêu trên,
chính quyền địa phương (thôn, bản, khu phố, tổ dân phố) tổ chức họp lấy ý kiến
công khai tập thể người dân tại nơi cư trú và ghi nhận vào Biên bản cuộc họp
(tham dự cuộc họp có lãnh đạo UBND và cán bộ địa chính xã, phường, thị trấn
cùng ký tên). Căn cứ nội dung đã được ghi nhận tại Biên bản của cuộc họp, Chủ tịch
UBND xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là UBND cấp xã) xác nhận về nguồn
gốc, thời điểm sử dụng đất và chịu trách nhiệm về việc ký xác nhận này.
Điều 8. Giá
đất để tính bồi thường, hỗ trợ và chi phí đầu tư vào đất
1. Giá đất để tính bồi thường,
hoặc hỗ trợ:
a) Giá đất để tính bồi thường,
hoặc hỗ trợ là giá đất có cùng mục đích sử dụng với đất bị thu hồi tại thời điểm
có quyết định thu hồi đất do UBND tỉnh ban hành và công bố hàng năm theo quy định
của Chính phủ (trên cơ sở giá các loại đất của từng địa bàn và quy định về
nguyên tắc phương pháp xác định giá các loại đất đã được UBND tỉnh ban hành kèm
theo các Quyết định). Không bồi thường theo giá đất sẽ được chuyển mục đích sử
dụng đất sau khi thu hồi. Không bồi thường theo giá đất do thực tế sử dụng đất
không phù hợp với mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật, bao gồm:
- Người được sử dụng đất nông
nghiệp theo quy định của pháp luật nhưng tự ý sử dụng đất làm đất phi nông nghiệp
thì bồi thường theo giá đất nông nghiệp;
- Người được sử dụng đất phi
nông nghiệp theo quy định của pháp luật (không phải là đất ở) nhưng tự ý sử dụng
làm đất ở thì bồi thường theo giá đất phi nông nghiệp.
b) Trường hợp tại thời điểm có
Quyết định thu hồi đất mà giá đất do UBND tỉnh quy định chưa sát với giá chuyển
nhượng quyền sử dụng đất trong điều kiện bình thường, thì thực hiện như sau:
Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường,
giải phóng mặt bằng (có sự tham gia của Chủ dự án) phối hợp với các cơ quan chức
năng ở địa phương sở tại, nơi có diện tích đất thu hồi, thực hiện công tác điều
tra, khảo sát, thống kê giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị
trường trong điều kiện bình thường tại những khu vực có loại đất tương tự (về hạng
đất, về vị trí, điều kiện về hạ tầng kỹ thuật,..) như đối với diện tích đất tại
khu vực thu hồi giải tỏa, hoặc xác định mức thu nhập thuần túy thu được hàng
năm trên một đơn vị diện tích đất thu hồi giải tỏa. Trên cơ sở những số liệu
này, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng căn cứ phương pháp xác
định giá đất quy định tại Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004; Nghị định
số 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 của Chính phủ và Thông tư số 145/2007/TT-BTC
ngày 06/12/2007 của Bộ Tài chính để xây dựng mức giá đất bồi thường, hỗ trợ cho
phù hợp. Sau đó báo cáo UBND cấp huyện để có văn bản gửi Sở Tài chính (kèm theo
toàn hộ hồ sơ liên quan) thẩm định trình UBND tỉnh xem xét, quyết định trước
khi thực hiện lập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
c) Đối với đất bị thu hồi là đất
trúng đấu giá quyền sử dụng đất thì bồi thường theo giá đất trúng đấu giá, trường
hợp tại thời điểm có quyết định thu hồi đất mà giá đất này (giá đất trúng đấu
giá) thấp hơn giá đất ghi trong quyết định của UBND tỉnh công bố tại thời điểm
thu hồi đất, thì bồi thường theo giá đất do UBND tỉnh công bố.
2. Chi phí đầu tư vào đất còn lại:
a) Chi phí đầu tư vào đất còn lại
là các khoản chi phí thực tế mà người sử dụng đất đã đầu tư vào đất để sử dụng
theo mục đích được phép sử dụng nhưng đến thời điểm Nhà nước thu hồi đất chưa
thu hồi được, gồm: Tiền sử dụng đất còn lại trong trường hợp giao đất có thời hạn;
tiền thuê đất trả trước còn lại; chi phí san lấp mặt bằng, chi phí tôn tạo, bồi
đắp đất và các chi phí khác có liên quan. Các chi phí này phải có căn cứ, có đầy
đủ hồ sơ, chứng từ thực tế chứng minh số tiền đã đầu tư vào đất, mà đến thời điểm
Nhà nước thu hồi đất còn chưa thu hồi được, thì được bồi thường.
Chi phí đầu tư vào đất còn lại
được UBND cấp huyện xác định và phê duyệt (trong trường hợp dự án do UBDN cấp
huyện phê duyệt chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư), hoặc thông qua Sở
Tài chính thẩm định, trình UBND tỉnh phê duyệt (trong trường hợp dự án do UBND
tỉnh phê duyệt chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư).
b) Trường hợp thu hồi đất phi nông
nghiệp hoặc đất ở mà đã được bồi thường theo giá đất phi nông nghiệp hoặc theo
giá đất ở tính theo hiện trạng, vị trí của diện tích đất tại thời điểm thu hồi,
thì những khoản chi phí đầu tư vào đất còn lại gồm: chi phí san lấp mặt bằng,
chi phí tôn tạo, bồi đắp đất không được bồi thường.
Điều 9. Hỗ
trợ đối với đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư và đất vườn, ao liền kề với
đất ở trong khu dân cư
1. Đất nông
nghiệp xen kẽ trong khu dân cư phải là thửa đất có ít nhất một mặt tiếp giáp với
đất ở trong khu dân cư. Đất vườn ao liền kề với đất ở trong khu dân cư là thửa
đất có ít nhất một mặt tiếp giáp với đất ở trong khu dân cư.
Đất nông nghiệp xen kẽ trong khu
dân cư và đất vườn, ao liền kề với đất ở trong khu dân cư nếu hội đủ điều kiện
được bồi thường đối với đất nông nghiệp thì ngoài việc được bồi thường theo giá
đất nông nghiệp cùng mục đích sử dụng còn được hỗ trợ bằng tiền theo giá đất ở
liền kề, bao gồm các trường hợp sau:
a) Diện tích được hỗ trợ là toàn
bộ diện tích đất nông nghiệp, đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở nhưng
không được công nhận là đất ở thuộc phạm vi các khu vực sau:
- Trong phạm vi địa giới hành
chính phường;
- Trong phạm vi khu dân cư thuộc
thị trấn, khu dân cư nông thôn đã được xác định ranh giới theo quy hoạch được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt; trường hợp khu dân cư thuộc thị trấn,
khu dân cư nông thôn chưa có quy hoạch được xét duyệt thì xác định theo ranh giới
của thửa đất có nhà ở ngoài cùng của khu dân cư (khu dân cư này phải được UBND
cấp huyện xác định theo quy định của Luật Đất đai hiện hành).
b) Đối với diện tích đất thuộc
thửa đất nông nghiệp (không có nhà ở) thì diện tích được tính để hỗ trợ bằng tiền
của mỗi thửa đất không vượt quá năm (05) lần hạn mức diện tích giao đất ở theo
quy định của UBND tỉnh.
c) Đối với diện tích đất vườn,
ao thực tế đang sử dụng trong cùng thửa đất có nhà ở riêng lẻ, nhà ở dọc kênh
mương, nhà ở dọc tuyến đường giao thông không thuộc các khu vực quy định tại Điểm
a khoản 1 Điều này thì diện tích được tính để hỗ trợ bằng tiền của mỗi thửa
không vượt quá năm (05) lần hạn mức diện tích giao đất ở theo quy định của UBND
tỉnh.
2. Mức hỗ trợ và nguyên tắc áp dụng
tính toán hỗ trợ theo giá đất ở liền kề:
a) Mức hỗ trợ bằng tiền tính
theo giá đất ở liền kề:
- Đối với diện tích đất thuộc phạm
vi ranh giới hành chính phường, thị trấn: Mức hỗ trợ là 50%;
- Đối với diện tích đất thuộc
các khu vực còn lại: Mức hỗ trợ là 35%.
b) Nguyên tắc áp dụng tính toán
hỗ trợ theo giá đất ở liền kề:
- Khi tính toán hỗ trợ bằng tiền
theo giá đất ở liền kề thì tổng giá trị bồi thường theo giá đất nông nghiệp và
hỗ trợ theo giá đất ở liền kề tính trên 1m2 đất nông nghiệp xen kẽ
trong khu dân cư hoặc đất vườn ao liền kề với đất ở trong khu dân cư tối đa
không vượt quá giá đất ở liền kề tính trên 1m2.
- Trường hợp thửa đất nông nghiệp
xen kẽ trong khu dân cư và đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở thuộc khu
dân cư mà có ranh giới tiếp giáp với nhiều thửa đất có giá khác nhau thì giá đất
để tính hỗ trợ là giá bình quân của các thửa đất liền kề; nếu thửa đất liền kề
không phải là đất ở thì giá đất ở làm căn cứ để tính hỗ trợ là giá đất ở của thửa
đất có nhà ở gần nhất hoặc giá đất ở bình quân của các thửa đất có nhà ở gần nhất.
- Trường hợp một hộ gia đình, cá
nhân có diện tích đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở nằm ở hai (02) khu
vực khác nhau nêu tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này, cùng bị thu hồi trong
cùng một dự án thì việc tính toán hỗ trợ theo giá đất ở liền kề đối với diện
tích đất vườn, ao trong trường hợp này chỉ được tính ở một (01) trong hai (02)
khu vực (theo nguyên tắc lấy giá trị có kết quả tính toán cao nhất).
Điều 10. Bồi
thường, hỗ trợ đối với đất ở, đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân
1. Diện tích đất ở, đất nông
nghiệp được bồi thường căn cứ theo diện tích đất ở, đất nông nghiệp bị thu hồi
nhưng phải có đủ điều kiện để được bồi thường theo quy định tại Điều 7 Quy định
này.
2. Trường hợp thu hồi đối với đất
sử dụng trước ngày 15/10/1993 nhưng không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
hoặc một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 3 Điều 7 Quy định này và được
UBND cấp xã xác nhận đất đó không có tranh chấp (việc xác nhận của UBND cấp xã,
thực hiện theo quy định tại khoản 10 Điều 7 Quy định này) thì việc bồi thường,
hỗ trợ về đất thực hiện theo quy định sau:
a) Trường hợp thửa đất đang sử dụng
là đất có nhà ở và không thuộc một trong các trường hợp sử dụng đất quy định tại
khoản 7 Điều 6 Quy định này thì người đang sử dụng thửa đất đó được bồi thường
theo giá đất ở đối với diện tích đất ở (theo quy định của Luật Đất đai) thực tế
bị thu hồi nhưng tối đa không vượt quá hạn mức giao đất ở theo quy định tại thời
điểm có quyết định thu hồi đất; phần diện tích vượt hạn mức giao đất ở và phần
diện tích đất vườn, ao trên cùng thửa đất có nhà ở nhưng không được công nhận
là đất ở (nếu có) thì được bồi thường, hỗ trợ về đất theo quy định đối với đất
nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư;
b) Trường hợp thửa đất đang sử dụng
vào mục đích phi nông nghiệp (không phải là đất ở) và không thuộc một trong các
trường hợp sử dụng đất quy định tại khoản 7 Điều 6 Quy định này thì người đang
sử dụng thửa đất đó được bồi thường theo giá đất phi nông nghiệp (không phải là
đất ở) đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng bị thu hồi. Trường hợp trên
thửa đất có cả phần diện tích đang sử dụng vào mục đích nông nghiệp thì phần diện
tích đó được bồi thường, hỗ trợ về đất theo quy định đối với đất nông nghiệp;
c) Trường hợp đất đang sử dụng
vào mục đích nông nghiệp mà người đang sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực
tiếp sản xuất nông nghiệp, và không thuộc một trong các trường hợp sử dụng đất
quy định tại khoản 7 Điều 6 Quy định này thì được bồi thường đối với diện tích
đất thực tế đang sử dụng bị thu hồi nhưng diện tích được bồi thường, hỗ trợ
không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương (trường hợp hạn mức
giao đất nông nghiệp chưa được quy định thì tính theo hạn mức tối đa quy định tại
Điều 70 của Luật Đất đai và khoản 1 Điều 69 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP):
Trường hợp có diện tích đất nông
nghiệp vượt hạn mức mà phần diện tích vượt hạn mức là do được thừa kế, tặng
cho, nhận chuyển nhượng từ người khác, tự khai hoang theo quy hoạch được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, và không thuộc các trường hợp sử dụng đất
quy định tại khoản 7 Điều 6 Quy định này thì được bồi thường; các trường hợp
khác, diện tích đất nông nghiệp vượt hạn mức chỉ được xem xét bồi thường chi
phí đầu tư vào đất còn lại theo quy định tại khoản 2 Điều 8 Quy định này.
d) Trường hợp thửa đất ở có vườn,
ao sử dụng trước ngày 18 tháng 12 năm 1980 đã được cấp Giấy chứng nhận theo quy
định tại khoản 2 Điều 45 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP mà thửa đất này được tách
ra từ thửa đất không có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định
tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai thì thửa đất còn lại sau khi
đã tách thửa mà được UBND cấp xã xác nhận không có tranh chấp thì được bồi thường,
hỗ trợ về đất đối với đất ở theo hạn mức quy định tại khoản 2 Điều 45 Nghị định
số 181/2004/NĐ-CP .
3. Trường hợp thu hồi đối với đất
đã sử dụng trong khoảng thời gian từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày
01 tháng 7 năm 2004 nhưng không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một
trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 3 Điều 7 của Quy định này và được
UBND cấp xã xác nhận đất đó không có tranh chấp (việc xác nhận của UBND cấp xã,
thực hiện theo quy định tại khoản 10 Điều 7 của Quy định này) thì việc bồi thường,
hỗ trợ về đất thực hiện theo quy định sau:
a) Trường hợp thửa đất đang sử dụng
là đất có nhà ở và không thuộc một trong các trường hợp sử dụng đất quy định tại
khoản 7 Điều 6 của Quy định này thì người đang sử dụng thửa đất đó được bồi thường
bằng 50% tính theo đơn giá đất ở đối với diện tích đất ở (theo quy định của Luật
Đất đai) thực tế bị thu hồi nhưng tối đa không vượt quá hạn mức giao đất ở quy
định tại thời điểm có quyết định thu hồi đất; phần diện tích vượt hạn mức đất ở
và phần diện tích đất vườn, ao trên cùng thửa đất có nhà ở nhưng không được
công nhận là đất ở (nếu có) thì được bồi thường, hỗ trợ về đất theo quy định đối
với đất nông nghiệp;
b) Trường hợp thửa đất đang sử dụng
vào mục đích phi nông nghiệp (không phải là đất ở) và không thuộc một trong các
trường hợp sử dụng đất quy định tại khoản 7 Điều 6 Quy định này thì người đang
sử dụng thửa đất đó được bồi thường bằng 50% giá đất phi nông nghiệp (không phải
là đất ở) đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng bị thu hồi. Trường hợp
trên thửa đất có cả phần diện tích đang sử dụng vào mục đích nông nghiệp thì phần
diện tích đó được bồi thường, hỗ trợ về đất theo quy định đối với đất nông nghiệp;
c) Trường hợp đất đang sử dụng
thuộc nhóm đất nông nghiệp, thực hiện theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều
này.
d) Đất do lấn, chiếm và đất được
giao, được cho thuê không đúng thẩm quyền kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 trở về
sau thì người có hành vi lấn, chiếm hoặc được giao đất, thuê đất không đúng thẩm
quyền không được bồi thường về đất khi thu hồi đất.
4. Đối với diện tích đất mà các
hộ gia đình cá nhân đang sử dụng nằm trong lộ giới bị thu hồi, thực hiện tính
toán bồi thường, hỗ trợ như sau:
a) Diện tích đất đã được cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất trước khi Nhà nước công bố lộ giới, được UBND cấp
xã xác nhận là đất không có tranh chấp thì bồi thường 100% giá đất theo mục
đích sử dụng ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
b) Diện tích đất chưa được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có nguồn gốc là đất đã sử dụng ổn định từ
trước khi Nhà nước công bố lộ giới, được UBND cấp xã xác nhận là đất không có
tranh chấp thì tùy theo nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất được địa phương xác
nhận để tính toán bồi thường. Trường hợp được bồi thường theo giá trị đất ở thì
diện tích được bồi thường tối đa (bao gồm cả diện tích đã được cấp quyền sử dụng
đất ở hoặc diện tích mà các hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng làm đất ở chưa được
cấp Giấy chứng nhận) không vượt quá hạn mức đất ở theo quy định; diện tích đất
còn lại (nếu có) được bồi thường 100% giá đất nông nghiệp.
