06 nhóm nội dung được sửa đổi Dự thảo Luật Quản lý thuế tại Công văn 933?
Ngày 25/09/2025, Thuế tỉnh Đắk Lắk đã có Công văn 933/DLA-NVDTPC năm 2025 về việc tuyên truyền, phổ biến dự thảo Luật Quản lý thuế (sửa đổi).
Xem chi tiết Công văn 933/DLA-NVDTPC năm 2025 tại đây: Tải về
Theo đó, để tạo điều kiện cho người dân và doanh nghiệp nắm bắt được các nội dung của Dự án Luật Quản lý thuế (dự thảo Luật) trong giai đoạn trước khi Luật ban hành nhằm tạo đồng thuận xã hội, Thuế tỉnh Đắk Lắk tuyên truyền, phổ biến một số điểm mới, điểm nổi bật trong dự thảo Luật, so với Luật hiện hành, dự thảo Luật có 6 nhóm nội dung được sửa đổi như sau:
(1) Về quy định chung:
- Sửa đổi quy định về người nộp thuế để bao quát doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế, tổ chức nước ngoài hoạt động trên nền tảng thương mại điện tử, các mô hình kinh tế mới như công nghệ tài chính, trí tuệ nhân tạo, tài sản số.
- Về nội dung quản lý thuế, bổ sung mới quy định cơ quan thuế thực hiện quản lý thuế theo phân nhóm người nộp thuế; bổ sung phạm vi quản lý thuế đối với các giao dịch xuyên biên giới, kinh tế số, thương mại điện tử, tài sản số và loại hình, giao dịch kinh tế mới phát sinh.
- Về bảo mật, công khai thông tin người nộp thuế quy định về cung cấp thông tin, công khai thông tin và trách nhiệm sử dụng thông tin nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người nộp thuế về việc được bảo mật thông tin.
(2) Về chức năng quản lý thuế:
- Về mã số thuế (Điều 11 dự thảo Luật): Bổ sung quy định mã số định danh cá nhân là mã số thuế để cải cách thủ tục hành chính và thúc đẩy liên thông dữ liệu.
- Về khai thuế, tỉnh thuế, khấu trừ thuế (Điều 12 dự thảo Luật): Sửa đổi quy định về thời hạn khai bổ sung giảm từ thời hạn 10 năm xuống 05 năm nhằm phù hợp xu hướng quốc tế, tăng tính tuân thủ của người nộp thuế, giảm nguồn tài nguyên phục vụ lưu trữ dữ liệu.
- Về nộp thuế, gia hạn nộp thuế (Điều 14 dự thảo Luật): Sửa đổi, bổ sung quy định về thời hạn, phương thức nộp thuế điện tử, chứng từ nộp thuế và xác định ngày nộp thuế và gia hạn nộp thuế để xử lý bất cập trong thực hiện.
- Về xử lý số tiền thuế nộp thừa (Điều 15 dự thảo Luật): Quy định cụ thể: Người nộp thuế có số tiền thuế nộp thừa được bù trừ số tiền thuế nộp thừa với số tiền thuế phải nộp hoặc được hoàn trả số tiền thuế nộp thừa, những trường hợp không hoàn trả số tiền thuế nộp thừa để xử lý bất cập trong thực hiện.
- Về xử lý đối với việc chậm nộp tiền thuế (Điều 16 dự thảo Luật): Bổ sung các trường hợp phải nộp tiền chậm nộp: (i) tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán có trách nhiệm thanh toán tiền chậm nộp trong trường hợp do lỗi của tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán dẫn đến người nộp thuế bị tính tiền chậm nộp; (ii) cơ quan, tổ chức khấu trừ, nộp thay chậm hoặc thiếu so với quy định; (iii) tổ chức tín dụng bảo lãnh số thuế phải nộp theo quy định pháp luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Nội dung này để bao quát các trường hợp phát sinh trong thực tiễn.
- Về hoàn thuế (Điều 18 dự thảo Luật): Sửa đổi, bổ sung các trường hợp hoàn thuế, thủ tục hoàn thuế, phân loại hồ sơ hoàn thuế, thẩm quyền quyết định hoàn thuế để xử lý bất cập trong thực hiện.
- Về miễn thuế, giảm thuế, không thu thuế, không chịu thuế (Điều 19 dự thảo Luật): Bổ sung nguyên tắc đối với trường hợp miễn thuế, giảm thuế, không thu thuế tự động thì hệ thống thông tin của cơ quan quản lý thuế căn cứ hồ sơ đề nghị của người nộp thuế và cơ sở dữ liệu quản lý thuế để xác định việc miễn thuế, giảm thuế, không thu thuế nhằm tạo thuận lợi cho người nộp thuế.
- Về khoanh tiền thuế nợ (Điều 20 dự thảo Luật): Sửa đổi, bổ sung thẩm quyền khoanh nợ cho Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế; bổ sung quy định khoanh tiền thuế nợ đối với trường hợp: Người nộp thuế bị hạn chế trên thực tế quyền khai thác, sử dụng về đất đai, khoáng sản được cấp, được giao do nguyên nhân từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền dẫn đến nợ nghĩa vụ tài chính về đất, khoáng sản. Nội dung bổ sung này nhằm đảm bảo quyền lợi chính đáng của người nộp thuế.
