Chuyển 8 loại giao dịch bắt buộc công chứng chứng thực sang tự nguyện (Đề xuất)?
Bộ Tư pháp đang lấy ý kiến dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
>> Xem chi tiết Tờ trình Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng: Tải về
>> Xem chi tiết Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng: Tải về
Tại Tờ trình Dự thảo có nêu: Thực hiện chủ trương đơn giản hóa các thủ tục, để tăng cường tính minh bạch, tạo thuận lợi cho người dân có nhu cầu công chứng giao dịch, góp phần cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, hạn chế việc lạm dụng, gây phiền hà cho tổ chức, cá nhân, Bộ Tư pháp đã thực hiện rà soát tổng thể các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có quy định về giao dịch phải công chứng, chứng thực trên cơ sở kết quả đã rà soát của các Bộ, ngành, tổ chức có liên quan và cập nhật 10 quy định của các Luật, nghị định mới có hiệu lực sau thời điểm thực hiện rà soát (tháng 5/2025). Theo đó, Bộ Tư pháp đề xuất chuyển một số loại giao dịch từ "phải công chứng, chứng thực" sang công chứng, chứng thực tự nguyện, theo yêu cầu.
Tại khoản 1 Điều 1 Dự thảo Luật đề xuất sửa đổi bổ sung Điều 3 Luật Công chứng 2024 về Giao dịch phải công chứng, giao dịch công chứng theo yêu cầu như sau:
(1) Các giao dịch phải công chứng bao gồm:
- Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, trừ hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng chuyển nhượng, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản;
- Văn bản thỏa thuận của các thành viên có chung quyền sử dụng đất đồng ý đưa quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp;
- Hợp đồng mua bán, thuê mua, tặng cho, đổi, góp vốn, thế chấp nhà ở, trừ trường hợp tổ chức tặng cho nhà tình nghĩa, nhà tình thương, nhà đại đoàn kết; mua bán, thuê mua nhà ở thuộc tài sản công; mua bán, thuê mua nhà ở mà một bên là tổ chức, bao gồm: nhà ở xã hội, nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân, nhà ở phục vụ tái định cư; góp vốn bằng nhà ở mà có một bên là tổ chức; thuê, mượn, ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ở;
- Văn bản tặng cho bất động sản, trừ trường hợp được đăng ký theo quy định của luật; hợp đồng chuyển nhượng hợp đồng kinh doanh bất động sản; hợp đồng mua bán, thuê mua nhà ở, công trình xây dựng, phần diện tích sàn xây dựng trong công trình xây dựng mà các bên tham gia giao dịch là cá nhân;
- Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; văn bản chấp thuận của người sử dụng đất đồng ý cho xây dựng công trình; văn bản thừa kế về nhà ở;
- Văn bản lựa chọn người giám hộ;
- Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ;
- Văn bản thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng trước khi kết hôn; văn bản sửa đổi, bổ sung nội dung của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng;
- Văn bản ủy quyền giải quyết việc thi hành án liên quan đến tài sản khi người phải thi hành án xuất cảnh.
(2) Đối với các giao dịch dân sự không được quy định tại mục (1) nêu trên, việc công chứng được thực hiện theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức.
(3) Việc chứng thực các giao dịch dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng thực
Như vậy, so với Danh mục các giao dịch phải công chứng, chứng thực theo quy định của Luật, Nghị định do Bộ Tư pháp đã đăng tải Tải về thì đề xuất mới chuyển 8 loại giao dịch bắt buộc công chứng chứng thực sang tự nguyện, cụ thể gồm:
(1) Văn bản ủy quyền đại diện kháng cáo bản án, quyết định của tòa án trong vụ việc dân sự;
(2) Giấy tờ về mua bán hoặc nhận tặng cho, hoặc đổi, hoặc nhận thừa kế nhà ở đối với trường hợp giao dịch trước ngày 1/7/2006;
(3) Văn bản thỏa thuận về việc mang thai hộ;
(4) Hợp đồng cho thuê doanh nghiệp tư nhân;
(5) Văn bản ủy quyền đại diện kháng cáo bản án, quyết định của tòa án cấp sơ thẩm trong vụ việc hành chính;
(6 Văn bản ủy quyền của người có tên trong hợp đồng thuê nhà ở đã xuất cảnh ra nước ngoài cho các thành viên khác đứng tên mua nhà ở trong hồ sơ đề nghị bán nhà ở cũ thuộc tài sản công;
(7) Văn bản ủy quyền thực hiện quyền khiếu nại;
(8) Hợp đồng chuyển nhượng Văn phòng thừa phát lại.
Trong trường hợp được thông qua thì Luật sửa đổi Luật Công chứng 2024 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026.

Chuyển 8 loại giao dịch bắt buộc công chứng chứng thực sang tự nguyện (Đề xuất)? (Hình từ Internet)
Hiện nay hợp đồng mua bán nhà ở nào không cần công chứng chứng thực?
Căn cứ Điều 164 Luật Nhà ở 2023 quy định về việc công chứng chứng thực hợp đồng mua bán nhà ở như sau:
Điều 164. Công chứng, chứng thực hợp đồng và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng về nhà ở
1. Trường hợp mua bán, thuê mua, tặng cho, đổi, góp vốn, thế chấp nhà ở thì phải thực hiện công chứng hoặc chứng thực hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
Đối với giao dịch quy định tại khoản này thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm hoàn thành việc công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về công chứng, chứng thực.
2. Trường hợp tổ chức tặng cho nhà tình nghĩa, nhà tình thương, nhà đại đoàn kết; mua bán, thuê mua nhà ở thuộc tài sản công; mua bán, thuê mua nhà ở mà một bên là tổ chức, bao gồm: nhà ở xã hội, nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân, nhà ở phục vụ tái định cư; góp vốn bằng nhà ở mà có một bên là tổ chức; thuê, mượn, ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ở thì không phải thực hiện công chứng, chứng thực hợp đồng, trừ trường hợp các bên có nhu cầu.
Đối với giao dịch quy định tại khoản này thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là do các bên thỏa thuận; trường hợp các bên không có thỏa thuận thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm ký kết hợp đồng.
3. Văn bản thừa kế nhà ở được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về dân sự.
4. Việc công chứng hợp đồng về nhà ở được thực hiện tại tổ chức hành nghề công chứng; việc chứng thực hợp đồng về nhà ở được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có nhà ở.
Theo đó, trường hợp mua bán nhà ở thuộc tài sản công; mua bán nhà ở mà một bên là tổ chức, bao gồm: nhà ở xã hội, nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân, nhà ở phục vụ tái định cư thì không phải thực hiện công chứng chứng thực hợp đồng mua bán nhà ở, trừ trường hợp các bên có nhu cầu.
Hiệu lực và giá trị pháp lý của văn bản công chứng như thế nào?
Căn cứ Điều 6 Luật Công chứng 2024 quy định về hiệu lực và giá trị pháp lý của văn bản công chứng như sau:
- Văn bản công chứng có hiệu lực kể từ thời điểm được công chứng viên ký và tổ chức hành nghề công chứng đóng dấu vào văn bản; trường hợp là văn bản công chứng điện tử thì có hiệu lực theo quy định tại khoản 2 Điều 64 Luật Công chứng 2024.
- Văn bản công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan, là cơ sở để các bên tham gia giao dịch đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện các thủ tục liên quan đến giao dịch đã được công chứng.
- Văn bản công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong văn bản công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];