|
CHÍNH
PHỦ
-------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 267/2026/NĐ-CP
|
Hà Nội, ngày 01
tháng 7 năm 2026
|
NGHỊ ĐỊNH
QUY
ĐỊNH CHI TIẾT VIỆC ÁP DỤNG HÌNH THỨC KỶ LUẬT VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI ĐỐI VỚI
HÀNH VI GÂY LÃNG PHÍ VÀ HÀNH VI VI PHẠM TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÒNG, CHỐNG
LÃNG PHÍ
Căn cứ Luật Tổ chức
Chính phủ số 63/2025/QH15;
Căn cứ Luật Tiết
kiệm, chống lãng phí số 110/2025/QH15;
Căn cứ Luật Cán bộ,
công chức số 80/2025/QH15;
Căn cứ Luật Viên
chức số 129/2025/QH15;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính;
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết
việc áp dụng hình thức kỷ luật và bồi thường thiệt hại đối với hành vi gây lãng
phí và hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
1. Nghị định này quy định chi tiết khoản
4 Điều 37 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí số 110/2025/QH15 về việc áp dụng
hình thức kỷ luật, loại trừ kỷ luật, miễn kỷ luật, giảm nhẹ mức kỷ luật, bồi
thường thiệt hại đối với hành vi gây lãng phí và hành vi vi phạm trong tổ chức
thực hiện phòng, chống lãng phí.
2. Nguyên tắc, trình tự, thủ tục, thẩm quyền xử lý
kỷ luật không được quy định tại Nghị định này thực hiện theo quy định tại các
Nghị định khác về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức.
3. Việc xử lý kỷ luật đối với người quản lý doanh
nghiệp nhà nước, người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, kiểm soát
viên thực hiện theo quy định tại Nghị định số 181/2026/NĐ-CP
về quản lý người giữ chức danh, chức vụ và người đại diện phần vốn nhà nước tại
doanh nghiệp.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
1. Cá nhân có hành vi gây lãng phí, hành vi vi phạm
trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí.
2. Người có thẩm quyền và trách nhiệm xử lý kỷ luật,
bồi thường thiệt hại đối với hành vi gây lãng phí và hành vi vi phạm trong tổ
chức thực hiện phòng, chống lãng phí.
3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến
xử lý kỷ luật, bồi thường thiệt hại đối với hành vi gây lãng phí và hành vi vi
phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí.
Điều 3. Đối tượng bị xử lý kỷ luật,
chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1. Đối tượng bị xử lý kỷ luật bao gồm:
a) Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ
quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra hành vi gây lãng phí ở cơ quan, tổ chức, đơn vị,
doanh nghiệp, lĩnh vực thuộc thẩm quyền được giao quản lý, phụ trách;
b) Cán bộ, công chức, viên chức có hành vi gây lãng
phí, hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí;
2. Đối tượng chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại
là người thực hiện hành vi gây lãng phí gây thiệt hại.
Chương II
QUY ĐỊNH CỤ THỂ
Mục 1. XỬ LÝ KỶ LUẬT
Điều 4. Các trường hợp loại trừ
kỷ luật, miễn kỷ luật, giảm nhẹ mức kỷ luật
1. Các trường hợp được loại trừ kỷ luật, miễn kỷ luật,
giảm nhẹ mức kỷ luật theo quy định tại Luật số 110/2025/QH15,
Luật Cán bộ, công chức số 80/2025/QH15, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và quy định
pháp luật có liên quan.
2. Trường hợp thực hiện theo mệnh lệnh, quyết định
của cấp trên mà không biết các quyết định, mệnh lệnh đó là trái pháp luật thì
được xem xét giảm nhẹ mức kỷ luật.
Điều 5. Áp dụng hình thức kỷ luật
trong trường hợp bị kỷ luật đảng
1. Trường hợp đã có quyết định xử lý kỷ luật về đảng
thì việc áp dụng hình thức kỷ luật hành chính đối với cán bộ, công chức, viên chức
thực hiện theo các nguyên tắc xử lý kỷ luật quy định tại các Nghị định xử lý kỷ
luật cán bộ, công chức, viên chức.
2. Trường hợp chưa có quyết định xử lý kỷ luật về đảng,
cấp có thẩm quyền xử lý kỷ luật chỉ đạo cơ quan tham mưu về công tác cán bộ căn
cứ quy định tại Nghị định này để thực hiện xử lý kỷ luật đối với người có hành
vi vi phạm.
