|
Kính gửi:
|
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân các phường, xã, đặc
khu;
- Hiệu trưởng các cơ sở giáo dục phổ thông trên địa bàn Thành phố Hồ Chí
Minh.
|
Căn cứ Thông tư số
32/2020/TT-BGDĐT ngày 15 tháng 9 năm 2020 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông
có nhiều cấp học;
Căn cứ Thông tư số
22/2021/TT-BGDĐT ngày 20 tháng 7 năm 2021 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
Quy định đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổ
thông;
Căn cứ Công văn số
68/BGDĐT-GDTrH ngày 06 tháng 01 năm 2023 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về hướng dẫn
chuyển đổi môn học lựa chọn, cụm chuyên đề học tập cấp trung học phổ thông;
Căn cứ Công văn số 7991/BGDĐT-GDTrH
ngày 17 tháng 12 năm 2024 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc thực hiện kiểm
tra, đánh giá đối với cấp trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông;
Căn cứ Quyết định số
640/QĐ-UBND ngày 14 tháng 8 năm 2025 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
về ban hành Kế hoạch thời gian năm học 2025 - 2026 đối với giáo dục phổ thông
và giáo dục thường xuyên trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh;
Căn cứ Công văn số
4555/BGDĐT-GDPT ngày 05 tháng 8 năm 2025 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về hướng dẫn
thực hiện nhiệm vụ giáo dục phổ thông năm học 2025 - 2026;
Căn cứ Công văn số
1557/SGDĐT-GDPT ngày 19 tháng 8 năm 2025 của Sở Giáo dục và Đào tạo về hướng dẫn
thực hiện nhiệm vụ giáo dục phổ thông năm học 2025 - 2026.
Sở Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) hướng
dẫn các trưởng trường phổ thông, trường phổ thông nhiều cấp học tổ chức kiểm
tra, đánh giá học sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông từ năm học
2025 - 2026 như sau:
I. XÂY DỰNG
QUY CHẾ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ
1. Nhà trường xây dựng và ban hành
Quy chế kiểm tra, đánh giá.
2. Quy trình xây dựng và quy chế
kiểm tra, đánh giá học sinh được công khai trong tập thể nhà trường, học sinh
và cha mẹ học sinh. Các thông tin về kiểm tra, đánh giá được công khai trên cổng
thông tin điện tử của nhà trường.
3. Hiệu trưởng nhà trường có
trách nhiệm phổ biến Thông tư, quy định, Quy chế kiểm tra, đánh giá và cung cấp
các thông tin về việc kiểm tra, đánh giá cho học sinh và cha mẹ học sinh.
4. Quy chế kiểm tra, đánh giá học
sinh đảm bảo tính khoa học, tính logic, tính chặt chẽ, quy định cụ thể, đảm bảo
các nội dung sau:
Trách nhiệm các thành viên
trong nhà trường về công tác kiểm tra, đánh giá học tập và rèn luyện của học
sinh.
Cụ thể về việc tổ chức các kì
kiểm tra, đánh giá học tập và rèn luyện của học sinh trong nhà trường (kiểm tra
định kì, kiểm tra bù, kiểm tra lại).
Quy trình tổ chức: xây dựng
ngân hàng đề, xây dựng và chịu trách nhiệm về đề chính thức, đề dự bị, tổ chức
in ấn và bảo quản, bảo mật, lưu trữ đề kiểm tra.
Quy trình soạn thảo đề kiểm
tra, coi kiểm tra và chấm kiểm tra: quy định về xây dựng ma trận, đặc tả và soạn
thảo đề kiểm tra; coi kiểm tra, thống nhất về đáp án và biểu điểm, tổ chức chấm
bài kiểm tra đảm bảo khách quan, chính xác; quy định về việc học sinh phúc khảo
bài kiểm tra (nếu có) và thời gian học sinh phúc khảo; quy định về việc tổ chức
chấm phúc khảo và thống nhất cách xác định điểm phúc khảo.
Quy định công bố kết quả kiểm
tra và lưu trữ bài kiểm tra: thời gian và cách thức công bố điểm kiểm tra, công
bố kết quả kiểm tra, thời gian và cách thức lưu trữ bài kiểm tra của học sinh.
