Công văn 1397/CV-ĐKKD&QLDN về kê khai thông tin chủ sở hữu hưởng lợi tại TP Hải Phòng chi tiết ra sao?
Sở Tài chính TP Hải Phòng đã có Công văn 1397/CV-ĐKKD&QLDN ngày 22/10/2026 về kê khai thông tin chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp.
>> Tải về Công văn 1397/CV-ĐKKD&QLDN năm 2026
Nhằm bảo đảm tính chính xác, đầy đủ của dữ liệu đăng ký doanh nghiệp, đồng thời giúp các doanh nghiệp chủ động hoàn thiện hồ sơ pháp lý và hạn chế việc phải bổ sung hồ sơ trong quá trình thực hiện các thủ tục về đăng ký doanh nghiệp sau này, cơ quan đăng ký kinh doanh thành phố Hải Phòng đề nghị:
Các doanh nghiệp có trụ sở chính đăng ký trên địa bàn thành phố khẩn trương rà soát, đối chiếu thông tin đã kê khai và thực hiện thủ tục thông báo bổ sung, kê khai thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp trên Hệ thống thông tin Quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Doanh nghiệp nộp hồ sơ kê khai bổ sung thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi bằng hình thức trực tuyến trên Hệ thống thông tin Quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Thời hạn yêu cầu hoàn thành trước ngày 10/12/2026.
Thành phần hồ sơ bổ sung bao gồm: Giấy đề nghị đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp theo Mẫu số 12 và Danh sách chủ sở hữu hưởng lợi theo Mẫu số 10 ban hành kèm theo Thông tư 121/2026/TT-BTC ngày 21/8/2026 của Bộ Tài chính, kèm theo Giấy ủy quyền (nếu thuộc trường hợp ủy quyền cho người khác đi nộp hồ sơ). Trường hợp người nộp hồ sơ là người có thẩm quyền ký văn bản đề nghị đăng ký doanh nghiệp, hồ sơ không bao gồm Mẫu số 12 (theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định 296/2026/NĐ-CP). Đồng thời đề nghị doanh nghiệp nhập đúng thông tin chủ sở hữu hưởng lợi trên hệ thống theo hồ sơ kê khai. Doanh nghiệp tham khảo mẫu văn bản và trình tự thực hiện tại http://dangkydoanhnghiep.hpnet.vn/ViewDetail/1435.aspx.
Tiêu chí xác định chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp căn cứ quy định tại Điều 3 Nghị định 296/2026/NĐ-CP ngày 23/7/2026 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 168/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp.
Việc kê khai thông tin chủ sở hữu hưởng lợi căn cứ quy định tại Điều 4 Nghị định 296/2026/NĐ-CP ngày 23/7/2026 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 168/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp.
Vi phạm về kê khai thông tin chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định 288/2026/NĐ-CP ngày 21/7/2026 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 122/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư.

Công văn 1397/CV-ĐKKD&QLDN về kê khai thông tin chủ sở hữu hưởng lợi tại TP Hải Phòng chi tiết ra sao? (Hình từ Internet)
Sở hữu bao nhiêu vốn điều lệ thì được xem là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp?
Tại Điều 17 Nghị định 168/2025/NĐ-CP được sửa đổi bởi Điều 3 Nghị định 296/2026/NĐ-CP quy định về cách xác định chủ hưởng lợi của doanh nghiệp như sau:
Chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp
Chủ sở hữu hưởng lợi của một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân là một hoặc nhiều cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu hoặc kiểm soát cuối cùng trên thực tế đối với doanh nghiệp đó, không bao gồm cá nhân đại diện cho vốn nhà nước trong doanh nghiệp (sau đây gọi là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp). Chủ sở hữu hưởng lợi là một hoặc nhiều cá nhân được xác định như sau:
1. Cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc vừa trực tiếp và gián tiếp sở hữu từ 25% vốn điều lệ hoặc từ 25% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của doanh nghiệp.
Chủ sở hữu gián tiếp là cá nhân sở hữu từ 25% trở lên vốn điều lệ hoặc từ 25% trở lên tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của doanh nghiệp thông qua các tổ chức hoặc các thỏa thuận pháp lý khác.
Trường hợp nhóm cá nhân có mối quan hệ gia đình theo quy định tại khoản 22 Điều 4 Luật Doanh nghiệp hoặc hợp đồng cùng nhau sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc vừa trực tiếp và gián tiếp từ 25% trở lên vốn điều lệ hoặc từ 25% trở lên tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của doanh nghiệp, doanh nghiệp xác định các cá nhân trong nhóm này là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp.
Đối với công ty hợp danh, tất cả thành viên hợp danh là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp không phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn điều lệ hay quyền biểu quyết của họ tại doanh nghiệp.
2. Trường hợp cá nhân không đáp ứng tiêu chí quy định tại khoản 1 Điều này, hoặc có căn cứ cho thấy cá nhân được xác định theo tiêu chí quy định tại khoản 1 Điều này không phải là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp, doanh nghiệp xác định chủ sở hữu hưởng lợi thông qua các phương thức khác theo pháp luật hoặc trên thực tế. Việc kiểm soát được thông qua một hoặc nhiều các quyền sau: Quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc bãi nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên hoặc chủ tịch hội đồng quản trị, đa số hoặc tất cả thành viên hoặc chủ tịch hội đồng thành viên, Giám đốc, Tổng giám đốc; sửa đổi, bổ sung điều lệ của doanh nghiệp; thay đổi cơ cấu tổ chức; quyết định chính sách tài chính, đầu tư và hoạt động của doanh nghiệp; tổ chức lại, giải thể doanh nghiệp.
3. Trong trường hợp không có cá nhân đáp ứng tiêu chí tại khoản 1,2 Điều này, doanh nghiệp xác định một cá nhân là người quản lý doanh nghiệp có quyền hạn lớn nhất để hành động thay mặt cho doanh nghiệp, trừ trường hợp cá nhân đại diện vốn nhà nước trong doanh nghiệp.
Như vậy, người nào trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc vừa trực tiếp và gián tiếp sở hữu từ 25% vốn điều lệ của công ty thì chính là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp.
Trong đó, gián tiếp sở hữu từ 25% vốn điều lệ là trường hợp cá nhân sở hữu vốn điều lệ thông qua các tổ chức hoặc các thỏa thuận pháp lý khác.
Tuy nhiên, đối với trường hợp công ty hợp danh thì tất cả các thành viên hợp danh của công ty đều là chủ sở hữu hưởng lợi, không phân biệt tỷ lệ vốn điều lệ mà thành viên đó đang nắm giữ.
Kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp được xác định theo năm nào?
Căn cứ Điều 5 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025 quy định kỳ tính thuế như sau:
Kỳ tính thuế
1. Kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp được xác định theo năm dương lịch hoặc năm tài chính do doanh nghiệp lựa chọn, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. Trường hợp doanh nghiệp lựa chọn năm tài chính khác với năm dương lịch thì thông báo với cơ quan thuế quản lý trực tiếp trước khi thực hiện.
2. Kỳ tính thuế đối với doanh nghiệp quy định tại điểm c, điểm d khoản 2 Điều 2 của Luật này thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Theo đó, kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp được xác định theo năm dương lịch hoặc năm tài chính do doanh nghiệp lựa chọn. Trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025.
Trường hợp doanh nghiệp lựa chọn năm tài chính khác với năm dương lịch thì thông báo với cơ quan thuế quản lý trực tiếp trước khi thực hiện.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];