Danh mục hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, rủi ro cao Bộ Công an gồm những gì?

Ngô Diễm Quỳnh 538 lượt xem
12:30 | 30/07/2026
Danh mục hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, rủi ro cao Bộ Công an gồm những gì?
Nội dung chính
  1. Danh mục hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, rủi ro cao Bộ Công an gồm những gì?
  2. Các Bộ ngành xác định sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao phải đảm bảo như thế nào?
  3. Việc xác định mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa được thực hiện theo nguyên tắc gì?

Danh mục hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, rủi ro cao Bộ Công an gồm những gì?

Căn cứ Điều 3 Thông tư 125/2026/TT-BCA quy định:

Điều 3. Danh mục sản phẩm, hàng hóa
1. Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Công an được quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này.
2. Cục Khoa học, Chiến lược và Lịch sử Công an chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan đề xuất sửa đổi, bổ sung Danh mục sản phẩm, hàng hóa phù hợp yêu cầu quản lý nhà nước của Bộ Công an theo từng thời kỳ.

Như vậy Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Công an được quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư 125/2026/TT-BCA

A. Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao

B. Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình

Danh mục hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, rủi ro cao Bộ Công an có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

Xem thêm: Tổng hợp Danh mục hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, rủi ro cao các Bộ ngành đáp ứng Nghị định 37/2026 ra sao?

Danh mục hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, rủi ro cao Bộ Công an gồm những gì?

Danh mục hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, rủi ro cao Bộ Công an gồm những gì? (Hình từ Internet)

Các Bộ ngành xác định sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao phải đảm bảo như thế nào?

Căn cứ khoản 3 Điều 5 Nghị định 37/2026/NĐ-CP quy định:

Điều 5. Trình tự và hồ sơ xác định mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa
1. Trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành, việc quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa tiếp tục thực hiện theo các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đã được ban hành, quy định pháp luật hiện hành có liên quan và Danh mục sản phẩm, hàng hóa đang áp dụng.
2. Trên cơ sở các nguyên tắc, phương pháp và trình tự xác định mức độ rủi ro quy định tại Nghị định này, các bộ quản lý ngành, lĩnh vực có trách nhiệm rà soát, đánh giá mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý; ban hành Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao kèm theo mã số HS phù hợp với Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam, gắn với yêu cầu quản lý chất lượng tương ứng, bảo đảm có hiệu lực thực hiện kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026. Các bộ quản lý ngành, lĩnh vực có trách nhiệm ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng với các sản phẩm, hàng hóa thuộc Danh mục quy định tại khoản này theo lộ trình phù hợp, bảo đảm sự thống nhất và thuận lợi cho các đối tượng trong quá trình sử dụng.
3. Các bộ quản lý ngành, lĩnh vực khi thực hiện xác định sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao phải bảo đảm:
a) Việc phối hợp, giám sát, thống nhất quản lý rủi ro được thực hiện theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật;
b) Với mỗi sản phẩm, hàng hóa cần thực hiện đánh giá mức độ rủi ro với từng mối nguy và lựa chọn mối nguy có điểm mức độ rủi ro cao nhất để làm căn cứ đánh giá mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa đó.

Theo đó các bộ quản lý ngành, lĩnh vực khi thực hiện xác định sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao phải bảo đảm:

(1) Việc phối hợp, giám sát, thống nhất quản lý rủi ro được thực hiện theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật;

(2) Với mỗi sản phẩm, hàng hóa cần thực hiện đánh giá mức độ rủi ro với từng mối nguy và lựa chọn mối nguy có điểm mức độ rủi ro cao nhất để làm căn cứ đánh giá mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa đó.

Việc xác định mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa được thực hiện theo nguyên tắc gì?

Căn cứ Điều 4 Nghị định 37/2026/NĐ-CP quy định như sau:

Điều 4. Nguyên tắc và phương pháp xác định mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa
1. Việc xác định mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa được thực hiện theo nguyên tắc sau:
a) Căn cứ vào bằng chứng khoa học và dữ liệu áp dụng trong thực tiễn;
b) Khả năng quản lý của cơ quan nhà nước trong từng thời kỳ;
c) Bảo đảm tính minh bạch, khách quan, kế thừa nguyên tắc quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa;
d) Bảo đảm nguyên tắc tỷ lệ, yêu cầu quản lý nhà nước phải tương xứng với mức độ rủi ro;
đ) Áp dụng nguyên tắc phòng ngừa trong trường hợp có nguy cơ nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng con người, môi trường hoặc an ninh quốc gia mà chưa có đầy đủ bằng chứng khoa học.
2. Phân loại rủi ro:
Các sản phẩm, hàng hóa được phân loại theo ba mức độ rủi ro:
a) Nhóm rủi ro cao: sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro nguy hại lớn và khả năng xảy ra rủi ro cao, có thể gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng nếu không có biện pháp quản lý phù hợp;
b) Nhóm rủi ro trung bình: sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro nguy hại hoặc khả năng xảy ra rủi ro ở mức trung bình, có thể gây ảnh hưởng đáng kể nếu không có biện pháp quản lý phù hợp;
c) Nhóm rủi ro thấp: sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro nguy hại nhỏ hoặc khả năng xảy ra rủi ro thấp, hầu như không gây ảnh hưởng đáng kể trong điều kiện kiểm soát hoặc sử dụng thông thường.
3. Phương pháp xác định mức độ rủi ro định lượng
Phương pháp xác định mức độ rủi ro định lượng của sản phẩm, hàng hóa quy định tại Phụ lục VI của Nghị định này. Trường hợp cần thiết phải có quy định cho phù hợp với đặc thù của sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý, trên cơ sở phương pháp xác định mức độ rủi ro định lượng quy định tại Nghị định này, các bộ quản lý ngành, lĩnh vực quy định yêu cầu đặc thù riêng trong phương pháp xác định mức độ rủi ro định lượng cho sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý.

Theo đó việc xác định mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa được thực hiện theo nguyên tắc sau:

(1) Căn cứ vào bằng chứng khoa học và dữ liệu áp dụng trong thực tiễn;

(2) Khả năng quản lý của cơ quan nhà nước trong từng thời kỳ;

(3) Bảo đảm tính minh bạch, khách quan, kế thừa nguyên tắc quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa;

(4) Bảo đảm nguyên tắc tỷ lệ, yêu cầu quản lý nhà nước phải tương xứng với mức độ rủi ro;

(5) Áp dụng nguyên tắc phòng ngừa trong trường hợp có nguy cơ nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng con người, môi trường hoặc an ninh quốc gia mà chưa có đầy đủ bằng chứng khoa học.

Logo Thư viện Pháp luật
Ngô Diễm Quỳnh Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Hỏi đáp pháp luật về Thương mại Xem thêm

Bài viết mới nhất