Vàng có phải là đối tượng chịu thuế GTGT không?
Căn cứ vào Điều 2 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 có quy định về đối tượng chịu thuế GTGT cụ thể như sau:
Đối tượng chịu thuế
Hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, trừ các đối tượng quy định tại Điều 5 của Luật này.
Ngoài ra, căn cứ vào khoản 22 Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 thì vàng dạng thỏi, miếng chưa được chế tác thành các sản phẩm mỹ nghệ, đồ trang sức hay sản phẩm ở khâu nhập khẩu (vàng chưa qua chế tác) thì không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT.
Đối tượng không chịu thuế
...
22. Vàng dạng thỏi, miếng chưa được chế tác thành sản phẩm mỹ nghệ, đồ trang sức hay sản phẩm khác ở khâu nhập khẩu.
...
Như vậy, dựa vào các quy định trên thì vàng trang sức, mỹ nghệ đã qua chế tác sẽ là đối tượng chịu thuế GTGT vì đây là hàng hoá sử dụng cho tiêu dùng ở Việt Nam.
Lưu ý:
- Vàng trang sức, mỹ nghệ là các sản phẩm vàng có hàm lượng từ 8 Kara (tương đương 33,33%) trở lên, đã qua gia công, chế tác để phục vụ nhu cầu trang sức, trang trí mỹ thuật (căn cứ vào khoản 1 Điều 3 Nghị định 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng).
- Vàng miếng là sản phẩm vàng được dập thành miếng, có đóng chữ, số chỉ khối lượng, chất lượng, có ký mã hiệu của doanh nghiệp và ngân hàng thương mại được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây được gọi là Ngân hàng Nhà nước) cho phép sản xuất; vàng miếng do Ngân hàng Nhà nước tổ chức sản xuất trong từng thời kỳ. (Căn cứ vào khoản 2 Điều 3 Nghị định 24/2012/NĐ-CP, được sửa đổi bởi khoản 2 Điều 1 Nghị định 232/2025/NĐ-CP).

Giá vàng giảm có là căn cứ để giảm thuế GTGT không? (Hình từ Internet)
Giá vàng giảm có là căn cứ để giảm thuế GTGT không?
Căn cứ vào Điều 6 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 có quy định về căn cứ tính thuế như sau:
Căn cứ tính thuế
Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng là giá tính thuế và thuế suất.
Theo quy định trên, căn cứ tính thuế GTGT dựa vào giá tính thuế và thuế suất. Trong đó:
- Giá tính thuế: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 7 Luật thuế giá trị gia tăng 2024 thì đối với hàng hóa, dịch vụ do cơ sở kinh doanh bán ra là giá bán chưa có thuế GTGT;
- Thuế suất: Căn cứ vào Điều 9 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 thì vàng là hàng hoá không thuộc quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 9 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024, nghĩa là không thuộc trường hợp hưởng mức thuế suất 0% và 5%. Do đó, vàng đã qua chế tác thành các sản phẩm mỹ nghệ, đồ trang sức sẽ được áp dụng mức thuế suất là 10%.
Theo quy định trên, căn cứ để tính thuế giá trị gia tăng là dựa vào giá tính thuế và thuế suất của hàng hoá đó chứ không phải dựa vào mức giá thị trường. Vì vậy, giá vàng giảm không là căn cứ để giảm thuế GTGT.
Việt Nam quản lý kinh doanh vàng theo nguyên tắc nào?
Theo Điều 4 Nghị định 24/2012/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 3 và 4 Điều 1 Nghị định 232/2025/NĐ-CP và có khoản bị bãi bỏ bởi Điều 2 Nghị định 232/2025/NĐ-CP thì Nhà nước quản lý hoạt động kinh doanh vàng theo các nguyên tắc sau:
[1] Quyền sở hữu vàng hợp pháp của tổ chức, cá nhân được công nhận và bảo vệ theo quy định của pháp luật.
[2] Ngân hàng Nhà nước là cơ quan thay mặt Chính phủ thống nhất quản lý các hoạt động kinh doanh vàng.
[3] Quản lý hoạt động kinh doanh vàng nhằm phát triển ổn định và bền vững thị trường vàng, bảo đảm hoạt động sản xuất, gia công vàng trang sức, mỹ nghệ phục vụ cho thị trường trong nước và xuất khẩu theo quy định của pháp luật.
[4] Tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh vàng phải tuân thủ các quy định của Nghị định này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
[5] Hoạt động sản xuất vàng miếng; kinh doanh mua, bán vàng miếng; sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ là hoạt động kinh doanh có điều kiện và phải được Ngân hàng Nhà nước cấp Giấy phép sản xuất vàng miếng, Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng, Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ. Hoạt động mua, bán vàng nguyên liệu của doanh nghiệp, ngân hàng thương mại sản xuất vàng miếng được thực hiện theo quy định tại Nghị định 24/2012/NĐ-CP.
[6] Hoạt động kinh doanh mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ là hoạt động kinh doanh có điều kiện không cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh.
[7] Hoạt động phái sinh về vàng của các ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện theo Điều 112 Luật Các tổ chức tín dụng 2024.
[8] Các hoạt động kinh doanh vàng khác, trừ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu vàng, hoạt động mua, bán vàng nguyên liệu trong nước của doanh nghiệp sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ và doanh nghiệp kinh doanh mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ và các hoạt động quy định tại khoản 6, 7, 8 Điều 4 Nghị định 24/2012/NĐ-CP, là hoạt động kinh doanh thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh. Tổ chức, cá nhân chỉ được thực hiện các hoạt động kinh doanh vàng khác sau khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép và được Ngân hàng Nhà nước cấp Giấy phép.
[9] Việc thanh toán mua, bán vàng có giá trị từ 20 triệu đồng trong ngày trở lên của một khách hàng phải được thực hiện thông qua tài khoản thanh toán của khách hàng và tài khoản thanh toán của doanh nghiệp kinh doanh vàng mở tại ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];