Điều kiện, mức hưởng chế độ thai sản và thủ tục giải quyết chế độ thai sản đối với lao động nữ và lao động nam được quy định cụ thể như sau:
>> Giải quyết chế độ tử tuất cho người lao động từ 01/7/2026
>> Giải quyết chế độ trợ cấp dưỡng sức phục hồi sức khỏe sau ốm đau, thai sản từ ngày 01/7/2026
Người lao động thuộc đối tượng đóng BHXH bắt buộc quy định tại điểm a, b, c, d, i, k, l, m và n khoản 1 và khoản 2 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
(i) Lao động nữ mang thai.
(ii) Lao động nữ sinh con.
(iii) Lao động nữ mang thai hộ.
(iv) Lao động nữ nhờ mang thai hộ.
(v) Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi.
(vi) Người lao động sử dụng các biện pháp tránh thai mà các biện pháp đó được thực hiện tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
(vii) Lao động nam đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc có vợ sinh con, vợ mang thai hộ sinh con.
(i) Lao động nữ sinh con; lao động nữ mang thai hộ, lao động nữ nhờ mang thai hộ và người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi đã đóng BHXH từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng liền kề trước thời điểm sinh con hoặc nhận con.
(ii) Lao động nữ sinh con; lao động nữ mang thai hộ đã đóng BHXH bắt buộc từ đủ 12 tháng trở lên và khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám chữa bệnh có thẩm quyền, thì cần đóng BHXH bắt buộc từ đủ 03 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng liền kề trước khi sinh con.
(iii) Lao động nữ sinh con thuộc trường hợp trước đó phải nghỉ việc để điều trị vô sinh thì điều kiện hưởng chế độ thai sản khi sinh con là phải đóng BHXH bắt buộc từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng liền kề trước khi sinh con.
Lưu ý:
- Thời gian 12 tháng hoặc 24 tháng liền kề trước khi sinh con hoặc nhận con được xác định như sau:
+ Trường hợp sinh con, nhận con nhờ mang thai hộ hoặc nhận nuôi con nuôi trước ngày 15 của tháng thì tháng đó không tính vào thời gian 12 hoặc 24 tháng trước sinh hoặc nhận con.
+ Nếu sinh con hoặc nhận con từ ngày 15 trở đi của tháng và tháng đó có đóng BHXH thì tháng đó được tính vào thời gian 12 hoặc 24 tháng trước sinh hoặc nhận con. Trường hợp không đóng BHXH thì thực hiện theo nguyên tắc như sinh trước ngày 15 (tức là không tính)
- Nếu người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc trước thời điểm sinh con hoặc nhận con (nhờ mang thai hộ hoặc nhận nuôi con nuôi < 6 tháng tuổi) mà đã đóng đủ BHXH theo điều kiện trên thì vẫn được hưởng chế độ thai sản theo quy định. Thời gian hưởng chế độ thai sản không được tính là thời gian đóng BHXH.
(Căn cứ Điều 50 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 và Điều 8 Thông tư 12/2025/TT-BNV)

Giải quyết chế độ thai sản cho người lao động từ 01/7/2026 (Ảnh minh họa - Nguồn từ Internet)
Theo Điều 51 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, lao động nữ mang thai được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản để đi khám thai tối đa 05 lần, mỗi lần không quá 02 ngày.
(Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi khám thai được tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ hằng tuần)
Thời gian hưởng chế độ thai sản trường hợp này sẽ do người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh thuộc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chỉ định nhưng tối đa theo quy định sau:
- 10 ngày nếu thai dưới 05 tuần tuổi.
- 20 ngày nếu thai từ đủ 05 tuần tuổi đến dưới 13 tuần tuổi.
- 40 ngày nếu thai từ đủ 13 tuần tuổi đến dưới 22 tuần tuổi.
- 50 ngày nếu thai từ đủ 22 tuần tuổi trở lên.