Điều 6. Áp dụng hình thức kỷ luật
đối với người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để
xảy ra hành vi gây lãng phí ở cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp, lĩnh vực
thuộc thẩm quyền được giao quản lý, phụ trách
Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu thiếu
trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, quản lý để xảy ra hành vi gây lãng phí ở cơ
quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp, lĩnh vực thuộc thẩm quyền được giao quản
lý, phụ trách trực tiếp bị xem xét áp dụng hình thức kỷ luật như sau:
1. Hình thức kỷ luật khiển trách được áp dụng trong
trường hợp để xảy ra hành vi gây lãng phí bị xử lý hình sự bằng hình thức phạt
tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm.
2. Hình thức kỷ luật cảnh cáo được áp dụng trong
trường hợp để xảy ra hành vi gây lãng phí bị xử lý hình sự bằng hình thức phạt
tù từ trên 03 năm đến 07 năm.
3. Hình thức kỷ luật cách chức được áp dụng trong
trường hợp để xảy ra hành vi gây lãng phí bị xử lý hình sự bằng hình thức phạt
tù từ trên 07 năm đến 20 năm, chung thân hoặc tử hình.
Điều 7. Áp dụng hình thức kỷ luật
đối với cán bộ, công chức, viên chức có hành vi gây lãng phí
1. Hình thức kỷ luật khiển trách áp dụng đối với cán
bộ, công chức, viên chức có hành vi gây lãng phí thuộc một trong các trường hợp
sau đây:
a) Có hành vi vi phạm lần đầu, gây thiệt hại từ 02
triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng;
b) Có hành vi vi phạm lần đầu, gây thiệt hại từ 50
triệu đồng đến 75 triệu đồng và thuộc một trong các trường hợp được giảm nhẹ mức
kỷ luật quy định tại Điều 4 Nghị định này;
c) Thực hiện hành vi không ban hành hoặc chậm ban
hành, sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật về định mức, tiêu chuẩn, chế
độ trong lĩnh vực tiết kiệm, chống lãng phí, gây lãng phí.
2. Hình thức kỷ luật cảnh cáo áp dụng đối với cán bộ,
công chức, viên chức có hành vi gây lãng phí thuộc một trong các trường hợp sau
đây:
a) Đã bị xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách
mà tái phạm, trừ trường hợp bị xem xét xử lý trách nhiệm hình sự;
b) Có hành vi vi phạm lần đầu, gây thiệt hại từ 50
triệu đồng đến 75 triệu đồng.
3. Hình thức kỷ luật cách chức áp dụng đối với cán
bộ, công chức, viên chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý thuộc một trong các trường
hợp sau:
a) Đã bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo theo
quy định tại khoản 2 Điều này mà tái phạm, trừ trường hợp bị xem xét xử lý
trách nhiệm hình sự;
b) Có hành vi gây lãng phí lần đầu gây thiệt hại
trên 75 triệu đồng nhưng chưa đến mức buộc thôi việc, bãi nhiệm, người vi phạm
có thái độ tiếp thu, sửa chữa, chủ động khắc phục hậu quả và thuộc một trong
các trường hợp được giảm nhẹ mức kỷ luật quy định tại Điều 4 Nghị
định này.
4. Hình thức kỷ luật buộc thôi việc áp dụng đối với
công chức, viên chức, có hành vi gây lãng phí thuộc một trong các trường hợp
sau đây:
a) Đã bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cách chức đối
với công chức, viên chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc cảnh cáo đối với
công chức, viên chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý mà tái phạm, trừ trường
hợp bị xem xét xử lý trách nhiệm hình sự;
b) Có hành vi gây lãng phí lần đầu gây thiệt hại
trên 75 triệu đồng nhưng người vi phạm không có thái độ tiếp thu, sửa chữa, chủ
động khắc phục hậu quả và thuộc một trong các trường hợp tăng nặng mức kỷ luật
theo quy định của pháp luật về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức.
Điều 8. Áp dụng hình thức kỷ luật
đối với cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện
phòng, chống lãng phí
1. Hình thức kỷ luật khiển trách áp dụng đối với
cán bộ, công chức, viên chức vi phạm lần đầu thuộc một trong các trường hợp
sau:
a) Cản trở hoặc thiếu trách nhiệm trong thanh tra,
kiểm tra, kiểm toán tiết kiệm, chống lãng phí của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền;
b) Cản trở hoặc thiếu trách nhiệm trong xác minh, xử
lý, giải quyết, tổ chức thi hành quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo về tiết
kiệm, chống lãng phí.
2. Hình thức kỷ luật cảnh cáo áp dụng đối với cán bộ,
công chức, viên chức thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Đã bị xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách
theo quy định tại khoản 1 Điều này mà tái phạm;
b) Vi phạm trong bảo vệ người đấu tranh chống lãng
phí và người thân của người đấu tranh chống lãng phí theo quy định của pháp luật.
