Địa điểm bắn pháo hoa ngày 24/11/2026 tại TPHCM ở đâu?

12:00 | 29/10/2026
Địa điểm bắn pháo hoa ngày 24/11/2026 tại TPHCM ở đâu?
Nội dung chính
  1. Địa điểm bắn pháo hoa ngày 24 11 2026 tại TPHCM ở đâu?
  2. Chủ thể nào đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý di sản văn hóa thuộc sở hữu toàn dân?
  3. Di sản văn hóa nào được xác lập thuộc sở hữu toàn dân?

Địa điểm bắn pháo hoa ngày 24 11 2026 tại TPHCM ở đâu?

Theo tiết 3.8 Tiểu mục 3 Mục 3 Kế hoạch 556/KH-UBND của UBND TPHCM TẢI VỀ có nêu địa điểm bắn pháo hoa ngày 24 11 2026 tại TPHCM:

II. NỘI DUNG CÁC HOẠT ĐỘNG
[...]
3. Các chuỗi hoạt động Tuần Văn hóa - Đại đoàn kết
[...]
3.8. Chương trình nghệ thuật đặc biệt chào mừng “Ngày Văn hóa Việt Nam” (24/11) năm 2026 và bắn pháo hoa nghệ thuật
- Đơn vị chỉ đạo: Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đơn vị chủ trì thực hiện: Sở Văn hóa và Thể thao.
- Đơn vị phối hợp thực hiện: các sở, ban, ngành, đơn vị, địa phương có liên quan.
- Chương trình nghệ thuật (khởi động Liên hoan Âm nhạc Hozo - 2026): dự kiến lúc 20 giờ 00 ngày 23 tháng 11 năm 2026 tại Công viên bờ sông Sài Gòn.
- Chương trình cầu truyền hình trực tiếp: dự kiến lúc 20 giờ 00 ngày 24 tháng 11 năm 2026:
+ Khu vực 1: Sân khấu ngoài trời - đường đi bộ Nguyễn Huệ.
+ Khu vực 2: Sân khấu ngoài trời - Công viên Trung tâm thành phố mới, phường Bình Dương.
+ Khu vực 3: Quảng trường Tháp Tam Thắng, phường Vũng Tàu.
- Nội dung: Tổ chức Chương trình nghệ thuật kết hợp bắn pháo hoa nghệ thuật tạo điểm nhấn chuỗi hoạt động hưởng ứng “Ngày Văn hóa Việt Nam” (24/11) năm 2026.

Như vậy, địa điểm bắn pháo hoa ngày 24 11 2026 tại TPHCM dự kiến diễn ra tại Công viên bờ sông Sài Gòn vào tối ngày 23 tháng 11 năm 2026 (kết hợp trong Chương trình nghệ thuật).

Địa điểm bắn pháo hoa ngày 24/11/2026 tại TPHCM ở đâu?

Địa điểm bắn pháo hoa ngày 24 11 2026 tại TPHCM ở đâu? (Hình từ Internet)

Chủ thể nào đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý di sản văn hóa thuộc sở hữu toàn dân?

Căn cứ theo khoản 1 Điều 4 Luật Di sản văn hóa 2024 quy định như sau:

Điều 4. Sở hữu di sản văn hóa
1. Di sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là một bộ phận của di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của Nhân dân. Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý di sản văn hóa thuộc sở hữu toàn dân; công nhận và bảo vệ di sản văn hóa thuộc hình thức sở hữu riêng, sở hữu chung theo quy định của Hiến pháp, quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
[...]

Như vậy, Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý di sản văn hóa thuộc sở hữu toàn dân.

Di sản văn hóa nào được xác lập thuộc sở hữu toàn dân?

Căn cứ theo khoản 2 Điều 4 Luật Di sản văn hóa 2024, di sản văn hóa được xác lập thuộc sở hữu toàn dân bao gồm:

- Di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di sản tư liệu và hiện vật thuộc di tích; hiện vật, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia và di sản tư liệu thuộc các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp công lập và không thuộc quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 10 Luật Di sản văn hóa 2024;

- Hiện vật, di sản tư liệu thuộc bảo tàng công lập;

- Di sản văn hóa ở trong lòng đất, dưới nước thuộc đất liền, hải đảo, vùng nước nội địa, vùng biển Việt Nam;

- Di sản văn hóa dưới nước có nguồn gốc Việt Nam nằm ngoài các vùng nước nội địa, vùng biển Việt Nam được xác lập sở hữu toàn dân theo quy định của Luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

- Di sản văn hóa do cơ quan, tổ chức, đơn vị công lập sưu tầm theo các phương thức quy định tại khoản 1 Điều 42 và khoản 2 Điều 58 Luật Di sản văn hóa 2024;

- Di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia do bảo tàng công lập sưu tầm, lưu giữ, bảo quản, phát huy giá trị;

- Tài sản vô chủ, tài sản không xác định được chủ sở hữu được xác lập sở hữu toàn dân theo quy định của Bộ luật Dân sự khi được xác định là di sản văn hóa;

- Tài sản là di sản văn hóa do chủ sở hữu tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước; không có người nhận thừa kế và tài sản là di sản văn hóa khác thuộc về Nhà nước theo quy định của Bộ luật Dân sự và pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công;

- Di sản văn hóa phi vật thể không xác định được chủ thể sáng tạo và chủ sở hữu hoặc do cộng đồng, nhóm người, cá nhân sáng tạo, thực hành, trao truyền, nắm giữ và kế thừa chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước;

- Trường hợp khác do luật quy định.

Nguyễn Thị Kim Linh
Nguyễn Thị Kim Linh Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Hỏi đáp pháp luật về Văn hóa - Xã hội Xem thêm

Bài viết mới nhất