Trường hợp lao động nữ mang thai từ đủ 22 tuần tuổi trở lên đủ điều kiện về thời gian tham gia BHXH bắt buộc để hưởng chế độ thai sản quy định tại phần 1.2 mà bị sảy thai, phá thai, thai chết trong tử cung, thai chết trong khi chuyển dạ thì lao động nữ và người chồng được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản như trường hợp lao động nữ sinh con.
(Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản này tính cả ngày nghỉ lễ, Tết, ngày nghỉ hằng tuần).
(Căn cứ Điều 52 Luật Bảo hiểm xã hội 2024)
Căn cứ Điều 53 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 (được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 2 Điều 29 Luật Dân số 2025) và Điều 9 Thông tư 12/2025/TT-BNV quy định về thời gian nghỉ việc để hưởng chế độ thai sản khi sinh con như sau:
(i) Đối với lao động nữ:
- Lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng; trường hợp sinh con thứ hai, lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 07 tháng; thời gian nghỉ trước khi sinh không quá 02 tháng.
- Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng.
(Căn cứ khoản 1 Điều 139 Bộ luật Lao động 2019 được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 1 Điều 29 Luật Dân số 2025 có hiệu lực từ 01/7/2026)
- Trường hợp lao động nữ trở lại làm việc sớm trước khi hết thời gian nghỉ việc hưởng chế độ khi sinh con (đã nghỉ thai sản ít nhất 4 tháng, có thông báo trước và được người sử dụng lao động đồng ý, đồng thời có xác nhận của cơ sở khám chữa bệnh có thẩm quyền rằng việc đi làm sớm không ảnh hưởng đến sức khỏe) thì sẽ được trả lương cho những ngày làm việc, tiếp tục hưởng trợ cấp thai sản theo mức quy định tại Điều 59 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 và cả hai bên có trách nhiệm đóng BHXH bắt buộc cho thời gian đi làm sớm đó.
(ii) Đối với lao động nam:
Lao động nam đang tham gia BHXH bắt buộc khi vợ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản như sau:
- 05 ngày làm việc.
- 07 ngày làm việc khi vợ sinh con phải phẫu thuật hoặc sinh con dưới 32 tuần tuổi.
- Trường hợp vợ sinh đôi hoặc vợ sinh con thứ hai thì được nghỉ 10 ngày làm việc. Trường hợp sinh ba trở lên thì được nghỉ thêm 03 ngày làm việc cho mỗi con tính từ con thứ ba trở đi.
- Trường hợp vợ sinh đôi phải phẫu thuật thì được nghỉ 14 ngày làm việc. Trường hợp sinh ba trở lên phải phẫu thuật thì được nghỉ thêm 03 ngày làm việc cho mỗi con tính từ con thứ ba trở đi.
Lưu ý: Thời gian nghỉ của lao động nam phải bắt đầu trong vòng 60 ngày kể từ ngày vợ sinh. Nếu nghỉ nhiều lần, thì lần cuối cùng cũng phải nằm trong 60 ngày đó và tổng thời gian nghỉ không vượt quá mức quy định).
Ngoài ra, thời gian hưởng chế độ thai sản khi sinh con đối với các trường hợp đặc biệt được quy định như sau:
(iii) Trường hợp lao động nữ mang thai đôi trở lên, nếu khi sinh có thai chết trong tử cung hoặc trong khi chuyển dạ thì thời gian nghỉ thai sản và trợ cấp một lần vẫn được tính theo tổng số thai, bao gồm cả con sống, con chết và thai chết.
(iv) Nếu mẹ chết sau sinh:
- Trường hợp chỉ mẹ tham gia BHXH thì cha hoặc người nuôi dưỡng được hưởng chế độ thai sản đối với thời gian còn lại của người mẹ, tính theo mức lương bình quân đóng BHXH bắt buộc của mẹ.