Mục 2. BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
Điều 9. Nguyên tắc xác định thiệt
hại và bồi thường thiệt hại
1. Thiệt hại do hành vi gây lãng phí gây ra để xác
định trách nhiệm bồi thường thiệt hại tại Nghị định này là thiệt hại thực tế,
có thể lượng hóa bằng tiền theo một trong các cách xác định giá trị thiệt hại
quy định tại Nghị định này hoặc quy định pháp luật có liên quan, có mối quan hệ
nhân quả trực tiếp với hành vi gây lãng phí. Thiệt hại phải được xác định trên
cơ sở chứng từ, hóa đơn, tài liệu, số liệu kế toán, các bằng chứng hợp pháp, hợp
lệ và thể hiện tại kết luận của cơ quan có thẩm quyền theo quy định.
2. Việc xem xét, xử lý trách nhiệm bồi thường phải
căn cứ vào lỗi, tính chất, mức độ của hành vi gây lãng phí, thiệt hại thực tế
gây ra, mức độ khắc phục hậu quả và khả năng thực hiện nghĩa vụ bồi thường của
người có nghĩa vụ bồi thường để quyết định mức và phương thức bồi thường thiệt
hại; bảo đảm khách quan, công bằng và công khai.
3. Trách nhiệm bồi thường được xác định tương ứng với
mức độ lỗi, trách nhiệm và vi phạm của từng người có hành vi vi phạm, bảo đảm
khách quan, công bằng, công khai và phù hợp với tính chất, mức độ vi phạm. Trường
hợp không có căn cứ xác định được mức độ trách nhiệm và vi phạm của từng người
thì trách nhiệm bồi thường được chia đều cho từng người.
4. Việc xác định giá trị thiệt hại trong các vụ án
hình sự thực hiện theo quy định của pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự
và các quy định pháp luật có liên quan.
5. Trường hợp pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
và pháp luật chuyên ngành trong từng lĩnh vực tiết kiệm, chống lãng phí có quy
định về phương pháp xác định giá trị thiệt hại hoặc biện pháp khắc phục hậu quả
có tính chất tương tự thì cơ quan kiểm tra, thanh tra, kiểm toán căn cứ quy định
pháp luật đó để xác định giá trị thiệt hại khi thực hiện thanh tra, kiểm tra,
kiểm toán.
6. Khi có đủ căn cứ xác định hành vi gây lãng phí
và không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 4, khoản 5 Điều này, cơ quan
kiểm tra, thanh tra, kiểm toán có thể sử dụng một hoặc một số cách xác định thiệt
hại quy định tại các Điều 10, 11, 12, 13, 14,
15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22 Nghị định
này để xác định giá trị thiệt hại tương ứng với hậu quả của hành vi gây
lãng phí.
Điều 10. Thiệt hại đối với hậu
quả làm tăng chi ngân sách nhà nước
Thiệt hại được xác định theo một trong các cách
sau:
1. Số kinh phí bổ sung so với dự toán, tổng mức đầu
tư hoặc mức kinh phí được cấp có thẩm quyền phê duyệt do hành vi gây lãng phí
trực tiếp gây ra. Khi xác định thiệt hại phải loại trừ phần chi phí phát sinh
do nguyên nhân khách quan, bất khả kháng, biến động giá nguyên vật liệu, thay đổi
chính sách pháp luật, điều chỉnh quy hoạch, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, yêu
cầu của cơ quan có thẩm quyền hoặc nguyên nhân khác không thuộc lỗi của người bị
xem xét trách nhiệm.
2. Toàn bộ kinh phí ngân sách nhà nước đã chi khi
thực hiện văn bản được ban hành trái chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Điều 11. Thiệt hại đối với hậu
quả gây thất thoát ngân sách nhà nước, nguồn vốn của quỹ tài chính nhà nước
ngoài ngân sách
Thiệt hại được xác định theo một trong các cách
sau:
1. Số kinh phí ngân sách nhà nước đã chi không đúng
mục đích, đối tượng, định mức, tiêu chuẩn, chế độ, dự toán được cấp có thẩm quyền
phê duyệt.
2. Số kinh phí ngân sách nhà nước đã tạm ứng nhưng
không thể thu hồi.
3. Số tiền đã chi từ quỹ tài chính nhà nước ngoài
ngân sách không đúng mục đích, quy chế hoạt động và cơ chế tài chính của quỹ.
4. Số vốn đầu tư công được sử dụng vượt mức được cấp
có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư phê duyệt; không đúng mục đích, đối
tượng, vượt định mức, tiêu chuẩn theo quy định.
