Kính gửi:
Công ty TNHH đầu tư và phát triển bất động sản Nova Phúc Nguyên.
Bộ Tài chính phận được văn bản số 01/2016-CV-PN
ngày 06/7/2016 của Công ty TNHH đầu tư và phát triển bất động sản Nova Phúc
Nguyên (sau đây gọi là Công ty Phúc Nguyên) về chính sách thuế giá trị gia tăng
(thuế GTGT), thuế thu nhập doanh nghiệp (thuế TNDN) đối với trường hợp sáp nhập
của Công ty. Về vấn đề này, Bộ Tài chính có ý kiến như sau:
1. Về chính sách thuế GTGT:
Tại điểm b khoản 7 Điều 5 Thông tư 219/2013/TT-BTC
ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng
và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế giá trị gia tăng có quy định “điều
chuyển tài sản khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi loại hình doanh
nghiệp” không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT. Do vậy, Công ty TNHH Phú Việt
Tín không phải xuất hóa đơn GTGT, không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT khi
sáp nhập vào Công ty Phúc Nguyên.
2. Về chính sách thuế TNDN:
2.1. Về việc đánh giá lại tài sản
khi sáp nhập:
- Tại khoản 4 Điều 4 Thông tư số 45/2013/TT-BTC
ngày 25/4/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu
hao tài sản cố định có quy định nguyên giá TSCĐ chỉ được thay đổi trong trường
hợp: “...Thực hiện tổ chức lại doanh nghiệp, chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp,
chuyển đổi hình thức doanh nghiệp: chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, cổ phần hoá,
bán, khoán, cho thuê, chuyển đổi công ty trách nhiệm hữu hạn thành công ty cổ
phần, chuyển đổi công ty cổ phần thành công ty trách nhiệm hữu hạn”.
- Tại Điều 16 Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày
10/10/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 91/2014/NĐ-CP ngày
01/10/2014 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều tại các Nghị định
quy định về thuế có quy định thực hiện kiểm tra quyết toán thuế TNDN trong trường
hợp “chia; hợp nhất; sáp nhập; chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; giải thể;
chấm dứt hoạt động”.
- Tại khoản 14 Điều 7 Thông tư số 78/2014/TT-BTC
ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính Hướng dẫn thi hành Nghị định số 218/2013/NĐ-CP
ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định và hướng dẫn thi hành Luật Thuế TNDN có
quy định về các khoản thu nhập khác:
“14. Chênh lệch do đánh giá lại tài sản theo quy
định của pháp luật để góp vốn, để điều chuyển tài sản khi chia, tách, hợp nhất,
sáp nhập, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, được xác định cụ thể như sau:
a) Chênh lệch tăng hoặc giảm do đánh giá lại tài
sản là phần chênh lệch giữa giá trị đánh giá lại với giá trị còn lại của tài sản
ghi trên sổ sách kế toán và tính một lần vào thu nhập khác (đối với chênh lệch
tăng) hoặc giảm, trừ thu nhập khác (đối với chênh lệch giảm) trong kỳ tính thuế
khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp tại doanh nghiệp có tài sản
đánh giá lại.
…
c) DN nhận tài sản góp vốn, nhận tài sản điều
chuyển khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi loại hình DN được trích
khấu hao hoặc phân bổ dần vào chi phí theo giá đánh giá lại (trừ trường hợp giá
trị quyền sử dụng đất không được trích khấu hao hoặc phân bổ vào chi phí theo
quy định)”.
Căn cứ vào hướng dẫn nêu trên và trường hợp cụ thể
của Công ty Phúc Nguyên: Năm 2016 Công ty Phúc Nguyên mua 99,9% phần vốn góp
trong Công ty TNHH Phú Việt Tín, hình thành quan hệ công ty mẹ, công ty con,
sau đó chuyển đổi 0,1% phần vốn góp còn lại của Công ty TNHH Phú Việt Tín thành
phần vốn góp trong Công ty Phúc Nguyên, (để sáp nhập Công ty TNHH Phú Việt Tín
vào Công ty Phúc Nguyên) nếu phù hợp với quy định của Luật doanh nghiệp và các
văn bản hướng dẫn thì:
- Đối với Công ty TNHH Phú Việt Tín: Khi thực hiện
sáp nhập vào Công ty Phúc Nguyên, Công ty TNHH Phú Việt Tín phải thực hiện quyết
toán thuế theo quy định.