- Trường hợp chỉ mẹ tham gia BHXH, mẹ chết nhưng không đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản quy định tại phần 1.2 thì cha hoặc người nuôi dưỡng được hưởng chế độ đến khi con đủ 6 tháng tuổi, tính theo lương bình quân đóng BHXH bắt buộc của mẹ.
- Trường hợp cả cha và mẹ đều tham gia BHXH, thì cha nghỉ việc thì được hưởng phần còn lại của chế độ thai sản, tính theo lương bình quân đóng BHXH bắt buộc của cha. Cha không nghỉ việc thì vẫn được hưởng trợ cấp, tính theo lương bình quân đóng BHXH bắt buộc của mẹ.
-Trường hợp cả cha và mẹ đều tham gia BHXH nhưng người mẹ không đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản quy định tại phần 1.2 thì cha được nghỉ việc hưởng chế độ đến khi con đủ 6 tháng tuổi, tính theo lương bình quân đóng BHXH bắt buộc của cha.
- Trường hợp chỉ cha tham gia BHXH, mẹ chết sau sinh hoặc không đủ sức khỏe chăm con (có xác nhận y tế) thì cha được nghỉ việc hưởng chế độ đến khi con đủ 6 tháng tuổi, tính theo lương bình quân đóng BHXH bắt buộc của cha.
(v) Nếu cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng không nghỉ việc, thì ngoài tiền lương, vẫn được hưởng trợ cấp thai sản tương ứng với đối với thời gian còn lại của người mẹ kể từ ngày liền kề sau ngày người mẹ chết.
(vi) Đối với các trường hợp: Lao động nữ sinh con; Nhận con nuôi dưới 6 tháng tuổi; Lao động nữ mang thai hộ khi sinh con; Lao động nữ nhờ mang thai hộ thì thời gian nghỉ thai sản được tính là thời gian đóng BHXH bắt buộc, nhưng không phải đóng BHXH.
Các trường hợp khác có thời gian nghỉ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng cũng được tính là thời gian đóng BHXH bắt buộc, và không phải đóng BHXH trong thời gian đó.
(Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản này tính cả ngày nghỉ lễ, Tết, ngày nghỉ hằng tuần, trừ thời gian lao động nam nghỉ việc hưởng chế độ thai sản)
(i) Lao động nữ mang thai hộ được nghỉ hưởng chế độ thai sản khi đi khám thai tối đa 05 lần, mỗi lần không quá 02 ngày.
(Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi khám thai được tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ hằng năm.)
(ii) Khi sảy thai, phá thai hoặc có thai chết trong tử cung, thai chết trong khi chuyển dạ, thai ngoài tử cung được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định tại phần 2.2.
(iii) Lao động nữ mang thai hộ khi sinh con nếu đủ điều kiện về thời gian tham gia BHXH bắt buộc quy định tại mục (i), (ii) phần 1.2 thì được hưởng chế độ thai sản như sau:
- Nghỉ đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ, nhưng tối đa không quá thời gian nghỉ sinh con của người mẹ. Nếu thời gian từ ngày sinh đến ngày giao trẻ chưa đủ 60 ngày, thì vẫn được hưởng chế độ thai sản đủ 60 ngày (tính cả ngày nghỉ lễ, tết, cuối tuần), kể cả khi trẻ mất trước khi giao.
- Sau khi hết thời gian hưởng thai sản, nếu sức khỏe chưa phục hồi, thì trong 30 ngày đầu vẫn được nghỉ dưỡng sức, phục hồi theo quy định, trừ trường hợp lao động nữ mang thai hộ chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc trước khi sinh con.
(iv) Chồng của lao động nữ mang thai hộ, nếu đang tham gia BHXH bắt buộc, thì được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản như lao động nam có vợ sinh con quy định tại mục (ii) phần 2.3.