Điều 11. Bồi
thường, hỗ trợ về đất khi Nhà nước thu hồi đất đối với đất được giao không đúng
thẩm quyền trước ngày 01 tháng 07 năm 2004 nhưng đã nộp tiền để được sử dụng đất
là chưa được cấp Giấy chứng nhận
1. Trường hợp sử dụng đất trước
ngày 15 tháng 10 năm 1993 thì người đang sử dụng đất được bồi thường về đất đối
với diện tích và loại đất được giao.
2. Trường hợp sử dụng đất trong
khoảng thời gian từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm
2004 thì người đang sử dụng đất được bồi thường, hỗ trợ về đất như sau:
a) Được bồi thường, hỗ trợ về đất
đối với diện tích đất được giao là đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không
phải là đất ở và đối với diện tích đất ở trong hạn mức giao đất ở theo quy định
hiện hành;
b) Được bồi thường về đất đối với
diện tích đất được giao là đất ở ngoài hạn mức giao đất ở theo quy định hiện
hành nhưng phải trừ đi tiền sử dụng đất phải nộp theo mức thu quy định tại điểm
a khoản 3 Điều 8 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP .
Điều 12. Xử
lý một số trường hợp cụ thể về đất ở
1. Người sử dụng đất ở sau khi bị
thu hồi vẫn còn diện tích đất ở, khi xây dựng nhà ở trên phần diện tích đất còn
lại này phải tuân thủ theo quy hoạch xây dựng được duyệt của từng dự án và từng
khu vực đô thị, nông thôn hoặc theo Điều lệ quản lý xây dựng. Trường hợp người
sử dụng đất có yêu cầu Nhà nước thu hồi phần diện tích đất ở còn lại thì thực
hiện theo quy định tại khoản 5 Điều 5 Quy định này.
2. Trường hợp trên diện tích đất
ở, đất xây dựng ghi trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận
quyền sở hữu nhà (gọi chung là giấy tờ về quyền sử dụng đất) nhỏ hơn hạn mức
giao đất ở theo quy định hiện hành, trên đất có nhà ở sử dụng ổn định từ trước
khi được cấp giấy tờ về quyền sử dụng đất, thì thực hiện như sau:
a) Nếu diện tích thu hồi của thửa
đất qua đo đạc thực tế bằng hoặc nhỏ hơn diện tích đất ở, diện tích đất xây dựng
ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất thì bồi thường theo diện tích đo đạc thực
tế;
b) Nếu diện tích thu hồi của thửa
đất qua đo đạc thực tế nhiều hơn diện tích đất ở, đất xây dựng ghi trên giấy tờ
về quyền sử dụng đất, mà phần diện tích nhiều hơn chưa được cấp quyền sử dụng đất
nông nghiệp, thì phần diện tích đất chênh lệch đó được tính toán bồi thường
100% hoặc 50% giá đất ở (tùy theo nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất được địa
phương xác nhận đối với phần diện tích đất chênh lệch) nhưng tổng diện tích được
bồi thường (bao gồm cả diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất) tối đa
không vượt quá hạn mức giao đất ở theo quy định hiện hành;
c) Nếu diện tích thu hồi của
thửa đất qua đo đạc thực tế nhiều hơn diện tích đất ở hoặc diện tích đất xây dựng
ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất, mà phần diện tích nhiều hơn đã được cấp
quyền sử dụng đất nông nghiệp, thì phần diện tích nhiều hơn bồi thường theo giá
đất nông nghiệp.
3. Đối với các trường hợp sử dụng
đất nông nghiệp làm đất ở tại các khu vực đã hình thành thôn, xóm, khu phố và
phù hợp với quy hoạch (trước thời điểm Nhà nước thu hồi đất), thực hiện như
sau:
a) Trường hợp sử dụng ổn định và
làm nhà ở trước ngày 15/10/1993 (không phân biệt đã được cấp giấy hay chưa được
cấp giấy chứng nhận), nay được UBND cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp:
bồi thường 100% giá đất ở đối với diện tích đất ở đang sử dụng (theo quy định của
Luật Đất đai) thực tế bị thu hồi nhưng tối đa không vượt quá hạn mức giao đất ở
theo quy định hiện hành; đối với diện tích đất ở đang sử dụng vượt hạn mức giao
đất ở (nếu có):
- Nếu hộ gia đình, cá nhân chưa
lần nào được cấp giấy chứng nhận đối với diện tích đất ở vượt hạn mức có nguồn
gốc và thời điểm sử dụng làm đất ở nêu trên: bồi thường 50% giá đất ở;
- Nếu hộ gia đình, cá nhân đã được
một lần giải quyết cấp giấy chứng nhận đối với diện tích đất ở vượt hạn mức có
nguồn gốc và thời điểm sử dụng làm đất ở nêu trên: bồi thường theo giá đất nông
nghiệp.
b) Trường hợp sử dụng ổn định và
làm nhà ở từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004 và nhà ở được xác định là
xây dựng trước khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp
(không thuộc trường hợp tự chuyển mục đích sang đất ở và làm nhà ở khi đã được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp), nay được UBND cấp xã xác nhận
là đất không có tranh chấp; bồi thường bằng 50% giá đất ở đối với diện tích đất
ở đang sử dụng (theo quy định của Luật Đất đai) thực tế bị thu hồi nhưng tối đa
không vượt quá hạn mức giao đất ở theo quy định hiện hành;
c) Đối với trường hợp đất mà hộ
gia đình, cá nhân đang sử dụng có nguồn gốc là đất nông nghiệp đã được cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng tự chuyển mục đích sang đất ở và làm nhà ở từ
ngày 15/10/1993 đến nay, được UBND cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp:
Bồi thường theo quy định đối với đất nông nghiệp.
4. Trường hợp diện tích đất thu
hồi có Quyết định cấp đất làm nhà ở và làm vườn của cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền, nhưng trong Quyết định không ghi rõ diện tích đất ở, đất nông nghiệp,
thì xử lý như sau:
a) Nếu toàn bộ diện tích đó có
Quyết định cấp đất bị thu hồi, hoặc thu hồi một phần mà phần diện tích còn lại
của Quyết định cấp đất không đủ theo hạn mức giao đất ở theo quy định hiện
hành, thì diện tích bị thu hồi được bồi thường theo giá đất ở nhưng tối đa
không vượt quá hạn mức giao đất ở theo quy định, phần diện tích vượt hạn mức đất
ở (nếu có) được bồi thường theo quy định đối với đất vườn ao.
b) Nếu chi thu hồi một phần diện
tích mà phần diện tích đất còn lại theo Quyết định cấp đất vẫn đủ theo hạn mức
giao đất ở theo quy định, thì phần diện tích bị thu hồi chỉ được bồi thường
theo quy định đối với đất vườn ao. Đối với trường hợp này, sau khi thực hiện di
dời, giải tỏa, thì phần diện tích đất còn lại theo Quyết định cấp đất được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở tối đa bằng hạn mức giao đất ở theo quy định
hiện hành mà không phải nộp tiền sử dụng đất (Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường,
giải phóng mặt bằng có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan chức năng lập các
thủ tục cần thiết để bàn giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở cho người sử
dụng đất).
5. Diện tích đất thu hồi của hộ
gia đình, cá nhân có nguồn gốc là do Tổ chức sử dụng đất được Nhà nước giao đất
không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước cho thuê đất, tự chuyển mục đích sử dụng
đất sang làm đất ở và đã phân phối đất ở đó cho cán bộ, công nhân viên của tổ
chức trong thời gian từ ngày 15/10/1993 đến ngày 24/12/2004 (ngày Nghị định số
198/2004/NĐ-CP của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất có hiệu lực thi hành), nếu
hộ gia đình, cá nhân chưa lần nào được giải quyết cấp quyền sử dụng đất ở đối với
diện tích đất có nguồn gốc này, thì bồi thường bằng 50% đơn giá đất ở đối với
diện tích thực tế bị thu hồi, nhưng tối đa không vượt quá hạn mức giao đất ở
theo quy định hiện hành; phần diện tích vượt hạn mức đất ở (nếu có) được bồi
thường theo quy định đối với đất nông nghiệp;
Trường hợp đã được một lần giải
quyết cấp quyền sử dụng đất ở đối với diện tích đất có nguồn gốc nêu trên, thì
toàn bộ diện tích đất thu hồi chỉ được bồi thường theo quy định đối với đất
nông nghiệp.
Điều 13. Xử
lý một số trường hợp cụ thể về đất nông nghiệp
1. Trường hợp bồi thường bằng việc
giao đất mới có giá đất thấp hơn giá đất bị thu hồi, thì ngoài việc được giao đất
mới người bị thu hồi đất còn được bồi thường bằng tiền phần giá trị chênh lệch đó.
Trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới có giá đất cao hơn giá đất bị thu
hồi, thì được bồi thường bằng việc giao đất mới với diện tích tương ứng với giá
trị quyền sử dụng đất của đất bị thu hồi.
2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử
dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm
nghiệp, nuôi trồng thủy sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của
các nông, lâm trường quốc doanh, khi Nhà nước thu hồi thì không được bồi thường
về đất, nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại và được hỗ trợ
theo quy định như sau:
a) Đối với hộ gia đình, cá nhân
nhận giao khoán đất là cán bộ, công nhân viên của nông, lâm trường quốc doanh
đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc đang trực tiếp
sản xuất nông, lâm nghiệp; hộ gia đình, cá nhân nhận khoán đang trực tiếp sản
xuất nông nghiệp và có nguồn sống chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp. Mức hỗ trợ bằng
tiền là 40% giá đất nông nghiệp cùng loại (giá đất theo quy định tại Điều 8 của
Quy định này) theo diện tích thực tế thu hồi nhưng tối đa không vượt hạn mức
giao đất nông nghiệp theo quy định.
Đối với hộ gia đình, cá nhân nhận
giao khoán đất của nông lâm trường quốc doanh nhưng không thuộc đối tượng nêu
trên, và phần diện tích vượt hạn mức giao đất nông nghiệp (nếu có) thì không được
hỗ trợ mà chỉ được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại.
b) Trường hợp hộ gia đình, cá
nhân nhận khoán đất của Hợp tác xã nông nghiệp mà nguồn gốc là đất do Nhà nước
giao đất không thu tiền sử dụng đất, sau đó giao cho xã viên nhận khoán và nộp
quỹ khoán sản phẩm thì khi Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường về đất,
mà chỉ được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại (nếu có) nếu tiền chi phí
đầu tư vào đất còn lại không có nguồn gốc từ Ngân sách nhà nước. Trong trường hợp
này nếu khi thu hồi đất mà đời sống của các xã viên gặp khó khăn, thì thực hiện
theo quy định tại Điều 32 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP .
c) Đất nông nghiệp sử dụng chung
của nông trường, lâm trường quốc doanh khi Nhà nước thu hồi không được bồi thường
đất, nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại, nếu chi phí này
không có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước.
3. Trường hợp đất thu hồi là đất
nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn thì người đang sử dụng
không được bồi thường về đất, người thuê đất công ích của xã, phường, thị trấn
được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại.
4. Đối với đất lâm nghiệp đã quy
hoạch trồng rừng sản xuất, kinh doanh mà Nhà nước đã giao cho hộ gia đình, cá
nhân sử dụng ổn định lâu dài, khi Nhà nước thu hồi được bồi thường về đất. Trường
hợp chưa giao đất sử dụng ổn định lâu dài thì khi Nhà nước thu hồi không được bồi
thường về đất, nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại.
5. Đối với diện tích đất đang sử
dụng để sản xuất nông nghiệp nhưng thuộc đất lâm nghiệp khi phân định ranh giới
nông lâm (không thuộc trường hợp được nhận giao khoán đất tại khoản 2 nêu
trên):
a) Diện tích đã được cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất hoặc có Quyết định cấp đất sản xuất nông nghiệp của cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền, được UBND cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp:
Bồi thường 100% giá đất nông nghiệp;
b) Diện tích chưa được cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Quyết định cấp đất sản xuất nông nghiệp của
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền:
- Đối với diện tích đất được
khai phá, sử dụng trước khi Nhà nước công bố ranh giới phân định nông lâm,
không có nguồn gốc là đất lâm nghiệp, được UBND cấp xã xác nhận là đất không có
tranh chấp: Bồi thường 100% giá đất nông nghiệp;
- Đối với diện tích được khai
phá, sử dụng trước khi Nhà nước công bố ranh giới phân định nông lâm, nhưng có
nguồn gốc là đất lâm nghiệp, được UBND cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp:
Hỗ trợ 100% giá đất nông nghiệp (đối với diện tích sử dụng trước thời điểm
15/10/1993), hỗ trợ 30% giá đất nông nghiệp (đối với diện tích sử dụng sau thời
điểm 15/10/1993);
- Đối với diện tích đất khai phá
sau khi Nhà nước công bố ranh giới phân định nông lâm; và diện tích đất khai
phá, sử dụng, sang nhượng có nguồn gốc là do hành vi lấn chiếm, khai phá, sang
nhượng đất rừng (đất lâm nghiệp) trái phép (kể cả đối với diện tích đã được cấp
Giấy chứng nhận): Không bồi thường, hỗ trợ.
6. Quy định mức hỗ trợ đối với một
số trường hợp có diện tích đất thu hồi không hội đủ điều kiện được bồi thường về
đất hoặc hỗ trợ về đất theo quy định tại khoản 2, 3, 4, 5 Điều 13 trên đây:
a) Trường hợp hộ gia đình, cá
nhân có hoàn cảnh thực sự khó khăn (người già cô đơn không nơi nương tựa; hộ
gia đình, cá nhân có người mắc phải các căn bệnh nan y, di chứng của chiến
tranh để lại; hộ gia đình, cá nhân thuộc diện đói nghèo, đồng bào dân tộc thiểu
số có đời sống kinh tế phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp) được UBND cấp xã xác
nhận là đất không có tranh chấp: Hỗ trợ 100% giá đất nông nghiệp.
b) Trường hợp hộ gia đình, cá
nhân tự khai thác đất thuộc khuôn viên nhà thuộc sở hữu Nhà nước để sản xuất
nông nghiệp; diện tích do tự khai hoang không theo quy hoạch được phê duyệt; diện
tích vi phạm hành lang bảo vệ các công trình, diện tích nằm trong lộ giới có
nguồn gốc là đất sử dụng, sang nhượng sau khi Nhà nước đã công bố lộ giới mà
trong quá trình khai thác; khai hoang, sang nhượng để sử dụng chưa bị các cơ
quan chức năng nhắc nhở xử phạt hoặc lập biên bản xử lý vi phạm: Hỗ trợ công
khai phá, sang nhượng theo hồ sơ, chứng từ thực tế chứng minh nhưng tối đa
không vượt quá 30% giá bồi thường đất nông nghiệp.
Điều 14. Bồi
thường đối với đất phi nông nghiệp (trừ đất ở) của hộ gia đình, cá nhân.
1. Đất làm mặt bằng xây dựng cơ
sở sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân có nguồn gốc là
đất ở đã được giao sử dụng ổn định lâu dài hoặc có đủ điều kiện được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất ở, khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường
theo giá đất ở.
2. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng
đất phi nông nghiệp có thời hạn do nhận chuyển nhượng, thừa kế, tặng, cho hoặc
do Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất được bồi thường theo giá đất phi nông
nghiệp. Trường hợp sử dụng đất phi nông nghiệp do Nhà nước hoặc do Ủy ban nhân
dân cấp xã cho thuê theo thầm quyền, khi Nhà nước thu hồi chỉ được bồi thường
chi phí đầu tư vào đất còn lại.
Điều 15. Bồi
thường đối với đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp của tổ chức, cộng đồng dân
cư
1. Đất nông nghiệp, đất phi nông
nghiệp của Tổ chức được Nhà nước giao hoặc cho thuê được bồi thường, hỗ trợ
theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 12 Nghị định số 197/2007/NĐ-CP.
2. Cơ sở của tổ chức tôn giáo
đang sử dụng đất ổn định, nếu là đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng
đất hoặc thuê đất thì không được bồi thường, nhưng được bồi thường chi phí đầu
tư vào đất còn lại. Tùy từng trường hợp cụ thể được xem xét giao lại đất mới
trong phạm vi quỹ đất hiện có của địa phương.
3. Đất do cộng đồng dân cư đang
sử dụng, bao gồm: Đất nhà thờ họ tộc, từ đường bị giải tỏa được UBND cấp xã xác
nhận là đất sử dụng ổn định và không có tranh chấp; đất có các công trình là đền,
miếu, am thờ bị giải tỏa. Giao Hội đồng bồi thường cấp huyện hoặc Tổ chức phát
triển quỹ đất xem xét từng trường hợp cụ thể trình cấp có thẩm quyền quyết định
giao đất mới tại địa điểm phù hợp để xây dựng lại. Các trường hợp này nếu không
có đất để giao lại thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất ở tại vị trí đó.
Điều 16. Bồi
thường đất ở đối với những người đang đồng quyền sử dụng đất.
Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân
đang sử dụng đất chung có đồng quyền sử dụng đất, khi Nhà nước thu hồi được bồi
thường theo diện tích đất thuộc đồng quyền sử dụng; nếu không có giấy tờ xác định
diện tích đất thuộc quyền sử dụng riêng của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thì bồi
thường chung cho các đối tượng có đồng quyền sử dụng đất. Các đối tượng có đồng
quyền sử dụng đất, cử người đại diện để nhận tiền bồi thường.
Điều 17. Bồi
thường, hỗ trợ đối với đất, tài sản thuộc hành lang an toàn khi xây dựng công
trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn.
1. Diện tích đất nằm trong hành
lang bảo vệ an toàn xây dựng công trình công cộng khi Nhà nước thu hồi đất thì
thực hiện bồi thường, hỗ trợ theo Quy định này.
2. Trường hợp diện tích đất có đủ
điều kiện được bồi thường theo quy định tại Điều 7 của Quy định này, Nhà nước
không thu hồi nhưng nằm trong hành lang an toàn của công trình bị thiệt hại do
hạn chế khả năng sử dụng đất, ảnh hưởng tài sản gắn liền với đất, thì xử lý như
sau:
a) Nếu làm thay đổi mục đích sử
dụng đất thì phần diện tích đất phải chuyển mục đích sử dụng được bồi thường bằng
tiền theo mức chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất giữa mục đích sử dụng mới và
mục đích sử dụng cũ, cụ thể: từ đất ở sang đất phi nông nghiệp (không phải là đất
ở) hoặc từ đất ở sang đất nông nghiệp thì bồi thường phần chênh lệch giữa giá đất
ở với giá đất phi nông nghiệp, giữa giá đất ở với giá đất nông nghiệp; từ đất
phi nông nghiệp (không phải là đất ở) sang đất nông nghiệp thì bồi thường phần
chênh lệch giữa giá đất phi nông nghiệp với giá đất nông nghiệp. Giá đất để
tính toán chênh lệch trong các trường hợp này là giá đất do UBND tỉnh quy định,
trong đó giá đất nông nghiệp được áp dụng theo giá đất trồng cây hàng năm.
Đối với đất sau khi chuyển mục
đích sử dụng đã được bồi thường theo điểm a trên đây thì không được tính bồi
thường, hỗ trợ theo điểm b dưới đây.
b) Không làm thay đổi mục đích sử
dụng đất (nhà ở, công trình đủ điều kiện tồn tại) nhưng làm hạn chế khả năng sử
dụng đất thì phần diện tích đất bị hạn chế khả năng sử dụng được tính toán bồi thường,
hỗ trợ theo giá đất do UBND tỉnh quy định, cụ thể như sau:
- Đối với đất ở, đất sản xuất
kinh doanh phi nông nghiệp bị phá dỡ một phần nhà, công trình xây dựng, hoặc bị
khống chế về chiều cao khi xây dựng nhà, công trình thì được bồi thường bằng tiền,
với mức bồi thường tính bằng 80% giá đất cùng loại tại vị trí đất bị ảnh hường
bởi hành lang bảo vệ công trình. Những trường hợp sau không được tính toán bồi
thường, hỗ trợ:
+ Đất ở, đất sản xuất kinh doanh
phi nông nghiệp là đất trống (trên đất chưa có nhà ở, công trình xây dựng) được
sử dụng hoặc được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao khi đã có quy hoạch chi
tiết xây dựng được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt và công khai mà theo quy hoạch
này đã xác định nhà ở và các công trình khi xây dựng không ảnh hưởng gì đến
hành lang an toàn của công trình;
+ Đất ở, đất sản xuất kinh doanh
phi nông nghiệp là đất đã có nhà ở và các công trình được xây dựng theo đúng
quy hoạch chi tiết xây dựng được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt và công khai
theo quy hoạch này đã được xác định nhà ở và các công trình đủ điều kiện tồn tại,
không ảnh hưởng gì đến hành lang an toàn của công trình;
- Đối với phần diện tích đất
nông nghiệp nằm trong hành lang bảo vệ an toàn của công trình xây dựng công cộng,
về nguyên tắc không được bồi thường, hỗ trợ khi không bị Nhà nước thu hồi.
Riêng đối với đất nông nghiệp của người sử dụng đất hợp pháp, hợp lệ trong đô
thị, đất nông nghiệp nằm trong khu quy hoạch dân cư tại nông thôn và đất nông
nghiệp đã có quy hoạch chuyển thành đất khu dân cư thì được hỗ trợ bằng 80% giá
đất nông nghiệp cùng loại do UBND tỉnh quy định tại vị trí có hành lang bảo vệ
công trình. Mức hỗ trợ này cũng được áp dụng đối với diện tích đất nông nghiệp
sau khi phải chặt hạ cây trồng hiện có trên đất mà không thể chuyển sang canh
tác trồng lại một loại cây trồng nào khác hoặc không thể chuyển sang nuôi trồng
thủy sản.
3. Khi hành lang bảo vệ an toàn
công trình chiếm dụng khoáng không trên 70% diện tích đất sử dụng có nhà ở,
công trình của một chủ sử dụng đất thì phần diện tích đất còn lại cũng được bồi
thường theo quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản 2 Điều này.
4. Đối với nhà ở, vật kiến trúc,
công trình xây dựng và các tài sản khác gắn liền với đất nằm trong phạm vi hành
lang bảo vệ an toàn công trình công cộng:
a) Nhà ở, vật kiến trúc, công
trình xây dựng và các tài sản khác gắn liền với đất nằm trong phạm vi hành lang
bảo vệ an toàn phải di dời, chặt hạ để giải phóng mặt bằng được bồi thường, hỗ
trợ theo Quy định tại Chương III Quy định này. Trường hợp nhà ở, công trình xây
dựng hợp pháp có trước khi xây dựng công trình công cộng, phải tháo dỡ một phần
hoặc thực hiện các biện pháp sửa chữa, cải tạo để đảm bảo các điều kiện an toàn
của công trình công cộng thì được bồi thường bị phá dỡ và chi phí để cải tạo, sửa
chữa nhà ở, công trình để sử dụng lại.
b) Nhà ở, công trình xây dựng có
trên đất được tạo lập sau thời điểm công bố quyết định phê duyệt dự án xây dựng
công trình công cộng của cấp có thẩm quyền, hoặc xây dựng không đúng theo thiết
kế và Giấy phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, thì phần diện tích (khối lượng)
xây lắp không đảm bảo các điều kiện an toàn của công trình công cộng phải phá dỡ
không được bồi thường, hỗ trợ. Người có nhà ở, công trình xây dựng này phải tự
tháo dỡ và chịu hoàn toàn chi phí sửa chữa, cải tạo để sử dụng lại nhà ở và
công trình xây dựng.
Điều 18. Bồi
thường đất trong trường hợp Nhà nước sử dụng tạm thời, không thu hồi đất
1. Đối với tài sản có trên đất bị
phá dỡ, di dời thì được bồi thường, hỗ trợ theo Quy định này.
2. Hết thời gian sử dụng đất tạm
thời, chủ đầu tư có trách nhiệm phục hồi trả lại đất theo tình trạng ban đầu,
hoặc thỏa thuận chi trả bằng tiền để người sử dụng đất tự khôi phục lại theo
tình trạng ban đầu.
Chương 3.
BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VỀ
TÀI SẢN
Điều 19.
Nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ tài sản
1. Tài sản gắn liền với đất bao
gồm nhà, vật kiến trúc, công trình xây dựng đơn chiếc; nhà, công trình xây dựng
theo hệ thống trong một khuôn viên đất (bao gồm các hạng mục xây dựng phục vụ sản
xuất, đới sống, sinh hoạt…), công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật gắn liền với đất,
cây trồng trên đất, con vật nuôi (thủy sản).
Nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ
tài sản: Áp dụng theo quy định tại Điều 18 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP , và điểm
1 Phần III Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn
thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất (sau đây gọi là Thông tư số 116/2004/TT-BTC).
2. Đối với những kết cấu xây dựng
(cấu kiện thép, gỗ,…), hệ thống máy móc, dây chuyền sản xuất có thể tháo dời và
di chuyển được thì chỉ tính chi phí tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặt và thiệt hại
khi tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặt theo định mức, đơn giá quy định hoặc theo chi
phí thực tế hợp lý nhưng tối đa không vượt quá mức bồi thường.
3. Đơn giá tính toán bồi thường,
hỗ trợ về tài sản có trên đất, thực hiện theo các Quyết định do UBND tỉnh ban
hành.
Điều 20. Bồi
thường, hỗ trợ về nhà, công trình xây dựng trên đất
1. Đối với nhà ở, công trình phục
vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân được tính toán bồi thường, hỗ trợ theo
giá trị xây dựng mới của nhà ở, công trình.
Giá trị xây dựng mới của nhà ở,
công trình được tính theo diện tích sử dụng của nhà ở, công trình nhân (x) với
đơn giá xây dựng mới của nhà ở, công trình do UBND tỉnh quy định (nếu nhà ở,
công trình xác định được theo tiêu chuẩn cấp hạng nhà) hoặc tính theo phương
pháp bóc tách khối lượng nhân (x) với đơn giá cấu kiện tổng hợp. Trường hợp nhà
ở, công trình phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân có sử dụng các loại vật
liệu hoặc cấu kiện xây dựng cao hơn hoặc thấp hơn so với cấp hạng nhà đã được
đánh giá thì tính toán bồi thường, hỗ trợ theo đơn giá của cấp hạng nhà đã được
đánh giá và cộng (+) thêm phần giá trị đã được đầu tư cao hơn hoặc trừ (-) đi
phần giá trị đầu tư thấp hơn cấp hạng nhà đã được đánh giá.
2. Đối với nhà, công trình xây dựng
khác không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này, thực hiện tính toán bồi
thường theo quy định tại khoản 2 Điều 19 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP và điểm 2
Phần III Thông tư số 116/2004/TT-BTC , trong đó:
- Tỷ lệ phần trăm để tính một
khoản tiền cộng thêm theo giá trị hiện có của nhà, công trình: giao Hội đồng bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư cấp huyện xác định cho phù hợp với tình hình thực
tế, nhưng tổng mức bồi thường tối đa không quá 100% giá trị xây dựng mới của
nhà, công trình có tiêu chuẩn, kỹ thuật tương đương với nhà, công trình bị thiệt
hại.
- Việc xác định tỷ lệ phần trăm
(%) chất lượng còn lại để xác định giá trị hiện có của nhà, công trình do Tổ chức
làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện, có sự tham gia của
Nhà đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về xây dựng tại địa phương.
- Đối với các tài sản quy định tại
khoản 2 trên đây nhưng thực tế không sử dụng hoặc không còn sử dụng được thì
không bồi thường.
3. Đối với công trình kết cấu hạ
tầng kỹ thuật, mức bồi thường bằng giá trị xây dựng mới của công trình có tiêu
chuẩn, kỹ thuật tương đương; nếu công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật không còn
sử dụng được hoặc thực tế không sử dụng thì không bồi thường.
4. Tài sản gắn liền với đất thuộc
một trong các trường hợp quy định tại các khoản 4, 6, 7 và 10 Điều 38 Luật Đất
đai 2003 thì không được bồi thường.
5. Tài sản gắn liền với đất thuộc
một trong các trường hợp quy định tại các khoản 2, 3, 5, 8, 9, 11 và 12 Điều 38
Luật Đất đai năm 2003 thì việc xử lý tài sản theo quy định tại Điều 35 Nghị định
số 181/2004/NĐ-CP .
Điều 21. Xử
lý các trường hợp bồi thường, hỗ trợ cụ thể về nhà ở, vật kiến trúc, công trình
xây dựng trên đất phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân:
1. Các trường hợp dưới đây được
bồi thường, hỗ trợ:
a) Nhà ở, công trình, vật kiến
trúc có Giấy phép xây dựng trên đất có đủ điều kiện bồi thường theo quy định tại
Điều 7 của Quy định này thì được bồi thường bằng 100% giá trị xây dựng mới của
nhà ở, công trình có tiêu chuẩn, kỹ thuật tương đương.
b) Nhà ở, công trình, vật kiến
trúc không có Giấy phép xây dựng thì tùy theo tính chất hợp pháp của đất, của
nhà và công trình, được xem xét bồi thường hoặc hỗ trợ theo quy định sau:
- Nhà ở, công trình, vật kiến
trúc xây dựng trên đất đủ điều kiện được bồi thường về đất ở mà tại thời điểm
xây dựng chưa có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cấp có thẩm quyền công bố
hoặc xây dựng phù hợp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, không vi phạm hành lang
bảo vệ an toàn công trình thì được bồi thường bằng 100% giá trị xây dựng mới của
nhà ở, công trình có tiêu chuẩn, kỹ thuật tương đương.
- Nhà ở, công trình, vật kiến
trúc xây dựng trên đất không đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại Điều
7 của Quy định này và nhà ở, công trình, vật kiến trúc xây dựng trên đất chỉ được
bồi thường đối với đất nông nghiệp nhưng tại thời điểm xây dựng chưa có quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất được cấp có thẩm quyền công bố hoặc xây dựng phù hợp quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất, không vi phạm hành lang bảo vệ công trình được hỗ
trợ tối đa bằng 80% giá trị xây dựng mới của nhà ở, công trình có tiêu chuẩn, kỹ
thuật tương đương.
- Nhà ở, công trình, vật kiến
trúc của hộ gia đình, cá nhân được xây dựng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 trên
đất không đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại Điều 7 của Quy định
này, mà khi xây dựng vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố và
cắm mốc hoặc vi phạm hành lang bảo vệ công trình đã được cắm mốc thì không được
bồi thường; trường hợp đặc biệt có hoàn cảnh thực sự khó khăn thì UBND cấp huyện
xem xét hỗ trợ cho phù hợp nhưng tối đa không vượt quá 80% giá trị xây dựng mới
của nhà ở, công trình có tiêu chuẩn, kỹ thuật tương đương.
c) Đối với các công trình xây dựng
phụ trợ độc lập phục vụ cho sinh hoạt đời sống như: nhà tắm, nhà vệ sinh, giếng
nước, sân đường nội bộ, tường rào, kè chắn đất,… thì bồi thường, hoặc hỗ trợ
100% theo giá trị xây dựng mới của công trình có quy mô và tiêu chuẩn kỹ thuật
tương đương.
2. Nhà, công trình chỉ phá dỡ một
phần, thì giải quyết như sau:
- Nếu phần còn lại không còn sử
dụng được thì tính bồi thường, hoặc hỗ trợ (tùy theo mức độ, tính chất hợp pháp
của đất của nhà và công trình bị phá dỡ) cho toàn bộ nhà, công trình theo quy định
tại khoản 1 Điều này.
- Nếu phần còn lại còn sử dụng lại
được thì tính bồi thường, hoặc hỗ trợ phần bị phá dỡ theo quy định tại khoản 1
Điều này (tùy theo mức độ, tính chất hợp pháp của đất, của nhà và công trình bị
phá dỡ). Ngoài ra còn được hỗ trợ thêm chi phí thực tế hợp lý để sửa chữa, khôi
phục, hoàn thiện phần còn lại theo tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương với phần diện
tích phá dỡ.
Việc xác định phần diện tích còn
lại không còn sử dụng được và việc xác định hỗ trợ thêm chi phí để sửa chữa,
hoàn thiện phần diện tích còn lại trong cả hai trường hợp trên do Tổ chức được
giao việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tính toán cho phù hợp với từng trường
hợp cụ thể, có sự tham gia của Nhà đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước chuyên
ngành về xây dựng tại địa phương.
- Trường hợp nhà, công trình xây
dựng kiên cố phải phá dỡ một phần, ranh giải tỏa cắt sàn và đà nằm trong phạm
vi giữa hai cột bê tông cốt thép chịu lực, thì xác định cột chịu lực gần nhất
còn lại không bị phá dỡ để tính toán bồi thường, hỗ trợ. Phần diện tích xây dựng
nhà, công trình được tính toán bồi thường, hỗ trợ trong trường hợp này bao gồm:
phần nằm trong ranh bị giải tỏa phải phá dỡ và phần diện tích tính từ ranh giải
tỏa vào đến cột chịu lực gần nhất còn lại.
3. Các công trình là Nhà thờ họ
tộc, Am thờ, Từ đường gắn liền với đất bị thu hồi thì được bồi thường hoặc hỗ
trợ về tài sản tính theo giá trị mới quy định tại khoản 1 Điều này.