5. Số vốn nhà nước đã sử dụng để thực hiện phần
công trình không đúng quy định pháp luật, phải phá dỡ hoặc không thể nghiệm
thu, bàn giao để đưa vào sử dụng do hành vi gây lãng phí trực tiếp gây ra, sau
khi trừ giá trị còn lại có thể thu hồi, tái sử dụng, thanh lý hoặc giá trị tài
sản, vật tư, thiết bị có thể chuyển sang sử dụng cho mục đích khác theo quy định
của pháp luật.
6. Phần lợi nhuận phải nộp vào ngân sách nhà nước bị
giảm do doanh nghiệp nhà nước trích lập các quỹ không đúng mục đích, chế độ do
cấp có thẩm quyền ban hành.
Điều 12. Thiệt hại đối với hậu
quả phát sinh kinh phí ngân sách nhà nước để phá dỡ công trình xây dựng hình
thành từ dự án đầu tư
Thiệt hại được xác định là toàn bộ kinh phí ngân
sách nhà nước phải chi để thực hiện việc phá dỡ công trình xây dựng hình thành
từ dự án do thực hiện hành vi gây lãng phí.
Điều 13. Thiệt hại đối với hậu
quả dự án bị kéo dài thời gian, tiến độ thực hiện so với thời gian, tiến độ đã
được phê duyệt
1. Thiệt hại được xác định là số tiền thực tế từ
nguồn vốn nhà nước đã đầu tư xây dựng công trình nhân với trung bình lãi suất
tiền gửi có kỳ hạn thấp nhất của các ngân hàng thương mại do Nhà nước nắm giữ
trên 50% vốn điều lệ trong khoảng thời gian công trình, dự án dừng thi công do
lỗi cố ý thực hiện các hành vi sai phạm trong quá trình thực hiện dự án.
2. Không xác định thiệt hại theo Điều này đối với
thời gian kéo dài do nguyên nhân bất khả kháng, thiên tai, dịch bệnh, chậm giải
phóng mặt bằng; chậm bố trí vốn, biến động bất thường về giá, vật liệu, thay đổi
quy hoạch, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án
theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền hoặc nguyên nhân khách quan khác
không thuộc lỗi của người bị xem xét trách nhiệm.
3. Việc xác định thiệt hại phải căn cứ hồ sơ dự án,
hợp đồng, nhật ký thi công, biên bản nghiệm thu, văn bản chỉ đạo, điều chỉnh của
cơ quan có thẩm quyền và các tài liệu hợp pháp khác có liên quan.
Điều 14. Thiệt hại đối với hậu
quả gây thất thoát tài sản công
Thiệt hại đối với hậu quả gây thất thoát tài sản
công được xác định theo một trong các cách sau:
1. Phần giá trị tài sản công được đầu tư xây dựng,
mua sắm, giao vượt định mức, tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật xác định
theo quy định tại Nghị định số 63/2019/NĐ-CP
quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý tài sản công; thực
hành tiết kiệm, chống lãng phí; dự trữ quốc gia; kho bạc nhà nước được sửa đổi,
bổ sung bởi Nghị định số 55/2026/NĐ-CP.
2. Giá trị còn lại của tài sản công bị mất, bị hư hỏng
không thể sửa chữa được hoặc bị sử dụng trái quy định dẫn đến không thu hồi được
xác định theo hồ sơ kế toán, hồ sơ quản lý tài sản, kết quả kiểm kê, kết quả định
giá, thẩm định giá hoặc kết luận của cơ quan có thẩm quyền tại thời điểm xác định
thiệt hại.
3. Phần giá trị tài sản bị hao hụt vượt định mức
theo quy định.
Điều 15. Thiệt hại đối với hậu
quả gây hư hỏng tài sản công
Thiệt hại đối với hậu quả gây hư hỏng tài sản công
được xác định là số kinh phí ngân sách nhà nước phải chi để sửa chữa, khôi phục
lại tài sản công.
Điều 16. Thiệt hại đối với hậu
quả làm phát sinh kinh phí ngân sách nhà nước để bảo quản, bảo vệ, vận hành, bảo
dưỡng, sửa chữa do không xử lý kịp thời đối với tài sản công không được sử dụng
Thiệt hại được xác định là phần kinh phí ngân sách
nhà nước tăng thêm để bảo quản, bảo vệ, vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa tài sản
công do thực hiện hành vi gây lãng phí.