(Điều 54 Luật Bảo hiểm xã hội 2024)
Lao động nữ nhờ mang thai hộ nếu đã đóng BHXH bắt buộc từ đủ 6 tháng trở lên trong 12 tháng trước thời điểm nhận con, thì được hưởng chế độ thai sản như sau:
(i) Được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ khi nhận con đến khi con đủ 06 tháng tuổi. Nếu sinh đôi trở lên, được nghỉ thêm 01 tháng cho mỗi con từ con thứ hai. Nếu không nghỉ việc, thì ngoài tiền lương còn được hưởng trợ cấp thai sản theo quy định.
(ii) Nếu người mẹ nhờ mang thai hộ chết hoặc không đủ sức khỏe để chăm con (có xác nhận y tế) khi con chưa đủ 06 tháng tuổi, thì chồng hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản trong thời gian còn lại của người mẹ.
Nếu chồng hoặc người nuôi dưỡng đang tham gia BHXH bắt buộc nhưng không nghỉ việc, thì ngoài lương vẫn được hưởng trợ cấp thai sản cho phần thời gian còn lại của người mẹ.
(Căn cứ Điều 55 Luật Bảo hiểm xã hội 2024)
- Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản kể từ ngày giao nhận con nuôi cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.
Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia BHXH bắt buộc đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản quy định mục (i) phần 1.2 thì chỉ cha hoặc mẹ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản.
- Trường hợp trong cùng một thời gian người lao động nhận từ 02 con nuôi dưới 06 tháng tuổi trở lên thì gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản được tính bằng thời gian thực tế người lao động nghỉ việc kể từ ngày giao nhận con nuôi đầu tiên cho đến khi con sau cùng đủ 06 tháng tuổi.
- Trường hợp trong cùng một thời gian người lao động nhận từ 02 con nuôi dưới 06 tháng tuổi trở lên thì gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản được tính bằng thời gian thực tế người lao động nghỉ việc kể từ ngày giao nhận con nuôi đầu tiên cho đến khi con sau cùng đủ 06 tháng tuổi.
- Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi không nghỉ việc thì chỉ được hưởng trợ cấp một lần theo quy định tại Điều 58 Luật Bảo hiểm xã hội 2024.
(Căn cứ Điều 56 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, khoản 2 Điều 9 Thông tư 12/2025/TT-BNV)
Căn cứ Điều 57 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, khi thực hiện các biện pháp tránh thai thì người lao động được hưởng chế độ thai sản theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền. Thời gian nghỉ việc tối đa được quy định như sau:
- 07 ngày đối với lao động nữ đặt dụng cụ tránh thai trong tử cung.
- 15 ngày đối với người lao động thực hiện biện pháp triệt sản.
(Thời gian hưởng chế độ thai sản này tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần).
Lưu ý:
(i) Khi tính thời gian hưởng chế độ thai sản khi khám thai;khi sảy thai, phá thai, thai chết trong tử cung, thai chết khi chuyển dạ; khi sinh con; khi thực hiện các biện pháp tránh thai đối với trường hợp người lao động đang nghỉ hằng năm, nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương, nghỉ việc hưởng nguyên lương thì thời gian trùng với thời gian nghỉ hằng năm, nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương, nghỉ việc hưởng nguyên lương không được tính hưởng chế độ; thời gian nghỉ việc ngoài thời gian nghỉ hằng năm, nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương, nghỉ việc hưởng nguyên lương được tính hưởng chế độ thai sản theo quy định.
(ii) Việc tính thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản là thời gian đóng BHXH bắt buộc, được hướng dẫn cụ thể như sau:
- Trường hợp hợp đồng lao động hết thời hạn trong thời gian người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản thì thời gian hưởng chế độ thai sản từ khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản đến trước khi hợp đồng lao động hết thời hạn được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội.
Thời gian hưởng chế độ thai sản từ khi hợp đồng lao động hết thời hạn không được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội.