- Về xóa tiền thuế nợ (Điều 21 dự thảo Luật): Bổ sung trường hợp được xóa nợ thuế như sau: Tiền thuế nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã đã bị Tòa án tuyên bố phá sản và được Tòa án tuyên bố chấm dứt nghĩa vụ thuế tại Quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản.
- Về kiểm tra thuế (Điều 22 dự thảo Luật): Bổ sung nguyên tắc ưu tiên kiểm tra trực tuyến; các biện pháp pháp áp dụng trong kiểm tra thuế đối với trường hợp có dấu hiệu trốn thuế; kiểm tra lại khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc có rủi ro cao; sửa đổi thời hạn kiểm tra thuế để phù hợp với đặc thù của kiểm tra thuế (tăng từ 10 ngày lên 20 ngày, đối với kiểm tra giao dịch liên kết là 40 ngày, trường hợp phức tạp phải trao đổi thông tin với cơ quan thuế nước ngoài thì thời gian kiểm tra không quá 2 năm).
- Về cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế: Bổ sung quy định giao thẩm quyền cho thủ trưởng cơ quan thuế quyết định trường hợp thực hiện cưỡng chế. Bổ sung trường hợp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế: Người nộp thuế đã bị xử phạt hành chính về hành vi không chấp hành quyết định kiểm tra thuế nhưng tiếp tục không chấp hành quyết định kiểm tra thuế để xử lý bất cập trong thực hiện.
(3) Về hóa đơn điện tử và chứng từ điện tử (Điều 26, 27 dự thảo Luật): Bổ sung chương trình khuyến khích người tiêu dùng lấy hóa đơn với kinh phí và khen thưởng người tiêu dùng tố giác cơ sở kinh doanh không lập và giao hóa đơn điện từ tối đa 0,1% số thu thuế giá trị gia tăng nội địa năm trước.
(4) Về nhiệm vụ, quyền hạn của bên liên quan trong quản lý thuế: Bổ sung nhiệm vụ cơ quan quản lý thuế, của tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc kết nối, chia sẻ thông tin theo hướng hiện đại, tích hợp dữ liệu, tăng tính liên thông trong quản lý thuế theo tinh thần của Nghị quyết 57-NQ/TW năm 2024.
(5) Về xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế: Sửa đổi thẩm quyền xử phạt phù hợp với cơ cấu tổ chức mới của cơ quan hải quan. Bổ sung trường hợp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế, Bổ sung thêm một biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế là nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản để xử lý bất cập trong thực hiện.
Bổ sung quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế của Kiểm toán nhà nước, cơ quan thanh tra để bảo đảm nguyên tắc hành vi vi phạm hành chính được phát hiện, ngăn chặn kịp thời.
(6) Về hiệu lực thi hành và quy định chuyển tiếp: Quy định hiệu lực thi hành Luật và hiệu lực thi hành một số nội dung cụ thể; quy định các vấn đề chuyển tiếp để áp dụng thống nhất, tránh phát sinh vướng mắc.

06 nhóm nội dung được sửa đổi Dự thảo Luật Quản lý thuế tại Công văn 933? (Hình từ Internet)
Luật Quản lý thuế mới nhất hiện tại là năm nào?
Từ ngày 29/11/2024, Quốc hội đã thông qua Luật Sửa đổi, bổ sung Luật Chứng khoán, Luật Kế toán, Luật Kiểm toán độc lập, Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Luật Quản lý thuế, Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Dự trữ quốc gia, Luật Xử lý vi phạm hành chính 2024 có hiệu lực từ ngày 01/1/2025, trong đó có nội dung sửa đổi bổ sung Luật Quản lý thuế 2019.
Như vậy, hiện nay, Luật Quản lý thuế mới nhất hiện nay là Luật Quản lý thuế 2019.
Các biện pháp khắc phục hậu quả trong xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế theo Luật Quản lý thuế?
Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 138 Luật Quản lý thuế 2019 về hình thức xử phạt, mức phạt tiền và biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
Hình thức xử phạt, mức phạt tiền và biện pháp khắc phục hậu quả
1. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế bao gồm:
a) Cảnh cáo;
b) Phạt tiền.
2. Mức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế được quy định như sau:
a) Mức phạt tiền tối đa đối với hành vi quy định tại Điều 141 của Luật này thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;
b) Phạt 10% tính trên số tiền thuế khai thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc số tiền thuế khai tăng trong trường hợp được miễn, giảm, hoàn, không thu thuế đối với hành vi quy định tại điểm a khoản 2 Điều 142 của Luật này;
c) Phạt 20% tính trên số tiền thuế khai thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc số tiền thuế khai tăng trong trường hợp được miễn, giảm, hoàn, không thu thuế đối với hành vi quy định tại khoản 1 và các điểm b, c khoản 2 Điều 142 của Luật này;
d) Phạt từ 01 lần đến 03 lần số tiền thuế trốn đối với hành vi quy định tại Điều 143 của Luật này.
3. Các biện pháp khắc phục hậu quả trong xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế bao gồm:
a) Buộc nộp đủ số tiền thuế trốn, thiếu;
b) Buộc nộp đủ số tiền đã miễn, giảm, hoàn, không thu thuế không đúng.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Như vậy, theo quy định trên các biện pháp khắc phục hậu quả trong xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế theo Luật Quản lý thuế 2019 bao gồm:
- Buộc nộp đủ số tiền thuế trốn, thiếu;
- Buộc nộp đủ số tiền đã miễn, giảm, hoàn, không thu thuế không đúng.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];