4. Các trường hợp dưới đây không
được bồi thường, hỗ trợ:
a) Nhà ở, công trình, vật kiến
trúc gắn liền với đất được xây dựng sau ngày 01/7/2004 mà tại thời điểm xây dựng
trái với mục đích sử dụng đất đã được xác định trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất thì không được bồi thường, không được hỗ trợ.
b) Nhà ở, vật kiến trúc, công
trình xây dựng trên đất không đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại Điều
7 của Quy định này, mà khi xây dựng công trình đã được cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền thông báo không được phép xây dựng, hoặc đã bị xử phạt, buộc tháo dỡ thì
không được bồi thường, không được hỗ trợ; người có công trình xây dựng trái
phép đó buộc phải tự phá dỡ và phải chịu chi phí phá dỡ trong trường hợp cơ
quan có thẩm quyền thực hiện phá dỡ.
c) Nhà ở, công trình, vật kiến
trúc gắn liền với đất được xây dựng sau khi có quyết định thu hồi đất được công
bố công khai thì không được bồi thường, không được hỗ trợ.
Các trường hợp không được bồi
thường, hỗ trợ tại điểm a, b, c nêu trên nếu có điều kiện hoàn cảnh kinh tế thực
sự khó khăn thì UBND cấp huyện xem xét từng trường hợp cụ thể để có mức hỗ trợ
cho phù hợp nhưng tối đa không vượt quá 80% giá trị xây dựng mới của nhà ở,
công trình có tiêu chuẩn, kỹ thuật tương đương.
Điều 22. Xử
lý các trường hợp bồi thường, hỗ trợ hợp cụ thể đối với công trình, tài sản của
các cơ quan, đơn vị Nhà nước và tổ chức khác đang sử dụng
1. Đối với nhà, xưởng, công
trình kiến trúc của các doanh nghiệp và tổ chức khác có thể tháo rời và di chuyển
lắp đặt lại thì chi bồi thường các chi phí tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặt và chi
phí hao hụt trong quá trình tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặt theo chi phí thực tế
do Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng xác định từng trường hợp
cụ thể, có sự tham gia của Nhà đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành
về xây dựng tại địa phương, trên cơ sở dự toán theo đề nghị của tổ chức bị ảnh
hưởng.
2. Đối với nhà, xưởng, công
trình kiến trúc của các doanh nghiệp và tổ chức khác không thể tháo rời và di
chuyển lắp đặt lại:
- Trường hợp khi xây dựng có giấy
tờ hợp lệ mà phải di dời toàn bộ nhà, xưởng và công trình kiến trúc khác thì
tính bồi thường hoặc hỗ trợ theo quy định tại khoản 2 Điều 20 Quy định này. Nếu
chỉ phá dỡ một phần thì tính bồi thường hoặc hỗ trợ phần diện tích (khối lượng)
bị phá dỡ theo thiệt hại thực tế để sửa chữa, khôi phục lại phần bị phá dỡ,
nhưng tổng giá trị bồi thường hoặc hỗ trợ không quá 100% giá trị xây dựng mới
tương ứng với tiêu chuẩn kết cấu của phần diện tích (khối lượng) bị phá dỡ. Nếu
nhà, công trình không có giá trị sử dụng thì không được bồi thường;
- Trường hợp nhà, xưởng, công
trình xây dựng không có giấy tờ hợp lệ nhưng xây dựng phù hợp quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất, không vi phạm hành lang bảo vệ các công trình hạ tầng kỹ thuật thì
tính hỗ trợ theo mức thiệt hại thực tế nhưng không quá 80% giá trị xây dựng mới.
Trường hợp vi phạm, tính hỗ trợ không quá 40% giá trị xây dựng mới.
3. Trụ sở cơ quan hành chính,
đơn vị sự nghiệp, Trường học, Trạm y tế…. thuộc sở hữu Nhà nước chỉ bị thu hồi
một phần diện tích đất và phá dỡ một phần công trình kiến trúc sẽ được Tổ chức
làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng phối hợp cùng với chủ đầu tư và
các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về xây dựng, tài chính tại địa phương
lập dự toán chi phí phá dỡ và xây dựng lại mới tương ứng với hiện trạng kết cấu
xây dựng cũ hoặc chi trả bằng tiền để tổ chức bị ảnh hưởng tự xây dựng lại
tương ứng với hiện trạng kết cấu xây dựng cũ bị phá dỡ.
Trường hợp phải di dời toàn bộ
thì đơn vị bị ảnh hưởng được bố trí trụ sở nơi khác hoặc lập dự án xây dựng lại
trụ sở nơi mới trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Điều 23. Xử
lý các trường hợp bồi thường, hỗ trợ đối với các công trình hạ tầng kỹ thuật
(đèn đường, đường điện, cáp điện thoại, đường cấp thoát nước…)
1. Lập phương án di dời cho từng
trường hợp, phương án di dời do đơn vị quản lý trực tiếp công trình đó lập,
theo định mức kinh tế kỹ thuật chuyên ngành, thông qua cơ quan có thẩm quyền
phê duyệt theo quy định; nếu công trình không còn sử dụng thì không được bồi
thường.
2. Giao các Sở quản lý chuyên ngành
xét duyệt dự toán chi phí di dời và lắp đặt, xây dựng lại các công trình hạ tầng
kỹ thuật (kể cả tổ chức thanh lý vật tư thu hồi theo quy định hiện hành của Nhà
nước), cụ thể:
- Sở Công thương giải quyết đối
với các công trình điện;
- Sở Giao thông vận tải giải quyết
đối với các công trình giao thông;
- Sở Xây dựng giải quyết đối với
các công trình xây dựng là nhà xưởng, kho tàng, cấp thoát nước…;
- Sở Thông tin và Truyền thông
giải quyết đối với các công trình thông tin liên lạc.
Trường hợp tái đầu tư, nâng cấp
bằng nguồn vốn thuộc ngân sách Nhà nước thì phải báo cáo Sở Kế hoạch và Đầu tư,
Sở Tài chính để thẩm định, đề xuất, trình Ủy ban nhân dân tỉnh giải quyết.
Điều 24. Bồi
thường nhà, công trình đối với người đang sử dụng nhà thuộc sở hữu Nhà nước
1. Người đang
sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước (nhà của Nhà nước hoặc nhà do Tổ chức tự quản)
nằm trong phạm vi thu hồi đất phải phá dỡ, thì người đang thuê nhà không được bồi
thường đối với diện tích nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước và diện tích tự cơi nới
trái phép; nhưng được bồi thường toàn bộ chi phí tự cải tạo, sửa chữa, nâng cấp
được cơ quan có thẩm quyền cho phép (phần diện tích nhà ở cải tạo, sửa chữa,
nâng cấp được coi là hợp pháp là các trường hợp được cơ quan ra quyết định phân
nhà hoặc cơ quan quản lý nhà đất cho phép cải tạo, sửa chữa, nâng cấp; người
thuê nhà phải có chứng từ để chứng minh cụ thể).
2. Người đang sử dụng nhà ở thuộc
sở hữu Nhà nước bị phá dỡ được thuê nhà ở tại nơi tái định cư. Trường hợp đặc
biệt không có nhà tái định cư để bố trí thì người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu
Nhà nước được hỗ trợ bằng tiền để tự lo chỗ ở mới, mức hỗ trợ bằng 60% giá trị
đất và 60% giá trị nhà đang thuê. Trường hợp có nhà tái định cư để bố trí nhưng
người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước không thuê thì không được hỗ trợ
bằng tiền.
Về diện tích để tính hỗ trợ bằng
tiền trong trường hợp không có nhà tái định cư để bố trí:
a) Đối với diện tích nhà: Diện
tích nhà được tính hỗ trợ là số m2 đang sử dụng thực tế nhưng không
lớn hơn số m2 ghi trong Quyết định tạm cấp, tạm giao hay Hợp đồng
thuê nhà hoặc giấy cấp nhà của cơ quan Nhà nước (do cơ quan, đơn vị quản lý căn
nhà xác nhận). Đối với hộ gia đình ở chung cư, số m2 tính hỗ trợ
tương ứng với diện tích sàn sử dụng của mỗi hộ đang sử dụng không tính diện
tích hành lang, lối đi chung và diện tích lấn chiếm.
b) Đối với diện tích đất:
- Diện tích đất để tính hỗ trợ
căn cứ vào diện tích ghi trong giấy tờ hợp pháp, hợp lệ (Quyết định tạm cấp, tạm
giao, giấy cấp nhà; Hợp đồng thuê nhà của cơ quan có thẩm quyền).
- Trường hợp quyết định của cơ
quan có thẩm quyền tạm cấp, tạm giao, giấy cấp nhà, hợp đồng thuê nhà không ghi
rõ diện tích khi cho thuê, hoặc trường hợp diện tích ghi trong quyết định tạm cấp,
tạm giao, giấy cấp nhà, hợp đồng thuê nhà nhỏ hơn diện tích đang sử dụng thì cơ
quan ký quyết định, ký hợp đồng cho thuê phải xác định lại diện tích cụ thể để
làm cơ sở tính hỗ trợ với mức diện tích theo thực tế sử dụng được xác nhận có
nguồn gốc không lấn chiếm, nhưng không lớn hơn hạn mức giao đất ở quy định tại
địa phương, phần diện tích ngoài hạn mức quy định (nếu có) không xét hỗ trợ.
- Trường hợp diện tích ghi trong
quyết định của cơ quan có thẩm quyền tạm cấp, tạm giao, giấy cấp nhà, hợp đồng
thuê nhà lớn hơn hạn mức giao đất ở quy định tại địa phương, thì diện tích
trong hạn mức được tính hỗ trợ, phần diện tích ngoài hạn mức quy định không xét
hỗ trợ.
3. Nhà thuộc sở hữu Nhà nước bị
thu hồi một phần đất ở, nhà ở và phần diện tích còn lại được tiếp tục sử dụng để
ở thì xử lý như sau:
- Phần diện tích đất bị thu hồi
một phần được tính hỗ trợ theo quy định tại khoản 2 Điều này;
- Phần diện tích nhà (diện tích
xây lắp) bị phá dỡ được tính hỗ trợ bằng 100% đơn giá xây dựng mới để chủ hộ tự
xây dựng lại tương đương với phần hiện trạng kết cấu xây dựng bị phá dỡ hoặc bồi
thường theo dự toán, xây dựng lại mặt tiền nhà (hoặc hông nhà, phía sau nhà,…)
theo kết cấu phần hiện trạng bị phá dỡ do cơ quan quản lý căn nhà bị phá dỡ xác
lập.
4. Đối với trường hợp hộ gia
đình, cá nhân có nhà ở mà nguồn gốc là do các đơn vị, tổ chức bố trí để ở sai
thẩm quyền, sai công năng, không đúng mục đích sử dụng đất được Nhà nước giao
hoặc cho thuê nhà, đất, thì tùy từng trường hợp cụ thể Hội đồng bồi thường giải
phóng mặt bằng của dự án báo cáo UBND cấp huyện có biện pháp hỗ trợ phù hợp để
đảm bảo ổn định đời sống cho các hộ gia đình, cá nhân sau khi bị di dời, giải tỏa.
5. Nhà thuộc sở hữu Nhà nước hoặc
do nguồn vốn ngân sách Nhà nước tạo lập bị chiếm dụng, thì Hội đồng bồi thường
giải phóng mặt bằng của dự án báo cáo Chủ tịch UBND cấp huyện ra quyết định thu
hồi không điều kiện.
Điều 25. Bồi
thường về di chuyển mồ mả
1. Đối với việc di chuyển mồ mả,
mức tiền bồi thường được tính cho chi phí về đất đai, đào, bốc, di chuyển, hỏa
tảng (nếu có), xây dựng lại và các chi phí hợp lý khác có liên quan trực tiếp.
Chi phí cụ thể do Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng (có sự
tham gia đại diện của chủ đầu tư) xác lập cho phù hợp với tập quán và thực tế của
từng địa phương, thông qua Hội đồng bồi thường của dự án, trình UBND cấp huyện
quyết định (đối với dự án do UBND cấp huyện phê duyệt phương án bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư) hoặc thông qua Sở Tài chính thẩm định, trình UBND tỉnh phê
duyệt (đối với dự án do UBND tỉnh phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư).
2. Đối với mộ vắng chủ hoặc vô
chủ thì chủ đầu tư hợp đồng với đơn vị phục vụ mai táng của địa phương tổ chức
bốc mộ, cải táng (sau thời hạn của Thông báo bốc mộ).
Điều 26. Bồi
thường, hỗ trợ đối với cây trồng, con vật nuôi (thủy sản)
1. Đối với cây trồng, hoa màu
các loại không thể đào, bứng di chuyển được thì tính toán bồi thường, hoặc hỗ
trợ bằng 100% đơn giá quy định.
Trường hợp cây trồng, hoa màu
các loại được tạo lập sau khi có quyết định thu hồi đất được công bố thì không
bồi thường, hỗ trợ. Những trường hợp đặc biệt là các đối tượng gia đình chính
sách, hộ đói, nghèo, sẽ được xem xét cụ thể để hỗ trợ bù đắp chi phí hợp lý thực
tế đã đầu tư nhưng tối đa không vượt quá mức bồi thường.
2. Đối với những cây trồng có thể
đào bứng, di chuyển được thì chỉ tính chi phí đào bứng, di chuyển, trồng lại (nếu
có) theo định mức, đơn giá quy định hoặc theo chi phí thực tế hợp lý nhưng tối
đa không vượt quá mức bồi thường.
3. Đối với một số loại vật nuôi
như: tôm, cá,… chưa đến thời kỳ thu hoạch mà không thể di chuyển được, phải thu
hoạch sớm, thì tính bồi thường giá trị sản lượng thiệt hại của vụ đó theo thời
giá tại địa phương của loại sản phẩm thời kỳ thu hoạch: trường hợp khi thu hồi
đất mà đã đến thời kỳ thu hoạch thì không phải bồi thường.
Điều 27. Xử
lý tiền bồi thường đối với tài sản thuộc sở hữu Nhà nước
Tổ chức bị Nhà nước thu hồi đất,
bị thiệt hại về tài sản do Nhà nước giao quản lý sử dụng; phải di dời đến cơ sở
mới thì được sử dụng tiền bồi thường tài sản để đầu tư tại cơ sở mới theo dự án
đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Số tiền bồi thường tài sản này do người
được Nhà nước giao đất, cho thuê đất chi trả, nếu sử dụng không hết thì số tiền
còn lại được nộp vào ngân sách Nhà nước.
Điều 28. Bồi
thường cho người lao động do ngừng việc
1. Tổ chức kinh tế, hộ sản xuất
kinh doanh có đăng ký kinh doanh, có thuê lao động theo hợp đồng lao động, bị
ngừng sản xuất kinh doanh khi nhà nước thu hồi toàn bộ đất thì người lao động
được áp dụng bồi thường theo chế độ trợ cấp ngừng việc, thời gian tính bồi thường
là thời gian ngừng sản xuất kinh doanh nhưng tối đa không quá 06 tháng.
2. Đối tượng được bồi thường là
người lao động có ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc hợp đồng
lao động xác định thời hạn có thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong
khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng. Không áp dụng cho đối tượng lao động
có hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn
dưới 12 tháng.
3. Mức bồi thường theo chế độ trợ
cấp ngừng việc tính không quá 70% tiền lương hoặc thu nhập thực tế và không thấp
hơn mức lương tối thiểu theo quy định của Nhà nước (tiền lương hoặc thu nhập thực
tế được tính bình quân của 06 tháng liền kề).
4. Số tiền bồi thường do ngừng
việc được chi trả trực tiếp cho người lao động thông qua tổ chức Công đoàn của
đơn vị; ở những nơi chưa có Tổ chức công đoàn thì thông qua Phòng Lao động –
Thương binh và Xã hội cấp huyện hoặc đại diện Hội đồng bồi thường của dự án.
Điều 29. Bồi
thường tài sản khác
Nhà có hệ thống điện thoại, đồng
hồ nước, đồng hồ điện (thuê bao), giếng nước được tính toán bồi thường như sau:
- Điện thoại (thuê bao): bồi thường
theo mức giá lắp đặt mới hoặc chi phí di dời do cơ quan Bưu điện thực hiện.
- Đồng hồ điện chính (thuê bao):
bồi thường theo mức giá lắp đặt mới hoặc chi phí di dời do cơ quan Điện lực thực
hiện.
- Đồng hồ điện phụ (câu lại):
theo chi phí thực tế hợp lý nhưng không được cao hơn chi phí bồi thường cho đồng
hồ chính.
- Đồng hồ nước (thuê bao): bồi
thường theo mức giá lắp đặt mới hoặc chi phí di dời do đơn vị Quản lý Cấp nước
thực hiện.
- Đồng hồ nước phụ (câu lại):
theo chi phí thực tế hợp lý nhưng không được cao hơn chi phí bồi thường cho đồng
hồ chính.
- Giếng nước khoan, giếng nước
đào thủ công: bồi thường theo chi phí thực tế hợp lý tại địa bàn.
(Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường,
giải phóng mặt bằng và chủ đầu tư xác định theo mức giá do cơ quan, đơn vị quản
lý chuyên ngành cung cấp tại thời điểm lập phương án).
Chương 4.
CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ
Điều 30. Hỗ
trợ di chuyển
1. Đối với hộ gia đình, cá nhân
khi Nhà nước thu hồi đất phải di chuyển đến nơi ở mới hoặc tái định cư tại chỗ,
mức hỗ trợ như sau:
- Tái định cư tại chỗ trên phần
đất còn lại: 1.000.000 đồng/hộ.