- Thời gian hưởng chế độ thai sản đối với trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc trước thời điểm sinh con hoặc nhận con khi nhờ mang thai hộ hoặc nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi không được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội.
- Trường hợp lao động nữ trở lại làm việc trước khi hết thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi sinh con theo quy định thì thời gian hưởng chế độ thai sản từ khi nghỉ việc đến trước khi trở lại làm việc được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội.
Kể từ khi trở lại làm việc thì lao động nữ được hưởng tiền lương của những ngày làm việc do người sử dụng lao động trả và tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản; người sử dụng lao động và lao động nữ có trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc cho thời gian lao động nữ trở lại làm việc;
- Trường hợp hưởng chế độ thai sản mà không nghỉ việc quy định tại khoản 6 Điều 53 và Điều 55 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 thì thời gian hưởng chế độ thai sản không được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội; người lao động và người sử dụng lao động phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định.
(Căn cứ khoản 3, khoản 4, khoản 5 Điều 9 Thông tư 12/2025/TT-BNV)
Bảng tóm mức hưởng tiền thai sản trước và sau 01/7/2026
|
Tiêu chí so sánh |
Trước 01/7/2026 |
Từ 01/7/2026 trở đi |
|
Tiền trợ cấp thai sản hàng tháng |
Mỗi tháng hưởng 100% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 06 tháng trước khi sinh con. |
|
|
Tiền trợ cấp thai sản một lần |
4,68 triệu đồng/con |
5,06 triệu đồng/con |
|
Tiền dưỡng sức sau sinh (nếu có) |
702.000 đồng/ngày |
759.000 đồng/ngày |
Chi tiết mức hưởng tiền thai sản của lao động nữ như sau:
(i) Điều kiện nhận trợ cấp một lần khi sinh con, nhận con: Lao động nữ sinh con; lao động nữ mang thai hộ, lao động nữ nhờ mang thai hộ và người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi đã đóng BHXH từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng liền kề trước thời điểm sinh con hoặc nhận con.
- Trường hợp người mang thai hộ không tham gia hoặc không đủ điều kiện hưởng BHXH bắt buộc, thì người mẹ nhờ mang thai hộ đã đóng BHXH bắt buộc từ đủ 6 tháng trở lên trong 12 tháng trước khi nhận con sẽ được trợ cấp một lần.
- Nếu cả người mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ không tham gia BHXH bắt buộc hoặc không đủ điều kiện, thì người chồng của người mẹ nhờ mang thai hộ đã đóng BHXH bắt buộc từ đủ 6 tháng trở lên trong 12 tháng trước khi nhận con sẽ được hưởng trợ cấp một lần
- Nếu cả ba người trên đều không đủ điều kiện, thì người chồng của người mang thai hộ đã đóng BHXH bắt buộc từ đủ 6 tháng trở lên trong 12 tháng tính đến thời điểm người mang thai hộ sinh con sẽ được trợ cấp một lần.
(ii) Mức trợ cấp một lần cho mỗi con bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng sinh con.
Từ ngày 01/7/2026, mức lương cơ sở tăng lên 2.53 triệu đồng/tháng theo Nghị định 161/2026/NĐ-CP. Do đó, từ ngày 01/7/2026, mức trợ cấp một lần khi sinh con sẽ được tăng từ 4,68 triệu đồng/con lên 5,06 triệu đồng/con.
(Căn cứ Điều 58 Luật Bảo hiểm xã hội 2024)
(i) Mức trợ cấp thai sản một tháng = 100% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc của 06 tháng gần nhất trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản.
Nếu người lao động đóng BHXH chưa đủ 06 tháng thì mức trợ cấp thai sản một tháng được tính bằng bình quân tiền lương của các tháng đã đóng BHXH.
