Dưới đây là hướng dẫn cách tính tiền thai sản từ 01/7/2026 khi tăng lương cơ sở gồm trợ cấp một lần, trợ cấp thai sản, tiền dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản.
>> Chế độ dưỡng sức sau sinh của lao động nữ từ 01/7/2026
>> Mức đóng BHYT hộ gia đình mới nhất 2026
Từ 01/7/2026, chính thức tăng lương cơ sở lên 2,53 triệu đồng theo Nghị định 161/2026/NĐ-CP. Dưới đây là cách tính tiền thai sản từ 01/7/2026 theo mức lương cơ sở mới:
(i) Trợ cấp một lần
Mức trợ cấp một lần khi sinh con từ 01/7/2026 là 5,06 triệu đồng/con.
(ii) Trợ cấp thai sản
Mức trợ cấp thai sản một tháng = 100% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc của 06 tháng gần nhất trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản
(iii) Tiền dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản.
Từ 01/7/2026 tăng tiền dưỡng sức sau sinh lên 759.000 đồng/ngày.
Cụ thể như sau:
Căn cứ Điều 58 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, quy định trợ cấp một lần khi sinh con như sau:
(i) Điều kiện nhận trợ cấp một lần
- Lao động nữ sinh con có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 hoặc khoản 5 Điều 50 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 thì được trợ cấp một lần khi sinh con.
Lưu ý: Lao động nữ sinh con nhưng không đủ điều kiện quy định trên mà người chồng có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 50 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 thì người chồng được trợ cấp một lần.
- Lao động nữ mang thai hộ: Có đủ điều kiện theo quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 50 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 thì được trợ cấp một lần khi sinh con.
+ Trường hợp người mang thai hộ không tham gia BHXH bắt buộc hoặc không đủ điều kiện thì người mẹ nhờ mang thai hộ đã đóng BHXH bắt buộc từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng tính đến thời điểm nhận con được trợ cấp một lần.
+ Trường hợp người mang thai hộ, người mẹ nhờ mang thai hộ không tham gia BHXH bắt buộc hoặc không đủ điều kiện thì người chồng của người mẹ nhờ mang thai hộ đã đóng BHXH bắt buộc từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng tính đến thời điểm nhận con được trợ cấp một lần.
+ Trường hợp người mang thai hộ, người mẹ nhờ mang thai hộ và người chồng của người mẹ nhờ mang thai hộ không tham gia BHXH bắt buộc hoặc không đủ điều kiện thì người chồng của người mang thai hộ đã đóng BHXH bắt buộc từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng tính đến thời điểm người mang thai hộ sinh con được trợ cấp một lần.
- Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi: Đủ điều kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 50 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 thì được trợ cấp một lần.
|
(ii) Mức trợ cấp một lần
Mức trợ cấp một lần khi sinh con từ 01/7/2026 là 5,06 triệu đồng/con.
Cụ thể, căn cứ khoản 4 Điều 58 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, mức trợ cấp một lần cho mỗi con bằng 02 lần mức tham chiếu tại tháng lao động nữ sinh con.
Khi chưa bãi bỏ mức lương cơ sở thì mức tham chiếu quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội 2024 bằng mức lương cơ sở (căn cứ khoản 13 Điều 141 Luật Bảo hiểm xã hội 2024).
Như vậy, mức trợ cấp một lần khi sinh con từ 01/7/2026 là 5,06 triệu đồng/con (2 x 2,53 = 5,06 triệu đồng)
Căn cứ Điều 59 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, Điều 10 Thông tư 12/2025/TT-BNV, trợ cấp thai sản được tính như sau:
(i) Mức trợ cấp thai sản một tháng = 100% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc của 06 tháng gần nhất trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản.
Trường hợp đóng BHXH chưa đủ 06 tháng thì mức trợ cấp thai sản một tháng được tính bằng bình quân tiền lương của các tháng đã đóng BHXH.
(ii) Mức trợ cấp thai sản một ngày = mức trợ cấp thai sản một tháng chia cho 24 ngày.
Mức trợ cấp thai sản một ngày đối với trường hợp nghỉ không trọn tháng, như nghỉ đi khám thai hoặc lao động nam nghỉ ít ngày.
(iii) Trợ cấp thai sản khi sinh con, nhận con khi nhờ mang thai hộ hoặc nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi: Được tính theo mức trợ cấp tại khoản (i).
Trường hợp có ngày lẻ hoặc hoặc trường hợp nghỉ việc hưởng chế độ khi sảy thai, phá thai, thai chết lưu, thai chết khi chuyển dạ, thai ngoài tử cung hoặc nghỉ thực hiện biện pháp tránh thai, thì mức trợ cấp mỗi ngày được tính bằng mức trợ cấp thai sản một tháng chia cho 30 ngày.