Điều 17. Thiệt hại đối với hậu
quả phát sinh kinh phí ngân sách nhà nước để xử lý, khôi phục, phục hồi, bồi
thường thiệt hại
Thiệt hại được xác định là toàn bộ các khoản kinh
phí ngân sách nhà nước hợp lý, cần thiết phải chi trả để ngăn chặn, hạn chế, khắc
phục hậu quả của hành vi gây lãng phí, phục hồi lại tình trạng ban đầu của tài
sản công, tài nguyên. Không tính vào thiệt hại các khoản kinh phí ngân sách nhà
nước phát sinh không trực tiếp liên quan đến hành vi gây lãng phí hoặc phát
sinh do nguyên nhân khách quan không thuộc lỗi của người bị xem xét trách nhiệm.
Điều 18. Thiệt hại đối với hậu
quả gây thất thoát tài nguyên, năng lượng
Thiệt hại được xác định là giá trị tài nguyên, năng
lượng bị khai thác trái phép, bị mất, bị suy giảm (bao gồm tình trạng tài
nguyên bị cạn kiệt do khai thác vượt khả năng tái tạo, bị ô nhiễm, hủy hoại,
suy thoái hoặc giảm giá trị do cố ý sử dụng công nghệ lạc hậu) do hành vi gây
lãng phí trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, năng lượng trực tiếp gây
ra, được xác định theo giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền công bố hoặc theo
các phương pháp định giá, thẩm định giá theo quy định của pháp luật tại thời điểm
xác định thiệt hại.
Trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định về định
mức hao hụt, tổn thất cho phép thì phần hao hụt, tổn thất trong định mức không
được tính là thiệt hại.
Điều 19. Thiệt hại đối với hậu
quả phát sinh nghĩa vụ tài chính khác của Nhà nước
1. Thiệt hại được xác định là khoản nghĩa vụ tài
chính khác mà Nhà nước phải thực hiện do hành vi gây lãng phí trực tiếp gây ra,
bao gồm nghĩa vụ thanh toán, hỗ trợ, bù đắp, bảo lãnh, trả nợ, lãi, phí hoặc
nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận tại hợp
đồng.
2. Trường hợp nghĩa vụ tài chính phát sinh trong dự
án đầu tư theo phương thức đối tác công tư, trong hoạt động quản lý nợ công, quản
lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp hoặc trong các giao dịch tài chính khác thì việc
xác định thiệt hại ngoài quy định tại Điều này còn phải tuân thủ pháp luật
chuyên ngành có liên quan.
Điều 20. Thiệt hại đối với hậu
quả thất thoát, mất vốn nhà nước tại doanh nghiệp
Thiệt hại đối với hậu quả thất thoát, mất vốn nhà
nước tại doanh nghiệp được xác định là phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp thực
tế bị mất, bị giảm do hành vi gây lãng phí trực tiếp gây ra, được xác định trên
cơ sở báo cáo tài chính đã được kiểm toán, hồ sơ kế toán, kết luận thanh tra,
kiểm tra, kiểm toán hoặc xác nhận của cơ quan có thẩm quyền theo quy định pháp luật
về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Điều 21. Thiệt hại đối với hậu
quả tài sản công không được đưa vào sử dụng
1. Thiệt hại đối với hậu quả tài sản công không được
đưa vào sử dụng được xác định là giá trị hao mòn, khấu hao tài sản cố định theo
quy định trong thời gian tài sản không được đưa vào sử dụng do lỗi của người được
giao quản lý, sử dụng tài sản.
2. Không xác định thiệt hại theo Điều này đối với
thời gian tài sản công chưa được đưa vào sử dụng do sắp xếp tổ chức bộ máy;
trình cấp có thẩm quyền quyết định xử lý tài sản; chưa được bố trí kinh phí sửa
chữa, cải tạo; thực hiện yêu cầu tạm dừng của cơ quan có thẩm quyền; hoặc do
nguyên nhân khách quan khác không thuộc lỗi của người được giao quản lý, sử dụng
tài sản.
3. Việc xác định thiệt hại phải căn cứ hồ sơ quản
lý tài sản công, quyết định giao, xử lý tài sản, hồ sơ kế toán, hồ sơ kỹ thuật,
biên bản kiểm kê, văn bản của cơ quan có thẩm quyền và tài liệu hợp pháp khác
có liên quan.
Điều 22. Thiệt hại đối với hậu
quả làm giảm thu ngân sách nhà nước
Thiệt hại được xác định là toàn bộ nguồn thu của
ngân sách nhà nước bị giảm đi do thực hiện hành vi gây lãng phí quy định tại khoản 5 Điều 4 Luật số 110/2025/QH15. Việc xác định số thu ngân
sách nhà nước bị giảm thực hiện theo quy định pháp luật về đất đai, pháp luật về
quản lý thuế và quy định pháp luật có liên quan.