(ii) Mức trợ cấp thai sản một ngày (trường hợp nghỉ không trọn tháng, như nghỉ đi khám thai hoặc lao động nam nghỉ ít ngày) = mức trợ cấp thai sản một tháng chia cho 24 ngày
(iii) Trường hợp nghỉ do thai hư hoặc dùng biện pháp tránh thai hoặc có ngày lẻ: Khi tính tổng trợ cấp, nếu có ngày lẻ (không đủ tháng) hoặc trường hợp nghỉ hưởng chế độ khi sảy thai, phá thai, thai chết lưu, thai chết khi chuyển dạ, thai ngoài tử cung hoặc nghỉ thực hiện biện pháp tránh thai, thì mức trợ cấp mỗi ngày được tính bằng mức trợ cấp thai sản một tháng chia cho 30 ngày.
(iv) Đối với lao động nữ mang thai hộ và lao động nữ nhờ mang thai hộ: Mức trợ cấp thai sản cũng tính theo các nguyên tắc (i), (ii), (iii) nêu trên. Tiền trợ cấp được tính trên cơ sở mức bình quân tiền lương đóng BHXH trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản của người lao động mang thai hộ hoặc nhờ mang thai hộ tương ứng.
Lưu ý: Trợ cấp thai sản không được điều chỉnh tăng nếu trong thời gian người lao động đang hưởng trợ cấp mà Nhà nước điều chỉnh tăng mức lương cơ sở, mức tham chiếu hoặc lương tối thiểu vùng.
(Căn cứ Điều 59 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, Điều 10 Thông tư 12/2025/TT-BNV)
(i) Điều kiện hưởng tiền dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản:
Trong thời gian 30 ngày kể từ ngày hết thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản của lao động nữ sinh con, lao động nữ chưa phục hồi sức khỏe thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ.
Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe tối đa được như sau:
+ 10 ngày đối với lao động nữ sinh một lần từ hai con trở lên.
+ 07 ngày đối với lao động nữ sinh con phải phẫu thuật.
+ 05 ngày đối với trường hợp khác.
Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe liên tục bao gồm cả ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ hằng tuần. Trường hợp có thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe từ cuối năm trước chuyển tiếp sang đầu năm sau thì thời gian nghỉ đó được tính cho năm trước.
(ii) Mức hưởng cho một ngày nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản: Bằng 30% mức tham chiếu (759.000 đồng/ngày).
Lưu ý: Không áp dụng trong trường hợp lao động nữ trở lại làm việc trước khi hết thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi sinh con.
(Theo Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội 2024)
Vợ sinh con năm 2026, chồng sẽ được nhận tiền trợ cấp thai sản theo số ngày nghỉ thai sản và trợ cấp một lần khi vợ sinh con (nếu có).
Cụ thể 02 khoản tiền thai sản của chồng khi vợ sinh con 2026 như sau:
(1) Trợ cấp thai sản
Điều kiện: Lao động nam đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc có vợ sinh con, vợ mang thai hộ sinh con.
Tiền trợ cấp = (mức bình quân tiền lương 6 tháng gần nhất/24) X Số ngày nghỉ
Ví dụ: Mức bình quân của NLĐ là: 07 triệu đồng.
- Vợ sinh thường (5 ngày): 1.458.333 đồng
- Vợ sinh mổ (7 ngày): 2.041.666 đồng
- Vợ sinh con thứ 2 (10 ngày): 2.916.666 đồng
- Vợ sinh đôi mổ (14 ngày): 4.083.333 đồng
(2) Trợ cấp 1 lần khi vợ sinh con
Điều kiện: Vợ sinh con nhưng không tham gia BHXH hoặc tham gia nhưng không đủ điều kiện hưởng thai sản, người chồng tham gia BHXH từ đủ 6 tháng BHXH trong vòng 12 tháng trước khi vợ sinh con là được trợ cấp 1 lần.
Mức hưởng tiền trợ cấp một lần khi vợ sinh con bằng 02 lần lương cơ sở: 4,68 triệu đồng/con (áp dụng đến 30/6/2026) và 5,06 triệu đồng/con (áp dụng từ 01/7/2026).