- Đối với Công ty Phúc Nguyên: Khi thực hiện sáp nhập
Công ty TNHH Phú Việt Tín, Công ty Phúc Nguyên được đánh giá lại tài sản của
doanh nghiệp. Phần chênh lệch tăng hoặc giảm giữa số tiền mà Công ty Phúc
Nguyên bỏ ra để đầu tư vào Công ty TNHH Phú Việt Tín so với giá trị tài sản của
Công ty TNHH Phú Việt Tín khi đánh giá lại được tính một lần vào thu nhập khác
(đối với chênh lệch tăng) hoặc giảm trừ thu nhập khác (đối với chênh lệch giảm)
trong kỳ tính thuế khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN. Đồng thời, Công ty
Phúc Nguyên được trích khấu hao hoặc phân bổ dần vào chi phí theo giá đánh giá
lại (trừ trường hợp giá trị quyền sử dụng đất không được trích khấu hao hoặc
phân bổ vào chi phí theo quy định).
2.2. Đối với việc xác định chi
phí được trừ của khoản chi phí lãi vay:
- Tại Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày
22/6/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế TNDN tại Nghị định số
12/2015/NĐ-CP ngày 12/2/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi bổ sung một số điều của
các Nghị định về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 78/2014/TT-BTC
ngày 18/6/2014, Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014, Thông tư số
151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014 của Bộ Tài chính sửa đổi khoản 2 Điều 6 Thông
tư số 78/2014/TT- BTC quy định các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập
chịu thuế bao gồm:
“2.17. Phần chi phí trả lãi tiền vay vốn sản xuất
kinh doanh của đối tượng không phải là tổ chức tín dụng hoặc tổ chức kinh tế vượt
quá 150% mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm
vay.
2.18. Chi trả lãi tiền vay tương ứng với phần vốn
điều lệ (đối với doanh nghiệp tư nhân là vốn đầu tư) đã đăng ký còn thiếu theo
tiến độ góp vốn ghi trong điều lệ của doanh nghiệp kể cả trường hợp doanh nghiệp
đã đi vào sản xuất kinh doanh. Chỉ trả lãi tiền vay trong quá trình đầu tư đã được
ghi nhận vào giá trị của tài sản, giá trị công trình đầu tư.
Trường hợp doanh nghiệp đã góp đủ vốn điều lệ,
trong quá trình kinh doanh có khoản chi trả lãi tiền vay để đầu tư vào doanh
nghiệp khác thì khoản chi này được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu
nhập chịu thuế...”,
- Tại Đoạn 6, đoạn 7 Chuẩn mực kế toán số 16 về chi
phí đi vay quy định:
06. Chi phí đi vay phải ghi nhận vào chi phí sản
xuất, kinh doanh trong kỳ khi phát sinh, trừ khi được vốn hoá theo quy định tại
đoạn 07.
07. Chi phí đi vay liên quan trực tiếp đến việc
đầu tư xây dựng hoặc sản xuất tài sản dở dang được tính vào giá trị của tài sản
đó (được vốn hoá) khi có đủ các điều kiện quy định trong chuẩn mực này.
Căn cứ vào hướng dẫn trên:
a. Trường hợp Công ty Phúc Nguyên chưa góp đủ vốn
điều lệ:
Trường hợp Công ty Phúc Nguyên chưa góp đủ vốn điều
lệ theo quy định, năm 2016 Công ty Phúc Nguyên mua lại 99,9% phần vốn góp của
Công ty Phú Việt Tín bằng vốn vay, sau đó sáp nhập Công ty Phú Việt Tín vào
Công ty Phúc Nguyên theo quy định của Luật doanh nghiệp thì khoản chi trả lãi
tiền vay tương ứng với phần vốn điều lệ đã đăng ký còn thiếu theo tiến độ góp vốn
không được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN.
b. Trường hợp Công ty Phúc Nguyên góp đủ vốn điều
lệ:
+ Đối với giai đoạn trước khi sáp nhập:
Trường hợp năm 2016 Công ty Phúc Nguyên mua lại
99,9% phần vốn góp của Công ty Phú Việt Tín bằng vốn vay, sau đó sáp nhập Công
ty Phú Việt Tín vào Công ty Phúc Nguyên theo quy định của Luật doanh nghiệp thì
khoản chi phí lãi tiền vay phát sinh nếu không thuộc đối tượng loại trừ tại Điều
4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ Tài chính thì được tính vào
chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN.
+ Giai đoạn sau khi sáp nhập: Chi phí lãi tiền vay
được tính vào chi phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế theo hướng dẫn tại
chuẩn mực kế toán Việt Nam số 16 “Chi phí đi vay”.
Bộ Tài chính trả lời Công ty Phúc Nguyên biết và thực
hiện./.
|
Nơi nhận:
- Như trên;
- Lãnh đạo Bộ (để báo cáo);
- Cục thuế Tp. Hồ Chí Minh;
- TCT; Vụ PC; Vụ CĐKT, Cục TCDN;
- Lưu: VT, CST(10b).
|
TL. BỘ TRƯỞNG
VỤ TRƯỞNG VỤ CHÍNH SÁCH THUẾ
Phạm Đình Thi
|