- Công ty ngừng sản xuất, cho người lao động nghỉ chờ việc rồi chấm dứt hợp đồng lao động thì có phải bồi thường hay không?
- Công ty ngừng sản xuất thì có thể chấm dứt hợp đồng lao động vì thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hay không?
- Mức trợ cấp mất việc làm ít nhất mà công ty phải trả cho người lao động là bao nhiêu?
Công ty ngừng sản xuất, cho người lao động nghỉ chờ việc rồi chấm dứt hợp đồng lao động thì có phải bồi thường hay không?
Căn cứ theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 30 Bộ luật lao động 2019:
Điều 30. Tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động
1. Các trường hợp tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động bao gồm:
[...]
h) Trường hợp khác do hai bên thỏa thuận.
[...]
Căn cứ theo quy định tại Điều 31 Bộ luật lao động 2019:
Điều 31. Nhận lại người lao động hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, người lao động phải có mặt tại nơi làm việc và người sử dụng lao động phải nhận người lao động trở lại làm công việc theo hợp đồng lao động đã giao kết nếu hợp đồng lao động còn thời hạn, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác.
Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 115 Bộ luật lao động 2019:
Điều 115. Nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương
[...]
3. Ngoài quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, người lao động có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để nghỉ không hưởng lương.
Hiện không có quy định về việc cho người lao động nghỉ chờ hàng. Đối với vấn đề nghỉ chờ hàng thì có thể phía công ty thỏa thuận với người lao động là thuộc trường hợp tạm hoãn hợp đồng lao động hoặc nghỉ không hưởng lương theo quy định và công ty nhận lại người lao động làm việc khi hết thời hạn tạm hoãn trong thời hạn 15 ngày.
Tuy nhiên, dù là nghỉ do tạm hoãn hợp đồng lao động hoặc nghỉ không hưởng lương thì cũng không thuộc trường hợp công ty được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động theo quy định tại Điều 36 Bộ luật Lao động 2019.
Nên nếu công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong cả 02 trường hợp trên đều được xác định là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật và phải bồi thường theo quy định theo Điều 41 Bộ luật Lao động 2019, cụ thể như sau:
- Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết;
- Phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
- Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước theo quy định tại thì phải trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.
- Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc thì ngoài khoản tiền phải trả nêu trên, người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định để chấm dứt hợp đồng lao động.
- Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền người sử dụng lao động phải trả nêu trên và trợ cấp thôi việc theo quy định, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.
Lưu ý: Trường hợp được nhận lại làm việc, người lao động hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận của người sử dụng lao động.
Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì hai bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

Công ty ngừng sản xuất, cho người lao động nghỉ chờ việc rồi chấm dứt hợp đồng lao động thì có phải bồi thường hay không? (Hình từ Internet)
Công ty ngừng sản xuất thì có thể chấm dứt hợp đồng lao động vì thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hay không?
Theo khoản 1 Điều 42 Bộ luật Lao động 2019 thì thay đổi cơ cấu, tổ chức lại lao động là các trường hợp:
- Thay đổi cơ cấu tổ chức, tổ chức lại lao động;
- Thay đổi quy trình, công nghệ, máy móc, thiết bị sản xuất, kinh doanh gắn với ngành, nghề sản xuất, kinh doanh của người sử dụng lao động;
- Thay đổi sản phẩm hoặc cơ cấu sản phẩm.
Theo khoản 1 Điều 42 Bộ luật Lao động 2019 thì vì lý do kinh tế là các trường hợp:
- Khủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế;
- Thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước khi cơ cấu lại nền kinh tế hoặc thực hiện cam kết quốc tế.
Tuy nhiên, nếu rơi vào các trường hợp trên thì công ty không được lập tức chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động ngay mà phải:
- Xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định nếu thay đổi cơ cấu, công nghệ mà ảnh hưởng đến việc làm của nhiều người lao động. Trường hợp có chỗ làm việc mới thì ưu tiên đào tạo lại người lao động để tiếp tục sử dụng.
- Xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định nếu vì lý do kinh tế mà nhiều người lao động có nguy cơ mất việc làm.
- Sau khi xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động mà công ty vẫn không thể giải quyết được việc làm, dẫn đến việc phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm theo quy định.
Lưu ý: Việc cho thôi việc đối với người lao động vì thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế chỉ được tiến hành sau khi đã trao đổi ý kiến với tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở mà người lao động là thành viên và thông báo trước 30 ngày cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cho người lao động.
Mức trợ cấp mất việc làm ít nhất mà công ty phải trả cho người lao động là bao nhiêu?
Tại Điều 47 Bộ luật Lao động 2019 quy định như sau:
Điều 47. Trợ cấp mất việc làm
1. Người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm theo quy định tại khoản 11 Điều 34 của Bộ luật này, cứ mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương.
2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm.
3. Tiền lương để tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động mất việc làm.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Như vậy, mức trợ cấp mất việc làm mà công ty phải trả cho người lao động là ít nhất 01 tháng tiền lương đối với mỗi năm làm việc nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];