(Theo điểm g khoản 1 Điều 50, khoản 1 Điều 58 và khoản 2 Điều 59 Luật Bảo hiểm xã hội 2024)
Theo Quyết định 1222/QĐ-BTC, thủ tục hưởng chế độ thai sản 2026 sau khi cắt giảm gồm 3 bước:
Bước 1. Lập, nộp hồ sơ
Đối với người lao động (NLĐ)
- NLĐ đang tham gia BHXH bắt buộc lập hồ sơ hưởng chế độ thai sản nộp cho đơn vị SDLĐ. Thời hạn nộp hồ sơ chậm nhất 45 ngày kể từ ngày hết thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản.
- NLĐ sinh con, nhận cơn khi nhờ mang thai hộ, nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi trong thời gian bảo lưu thời gian đóng BHXH do đã thôi việc, phục viên, xuất ngũ trước thời điểm sinh con, nhận con, nhận nuôi con nuôi; người cha, người trực tiếp nuôi dưỡng không tham gia BHXH theo quy định tại khoản 5 Điều 53 Luật Bảo hiểm xã hội 2024; người lao động giải quyết hưởng chế độ thai sản khi không còn người SDLĐ nộp hồ sơ theo quy định đến cơ quan BHXH.
Hồ sơ hưởng chế độ thai sản gồm: Mẫu đề nghị hưởng chế độ thai sản (mẫu 14-HSB) ban hành kèm theo Quyết định 1222/QĐ-BTC ngày 21/5/2026 và các giấy tờ khác chứng mình.
Xem đầy đủ tại: hồ sơ hưởng chế độ thai sản
Đối với đơn vị sử dụng lao động (đơn vị SDLĐ)
- Tiếp nhận hồ sơ từ người lao động;
- Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định, lập Danh sách đề nghị giải quyết hưởng chế độ ốm đau, thai sản, DSPHSK (Mẫu số 01B-HSB) nộp đến cơ quan BHXH nơi đơn vị SDLĐ đóng BHXH.
Cách thức nộp hồ sơ: Đơn vị sử dụng lao động, người lao động người tham gia BHXH tự nguyện nộp hồ sơ đến cơ quan BHXH bằng một trong các hình thức sau:
- Trực tuyến (trường hợp hồ sơ giấy không chuyển đổi được sang hồ sơ điện tử thì đơn vị gửi hồ sơ giấy về cơ quan BHXH qua dịch vụ bưu chính);
- Trực tiếp;
- Qua dịch vụ bưu chính công ích.
Bước 2. Cơ quan BHXH tiếp nhận hồ sơ và giải quyết hoặc chuyển hồ sơ đến cơ quan BHXH có thẩm quyền giải quyết theo quy định (đối với hồ sơ tiếp nhận trực tiếp không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan BHXH nơi tiếp nhận).
Bước 3. Nhận kết quả
Đối với đơn vị SDLĐ:
- Hồ sơ, giấy tờ liên quan (Thông báo Mẫu số 70A-HSB).
- Tiền trợ cấp để chi trả cho NLĐ đăng ký nhận bằng tiền mặt tại đơn vị SDLĐ.
Đối với người lao động, người tham gia BHXH tự nguyện:
- Hồ sơ, giấy tờ liên quan (Thông báo Mẫu số 70B-HSB).
- Tiền trợ cấp.
Về cách thức nhận kết quả:
- Hồ sơ, giấy tờ liên quan: Theo hình thức đã đăng ký nhận hồ sơ (trực tiếp hoặc thông qua dịch vụ bưu chính công ích hoặc qua giao dịch điện tử);
- Tiền trợ cấp: Đơn vị SDLĐ nhận tiền trợ cấp cơ quan BHXH chuyển qua tài khoản của đơn vị để chi trả cho NLĐ đăng ký nhận bằng tiền mặt tại đơn vị SDLĐ.