- Di chuyển đến chỗ ở mới trong
phạm vi nội huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh: 2.000.000 đồng/hộ.
- Di chuyển đến chỗ ở mới ngoài
phạm vi nội huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh: 3.000.000 đồng/hộ.
- Di chuyển chỗ ở ra ngoài tỉnh
hoặc di chuyển chỗ ở đến những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó
khăn, kể cả từ xã khó khăn này đến xã khó khăn khác trong tỉnh: 5.000.000 đồng/hộ.
2. Đối với cơ quan, đơn vị và tổ
chức khác: Hỗ trợ di chuyển theo khối lượng và chi phí thực tế, do Tổ chức làm
nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng xác lập thông qua Hội đồng Bồi thường
của dự án, trình thẩm định và phê duyệt theo Quy định này.
Điều 31. Hỗ
trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất
1. Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp
sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp được
giao, được hỗ trợ ổn định đời sống tính cho toàn bộ số nhân khẩu hiện có trong
hộ, với thời gian hỗ trợ như sau:
- Không phải di chuyển chỗ ở, hoặc
được tái định cư trên phần đất còn lại: thời gian hỗ trợ là 03 tháng.
- Di chuyển chỗ ở đến nơi khác
trong phạm vi nội huyện, thị xã, thành phố: thời gian hỗ trợ là 06 tháng;
- Di chuyển ra ngoài tỉnh, ra
ngoài huyện (thị xã, thành phố) khác trong tỉnh, hoặc đến địa bàn có điều kiện
kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn: thời gian hỗ trợ là 12 tháng.
Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường,
giải phóng mặt bằng cùng với chủ đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước chuyên
ngành về Tài nguyên Môi trường tại địa phương xác định tỷ lệ diện tích đất nông
nghiệp thu hồi trên diện tích đất nông nghiệp được giao của từng trường hợp cụ
thể, làm cơ sở để tính toán khoản hỗ trợ ổn định đời sống theo quy định trên.
2. Trường hợp diện tích đất nông
nghiệp thu hồi dưới 30% và trường hợp diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi là đất
tự khai phá, sang nhượng chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao (không
thể xác định được tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi so với diện tích đất
nông nghiệp được giao) thì việc tính toán hỗ trợ ổn định đời sống như sau:
- Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp
sản xuất nông nghiệp mà diện tích đất nông nghiệp thu hồi từ 500m2
trở lên và không bị giải tỏa nhà ở hoặc chỉ bị giải tỏa một phần nhà ở, thì cứ
500m2 bị thu hồi được hỗ trợ ổn định đời sống cho 01 khẩu trong thời
gian 03 tháng, nhưng tối đa không vượt quá số nhân khẩu hiện có trong hộ.
- Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp
sản xuất nông nghiệp mà diện tích đất nông nghiệp thu hồi từ 500m2
trở lên và bị giải tỏa toàn bộ nhà ở thì cứ 500m2 bị thu hồi được hỗ
trợ ổn định đời sống cho 01 khẩu nhưng tối đa không vượt quá số nhân khẩu hiện
có trong hộ, thời gian hỗ trợ theo quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Mức hỗ trợ bằng tiền cho 01
nhân khẩu/01 tháng tương đương 30kg gạo tẻ thường tính theo thời giá trung bình
tại địa phương (theo báo cáo tình hình giá cả thị trường hàng tháng của Phòng
Tài chính – Kế hoạch cấp huyện).
4. Khi Nhà nước thu hồi đất của
tổ chức kinh tế, hộ sản xuất kinh doanh có đăng ký kinh doanh, mà bị ngừng sản
xuất kinh doanh do phải di dời, thì được hỗ trợ bằng 30% thu nhập sau thuế của
một năm, theo mức thu nhập bình quân của 03 năm liền kề trước đó được cơ quan
thuế xác nhận. Trường hợp những hộ gia đình, cá nhân sản xuất kinh doanh nhưng
không đăng ký kinh doanh, có mức doanh thu dưới 10.000.000 đồng/tháng thì hỗ trợ
như sau:
- Hộ có doanh thu dưới 2.000.000
đồng/tháng: hỗ trợ một lần 1.000.000 đồng/hộ.
- Hộ có doanh thu từ 2.000.000 đồng/tháng
đến dưới 5.000.000 đồng/tháng: hỗ trợ một lần 2.000.000 đồng/hộ.
- Hộ có doanh thu từ 5.000.000 đồng/tháng
đến dưới 8.000.000 đồng/tháng: hỗ trợ một lần 4.000.000 đồng/hộ.
- Hộ có doanh thu từ 8.000.000 đồng/tháng
đến dưới 10.000.000 đồng/tháng: hỗ trợ một lần 5.000.000 đồng/hộ.
(Doanh thu để tính hỗ trợ do cơ
quan thuế xác nhận trên cơ sở số thuế nộp hàng tháng cho Ngân sách nhà nước).
5. Trường hợp hộ gia đình, cá
nhân bị thu hồi đất có mức sống thuộc diện hộ nghèo theo tiêu chí hộ nghèo do Bộ
Lao động – Thương binh và Xã hội công bố trong từng thời kỳ là những hộ đã được
cấp sổ (trường hợp chưa được cấp sổ thì việc xác định hộ nghèo theo quy định của
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội) thì việc hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định
sản xuất cho những hộ gia đình, cá nhân này được tính một lần cho mỗi hộ, cụ thể
như sau:
- Trường hợp bị giải tỏa từ 50%
trở lên trên tổng số diện tích đất mà hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng: Mức hỗ
trợ từ 15.000.000 đồng trở lên/hộ
- Trường hợp bị giải tỏa dưới
50% trên tổng số diện tích đất diện tích đất mà hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng:
Mức hỗ trợ từ 10.000.000 đồng trở lên/hộ.
Tùy theo tính chất quy mô của từng
dự án, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng, phối hợp với Chủ dự
án và chính quyền địa phương thống nhất mức hỗ trợ cụ thể, nhưng không được thấp
hơn mức hỗ trợ trên đây.
Điều 32. Hỗ
trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm
Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản
xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi từ một hay nhiều dự án có tổng diện tích
thu hồi trên 30% diện tích đất sản xuất nông nghiệp mà không được Nhà nước bồi
thường bằng đất nông nghiệp (giao đất nông nghiệp tái định canh) thì được hỗ trợ
chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm theo quy định sau đây:
1. Những thành viên trong hộ gia
đình còn trong độ tuổi lao động trực tiếp sản xuất nông nghiệp được hỗ trợ đào
tạo chuyển đổi nghề nghiệp; mức hỗ trợ là 5.000.000 đồng/lao động. Trường hợp hộ
gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi dưới 30%
diện tích đất sản xuất nông nghiệp, nhưng diện tích đất bị thu hồi trên 1.000m2
thì được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho 01 lao động theo mức 5.000.000 đồng.
Việc hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp được thực hiện chủ yếu bằng hình thức
cho đi học nghề tại các cơ sở dạy nghề.
2. Những hộ gia đình, cá nhân
không trực tiếp sản xuất nông nghiệp mà cho người khác thuê để sản xuất nông
nghiệp thì khi bị thu hồi đất nông nghiệp không được hỗ trợ chuyển đổi nghề.
Người thuê đất và trực tiếp sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp, tùy từng trường
hợp cụ thể được xem xét hỗ trợ chuyển đổi nghề theo quy định tại khoản 1 Điều
này.
3. Lao động bị thu hồi đất sản
xuất được ưu tiên vay vốn ưu đãi từ Quỹ Quốc gia hỗ trợ việc làm, Quỹ việc làm
của tỉnh để giải quyết việc làm, đào tạo nghề ngắn hạn, học ngoại ngữ và giáo dục
định hướng để đi xuất khẩu lao động; được ưu tiên tuyển dụng hoặc hợp đồng gia
công tại nhà cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn. Giao UBND cấp huyện
phối hợp với Sở Lao động – Thương binh và Xã hội giải quyết.
4. Các Nhà đầu tư có trách nhiệm
làm việc với cơ quan quản lý nhà nước về lao động việc làm tại địa phương để thực
hiện việc đào tạo nghề; đồng thời cam kết sử dụng, giải quyết việc làm cho lao
động bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp trong vùng dự án.
Điều 33. Hỗ
trợ khi thu hồi đất công ích của xã, phường, thị trấn
1. Trường hợp đất thu hồi thuộc
quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn hoặc do Nhà nước trực tiếp quản lý (đất
công trình công cộng, đất nông nghiệp, đất kênh rạch tự nhiên, đất kênh, mương
thủy lợi,…..) thì được hỗ trợ 100% theo mức giá đất cùng loại do UBND tỉnh quy
định. Số tiền hỗ trợ này được nộp vào ngân sách Nhà nước (Kho Bạc Nhà nước cấp
huyện hoặc Kho Bạc Nhà nước tỉnh Lâm Đồng) và được ưu tiên đưa vào dự toán ngân
sách hàng năm của xã, phường, thị trấn để đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng,
sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn.
2. Đối với các dự án đầu tư bằng
nguồn vốn thuộc ngân sách tỉnh hoặc ngân sách cấp huyện thì không phải tính hỗ
trợ khi thu hồi đất công ích của xã, phường, thị trấn quản lý; các dự án khác
phải tính hỗ trợ theo quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 34. Hỗ
trợ khác
1. Hỗ trợ tiền thuê nhà ở:
a) Người bị thu hồi nhà ở, không
còn chỗ ở nào khác, trong thời gian chờ tạo lập chỗ ở mới thì được bố trí vào
nhà ở tạm cư; trường hợp không có nhà ở tạm cư để bố trí được hỗ trợ tiền thuê
nhà ở.
Thời gian và mức hỗ trợ trong
trường hợp không có nhà ở tạm cư để bố trí, cụ thể như sau:
- Hỗ trợ mức 500.000 đồng/tháng/hộ
cho các hộ có từ 01 đến 02 nhân khẩu trong thời gian 12 tháng tính từ thời điểm
bàn giao mặt bằng theo thời gian quy định của dự án;
- Hỗ trợ mức 200.000 đồng/tháng/khẩu
cho các hộ có từ 03 nhân khẩu trở lên trong thời gian 12 tháng tính từ thời điểm
bàn giao mặt bằng theo thời gian quy định của dự án
Nếu thời gian bố trí tái định cư
kéo dài trên 12 tháng, UBND cấp huyện phê duyệt bổ sung chi phí hỗ trợ thuê nhà
cho phù hợp với thực tế mà người thuộc diện tái định cư phải thuê nhà; nếu bố
trí tái định cư thực hiện trước 12 tháng thì không thu hồi số tiền đã chi của
thời gian chênh lệch đó. Chi phí bổ sung hỗ trợ thuê nhà ở trong trường hợp này
do chủ dự án chi trả.
b) Đối với trường hợp giải tỏa một
phần nhà ở, phần còn lại tiếp tục sử dụng nhưng phải sửa chữa và phải có chỗ ở
tạm thời khi sửa chữa nhà ở thì được hỗ trợ tiền thuê nhà trong thời gian 03
tháng theo mức tương ứng quy định tại điểm a khoản 1 Điều này.
c) Các trường hợp được bố trí
tái định cư bằng nhà ở (kể cả những trường hợp được bố trí thuê nhà ở thuộc sở
hữu Nhà nước và các trường hợp được bố trí vào nhà ở tạm cư), nếu quỹ nhà của
Nhà nước đã có để bố trí ngay sau khi các hộ gia đình, cá nhân bị di dời, giải
tỏa thì chỉ tính hỗ trợ di chuyển chỗ ở, không tính hỗ trợ tiền thuê nhà ở.
2. Hỗ trợ đối với gia đình chính
sách
Đối với gia đình chính sách (có
giấy chứng nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền) khi phải di chuyển chỗ ở hoặc
bị giải tỏa một phần nhà ở phần còn lại tiếp tục sử dụng nhưng phải sửa chữa và
phải có chỗ ở tạm thời khi sửa chữa nhà ở thì được hỗ trợ thêm như sau:
- Gia đình có Bà Mẹ Việt Nam Anh
hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân: 5.000.000 đồng/hộ.
- Gia đình thương binh, bệnh
binh, gia đình Liệt sĩ (cha mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ): hộ gia đình neo
đơn, già yếu khó khăn: 3.000.000 đồng/hộ.
- Gia đình có công với Cách mạng,
gia đình Cách mạng lão thành, và các đối tượng đang hưởng trợ cấp xã hội thường
xuyên khác: 2.000.000 đồng/hộ.
Trường hợp trong một hộ gia đình
có nhiều đối tượng chính sách được hưởng như nêu trên thì chỉ tính một mức hỗ
trợ của đối tượng có mức hỗ trợ cao nhất.
3. Khen thưởng:
Những hộ gia đình, cá nhân là chủ
sử dụng đất bị thu hồi, di chuyển và bàn giao mặt bằng đúng kế hoạch, đúng thời
gian hoặc trước thời gian quy định của dự án thì được khen thưởng một khoản tiền
tùy theo tổng số tiền được bồi thường, hỗ trợ, cụ thể như sau:
- Tổng số tiền được bồi thường,
hỗ trợ dưới 2 triệu đồng: số tiền được thưởng bằng số tiền được bồi thường, hỗ
trợ;
- Tổng số tiền được bồi thường,
hỗ trợ từ 2 triệu đồng đến dưới 5 triệu đồng: số tiền được thưởng là 2 triệu đồng;
- Tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ
từ 5 triệu đồng đến dưới 10 triệu đồng: số tiền được thưởng là triệu đồng;
- Tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ
từ 10 triệu đồng đến dưới 20 triệu đồng: số tiền được thưởng là 4 triệu đồng;
- Tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ
từ 20 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng: số tiền được thưởng là 6 triệu đồng;
- Tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ
từ 50 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng: số tiền được thưởng là 8 triệu đồng;
- Tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ
từ 100 triệu đồng trở lên; số tiền được thưởng là 10 triệu đồng;
Mức khen thưởng nêu trên chỉ
tính một lần cho mỗi hộ gia đình, cá nhân bị di dời, giải tỏa theo từng dự án.
Việc chi thưởng này do Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường phối hợp với Nhà đầu tư,
lãnh đạo chính quyền, mặt trận, đoàn thể cấp xã và đại diện của nhân dân họp
bình xét công khai, dân chủ sau khi người bị thu hồi đất bàn giao (hoặc cam kết
bàn giao) mặt bằng đúng hoặc trước thời gian quy định của dự án, trình Chủ tịch
UBND cấp huyện phê duyệt.
4. Trong trường hợp đã áp dụng
các khoản hỗ trợ theo quy định mà người bị thu hồi đất có cuộc sống đặc biệt
khó khăn, thì tùy theo từng trường hợp cụ thể, UBND cấp huyện quyết định biện
pháp và mức hỗ trợ (đối với dự án do UBND cấp huyện phê duyệt chi phí bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư) hoặc đề xuất UBND tỉnh xem xét quyết định (đối với dự án
do UBND tỉnh phê duyệt chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư), để đảm bảo ổn
định đời sống và sản xuất cho người bị thu hồi đất. Tiền hỗ trợ thêm do người
được Nhà nước giao đất, thuê đất chi trả; đối với đất thu hồi theo quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất nhưng chưa có dự án sử dụng đất, thì Tổ chức sử dụng quỹ đất
phải đứng ra chi trả.
Chương 5.
TÁI ĐỊNH CƯ
Điều 35. Lập
và thực hiện dự án tái định cư
1. Căn cứ vào kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội của địa phương, căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được
cấp có thẩm quyền phê duyệt, giao UBND cấp huyện (đối với các dự án đầu tư bằng
vốn Ngân sách nhà nước, các dự án nhỏ lẻ) và nhà đầu tư (đối với các dự án còn
lại) lập và thực hiện dự án tái định cư như sau:
- Lập dự án và tổ chức thực hiện
dự án đầu tư xây dựng các khu tái định cư theo mô hình khu tái định cư tập
trung hoặc khu tái định cư phân tán, xen cư phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất tại địa phương và phải bảo đảm đủ đất để phục vụ tái định cư cho người
bị thu hồi đất di chuyển chỗ ở.
- Quy hoạch tái định cư phải đồng
bộ về cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, phải tính đến các yếu tố về phong tục, tập
quán sản xuất và bản sắc văn hóa của từng vùng, miền. Khu tái định cư phải đảm
bảo đủ điều kiện về hạ tầng thiết yếu như điện, nước, giao thông đi lại… cho
người được bố trí vào tái định cư.