Điều 23. Trình tự, thủ tục xác
định trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1. Trình tự, thủ tục xác định trách nhiệm bồi thường
thiệt hại trong trường hợp thiệt hại do cán bộ, công chức, viên chức gây ra được
thực hiện đồng thời khi thực hiện trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật cán bộ, công
chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức.
Quyết định xử lý kỷ luật phải thể hiện rõ căn cứ xác định thiệt hại, mức độ lỗi,
phạm vi trách nhiệm, số tiền bồi thường, thời hạn và phương thức thực hiện bồi
thường.
2. Trường hợp người vi phạm được loại trừ, miễn
trách nhiệm kỷ luật nhưng vẫn phát sinh nghĩa vụ bồi thường thiệt hại theo quy
định của pháp luật thì người có thẩm quyền xử lý kỷ luật xem xét, quyết định
trách nhiệm bồi thường thiệt hại trên cơ sở hồ sơ, tài liệu chứng minh thiệt hại
thực tế, lỗi của người vi phạm và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại.
3. Người bị xem xét trách nhiệm bồi thường thiệt hại
có quyền giải trình, cung cấp tài liệu, chứng cứ có liên quan và đề nghị xem
xét khả năng thực hiện nghĩa vụ bồi thường trước khi người có thẩm quyền quyết
định.
4. Đối với các trường hợp không thuộc khoản 1 Điều
này hoặc pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự, pháp luật về xử phạt vi phạm
hành chính, pháp luật chuyên ngành có quy định khác thì việc xác định trách nhiệm
bồi thường thiệt phải được thể hiện tại kết luận, quyết định xử lý của cơ quan
thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, cơ quan điều tra theo quy định pháp luật có
liên quan.
Điều 24. Thẩm quyền ra quyết định
về bồi thường thiệt hại
1. Thẩm quyền ra quyết định về bồi thường thiệt hại
đối với trường hợp hành vi gây lãng phí bị truy cứu trách nhiệm hình sự, xử lý
vi phạm hành chính hoặc theo biện pháp xử lý của pháp luật có liên quan thì thực
hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự, pháp luật hình sự, pháp luật
về xử lý vi phạm hành chính và pháp luật khác có liên quan.
2. Trường hợp hành vi gây lãng phí không thuộc trường
hợp xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều này thì cấp có thẩm quyền xử lý kỷ luật
cán bộ, công chức, viên chức là cấp có thẩm quyền ra quyết định về bồi thường
thiệt hại.
Điều 25. Ra quyết định về bồi
thường thiệt hại
1. Việc ra quyết định về bồi thường thiệt hại đối với
trường hợp hành vi gây lãng phí bị truy cứu trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm
hành chính hoặc theo biện pháp xử lý của pháp luật có liên quan thì thực hiện
theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Hình sự, Luật
Xử lý vi phạm hành chính và pháp luật có liên quan.
2. Trường hợp hành vi gây lãng phí không thuộc trường
hợp xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều này thì việc ra quyết định về bồi thường
thiệt hại được thực hiện như sau:
a) Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ra
quyết định về bồi thường thiệt hại, người có thẩm quyền ra quyết định bồi thường
thiệt hại phải gửi cho người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại để thi hành;
b) Trường hợp sau khi đã ra quyết định xử lý kỷ luật,
quyết định về bồi thường thiệt hại mà phát hiện những tình tiết mới làm thay đổi
căn cứ xác định lỗi, mức độ vi phạm, giá trị thiệt hại hoặc số tiền bồi thường
thiệt hại đã kết luận trước đó thì trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày phát
hiện những tình tiết mới, người có thẩm quyền có trách nhiệm xem xét thực hiện
lại trình tự, thủ tục quy định tại Điều 23 Nghị định này để
quyết định lại số tiền bồi thường thiệt hại theo thẩm quyền;
c) Trường hợp người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại
chuyển công tác, thôi việc hoặc nghỉ hưu trước ngày ra quyết định về việc bồi
thường thiệt hại thì vẫn phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường theo quy định tại
Nghị định này.
Trong trường hợp này, người đứng đầu cơ quan, tổ chức,
đơn vị có thẩm quyền xử lý kỷ luật (hoặc cơ quan có thẩm quyền quản lý trước
khi người đó chuyển công tác, thôi việc, nghỉ hưu) căn cứ vào kết luận thanh
tra, kiểm tra, kiểm toán để trực tiếp ra quyết định về việc bồi thường thiệt hại
mà không phụ thuộc vào quyết định xử lý kỷ luật hoặc Hội đồng xử lý kỷ luật.
