Bài viết dưới đây, Pháp Luật Doanh Nghiệp cập nhật mức giảm trừ gia cảnh 15.5 triệu đồng/tháng áp dụng từ kỳ tính thuế 2026
>> Thủ tục nhận hoá đơn đầu vào của hộ kinh doanh theo hướng dẫn của Cục Thuế
>> Mức thuế bảo vệ môi trường đối với xăng, dầu, mỡ nhờn từ 01/01/2026
Căn cứ Nghị quyết 110/2025/UBTVQH15 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2026), quy định mức giảm trừ gia cảnh như sau:
Điều 1. Mức giảm trừ gia cảnh của thuế thu nhập cá nhân
Điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật Thuế thu nhập cá nhân như sau:
a) Mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế là 15,5 triệu đồng/tháng (186 triệu đồng/năm);
b) Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 6,2 triệu đồng/tháng.
Như vậy, mức giảm trừ gia cảnh 15.5 triệu đồng/tháng sẽ được áp dụng từ kỳ tính thuế 2026.
Tải về Bộ tài liệu hướng dẫn nộp thuế trên ứng dụng eTax Mobile: TẠI ĐÂY

Mức giảm trừ gia cảnh 15.5 triệu đồng/tháng áp dụng từ kỳ tính thuế 2026
(Ảnh minh họa – Nguồn Internet)
2. Người phụ thuộc và người nộp thuế không chung hộ khẩu vẫn được tính giảm trừ gia cảnh
Căn cứ khoản 3 Điều 12 Nghị định 65/2013/NĐ-CP, có quy định như sau:
3. Đối tượng và căn cứ xác định người phụ thuộc mà người nộp thuế có nghĩa vụ nuôi dưỡng quy định tại Khoản 1 Điều này như sau:
a) Con (bao gồm con đẻ, con nuôi hợp pháp, con riêng của vợ, con riêng của chồng) dưới 18 tuổi;
b) Con (bao gồm con đẻ, con nuôi hợp pháp, con riêng của vợ, con riêng của chồng) từ 18 tuổi trở lên bị khuyết tật không có khả năng lao động;
c) Con (bao gồm con đẻ, con nuôi hợp pháp, con riêng của vợ, con riêng của chồng) đang học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, kể cả con từ 18 tuổi trở lên đang học bậc học phổ thông mà không có thu nhập hoặc có thu nhập không vượt quá mức thu nhập quy định tại Khoản 4 Điều này;
d) Người ngoài độ tuổi lao động, người trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật nhưng bị khuyết tật không có khả năng lao động mà không có thu nhập hoặc có thu nhập nhưng không vượt quá mức thu nhập quy định tại Khoản 4 Điều này, bao gồm:
- Vợ hoặc chồng của người nộp thuế;
- Cha đẻ, mẹ đẻ, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ nuôi hợp pháp, cha vợ, mẹ vợ (hoặc cha chồng, mẹ chồng) của người nộp thuế;
- Cá nhân khác không nơi nương tựa mà người nộp thuế phải trực tiếp nuôi dưỡng.
Như vậy, người phụ thuộc của người nộp thuế để tính giảm trừ gia cảnh không bắt buộc phải chung hộ khẩu với người nộp thuế.
3. Thu nhập từ kinh doanh không được tính giảm trừ gia cảnh
Căn cứ khoản 1 Điều 19 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 (được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 4 Điều 1 Luật số 26/2012/QH13), giảm trừ gia cảnh là khoản tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú. Giảm trừ gia cảnh gồm hai phần: giảm trừ cho chính người nộp thuế và giảm trừ cho người phụ thuộc của họ.
Tuy nhiên, quy định về việc tính giảm trừ gia cảnh đối với thu nhập từ kinh doanh đã bị bãi bỏ theo khoản 4 Điều 6 Luật số 71/2014/QH13 như sau:
4. Bãi bỏ các quy định liên quan đến việc xác định thuế đối với cá nhân kinh doanh tại khoản 1 Điều 19 ... của Luật thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 26/2012/QH13.
Như vậy, theo quy định của pháp luật thuế thu nhập cá nhân hiện hành, chỉ có thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú mới được áp dụng giảm trừ gia cảnh khi tính thuế.
Trước đây, thu nhập từ kinh doanh của cá nhân cư trú (tức là những người trực tiếp hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, hoặc hành nghề độc lập) cũng được hưởng chế độ giảm trừ gia cảnh tương tự, giúp bảo đảm công bằng giữa các đối tượng nộp thuế. Tuy nhiên, kể từ khi Luật số 71/2014/QH13 có hiệu lực, quy định về việc áp dụng giảm trừ gia cảnh đối với thu nhập từ kinh doanh đã bị bãi bỏ.
Trên đây là toàn bộ nội dung về “Mức giảm trừ gia cảnh 15.5 triệu đồng/tháng áp dụng từ kỳ tính thuế 2026”



