Thẩm quyền đề xuất đàm phán, ký kết điều ước quốc tế, thỏa thuận về viện trợ là cơ quan nhà nước nào?
Căn cứ theo Điều 33 Nghị định 305/2025/NĐ-CP quy định về cơ quan đề xuất đàm phán, ký kết điều ước quốc tế, thỏa thuận về viện trợ như sau:
Điều 33. Cơ quan đề xuất đàm phán, ký kết điều ước quốc tế, thỏa thuận về viện trợ
1. Bộ Tài chính là cơ quan đề xuất đàm phán, ký kết điều ước quốc tế, thỏa thuận về viện trợ liên quan đến chiến lược, chính sách, khuôn khổ hợp tác, lĩnh vực ưu tiên; mục tiêu, nguyên tắc và điều kiện cần tuân thủ; cam kết viện trợ; nghĩa vụ, trách nhiệm, quyền hạn của các bên và những nội dung khác cho một giai đoạn, cho một tập hợp chương trình, dự án, phi dự án hay một chương trình, dự án, phi dự án cụ thể; quy chế quản lý và nghiệp vụ tài chính, giải ngân, thanh toán, quyết toán viện trợ.
2. Cơ quan chủ quản là cơ quan đề xuất đàm phán, ký kết thỏa thuận về viện trợ liên quan đến một tập hợp chương trình, dự án, phi dự án hay một chương trình, dự án, phi dự án cụ thể.
Thông qua quy định trên, thẩm quyền đề xuất đàm phán, ký kết điều ước quốc tế, thỏa thuận về viện trợ thuộc về cơ quan dưới đây:
- Cơ quan đề xuất đàm phán, ký kết điều ước quốc tế, thỏa thuận về viện trợ liên quan đến chiến lược, chính sách, khuôn khổ hợp tác, lĩnh vực ưu tiên; mục tiêu, nguyên tắc và điều kiện cần tuân thủ; cam kết viện trợ; nghĩa vụ, trách nhiệm, quyền hạn của các bên và những nội dung khác cho một giai đoạn, cho một tập hợp chương trình, dự án, phi dự án hay một chương trình, dự án, phi dự án cụ thể; quy chế quản lý và nghiệp vụ tài chính, giải ngân, thanh toán, quyết toán viện trợ là Bộ Tài chính.
- Cơ quan đề xuất đàm phán, ký kết thỏa thuận về viện trợ liên quan đến một tập hợp chương trình, dự án, phi dự án hay một chương trình, dự án, phi dự án cụ thể là Cơ quan chủ quản.
>>>> Xem thêm: Văn bản hợp nhất Luật Điều ước quốc tế số 10/VBHN-VPQH 2026 chi tiết như thế nào?
>>>> Xem thêm: Từ 22/1/2026, phân cấp thẩm quyền kiểm tra chuyên ngành trong lĩnh vực viện trợ của nước ngoài cho Việt Nam thế nào?

Thẩm quyền đề xuất đàm phán, ký kết điều ước quốc tế, thỏa thuận về viện trợ là cơ quan nhà nước nào? (Hình từ Internet)
Yêu cầu ký kết điều ước quốc tế, thỏa thuận về viện trợ và trao đổi văn bản về viện trợ là gì?
Tại Điều 31 Nghị định 305/2025/NĐ-CP quy định yêu cầu ký kết điều ước quốc tế, thỏa thuận về viện trợ và trao đổi văn bản về viện trợ như sau:
[1] Điều ước quốc tế về viện trợ được ký kết trong những trường hợp sau đây:
- Những nội dung có tính nguyên tắc về mục tiêu, quy mô, điều kiện, ưu tiên cung cấp viện trợ cho một giai đoạn hay chương trình, dự án, phi dự án cụ thể cần có cam kết của bên tiếp nhận viện trợ với ràng buộc pháp lý quốc tế để đảm bảo tính khả thi, đảm bảo những yêu cầu, ưu đãi đối với viện trợ và lợi ích của Việt Nam được đáp ứng, đảm bảo miễn trừ trách nhiệm trong những hoàn cảnh, điều kiện nhất định, đảm bảo được thực hiện viện trợ theo quy định pháp luật của Việt Nam và đảm bảo an toàn cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan của Việt Nam;
- Trường hợp khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
[2] Thỏa thuận về viện trợ được ký kết trong những trường hợp cần có cam kết của bên tiếp nhận viện trợ đối với những nội dung thuộc khoản 1 Điều này nhưng không cần thiết ràng buộc pháp lý quốc tế và không khác với quy định pháp luật của Việt Nam và bên tiếp nhận viện trợ.
[3] Hình thức trao đổi văn bản: Ngoài những trường hợp quy định tại [1] và [2], cơ quan quản lý nhà nước về viện trợ và cơ quan chủ quản thực hiện trao đổi văn bản dựa trên yêu cầu thực tế, đề nghị của bên tiếp nhận viện trợ căn cứ quy định pháp lý của Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam và bên tiếp nhận viện trợ là thành viên.
[4] Nguyên tắc cung cấp và quản lý viện trợ theo quy định của pháp luật Việt Nam, nguyên tắc ưu tiên sử dụng hàng hóa, dịch vụ, kỹ thuật, nhân lực và nhà thầu của Việt Nam quy định tại Điều 7 Nghị định này cần được thể hiện trong điều ước quốc tế, thỏa thuận về viện trợ và văn bản trao đổi về viện trợ với bên tiếp nhận viện trợ, trừ những trường hợp đặc thù không thể áp dụng.
Cơ sở ký kết điều ước quốc tế, thỏa thuận về viện trợ và trao đổi văn bản về viện trợ là gì?
Theo Điều 32 Nghị định 305/2025/NĐ-CP quy định cơ sở ký kết điều ước quốc tế, thỏa thuận về viện trợ và trao đổi văn bản về viện trợ như sau:
- Chiến lược, kế hoạch, ưu tiên hợp tác phát triển, quy định pháp luật có liên quan của Việt Nam và bên tiếp nhận viện trợ, điều ước quốc tế mà Việt Nam và bên tiếp nhận viện trợ là thành viên.
- Danh mục Báo cáo đề xuất cấp viện trợ, Quyết định chủ trương viện trợ, Quyết định viện trợ được cấp có thẩm quyền của Việt Nam phê duyệt và các quyết định phê duyệt viện trợ của bên tiếp nhận viện trợ.
- Sự cần thiết có cam kết của Việt Nam và bên tiếp nhận viện trợ để có thể triển khai thực hiện chương trình, dự án, phi dự án.
- Kết quả trao đổi, đàm phán giữa các cơ quan liên quan của Việt Nam và bên tiếp nhận viện trợ.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];