Đối với các trường trung
học phổ thông, trường phổ thông nhiều cấp học (có cấp THPT) xây dựng quy định về
tổ chức chuyển đổi môn học lựa chọn
- Quy định chuyển đổi môn học lựa
chọn phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu theo hướng dẫn tại Văn bản số
68/BGDĐT-GDTrH do hiệu trưởng ký ban hành và có quy định việc kiểm tra kết quả
thực hiện.
- Xây dựng Quy định phải nêu được
các giải pháp phù hợp hỗ trợ học sinh bổ sung kiến thức, kỹ năng của môn học mới,
cụm chuyên đề học tập mới;
- Phân công giáo viên hỗ trợ
cho học sinh những nội dung, yêu cầu cần đạt của môn lựa chọn, cụm chuyên đề lựa
chọn được chuyển đổi để bảo đảm cho học sinh có đủ năng lực học tiếp môn học mới,
cụm chuyên đề học tập mới ở lớp học tiếp theo;
- Quy định thời gian hợp lý cho
việc tổ chức chuyển đổi môn học lựa chọn;
- Quy định rõ cách thức kiểm
tra, đánh giá theo nội dung, yêu cầu cần đạt của môn lựa chọn, cụm chuyên đề lựa
chọn được chuyển đổi. Trường hợp cụ thể cần quy định ma trận, đặc tả của bài kiểm
tra đánh giá học sinh khi chuyển đổi môn học.
II. TỔ CHỨC
KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ
1. Hình thức
và các loại bài kiểm tra, đánh giá
1.1. Hình thức đánh giá
Đánh giá bằng nhận xét kết quả
học tập đối với các môn học: Giáo dục thể chất, Nghệ thuật, Âm nhạc, Mĩ thuật,
Nội dung giáo dục của địa phương, Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp. Kết quả
học tập theo môn học được đánh giá bằng nhận xét theo 01 trong 02 mức: Đạt,
Chưa đạt.
Đánh giá bằng nhận xét kết hợp
đánh giá bằng điểm số đối với các môn học còn lại trong Chương trình giáo dục
phổ thông (CT GDPT); kết quả học tập theo môn học được đánh giá bằng điểm số
theo thang điểm 10, nếu sử dụng thang điểm khác thì phải quy đổi về thang điểm
10. Điểm đánh giá là số nguyên hoặc số thập phân được lấy đến chữ số thập phân
thứ nhất sau khi làm tròn số.
1.2. Các loại bài kiểm tra,
đánh giá
a. Kiểm tra, đánh giá thường
xuyên
Kiểm tra, đánh giá thường xuyên
được thực hiện trong quá trình dạy học và giáo dục, nhằm đánh giá quá trình và
kết quả thực hiện các nhiệm vụ học tập, rèn luyện của học sinh theo chương
trình môn học, hoạt động giáo dục trong CT GDPT.
Kiểm tra, đánh giá thường xuyên
được thực hiện theo hình thức trực tiếp hoặc trực tuyến thông qua: hỏi - đáp,
viết, thuyết trình, thực hành, thí nghiệm, sản phẩm học tập.
Đối với một môn học, mỗi học
sinh được kiểm tra, đánh giá nhiều lần, trong đó chọn một số lần kiểm tra, đánh
giá phù hợp với tiến trình dạy học theo kế hoạch giáo dục của tổ chuyên môn,
ghi kết quả đánh giá vào sổ theo dõi và đánh giá học sinh (theo lớp học) để sử
dụng trong việc đánh giá kết quả học tập môn học như sau:
- Đối với môn học đánh giá bằng
nhận xét (không bao gồm cụm chuyên đề học tập): mỗi học kì chọn 02 lần.
- Đối với môn học đánh giá bằng
nhận xét kết hợp đánh giá bằng điểm số (không bao gồm cụm chuyên đề học tập),
chọn số điểm đánh giá thường xuyên theo đúng quy định.
Đối với cụm chuyên đề học tập của
môn học ở cấp trung học phổ thông, mỗi học sinh được kiểm tra, đánh giá theo từng
chuyên đề học tập, trong đó chọn kết quả của 01 lần kiểm tra, đánh giá làm kết
quả đánh giá của cụm chuyên đề học tập. Kết quả đánh giá của cụm chuyên đề học
tập của môn học được tính là kết quả của 01 lần đánh giá thường xuyên của môn học
đó và ghi vào sổ theo dõi và đánh giá học sinh (theo lớp học) để sử dụng trong
việc đánh giá kết quả học tập môn học theo quy định.
b. Kiểm tra, đánh giá định
kì
Đánh giá định kì (không thực hiện
đối với cụm chuyên đề học tập), gồm đánh giá giữa kì và đánh giá cuối kì, được
thực hiện thông qua: bài kiểm tra (trên giấy hoặc trên máy tính), bài thực
hành, dự án học tập.