Điều 26. Thực hiện bồi thường,
tạm hoãn thực hiện bồi thường
1. Người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại phải thực
hiện bồi thường một lần trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định
về bồi thường thiệt hại trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Việc nộp tiền bồi thường nhiều lần được áp dụng
khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Số tiền bồi thường từ 15.000.000 đồng trở lên;
b) Đang gặp khó khăn đặc biệt về kinh tế và có đơn
đề nghị nộp tiền bồi thường nhiều lần.
3. Thời hạn nộp tiền bồi thường thiệt hại nhiều lần
không quá 12 tháng, kể từ ngày quyết định bồi thường thiệt hại có hiệu lực. Trường
hợp người có nghĩa vụ bồi thường thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, đang điều trị bệnh
hiểm nghèo, gia đình gặp khó khăn đặc biệt về kinh tế hoặc trường hợp đặc biệt
khác thì người có thẩm quyền ra quyết định bồi thường thiệt hại xem xét cho nộp
nhiều lần trong thời hạn không quá 24 tháng.
4. Số lần nộp tiền bồi thường thiệt hại, mức nộp từng
lần và thời điểm nộp từng lần do người có thẩm quyền ra quyết định bồi thường
thiệt hại quyết định trên cơ sở số tiền phải bồi thường, mức độ lỗi, thu nhập,
hoàn cảnh kinh tế và khả năng thực hiện nghĩa vụ bồi thường của người có nghĩa
vụ bồi thường. Quyết định về việc nộp tiền bồi thường nhiều lần phải bằng văn bản.
5. Hết thời hạn nộp tiền bồi thường của từng lần mà
người có nghĩa vụ bồi thường không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa
vụ bồi thường thì phải trừ 20% tiền lương thực trả hằng tháng của người lao động
sau khi trích nộp các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm
thất nghiệp, thuế thu nhập cá nhân theo quy định của pháp luật có liên quan cho
đến khi bồi thường đủ theo quyết định của người có thẩm quyền.
6. Người chưa hoàn thành bồi thường mà chuyển công
tác, thôi việc hoặc nghỉ hưu thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức nơi ra quyết định
bồi thường thiệt hại có trách nhiệm yêu cầu người đó phải bồi thường phần còn
thiếu trước khi chuyển công tác, thôi việc hoặc nghỉ hưu.
7. Trường hợp người có nghĩa vụ bồi thường cố tình
trì hoãn, trốn tránh việc thực hiện bồi thường thì người đứng đầu cơ quan, tổ
chức nơi ra quyết định bồi thường thiệt hại căn cứ tình hình cụ thể để thực hiện
các biện pháp sau đây:
a) Phối hợp với cơ quan, tổ chức nơi tiếp nhận công
tác, chính quyền địa phương nơi cư trú để yêu cầu người đó tiếp tục thực hiện bồi
thường;
b) Phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội trừ dần vào
tiền lương hưu của người chưa hoàn thành bồi thường đã nghỉ hưu theo tỷ lệ 20%
tiền lương hưu hằng tháng;
c) Thực hiện quyền khởi kiện theo quy định pháp luật.
8. Các cơ quan, tổ chức nơi tiếp nhận hoặc chính
quyền địa phương nơi cư trú của người có nghĩa vụ bồi thường cố tình trì hoãn,
trốn tránh phải có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với cơ quan, tổ chức nơi người
đó trước đây công tác trong việc yêu cầu người đó tiếp tục thực hiện trách nhiệm
bồi thường.
9. Tạm hoãn thực hiện bồi thường:
a) Người có nghĩa vụ thực hiện bồi thường được tạm
hoãn thực hiện bồi thường trong các trường hợp sau:
Đang điều trị tại các bệnh viện, phụ nữ trong thời
kỳ nghỉ thai sản;
Gia đình thuộc đối tượng hộ nghèo, hộ cận nghèo
theo quy định của Chính phủ, gia đình có hoàn cảnh khó khăn được Ủy ban nhân
dân cấp xã nơi cư trú xác nhận;
Đang bị tạm giam, tạm giữ chờ kết luận của cơ quan
có thẩm quyền điều tra, xác minh và kết luận về hành vi vi phạm pháp luật khác.
b) Thời gian tạm hoãn thực hiện bồi thường như sau:
Tối đa không quá 06 tháng đối với trường hợp đang
điều trị tại các bệnh viện, trừ trường hợp đối với bệnh hiểm nghèo, bệnh nặng
thuộc danh mục do Bộ Y tế ban hành thì thời gian tạm hoãn tương ứng với thời
gian điều trị bệnh thực tế; gia đình thuộc đối tượng hộ nghèo, hộ cận nghèo
theo quy định của Chính phủ, gia đình đang trong hoàn cảnh khó khăn do Ủy ban
nhân dân cấp xã nơi cư trú xác nhận;
Tối đa không quá thời gian nghỉ thai sản theo quy định
đối với trường hợp phụ nữ trong thời kỳ nghỉ thai sản;
Tối đa bằng thời gian tạm giam, tạm giữ đối với trường
hợp đang bị tạm giam, tạm giữ chờ kết luận của cơ quan có thẩm quyền điều tra,
xác minh và kết luận về hành vi vi phạm pháp luật khác.