2. Việc lập dự án và xây dựng khu
tái định cư thực hiện theo quy định hiện hành về quản lý đầu tư và xây dựng;
Điều 36. Bố
trí tái định cư
1. Cơ quan (Tổ chức) được Ủy ban
nhân dân tỉnh giao trách nhiệm bố trí tái định cư phải thông báo cho từng hộ
gia đình bị thu hồi đất, phải di chuyển chỗ ở về dự kiến phương án bố trí tái định
cư và niêm yết công khai phương án này tại trụ sở của đơn vị, trụ sở Ủy ban
nhân dân cấp xã nơi có đất bị thu hồi và tại nơi tái định cư trong thời gian 20
ngày trước khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án bố trí tái định
cư; đồng thời tạo điều kiện cho các hộ gia đình, cá nhân thuộc diện tái định
cư vào khu tái định cư để xem xét cụ thể về nơi tái định cư của mình và thảo luận
công khai về dự kiến bố trí các hộ, gia đình vào tái định cư.
Nội dung thông báo về dự kiến
phương án bố trí tái định cư, gồm:
a) Địa điểm, vị trí, quy mô quỹ
đất, quỹ nhà tái định cư, thiết kế, diện tích từng lô đất, căn hộ, giá nhà ở,
giá đất ở tái định cư;
b) Dự kiến bố trí các hộ gia
đình, cá nhân vào khu tái định cư.
2. Tổ chức thực hiện bố trí tái
định cư:
a) Đối với những dự án lớn: Ưu
tiên bố trí tái định cư tại các khu tái định cư tập trung
b) Đối với các dự án khác: Tùy
theo tình hình thực tế, việc bố trí tái định cư được thực hiện bố trí tại các
khu tái định cư tập trung hoặc khu tái định cư phân tán, xen cư cho phù hợp với
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại địa phương.
c) Về thứ tự ưu tiên bố trí tái
định cư:
- Đối với dự án Khu dân cư, khu
đô thị và khu tái định cư: trước hết phải quy hoạch bố trí quỹ đất ở thuận lợi
nhất để tái định cư tại chỗ cho các hộ gia đình, cá nhân bị giải tỏa của dự án
đó; bố trí tái định cư cho các hộ gia đình, cá nhân bị giải tỏa từ các dự án
khác vào quỹ đất ở theo quy hoạch trong dự án được cơ quan có thẩm quyền chấp
thuận.
- Việc bố trí tái định cư trong
các trường hợp còn lại thực hiện theo nguyên tắc: ưu tiên cho hộ gia đình, cá
nhân chấp hành tốt công tác giải phóng mặt bằng, hộ bị thu hồi nhiều đất, hộ
gia đình chính sách.
Trong trường hợp nhiều hộ gia
đình có chung nguyện vọng chọn lựa cùng địa điểm vị trí nhà ở, đất ở tại khu
tái định cư thì việc xét bố trí dựa theo tiêu chuẩn ưu tiên thứ tự như sau:
+ Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi
đất tại nơi xây dựng khu dân cư;
+ Ưu tiên vị trí thuận lợi cho
các hộ sớm di dời, bàn giao mặt bằng trước thời hạn;
+ Hộ có vị trí thuận lợi nơi cũ;
+ Hộ có diện tích đất ở bị thu hồi
lớn hơn;
+ Hộ gia đình chính sách.
+ Trường hợp không thể xét chọn
theo các tiêu chuẩn trên thì tổ chức bốc thăm ngẫu nhiên, công khai có mặt của
các hộ gia đình, cá nhân bị ảnh hưởng bởi dự án được bố trí tái định cư;
3. Các hộ gia đình, cá nhân thuê
nhà, mua nhà, nhận đất ở mới tại khu tái định cư phải trả tiền thuê nhà, tiền
mua nhà, nộp tiền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật. Giá cho thuê
nhà, giá bán nhà tái định cư và giá đất tái định cư thực hiện theo mức giá do
UBND tỉnh quy định và theo nguyên tắc: giá đất để tính bồi thường, hỗ trợ và
giá đất tái định cư là giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi đất do UBND
tỉnh ban hành và công bố vào ngày 01 tháng 01 hàng năm theo quy định của Chính
phủ; trường hợp giá đất để tính bồi thường, hỗ trợ được điều chỉnh theo quy định
tại điểm b khoản 1 Điều 8 của Quy định này thì giá đất tái định cư cũng phải được
điều chỉnh theo cho phù hợp (Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng
có trách nhiệm phối hợp với chủ đầu tư kiểm tra, đề xuất và đưa vào phương án bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư, thông qua Hội đồng bồi thường của dự án để báo
cáo thẩm định, trình phê duyệt theo trình tự quy định).
4. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường,
giải phóng mặt bằng có trách nhiệm bàn giao nhà ở hoặc đất ở và Giấy chứng nhận
về quyền sử dụng đất ở, quyền sở hữu nhà ở cho người được bố trí tái định cư
trước khi giải phóng mặt bằng. Trong trường hợp có thỏa thuận giữa Tổ chức làm
nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng và người được bố trí tái định cư về việc
nhận nhà ở, đất ở tái định cư sau khi giải phóng mặt bằng thì thực hiện theo
văn bản thỏa thuận có chữ ký của cả hai bên.
Điều 37.
Các nguyên tắc bố trí tái định cư
1. Giải quyết bố trí tái định cư
bằng đất ở hoặc nhà ở chung cư cho các hộ gia đình, cá nhân là chủ sử dụng nhà ở,
đất ở bị thu hồi, giải tỏa phải di chuyển chỗ ở như sau:
a) Đối với các hộ chính có từ ba
thế hệ trở lên cùng chung sống và có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ hộ chính được
cấp trước thời điểm quy hoạch thì giao 01 lô đất ở và 01 căn hộ chung cư (đối với
địa bàn thành phố Đà lạt) hoặc 02 lô đất ở (đối với các địa bàn còn lại).
b) Đối với hộ giải tỏa có nhiều
gia đình chung sống trong một thửa đất (trong 1 nhà) không thuộc vào diện ba thế
hệ cùng chung sống thì giao 01 lô đất ở cho hộ chính và mỗi hộ có hộ khẩu riêng
biệt còn lại 01 căn hộ chung cư (đối với địa bàn thành phố Đà Lạt) hoặc 01 lô đất
ở (đối với các địa bàn còn lại).
2. Đối với việc thu hồi đất để
quy hoạch khu dân cư:
a) Các hộ gia đình, cá nhân có
nhà đất sau khi điều chỉnh diện tích phù hợp với quy hoạch, diện tích đất ở còn
lại (ngoài diện tích đất ở đã điều chỉnh cho phù hợp với quy hoạch) bị thu hồi
mà trong giấy tờ hợp pháp, hợp lệ ghi rõ diện tích đất ở thì được xem xét giao
thêm đất ở, nhưng diệt tích đất ở được giao thêm ngoài diện tích đất đã điều chỉnh
cho phù hợp với quy hoạch tối đa không quá 30% diện tích đất ở vượt hạn mức
theo giấy tờ hợp pháp, hợp lệ tại khu quy hoạch;
b) Các hộ gia đình, cá nhân bị
giải tỏa toàn bộ nhà ở, đất ở (do không thể điều chỉnh phù hợp với quy hoạch được)
mà trong giấy tờ hợp pháp, hợp lệ ghi rõ diện tích đất ở; ngoài việc được giao
đất tái định cư theo quy định, nếu diện tích đất ở trong giấy tờ hợp pháp, hợp
lệ bị thu hồi lớn hơn hạn mức đất ở thì được xem xét giao thêm đất ở, nhưng diện
tích đất ở được giao thêm (ngoài diện tích đất tái định cư được giao theo quy định)
tối đa không quá 30% diện tích đất ở vượt hạn mức theo giấy tờ hợp pháp, hợp lệ
bị thu hồi tại khu quy hoạch;
c) Hộ gia đình, cá nhân có đất sản
xuất nông nghiệp được bồi thường và có tên trong danh sách kèm theo quyết định
thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, mà diện tích được bồi thường
trên 1.000m2 tại khu quy hoạch dân cư thì được xem xét giao đất ở tại
khu quy hoạch tối đa bằng 10% so diện tích đất sản xuất nông nghiệp được bồi
thường cho hộ gia đình, cá nhân đó; mức giao cụ thể do UBND cấp huyện quyết định
cho phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương.
d) Hộ gia đình, cá nhân có đất sản
xuất nông nghiệp được bồi thường và có tên trong danh sách kèm theo quyết định
thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, mà diện tích được bồi thường dưới
1.000m2 tại khu quy hoạch dân cư, nếu hộ gia đình, cá nhân đó không
còn nơi ở nào khác thì được xem xét bố trí tái định cư.
e) Hộ gia đình, cá nhân có đất sản
xuất nông nghiệp được bồi thường và có tên trong danh sách kèm theo quyết định
thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, được xem xét giao đất tái định
cư nêu tại điểm d khoản 2 của Điều này theo cơ chế hai giá. Trong đó đối với diện
tích đất được giao thuộc 10% diện tích đất sản xuất nông nghiệp được tính theo
giá đất tái định cư; phần diện tích ngoài 10% diện tích đất sản xuất nông nghiệp
tính theo giá đất thị trường.
3. UBND cấp huyện có trách nhiệm
xây dựng khu tạm cư để bố trí nơi ở tạm cho những hộ thuộc đối tượng tái định
cư mà chưa thuê được nhà ở trong thời gian chờ bố trí tái định cư. Sau khi đã
hoàn thành việc bố trí tái định cư, UBND cấp huyện có trách nhiệm thu hồi căn hộ
tạm cư đã bố trí để tiếp tục sử dụng cho các dự án khác.
Điều 38. Đối
tượng thuộc diện di dời, giải tỏa được bố trí tái định cư
1. Đối tượng có yêu cầu tái định
cư, được bố trí tái định cư bằng đất ở, bao gồm:
a) Hộ gia đình, cá nhân là chủ sử
dụng nhà ở, đất ở bị thu hồi, giải tỏa toàn bộ phải di chuyển đến nơi khác, có
giấy tờ hợp pháp hoặc không có giấy tờ hợp pháp về quyền sở hữu nhà ở và quyền
sử dụng đất ở nhưng đủ điều kiện được bồi thường về đất ở (theo quy định tại Điều
7 của Quy định này);
b) Hộ gia đình, cá nhân quy định
tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều 37 của Quy định này;
c) Hộ gia đình, cá nhân đang sản
xuất nông nghiệp (đủ điều kiện bồi thường về đất sản xuất nông nghiệp và có tên
trong danh sách kèm theo quyết định thu hồi đất) bị thu hồi trên 1.000m2
tại khu quy hoạch dân cư;
d) Hộ gia đình, cá nhân đang sản
xuất nông nghiệp (đủ điều kiện bồi thường về đất sản xuất nông nghiệp và có tên
trong danh sách kèm theo quyết định thu hồi đất) bị thu hồi dưới 1.000m2
tại khu quy hoạch dân cư nhưng không còn nơi ở nào khác.
c) Hộ gia đình, cá nhân đang sản
xuất nông nghiệp (đủ điều kiện bồi thường về đất sản xuất nông nghiệp và có tên
trong danh sách kèm theo quyết định thu hồi đất) bị thu hồi dưới 1.000m2
tại khu quy hoạch dân cư thuộc trung tâm đô thị và có khó khăn về nhà ở.
2. Đối tượng có yêu cầu tái định
cư, được bố trí tái định cư bằng căn hộ chung cư, bao gồm:
a) Hộ gia đình, cá nhân có hợp đồng
thuê nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước, sau khi bị giải tỏa nhà ở, không còn chỗ ở
nào khác;
b) Hộ gia đình, cá nhân được các
cơ quan, đơn vị quân đội, tổ chức, trường học bố trí vào ở trong khu nhà tập thể,
hoặc nhà trước đây là nhà làm việc, nhà kho, nhà xưởng do tự bố trí vào ở trước
15/10/1993, sau khi bị giải tỏa nhà ở, không còn chỗ ở nào khác;
c) Các trường hợp được bố trí
tái định cư bằng căn hộ chung cư theo quy định tại khoản a, khoản b điểm 1 Điều
37 của Quy định này.
3. Ngoài những đối tượng quy định
tại khoản 1, khoản 2 Điều này những trường hợp đang sử dụng nhà ở và đất ở bị
thu hồi giải tỏa và không thuộc đối tượng được bồi thường đất ở phải di chuyển
mà không còn nơi ở nào khác thì tùy từng trường hợp UBND cấp huyện xem xét, giải
quyết, hoặc báo cáo, đề xuất cấp có thẩm quyền cho thuê nhà ở, mua nhà ở hoặc
giao đất ở mới tại khu tái định cư. Người được thuê nhà, mua nhà, được giao đất
trong trường hợp này phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước
theo quy định hiện hành.
Điều 39.
Các chính sách ưu đãi đối với những trường hợp thuộc diện bố trí tái định cư.
1. Được ưu tiên cấp giấy phép
xây dựng theo quy định, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được thực
hiện các quyền theo quy định của pháp luật về đất đai; được miễn nộp chi phí
thiết kế mẫu nhà, lệ phí địa chính, lệ phí cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà
ở và quyền sử dụng đất ở. Đối với chi phí thiết kế mẫu nhà, lệ phí địa chính, lệ
phí cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở do chủ dự án
sử dụng đất chi trả và hạch toán vào giá trị công trình.
2. Các hộ gia đình, cá nhân nằm
trong khu vực giải tỏa để triển khai các dự án, nếu diện tích đất còn lại phù hợp
với quy hoạch dân cư và phù hợp với các quy định hiện hành, được chuyển mục
đích sử dụng từ đất nông nghiệp sang đất ở hoặc điều chỉnh giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất theo giấy tờ hợp pháp.
3. Các hộ gia đình, cá nhân được
hưởng chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất theo quyết định của Thủ tướng
Chính phủ hoặc hộ nghèo (theo quy định của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội),
nhưng chưa được hưởng chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất thì được hưởng quyền
khấu trừ vào tiền sử dụng đất đối với tổng số tiền miễn, giảm mà Hội đồng xét
duyệt cấp tỉnh xét duyệt và được UBND tỉnh Lâm Đồng phê duyệt.
4. Đối với dự án đầu tư thủy điện,
nhà đầu tư phải chịu trách nhiệm xây dựng nhà tái định cư cho các hộ đồng bào
dân tộc thiểu số và hộ nghèo; diện tích nhà tái định cư tối thiểu 40m2/hộ
(có công trình phụ). Nếu giá trị nhà cửa bị giải tỏa cao hơn giá trị căn nhà bố
trí tái định cư thì chủ đầu tư chi trả cho người được bồi thường, hỗ trợ khoản
tiền chênh lệch đó; trường hợp giá trị thiệt hại của nhà cửa bị giải tỏa thấp
hơn giá trị căn nhà bố trí tái định cư thì không đặt vấn đề thu hồi khoản tiền
chênh lệch đó.
5. Chậm nộp tiền sử dụng đất và
cho nợ tiền sử dụng đất:
a) Hộ gia đình, cá nhân bị di dời,
giải tỏa chỗ ở được Nhà nước bố trí đất tái định cư mà có nguyện vọng chậm nộp
tiền sử dụng đất đối với diện tích đất tái định cư thì được ghi “nợ tiền sử dụng
đất” trên Giấy chứng nhận theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP .
Giá đất tại thời điểm trả nợ là
giá đất do UBND tỉnh ban hành và công bố hàng năm theo quy định của Chính phủ,
cộng (+) chi phí đầu tư hạ tầng kỹ thuật (nếu có), nhưng không thấp hơn giá đất
tại thời điểm thanh toán lần đầu.
b) Người được giao đất tái định
cư được ghi “nợ tiền sử dụng đất” trên Giấy chứng nhận chỉ được thực hiện giao
dịch về quyền sử dụng đất khi đã nộp đủ tiền sử dụng đất đối với toàn bộ diện
tích đất ghi “nợ tiền sử dụng đất” (trừ trường hợp thừa kế quyền sử dụng đất và
người được thừa kế tiếp tục nhận “nợ tiền sử dụng đất”).
c) Giao UBND cấp huyện chỉ đạo
Phòng Tài nguyên và Môi trường lập Hợp đồng thanh toán tiền sử dụng đất đối với
những trường hợp ghi “nợ tiền sử dụng đất”; đồng thời phối hợp với các cơ quan
chuyên môn cấp huyện xác định giá đất tại thời điểm thanh toán nợ và khoản xử
phạt (nếu có) theo quy định của pháp luật khi đến hạn thanh toán theo Hợp đồng
đã ký kết.
6. Để khuyến khích các đối tượng
thuộc diện được bố trí tái định cư nhưng tự lo chỗ ở, không yêu cầu bố trí tái
định cư; áp dụng thêm mức hỗ trợ (ngoài các quy định chung nêu trên) bằng 30%
trên giá trị quyền sử dụng đất ở (nếu thuộc diện được giao đất ở tái định cư)
hoặc 20% trên giá trị giao quyền sở hữu căn hộ chung cư (nếu thuộc diện được bố
trí tái định cư ở căn hộ chung cư) theo mức giá bình quân tại khu tái định cư
và tiêu chuẩn được bố trí tái định cư (không tính phần giá trị diện tích đất được
giao thêm tính theo giá thị trường). Kinh phí hỗ trợ do chủ dự án chi trả và hạch
toán vào giá trị công trình.
