- Đương sự trong vụ án dân sự có thay đổi nơi cư trú trong quá trình tòa án giải quyết tranh chấp có cần thông báo cho tòa án biết nơi cư trú mới không?
- Quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn như thế nào?
- Quyền và nghĩa vụ của bị đơn hiện nay là gì?
- Quyền và nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cụ thể ra sao?
- Trường hợp nếu đương sự thay đổi nơi cư trú thì việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng thực hiện như thế nào?
Đương sự trong vụ án dân sự có thay đổi nơi cư trú trong quá trình tòa án giải quyết tranh chấp có cần thông báo cho tòa án biết nơi cư trú mới không?
Căn cứ theo Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định:
Điều 70. Quyền, nghĩa vụ của đương sự
[…]
3. Cung cấp đầy đủ, chính xác địa chỉ nơi cư trú, trụ sở của mình; trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc nếu có thay đổi địa chỉ nơi cư trú, trụ sở thì phải thông báo kịp thời cho đương sự khác và Tòa án.
[…]
Như vậy, đương sự trong vụ án dân sự có thay đổi nơi cư trú trong quá trình tòa án giải quyết tranh chấp phải thông báo cho tòa án biết nơi cư trú mới.
Thông tin trên là: Đương sự trong vụ án dân sự có thay đổi nơi cư trú trong quá trình tòa án giải quyết tranh chấp có cần thông báo cho tòa án biết nơi cư trú mới không?

Đương sự trong vụ án dân sự có thay đổi nơi cư trú trong quá trình tòa án giải quyết tranh chấp có cần thông báo cho tòa án biết nơi cư trú mới không? (Hình từ Internet)
Quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn như thế nào?
Theo Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn như sau:
(1) Các quyền, nghĩa vụ của đương sự quy định tại Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
(2) Thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện; rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
(3) Chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.”
Quyền và nghĩa vụ của bị đơn hiện nay là gì?
Tại Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định quyền và nghĩa vụ của bị đơn hiện nay như sau:
(1) Các quyền, nghĩa vụ của đương sự quy định tại Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
(2) Được Tòa án thông báo về việc bị khởi kiện.
(3) Chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.
(4) Đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, nếu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề nghị đối trừ với nghĩa vụ của nguyên đơn. Đối với yêu cầu phản tố thì bị đơn có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
(5) Đưa ra yêu cầu độc lập đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và yêu cầu độc lập này có liên quan đến việc giải quyết vụ án. Đối với yêu cầu độc lập thì bị đơn có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
(6) Trường hợp yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập không được Tòa án chấp nhận để giải quyết trong cùng vụ án thì bị đơn có quyền khởi kiện vụ án khác.
Quyền và nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cụ thể ra sao?
Căn cứ Điều 73 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định quyền và nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cụ thể như sau:
(1) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền, nghĩa vụ sau đây:
- Các quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- Có thể có yêu cầu độc lập hoặc tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc với bên bị đơn.
(2) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và yêu cầu độc lập này có liên quan đến việc giải quyết vụ án thì có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Trường hợp yêu cầu độc lập không được Tòa án chấp nhận để giải quyết trong cùng vụ án thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền khởi kiện vụ án khác.
(3) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc chỉ có quyền lợi thì có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
(4) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu tham gia tố tụng với bên bị đơn hoặc chỉ có nghĩa vụ thì có quyền, nghĩa vụ của bị đơn quy định tại Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Trường hợp nếu đương sự thay đổi nơi cư trú thì việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng thực hiện như thế nào?
Căn cứ theo Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định:
Điều 177. Thủ tục cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp cho cá nhân
1. Văn bản tố tụng được cấp, tống đạt, thông báo đến địa chỉ mà các đương sự đã gửi cho Tòa án theo phương thức đương sự yêu cầu hoặc tới địa chỉ mà các đương sự đã thỏa thuận và đề nghị Tòa án liên hệ theo địa chỉ đó.
2. Người được cấp, tống đạt, thông báo là cá nhân thì văn bản tố tụng phải được giao trực tiếp cho họ. Đương sự phải ký nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 175 của Bộ luật này.
3. Trường hợp người được cấp, tống đạt, thông báo đã chuyển đến nơi cư trú mới và đã thông báo cho Tòa án việc thay đổi nơi cư trú thì phải cấp, tống đạt, thông báo theo địa chỉ nơi cư trú mới của họ. Đương sự phải ký nhận hoặc điểm chỉ theo quy định tại khoản 1 Điều 175 của Bộ luật này. Nếu họ không thông báo cho Tòa án biết về việc thay đổi địa chỉ nơi cư trú và địa chỉ nơi cư trú mới thì Tòa án thực hiện theo quy định tại Điều 179 và Điều 180 của Bộ luật này.
4. Trường hợp người được cấp, tống đạt, thông báo từ chối nhận văn bản tố tụng thì người thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo phải lập biên bản trong đó nêu rõ lý do của việc từ chối, có xác nhận của đại diện tổ dân phố hoặc Công an xã, phường, thị trấn về việc người đó từ chối nhận văn bản tố tụng. Biên bản phải được lưu trong hồ sơ vụ án.
5. Trường hợp người được cấp, tống đạt, thông báo vắng mặt thì người thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo phải lập biên bản và giao cho người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng nơi cư trú với họ hoặc tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc để thực hiện việc ký nhận hoặc điểm chỉ và yêu cầu người này cam kết giao lại tận tay ngay cho người được cấp, tống đạt, thông báo. Biên bản phải được lưu trong hồ sơ vụ án.
Trường hợp người được cấp, tống đạt, thông báo vắng mặt ở nơi cư trú mà không rõ thời điểm trở về hoặc không rõ địa chỉ nơi cư trú mới của họ thì người thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo phải lập biên bản về việc không thực hiện được việc cấp, tống đạt, thông báo, có xác nhận của đại diện tổ dân phố hoặc Công an xã, phường, thị trấn; đồng thời, thực hiện thủ tục niêm yết công khai văn bản cần tống đạt theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật này. Biên bản phải được lưu trong hồ sơ vụ án.
Theo đó, trường hợp đương sự đã chuyển đến nơi cư trú mới và đã thông báo cho Tòa án việc thay đổi nơi cư trú thì phải cấp, tống đạt, thông báo theo địa chỉ nơi cư trú mới.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];