10. Người có nghĩa vụ thực hiện bồi thường có trách
nhiệm cung cấp giấy tờ chứng minh thuộc đối tượng quy định tại khoản 2, điểm a
khoản 9 Điều này cho người có thẩm quyền ra quyết định về bồi thường thiệt hại
xem xét quyết định cho phép nộp tiền bồi thường nhiều lần hoặc tạm hoãn thực hiện
bồi thường theo quy định.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
đề nghị tạm hoãn thực hiện bồi thường hoặc nộp tiền bồi thường nhiều lần, cơ
quan có thẩm quyền ra quyết định bồi thường thiệt hại có trách nhiệm trả lời cụ
thể về việc cho phép tạm hoãn thực hiện bồi thường hoặc nộp tiền bồi thường nhiều
lần hoặc thông báo lý do không chấp thuận.
11. Trường hợp người có trách nhiệm bồi thường thiệt
hại chết thì quyết định về bồi thường thiệt hại chấm dứt hiệu lực tại thời điểm
người đó chết.
12. Việc thực hiện bồi thường, tạm hoãn thực hiện bồi
thường thiệt hại trong trường hợp là biện pháp khắc phục hậu quả trong xử lý vi
phạm hành chính hoặc trong vụ án hình sự thực hiện theo các quy định pháp luật
có liên quan.
Điều 27. Thu, nộp, quản lý và
sử dụng tiền bồi thường thiệt hại
1. Cơ quan, tổ chức của người có thẩm quyền ra quyết
định về bồi thường thiệt hại có trách nhiệm thu đủ số tiền bồi thường thiệt hại
và nộp vào ngân sách nhà nước theo phân cấp ngân sách nhà nước hiện hành trừ
trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Đối với thiệt hại của quỹ tài chính nhà nước
ngoài ngân sách, tiền bồi thường thiệt hại được nộp về quỹ và quản lý theo quy
định pháp luật về cơ chế tài chính của quỹ.
3. Tiền bồi thường thiệt hại do người có nghĩa vụ bồi
thường nộp phải được thu, theo dõi chi tiết cho từng lần nộp (nếu nộp nhiều lần),
có đầy đủ chứng từ theo quy định và được quản lý theo chế độ tài chính hiện
hành.
4. Việc thu, nộp, quản lý, sử dụng tiền bồi thường
thiệt hại trong trường hợp là biện pháp khắc phục hậu quả trong xử lý vi phạm
hành chính hoặc trong vụ án hình sự thực hiện theo các quy định pháp luật có
liên quan.
Chương III
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 28. Xử lý chuyển tiếp
1. Đối với các hành vi vi phạm được xem xét, xử lý
trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục áp dụng quy định của
pháp luật tại thời điểm xảy ra hành vi vi phạm để xử lý. Đối với các hành vi vi
phạm xảy ra trước ngày Nghị định này có hiệu lực nhưng việc xem xét, xử lý sau
ngày Nghị định này có hiệu lực thì áp dụng quy định của Nghị định này hoặc quy
định của pháp luật ở thời điểm xảy ra vi phạm nếu có lợi cho cán bộ, công chức,
viên chức có hành vi vi phạm bị xử lý kỷ luật.
2. Đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại đang được
Hội đồng xử lý trách nhiệm bồi thường thiệt hại xem xét, xử lý trước ngày Nghị
định này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục áp dụng quy định của pháp luật tại
thời điểm xem xét, xử lý trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Điều 29. Hiệu lực thi hành
1. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 7 năm 2026.
2. Trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật được dẫn
chiếu trong Nghị định này được thay thế, sửa đổi, bổ sung thì thực hiện theo
văn bản đã thay thế, sửa đổi, bổ sung đó.
3. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm thi hành
Nghị định này.
|
Nơi nhận:
- Ban Bí thư Trung ương Đảng;
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
- Các bộ, cơ quan ngang bộ;
- HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
- Văn phòng Tổng Bí thư;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;
- Văn phòng Quốc hội;
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Kiểm toán nhà nước;
- Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
- Cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội;
- VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTg, các Vụ, Cục, Công báo;
- Lưu: VT, KTTH (2).
|
TM. CHÍNH PHỦ
KT. THỦ TƯỚNG
PHÓ THỦ TƯỚNG
Lê Tiến Châu
|