(iv) Đối với lao động nữ mang thai hộ và lao động nữ nhờ mang thai hộ: Mức trợ cấp thai sản cũng tính theo các nguyên tắc (i), (ii), (iii) nêu trên.
Tiền trợ cấp được tính trên cơ sở mức bình quân tiền lương đóng BHXH trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản của người lao động mang thai hộ hoặc nhờ mang thai hộ tương ứng.
Lưu ý: Trợ cấp thai sản không được điều chỉnh tăng nếu trong thời gian người lao động đang hưởng trợ cấp mà Nhà nước điều chỉnh tăng mức lương cơ sở, mức tham chiếu hoặc lương tối thiểu vùng.
(i) Điều kiện dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản
Căn cứ Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, trong thời gian 30 ngày kể từ ngày hết thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản của lao động nữ sinh con, lao động nữ chưa phục hồi sức khỏe thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ.
(ii) Thời gian dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản
- Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe liên tục bao gồm cả ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ hằng tuần. Trường hợp có thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe từ cuối năm trước chuyển tiếp sang đầu năm sau thì thời gian nghỉ đó được tính cho năm trước.
- Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe do người sử dụng lao động và Ban Chấp hành công đoàn cơ sở quyết định; trường hợp hai bên có ý kiến khác nhau thì người sử dụng lao động quyết định số ngày nghỉ trên cơ sở đề nghị của Ban Chấp hành công đoàn cơ sở, trường hợp đơn vị sử dụng lao động chưa có công đoàn cơ sở thì do người sử dụng lao động quyết định. Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe tối đa được quy định như sau:
+ 10 ngày đối với lao động nữ sinh một lần từ hai con trở lên.
+ 07 ngày đối với lao động nữ sinh con phải phẫu thuật.
+ 05 ngày đối với trường hợp khác.
(ii) Mức dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản
Từ 01/7/2026, tiền dưỡng sức sau sinh là 759.000 đồng/ngày.
Cụ thể, căn cứ khoản 3 Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, mức hưởng cho một ngày nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản bằng 30% mức tham chiếu.
Khi chưa bãi bỏ mức lương cơ sở thì mức tham chiếu quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội 2024 bằng mức lương cơ sở (căn cứ khoản 13 Điều 141 Luật Bảo hiểm xã hội 2024).
Như vậy, từ 01/7/2026 tăng tiền dưỡng sức sau sinh lên 759.000 đồng/ngày (30% của 2,53 triệu đồng)
Lưu ý: Không áp dụng chế độ dưỡng sức sau sinh nêu trên trong trường hợp lao động nữ trở lại làm việc trước khi hết thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi sinh con (căn cứ khoản 4 Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội 2024)
Trên đây là hướng dẫn cách tính tiền thai sản từ 01/7/2026 khi tăng lương cơ sở lên 2,53 triệu đồng.
Cách tính tiền thai sản từ 01/7/2026 khi tăng lương cơ sở lên 2,53 triệu đồng
(Ảnh minh họa - Nguồn Internet)
Từ ngày 01/7/2026, thời gian nghỉ thai sản đối với trường hợp sinh con thứ 2 có sự thay đổi, cụ thể như sau:
- Lao động nữ sinh con thứ 2 được nghỉ thai sản 7 tháng (thay vì 6 tháng như trước đây)
- Vợ sinh con thứ 2 thì lao động nam được nghỉ 10 ngày làm việc (thay vì 05 ngày làm việc như trước đây)
Chi tiết thời gian nghỉ thai sản từ ngày 01/7/2026 như sau:
|
Đối với lao động nữ |
Đối với lao động nam |
|
- Lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng; trường hợp sinh con thứ hai, lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 07 tháng; thời gian nghỉ trước khi sinh không quá 02 tháng. - Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng. |
Lao động nam đang tham gia BHXH bắt buộc khi vợ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản với thời gian như sau: - 05 ngày làm việc. - 07 ngày làm việc khi vợ sinh con phải phẫu thuật hoặc sinh con dưới 32 tuần tuổi. - Trường hợp vợ sinh đôi hoặc vợ sinh con thứ hai thì được nghỉ 10 ngày làm việc. Trường hợp sinh ba trở lên thì được nghỉ thêm 03 ngày làm việc cho mỗi con tính từ con thứ ba trở đi. - Trường hợp vợ sinh đôi phải phẫu thuật thì được nghỉ 14 ngày làm việc. Trường hợp sinh ba trở lên phải phẫu thuật thì được nghỉ thêm 03 ngày làm việc cho mỗi con tính từ con thứ ba trở đi. |
|
Căn cứ pháp lý: Căn cứ khoản 1 Điều 139 Bộ luật Lao động 2019 được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 1 Điều 29 Luật Dân số 2025 |
Căn cứ pháp lý: Căn cứ khoản 2 Điều 53 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 2 Điều 29 Luật Dân số 2025 |