7. Hỗ trợ sản xuất và đời sống tại
khu tái định cư: Mức hỗ trợ 5.000.000 đồng/ hộ thuộc diện được tái định cư.
Điều 40.
Tái định canh (giao đất sản xuất nông nghiệp)
1. Trường hợp trên địa bàn các
huyện, thành phố Đà Lạt, thị xã Bảo Lộc có quỹ đất để bố trí tái định canh thì
phải có phương án bố trí tái định canh cho các hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản
xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất sản xuất nông nghiệp. Khi bố trí tái
định canh (giao đất sản xuất nông nghiệp mới) cho từng hộ gia đình, cá nhân thì
việc tính toán bồi thường đối với diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi được thực
hiện theo điểm 4.2 Phần II Thông tư số 116/2004/TT-BTC .
Những hộ gia đình có nhiều thành
viên còn trong độ tuổi lao động trực tiếp sản xuất nông nghiệp, sau khi được bố
trí tái định canh (giao đất sản xuất nông nghiệp mới) mà vẫn còn những thành
viên còn trong độ tuổi lao động dôi dư (được tính toán trên cơ sở diện tích đất
nông nghiệp được bố trí tái định canh và định mức đất sản xuất nông nghiệp bình
quân/1 lao động của địa phương) thì những thành viên trong độ tuổi lao động trực
tiếp sản xuất nông nghiệp còn dôi dư này được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và
tạo việc làm theo quy định tại Điều 32 Quy định này.
2. Trường hợp trên địa bàn các
huyện, thành phố Đà Lạt, thị xã Bảo Lộc không có quỹ đất để bố trí tái định
canh: giao UBND cấp huyện phối hợp cùng Chủ đầu tư có trách nhiệm xây dựng
phương án đào tạo nghề, giải quyết việc làm theo quy định tại khoản 3, khoản 4
Điều 32 Quy định này. Kinh phí đào tạo nghề, bố trí việc làm do chủ đầu tư chi
trả và được xác định vào chi phí đầu tư của dự án.
Chương 6.
LẬP, THẨM ĐỊNH, XÉT DUYỆT
PHƯƠNG ÁN BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ
Điều 41. Lập
và hoàn chỉnh phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trình thẩm
định.
1. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường,
giải phóng mặt bằng (có sự tham gia của đại diện chủ đầu tư) lập phương án tổng
thể về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (sau đây gọi là phương án tổng thể)
trên cơ sở số liệu, tài liệu hiện có do cơ quan Tài nguyên và Môi trường cung cấp.
Phương án tổng thể có các nội dung chính sau (theo quy định tại khoản 1 Điều 51
Nghị định số 84/2007/NĐ-CP của Chính phủ):
- Các căn cứ để lập phương án;
- Số liệu tổng hợp về diện tích
các loại đất, hạng đất đối với đất nông nghiệp, số tờ bản đồ, số thửa; giá trị
ước tính của tài sản hiện có trên đất;
- Số liệu tổng hợp về số hộ, số
nhân khẩu, số lao động trong khu vực thu hồi đất, trong đó nêu rõ số lao động
phải chuyển đổi nghề nghiệp, số hộ phải tái định cư;
- Dự kiến mức bồi thường, hỗ trợ
và dự kiến địa điểm, diện tích đất khu vực tái định cư hoặc nhà ở tái định cư,
phương thức tái định cư;
- Dự kiến biện pháp trợ giúp giải
quyết việc làm và kế hoạch đào tạo chuyển đổi ngành nghề;
- Danh mục các công trình và quy
mô các công trình của Nhà nước, của tổ chức, của cơ sở tôn giáo, của cộng đồng
dân cư phải di dời và dự kiến địa điểm để di dời;
- Số lượng mồ mả phải di dời và
dự kiến địa điểm để di dời;
- Dự toán kinh phí thực hiện
phương án;
- Nguồn kinh phí thực hiện
phương án;
- Tiến độ thực hiện phương án;
2. Các hồ sơ, văn bản kèm theo
phương án trình thẩm định, gồm có:
- Tờ trình đề nghị thẩm định
phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư;
- Văn bản về chủ trương thu hồi
đất (đối với trường hợp thu hồi đất theo quy hoạch) hoặc văn bản chấp thuận địa
điểm đầu tư (đối với trường hợp thu hồi đất theo dự án);
- Quyết định phê duyệt dự án đầu
tư (trong đó đã xác định nguồn kinh phí chỉ trả bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư); hoặc kế hoạch phân bổ kinh phí cho công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư của cơ quan có thẩm quyền (đối với các dự án sử dụng nguồn ngân sách địa
phương); hoặc văn bản xác định nguồn kinh phí để thực hiện chi trả tiền bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư (đối với dự án mà Nhà đầu tư ứng trước vốn chi trả tiền bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư);
- Các tài liệu, hồ sơ khác có
liên quan.
Điều 42. Kê
khai, kiểm kê và xác định nguồn gốc đất đai
Thực hiện theo quy định tại Điều
55 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP .
Điều 43. Lập
và hoàn chỉnh phương án cụ thể về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trình thẩm
định.
1. Lập phương án, lấy ý kiến và
hoàn chỉnh phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư:
a) Lập phương án bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư:
Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường,
giải phóng mặt bằng (có sự tham gia của đại diện chủ đầu tư và đại diện của những
hộ có đất bị thu hồi) có trách nhiệm lập và trình phương án cụ thể về bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư (sau đây gọi là phương án bồi thường). Phương án bồi thường
có các nội dung chính sau (theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Nghị định số
84/2007/NĐ-CP của Chính phủ):
- Tên, địa chỉ của người bị thu
hồi đất;
- Diện tích, loại đất, hạng đất
(đối với đất nông nghiệp), vị trí, nguồn gốc của đất bị thu hồi; số lượng, khối
lượng, tỷ lệ phần trăm chất lượng còn lại của tài sản bị thiệt hại;
- Các căn cứ tính toán số tiền bồi
thường, hỗ trợ như: giá đất tính bồi thường, giá nhà, công trình tính bồi thường,
số nhân khẩu, số lao động trong độ tuổi, số lượng người được hưởng trợ cấp xã hội;
- Số tiền bồi thường, hỗ trợ;
- Việc di dời các công trình của
Nhà nước, của tổ chức, của cơ sở tôn giáo, của cộng đồng dân cư (nếu có);
- Việc di dời mồ mả (nếu có);
- Việc bố trí tái định cư, trong
đó: nêu rõ nguyên tắc, đối tượng, địa điểm bố trí tái định cư, đơn giá đất bố
trí tái định cư, tổng số hộ gia đình, cá nhân được bố trí tái định cư (kèm theo
danh sách các hộ gia đình, cá nhân được bố trí tái định cư). Ngoài ra đối với
những dự án thu hồi đất sản xuất nông nghiệp phải thực hiện hỗ trợ chuyển đổi
nghề nghiệp và tạo việc làm cho những thành viên trong độ tuổi lao động trực tiếp
sản xuất nông nghiệp, thì trong phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phải
nêu rõ việc đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho những thành viên này.
b) Lấy ý kiến về phương án bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư:
Sau khi lập xong phương án bồi
thường, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường giải phóng mặt bằng có trách nhiệm lấy
ý kiến về phương án bồi thường. Phương thức, địa điểm, thời gian lấy ý kiến, thực
hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 56 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP của Chính phủ.
c) Hoàn chỉnh phương án bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư trình thẩm định:
- Hết thời hạn niêm yết và tiếp
nhận ý kiến, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường giải phóng mặt bằng có trách
nhiệm hoàn chỉnh phương án bồi thường theo quy định tại khoản 3 Điều 56 Nghị định
số 84/2007/NĐ-CP của Chính phủ;
- Phương án hoàn chỉnh trình thẩm
định là phương án phải đảm bảo đầy đủ các nội dung và số liệu về bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư, về việc đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho những lao động
trực tiếp sản xuất nông nghiệp. Trường hợp trong quá trình hoàn chỉnh phương án
bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, nếu có những chế độ chính sách, đơn giá đất,
giá tài sản tính bồi thường, hỗ trợ phát sinh thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường,
giải phóng mặt bằng có trách nhiệm báo cáo cơ quan chức năng liên quan giải quyết
theo thẩm quyền hoặc trình UBND tỉnh quyết định trước khi hoàn chỉnh phương án
trình thẩm định.
2. Các hồ sơ, văn bản kèm theo
Phương án bồi thường trình thẩm định, gồm có:
- Tờ trình đề nghị thẩm định
phương án bồi thường;
- Quyết định thu hồi đất (bao gồm:
Quyết định của UBND tỉnh Lâm Đồng về việc thu hồi chung đối với toàn bộ các thửa
đất của khu đất để phục vụ dự án và Quyết định của UBND tỉnh Lâm Đồng hoặc của
UBND cấp huyện theo thẩm quyền về việc thu hồi đất đối với từng thửa đất);
- Quyết định phê duyệt dự án đầu
tư (trong đó đã xác định nguồn kinh phí chi trả bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư); hoặc kế hoạch phân bổ kinh phí cho công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư của cơ quan có thẩm quyền (đối với các dự án sử dụng nguồn ngân sách địa
phương); hoặc văn bản xác định nguồn kinh phí để thực hiện chi trả tiền bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư (đối với dự án mà Nhà đầu tư ứng trước vốn chi trả tiền bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư);
- Các tài liệu, hồ sơ khác có
liên quan; Biên bản ghi nhận về việc niêm yết công khai phương án bồi thường;
Văn bản của Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng về việc tổng hợp
ý kiến đóng góp đối với phương án bồi thường; Các văn bản về việc áp dụng các
chế độ chính sách, đơn giá đất, giá tài sản phát sinh (nếu có) đã được cơ quan
có thẩm quyền phê duyệt;….
Điều 44.
Phân cấp thẩm quyền phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
1. UBND tỉnh
phê duyệt phương án (bao gồm cả phương án tổng thể và phương án bồi thường cụ
thể) đối với các dự án có tổng mức bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên 20 tỷ
đồng thuộc địa bàn thành phố Đà Lạt, thị xã Bảo Lộc, huyện Đức Trọng, huyện Bảo
Lâm và đối với các dự án có tổng mức bồi thường, hỗ trợ trên 10 tỷ đồng thuộc địa
bàn các huyện còn lại trong tỉnh.
2. UBND
thành phố Đà Lạt, thị xã Bảo Lộc, huyện Đức Trọng, huyện Bảo Lâm phê duyệt
phương án (bao gồm cả phương án tổng thể và phương án bồi thường cụ thể) đối với
các dự án trên địa bàn thuộc địa phương mình có tổng mức bồi thường, hỗ trợ và
tái định cư từ 20 tỷ đồng trở xuống.
3. UBND các
huyện còn lại phê duyệt phương án (bao gồm cả phương án tổng thể và phương án bồi
thường cụ thể) đối với các dự án trên địa bàn thuộc địa phương mình có tổng mức
bồi thường, hỗ trợ và tái định cư từ 10 tỷ đồng trở xuống.
4. Đối với các dự án về lưới điện:
UBND tỉnh ủy quyền cho Chủ tịch UBND cấp huyện nơi có dự án phê duyệt các
phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (không khống chế về giá trị đền bù
của các dự án đầu tư).
Điều 45.
Trình tự tổ chức thực hiện thẩm định và trình duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư
1. Trình tự tổ chức thực hiện đối
với những dự án theo quy định phân cấp thẩm quyền quyết định phê duyệt phương
án thuộc cấp tỉnh như sau:
- Tổ chức được giao làm nhiệm vụ
bồi thường, giải phóng mặt bằng hoàn chỉnh phương án, thông qua UBND cấp huyện
trình Sở Tài chính thẩm định;
- Sở Tài chính tiếp nhận hồ sơ
(đầy đủ hợp lệ), thực hiện thẩm định phương án và trình UBND tỉnh (thông qua
Văn phòng UBND tỉnh) phê duyệt phương án. Thời gian thẩm định trình phê duyệt
phương án là mười lăm (15) ngày làm việc (đối với phương án tổng thể) và hai
mươi hai (22) ngày làm việc (đối với phương án bồi thường);
- Văn phòng UBND tỉnh trình UBND
tỉnh phê duyệt và trả hồ sơ cho Sở Tài chính. Thời gian phê duyệt và trả hồ sơ
là sáu (06) ngày làm việc (đối với phương án tổng thể) và bảy (07) ngày làm việc
(đối với phương án bồi thường);
- Sở Tài chính trả kết quả phê
duyệt phương án của UBND tỉnh cho Tổ chức được giao làm nhiệm vụ bồi thường, giải
phóng mặt bằng. Thời gian trả kết quả là một (01) ngày làm việc (đối với cả
phương án tổng thể và phương án bồi thường).
2. Trình tự tổ chức thực hiện đối
với những dự án theo quy định phân cấp thẩm quyền quyết định phê duyệt phương
án thuộc cấp huyện:
- Tổ chức được giao làm nhiệm vụ
bồi thường, giải phóng mặt bằng hoàn chỉnh phương án, thông qua Hội đồng bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là
cấp huyện) gửi Bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả cấp huyện; Bộ phận tiếp
nhận hồ sơ và trả kết quả cấp huyện chuyển Phòng Tài chính – Kế hoạch thẩm định,
thời gian là một (01) ngày làm việc (đối với cả phương án tổng thể và phương án
bồi thường);
- Phòng Tài chính – Kế hoạch thực
hiện thẩm định phương án, trả kết quả thẩm định về Bộ phận tiếp nhận hồ sơ và
trả kết quả. Thời gian thẩm định và trả kết quả là mươi lăm (15) ngày làm việc (đối
với phương án tổng thể) và hai mươi hai (22) ngày làm việc (đối với phương án bồi
thường);
- Bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả
kết quả phối hợp Văn phòng UBND cấp huyện trình phê duyệt phương án, trả kết quả.
Thời gian trình phê duyệt và trả kết quả là sáu (06) ngày làm việc (đối với
phương án tổng thể) và bảy (07) ngày làm việc (đối với phương án bồi thường);
3. Nội dung thẩm định gồm:
a) Đối với Phương án tổng thể về
bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, gồm:
- Các chính sách bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư được áp dụng; phương án bố trí tái định cư và tổng dự toán
kinh phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư;
- Nguồn kinh phí để thực hiện.
b) Đối với Phương án cụ thể về bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư, gồm:
- Việc áp dụng chính sách bồi
thường, hỗ trợ của dự án;
- Việc áp giá đất, giá tài sản để
tính bồi thường;
- Phương án bố trí tái định cư.
- Nguồn kinh phí để chi trả bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư.
Điều 46.
Chi phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
1. Kinh phí đảm bảo cho việc tổ chức
thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được trích bằng 2% trên tổng số
kinh phí bồi thường, hỗ trợ của dự án. Tỷ lệ phân chia mức kinh phí tổ chức thực
hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án được quy định như sau:
a) Chi phí cho tổ chức được giao
nhiệm vụ thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, tái định canh bằng
1,80% trên tổng giá trị bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của từng phương án.
b) Chi phí cho công tác thẩm định
phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, được tính bằng 0,20% trên tổng giá
trị bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của từng phương án.
2. Căn cứ các nội dung chi, mức
chi quy định tại khoản 1 Điều 48 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP , điểm 1 và điểm 2
Phần VII Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn
Nghị định số 197/2004/NĐ-CP , Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng
có trách nhiệm lập dự toán chi phí cho các công tác đảm bảo cho việc tổ chức thực
hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của từng dự án và thanh quyết toán với cơ
quan tài chính cung cấp theo quy định hiện hành.
Điều 47. Việc
tách nội dung bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thành tiểu dự án riêng và trách
nhiệm tổ chức thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với dự án đầu
tư thuộc các Bộ, ngành.
1. Thực hiện theo quy định tại
Điều 62 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP .
2. Về lập, thẩm định, xét duyệt
phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với các tiểu dự án thực hiện
theo quy định tại Điều 41, Điều 42, Điều 43, Điều 44, Điều 45 Quy định này.
Chương 7.
PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ CHO
CÁC CẤP, CÁC NGÀNH, ĐƠN VỊ, THỰC HIỆN CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH
CƯ
MỤC 1. NHÀ NƯỚC
THU HỒI ĐẤT VÀ THỰC HIỆN BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ
Điều 48.
Giao nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ và tái định cư
Ủy ban nhân dân tỉnh giao việc
thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ và tái định cư cho Hội
đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cấp huyện và các Tổ chức làm nhiệm vụ bồi
thường, giải phóng mặt bằng. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng
gồm có: Ban bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cấp huyện (nơi chưa thành lập đơn
vị này thì Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cấp huyện thực hiện công
tác bồi thường, giải phóng mặt bằng); Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh Lâm Đồng,
Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố Đà Lạt.
- Trách nhiệm của Hội đồng bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư cấp huyện thực hiện theo quy định tại Điều 40 Nghị
định số 197/2004/NĐ-CP .
- Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh
Lâm Đồng và Trung tâm Phát triển quỹ đất cấp huyện thực hiện theo chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn được giao theo quyết định thành lập.
Điều 49.
Ban chỉ đạo công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, tái định cư.
Đối với những dự án đầu tư có
quy mô lớn, hoặc dự án thu hồi đất có liên quan đến từ hai huyện (thị xã, thành
phố) trở lên, nếu xét thấy cần thiết thì UBND tỉnh quyết định thành lập Ban chỉ
đạo để thực hiện việc chỉ đạo những việc liên quan đến bồi thường, giải phóng mặt
bằng của dự án, thành phần gồm:
- Lãnh đạo UBND tỉnh: Trưởng
ban;
- Lãnh đạo UBND cấp huyện, nơi
có đất bị thu hồi: Phó ban Thường trực;
- Đại diện Lãnh đạo Sở Tài
chính: Phó ban;
- Đại diện lãnh đạo các Sở: Tài
nguyên và Môi trường, Lao động – Thương binh và Xã hội, Xây dựng, Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn, Cục Thuế tỉnh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh
và Lãnh đạo UBND cấp xã nơi có đất bị thu hồi: Thành viên
Tùy theo từng dự án đầu tư, Trưởng
ban chỉ đạo mời thêm lãnh đạo các ngành khác có liên quan tham gia là thành
viên của Ban chỉ đạo.
Điều 50.
Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp
Thực hiện theo quy định tại Điều
43 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ; và các quy định cụ thể về trách nhiệm của UBND
các cấp tại các điều, khoản của Chương IV Nghị định số 84/2007/NĐ-CP .
Điều 51. Trách
nhiệm của các Sở, Ban, Ngành cấp tỉnh
1. Sở Tài nguyên và Môi trường
a) Tham mưu UBND tỉnh về công
tác quy hoạch các loại đất; chủ trì phối hợp với các ngành và địa phương xác định
nhu cầu sử dụng đất; bố trí đất để sẵn sàng phục vụ các dự án đầu tư; đất sản
xuất nông nghiệp, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp để bồi thường cho hộ
nhân dân mất đất sản xuất; đất bố trí tái định cư.
b) Xác định hạn mức các loại đất
nông nghiệp được giao, trình UBND tỉnh ban hành theo quy định của Luật Đất đai,
làm cơ sở để tính bồi thường. Hướng dẫn bằng văn bản về những căn cứ làm cơ sở
để UBND cấp xã xác nhận nguồn gốc đất cho các đối tượng trong vùng dự án, đồng
thời đôn đốc các địa phương thường xuyên thực hiện việc bổ sung, chỉnh lý hồ sơ
về đất đai; đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
c) Hướng dẫn thực hiện việc chuẩn
bị hồ sơ địa chính cho khu đất bị thu hồi theo quy định tại Điều 50 Nghị định số
84/2007/NĐ-CP để cung cấp cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng
lập phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
d) Hướng dẫn trình tự thủ tục cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tái định cư, đất làm mặt bằng sản xuất kinh
doanh.
đ) Tham gia thẩm định phương án
bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
2. Sở Xây dựng.
a) Hướng dẫn việc xác định quy
mô, diện tích, tính hợp pháp, không hợp pháp của nhà ở, vật kiến trúc, công
trình xây dựng gắn liền với đất bị thu hồi làm cơ sở cho việc tính bồi thường,
hỗ trợ cho từng đối tượng.
b) Hướng dẫn phương pháp tính bồi
thường đối với nhà ở, công trình bị phá dỡ. Chủ trì phối hợp với Sở Tài chính
xác định đơn giá xây dựng nhà, vật kiến trúc và các công trình xây dựng gắn liền
với đất để tính bồi thường (bao gồm cả việc điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung khi
phát sinh các loại tài sản, công trình mới, hoặc khi giá cả vật tư, nguyên vật
liệu trên thị trường biến động) trình UBND tỉnh phê duyệt.
c) Hướng dẫn về quy chuẩn, tiêu
chuẩn xây dựng khu tái định cư (khu tái định cư khu vực đô thị, khu tái định cư
khu vực nông thôn, khu tái định cư cho người nghèo,…. việc bố trí phân lô đất ở
tái định cư)
d) Tham gia thẩm định phương án
bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
3. Sở Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn
a) Hướng dẫn xác định định mức
cây trồng trên đất; kích thước, độ tuổi của cây; chi phí đầu tư, chi phí chăm
sóc; năng suất, sản lượng các loại cây trồng.
b) Phối hợp với các ngành có
liên quan và Sở Tài chính xác định đơn giá các loại cây trồng, hoa màu trên đất
để tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất (bao gồm cả việc bổ sung khi phát
sinh các loại cây trồng mới, và việc điều chỉnh đơn giá bồi thường của các loại
cây trồng khi thị trường có sự biến động lớn về giá) trình UBND tỉnh phê duyệt.
c) Tham gia thẩm định phương án
bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
4. Sở Lao động – Thương binh
và Xã hội
a) Tham mưu trình UBND tỉnh ban
hành cơ chế hỗ trợ đào tạo nghề, Quỹ đào tạo nghề, cơ chế tuyển dụng và giải
quyết việc làm; hỗ trợ mất việc làm cho lao động trong vùng dự án.
b) Xây dựng phương án cụ thể về
đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người lao động theo hướng đào tạo nghề gắn
với giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp.
5. Sở Tài chính
a) Chủ trì phối hợp với các
ngành và địa phương có liên quan xây dựng giá các loại đất, giá đất tái định
cư, giá cây trồng, con vật nuôi và các tài sản khác (trừ nhà, vật kiến trúc và
công trình xây dựng do Sở Xây dựng chủ trì) trên cơ sở đề nghị của UBND các huyện,
thị xã Bảo Lộc, thành phố Đà Lạt, Ban quản lý dự án và các ngành liên quan để
trình UBND tỉnh quyết định.
b) Chủ trì việc thẩm định phương
án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo quy định tại khoản 1 Điều 45 của Quy
định này. Tùy theo tính chất đặc điểm của từng dự án. Sở Tài chính mời
thêm các ngành chức năng chuyên ngành, các chuyên gia của từng lĩnh vực
kinh tế, kỹ thuật tham gia cùng thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư.
c) Chủ trì phối hợp với các
ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố, tổng hợp, báo cáo công tác bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
d) Định kỳ hoặc đột xuất tổ chức
thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư; việc quản lý kinh phí phục vụ cho công tác tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư đối với các phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư do
UBND tỉnh phê duyệt.
Điều 52.
Trách nhiệm của Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng
1. Phối hợp với UBND cấp xã, Nhà
đầu tư tổ chức họp nhân dân công bố chủ trương thu hồi đất, các quy định về thu
hồi đất, về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Thông báo cho người đang sử dụng
đất biết lý do thu hồi đất; dự kiến về mức bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; biện
pháp chuyển đổi ngành nghề, giải quyết việc làm; thời gian di chuyển và bàn
giao đất bị thu hồi được nêu trong phương án tổng thể.
Các cuộc họp với nhân dân phải lập
biên bản, có chữ ký của thành viên dự họp và các hộ gia đình hoặc của người đại
diện cho nhân dân.
2. Thực hiện kê khai, kiểm kê và
xác định nguồn gốc đất đai theo quy định tại Điều 55 Nghị định số
84/2007/NĐ-CP ; tiếp thu ý kiến tham gia, giải đáp thắc mắc…. hoàn chỉnh phương
án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trình thẩm định theo quy định tại Điều 42,
Điều 43, Điều 45 của Quy định này.
3. Chịu trách nhiệm về tính
chính xác của số lượng, khối lượng, nguồn gốc đất đai, tài sản đã kiểm kê, thống
kê hiện trạng xác lập trong hồ sơ bồi thường và xác lập trong phương án trình
thẩm định; chịu trách nhiệm về sự phù hợp của chính sách khi lập phương án bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư, và về sự phù hợp giữa nội dung viết bằng lời của
phương án với nguyên tắc, phương pháp, đơn giá tính toán trong bảng tính chi tiết;
đồng thời chịu trách nhiệm về tính chính xác số tiền bồi thường, hỗ trợ của từng
hộ gia đình, cá nhân khi đã áp dụng đầy đủ các nguyên tắc, phương pháp, đơn giá
bồi thường hỗ trợ trong quá trình thẩm định phương án.
4. Sau khi phương án bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư được UBND cấp có thẩm quyền phê duyệt; Tổ chức làm nhiệm
vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư có trách nhiệm phối hợp với UBND cấp xã phổ
biến và niêm yết công khai quyết định phê duyệt phương án bồi thường tại trụ sở
UBND cấp xã và địa điểm sinh hoạt khu dân cư nơi có đất bị thu hồi; gửi quyết định
bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người có đất bị thu hồi, trong đó nêu rõ
về mức bồi thường, hỗ trợ, về bố trí nhà hoặc đất tái định cư (nếu có), thời
gian, địa điểm chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và thời gian bàn giao đất đã bị
thu hồi cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng.
Tổ chức thực hiện chi trả tiền bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư đến từng hộ gia đình, cá nhân. Bàn giao nhà ở hoặc
đất ở và giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất ở, quyền sở hữu nhà ở cho người
được bố trí tái định cư trước khi giải phóng mặt bằng. Trong trường hợp có thỏa
thuận giữa Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng và người được bố
trí tái định cư về việc nhận nhà ở, đất ở tái định cư sau khi giải phóng mặt bằng
thì thực hiện theo văn bản thỏa thuận có chữ ký của cả hai bên.
5. Chịu trách nhiệm lưu trữ toàn
bộ tài liệu, hồ sơ, chứng từ liên quan đến từng người bị thu hồi đất, liên quan
đến việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của tất cả các dự
án (bao gồm cả những dự án thuộc diện Nhà nước thu hồi đất mà Nhà đầu tư thực
hiện phương thức thỏa thuận với người sử dụng đất) và chịu trách nhiệm cung cấp
khi có yêu cầu của cơ quan chức năng.
6. Chịu trách nhiệm cung cấp
toàn bộ số liệu, tình hình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
của tất cả các dự án đã và đang thực hiện trên địa bàn (bao gồm cả dự án mà Nhà
đầu tư thỏa thuận với người sử dụng đất nêu trên) theo nội dung yêu cầu của cơ
quan chức năng.
7. Trách nhiệm của nhà đầu tư:
a) Cử cán bộ có thẩm quyền tham
gia với Tổ chức bồi thường, giải phóng mặt bằng của dự án với tư cách là thành
viên thường trực.
b) Đảm bảo đủ kinh phí để chi trả
bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo quy định (kể cả kinh phí 2% để thực hiện
công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng và tái định cư của dự án).
c) Cam kết sử dụng lao động
trong vùng dự án vào làm việc tại doanh nghiệp (trong trường hợp Nhà đầu tư được
giao đất để thực hiện các dự án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, thương mại);
cùng với chính quyền, đoàn thể của địa phương thực hiện các biện pháp để hỗ trợ
ổn định đời sống, việc làm cho lao động trong vùng thực hiện dự án.
MỤC 2. NHÀ ĐẦU
TƯ THỰC HIỆN THỎA THUẬN BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ ĐỂ GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG
THỰC HIỆN DỰ ÁN.
Điều 53.
Trách nhiệm của nhà đầu tư trong trường hợp đất thuộc diện Nhà nước thu hồi đất
mà nhà đầu tư chủ động đề nghị và được phép thỏa thuận với người sử dụng đất
1. Sau khi được cấp có thẩm quyền
chấp thuận về địa điểm đầu tư và cho phép thỏa thuận với người sử dụng đất, nhà
đầu tư liên hệ các cơ quan chức năng để được cung cấp các hồ sơ về thửa đất thuộc
phạm vi thực hiện dự án và các quy định hiện hành của cấp có thẩm quyền về bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư,…. chủ động (hoặc thuê đơn vị tư vấn) xây dựng kế
hoạch, lộ trình và nội dung phương án thỏa thuận bồi thường, hỗ trợ với các hộ
đang sử dụng đất trong phạm vi dự án; tham khảo ý kiến của các cơ quan chức
năng trước khi tiến hành việc thỏa thuận.
Trong quá trình thỏa thuận nhà đầu
tư có thể hỗ trợ thêm ngoài khung chính sách, giá do UBND tỉnh quy định về bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư cho người sử dụng đất để đẩy nhanh tiến độ giải
phóng mặt bằng thực hiện dự án. Khoản hỗ trợ thêm này phải được các nhà đầu tư
đề xuất khi xây dựng phương án tổng thể và không được khẩu trừ và tiền thuê đất,
tiền giao đất và các nghĩa vụ tài chính khác phải thực hiện với Nhà nước.
2. Liên hệ chính quyền sở tại để
tổ chức việc thỏa thuận với các hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất; phối hợp
với Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường giải phóng mặt bằng của địa phương lập
Phương án bồi thường hỗ trợ và tái định cư (sau khi đã thực hiện việc thỏa thuận)
để trình thẩm định theo quy định tại chương VI Quy định này.
3. Lập biên bản hoặc các bản cam
kết về quyền và nghĩa vụ của các bên phải thực hiện sau khi đã thỏa thuận về việc
bồi thường, hỗ trợ; thực hiện nghĩa vụ của nhà đầu tư và nhận mặt bằng của người
sử dụng đất bàn giao để triển khai dự án.
4. Lưu giữ đầy đủ tài liệu, chứng
từ để phục vụ cho công tác quyết toán giá trị đầu tư của dự án; làm cơ sở cho
việc tập hợp hồ sơ đề nghị được khấu trừ số tiền đã bồi thường, hỗ trợ về đất
và nghĩa vụ tài chính phải thực hiện với nhà nước theo quy định hiện hành.
5. Trường hợp nhà đầu tư không đạt
được sự thỏa thuận với người sử dụng đất: thực hiện theo quy định tại Điều 40
Nghị định số 84/2007/NĐ-CP
Điều 54.
Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã trong trường hợp nhà đầu tư
thỏa thuận với người sử dụng đất không thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất
1. Ủy ban nhân dân cấp huyện và
cấp xã trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao, có trách nhiệm sau đây:
a) Chỉ đạo việc cung cấp các văn
bản về chính sách, pháp luật, các hồ sơ về thửa đất có liên quan đến việc thỏa
thuận;
b) Chủ trì việc tiến hành thỏa
thuận giữa nhà đầu tư và người sử dụng đất nếu có đề nghị của một hoặc các bên
có liên quan;
c) Chỉ đạo việc thực hiện các thủ
tục về chuyển nhượng, thuê đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất;
2. Ủy ban nhân dân các cấp huyện,
cấp xã và các cơ quan Nhà nước không được ra quyết định thu hồi đất hoặc thực
hiện các biện pháp không phù hợp với quy định của pháp luật để can thiệp vào việc
thỏa thuận giữa nhà đầu tư và người sử dụng đất trong trường hợp đất không thuộc
diện thu hồi.
Điều 55.
Trách nhiệm của người sử dụng đất:
1. Chấp hành quy hoạch sử dụng đất
của Nhà nước.
2. Thực hiện quyền và nghĩa vụ của
người sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Hợp tác với nhà đầu tư trong việc
thỏa thuận về bồi thường, hỗ trợ để giải phóng mặt bằng, thực hiện dự án đầu
tư.
Nhà nước khuyến khích người sử dụng
đất góp vốn bằng quyền sử dụng đất và tài sản thuộc sở hữu của mình để cùng nhà
đầu tư hợp tác sản xuất kinh doanh.
Chương 8.
THỰC HIỆN CƯỠNG CHẾ THI
HÀNH QUYẾT ĐỊNH VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI
Điều 56. Cưỡng
chế thi hành quyết định thu hồi đất, giải phóng mặt bằng
1. Thực hiện theo quy định tại
Điều 60 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP .
2. Để kịp thời thực hiện công
tác giải phóng mặt bằng, thu hồi đất giao cho Nhà đầu tư thực hiện dự án, UBND
tỉnh ủy quyền cho UBND cấp huyện ra quyết định cưỡng chế và tổ chức thực hiện
cưỡng chế.
Điều 57. Giải
quyết khiếu nại
1. Thực hiện theo quy định tại
Điều 54, Điều 61 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP .
2. Trong khi chờ giải quyết khiếu
nại, người bị thu hồi đất vẫn phải chấp hành quyết định thu hồi đất, giao đất
đúng kế hoạch và thời gian đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định.
Chương 9.
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều 58. Điều
khoản thi hành
1. Đối với những dự án đã được
phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trước ngày bản Quy định
này có hiệu lực thi hành thì thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
theo phương án đã được phê duyệt.
2. Đối với những dự án chưa được
phê duyệt chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, và những trường hợp được bổ
sung chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư do phát sinh thêm khối lượng, thì
thực hiện theo những quy định tại bản Quy định này./.
|
TM.
ỦY BAN NHÂN DÂN
CHỦ TỊCH
Huỳnh Đức Hòa
|