- Thời gian làm bài kiểm tra
(trên giấy hoặc trên máy tính) đối với môn học (không bao gồm cụm chuyên đề học
tập) có từ 70 tiết/năm học trở xuống là 45 phút, đối với môn học (không bao gồm
cụm chuyên đề học tập) có trên 70 tiết/năm học từ 60 phút đến 90 phút; đối với
môn chuyên tối đa 120 phút.
- Đối với bài kiểm tra (trên giấy
hoặc trên máy tính) đánh giá bằng điểm số, đề kiểm tra được xây dựng dựa trên
ma trận, đặc tả của đề kiểm tra, đáp ứng theo yêu cầu cần đạt của môn học được
quy định trong CT GDPT.
- Đối với bài kiểm tra (trên giấy
hoặc trên máy tính) đánh giá bằng nhận xét, bài thực hành, dự án học tập, phải
có hướng dẫn và tiêu chí đánh giá theo yêu cầu cần đạt của môn học được quy định
trong CT GDPT trước khi thực hiện.
Trong mỗi học kì, mỗi môn học
đánh giá bằng nhận xét có 01 lần đánh giá giữa kì và 01 lần đánh giá cuối kì.
Trong mỗi học kì, mỗi môn học
đánh giá bằng nhận xét kết hợp đánh giá bằng điểm số có 01 điểm đánh giá giữa
kì và 01 điểm đánh giá cuối kì.
Những học sinh không tham gia
kiểm tra, đánh giá đủ số lần theo quy định nếu có lí do bất khả kháng thì được
kiểm tra, đánh giá bổ sung với yêu cầu cần đạt tương đương với lần kiểm tra,
đánh giá còn thiếu. Việc kiểm tra, đánh giá bổ sung được thực hiện theo từng học
kì.
Trường hợp học sinh không tham
gia kiểm tra, đánh giá bổ sung theo quy định thì được đánh giá mức Chưa đạt hoặc
nhận 0 (không) điểm đối với lần kiểm tra, đánh giá còn thiếu.
c. Rèn luyện, kiểm tra, đánh
giá lại các môn học trong kì nghỉ hè
Học sinh có kết quả rèn luyện cả
năm học được đánh giá mức Chưa đạt thì phải rèn luyện trong kì nghỉ hè, hình thức
rèn luyện do hiệu trưởng quy định. Căn cứ vào hình thức rèn luyện trong kì nghỉ
hè, giáo viên chủ nhiệm giao nhiệm vụ rèn luyện trong kì nghỉ hè cho học sinh
và thông báo đến cha mẹ học sinh. Cuối kì nghỉ hè, nếu nhiệm vụ rèn luyện được
giáo viên chủ nhiệm đánh giá đã hoàn thành (có báo cáo về quá trình và kết quả
thực hiện nhiệm vụ rèn luyện có chữ kí xác nhận của cha mẹ học sinh) thì giáo
viên chủ nhiệm đề nghị Hiệu trưởng cho đánh giá lại kết quả rèn luyện cả năm học
của học sinh.
Đối với những học sinh chưa đủ
điều kiện được lên lớp nhưng có kết quả rèn luyện cả năm học được đánh giá từ mức
Đạt trở lên, kết quả học tập cả năm học được đánh giá mức Chưa đạt thì được
đánh giá lại kết quả học tập các môn học được đánh giá mức Chưa đạt (đối với
môn học đánh giá bằng nhận xét) và các môn học có ĐTBmcn dưới 5,0 điểm (đối với
môn học đánh giá bằng nhận xét kết hợp đánh giá bằng điểm số).
2. Thực hiện
hiệu quả các phương pháp và hình thức kiểm tra, đánh giá
Thực hiện việc đánh giá học
sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông theo quy định; xây dựng kế
hoạch kiểm tra, đánh giá phù hợp với kế hoạch dạy học; không kiểm tra, đánh giá
vượt quá yêu cầu cần đạt hoặc mức độ cần đạt của chương trình giáo dục phổ
thông; không kiểm tra, đánh giá đối với các nội dung tinh giản theo hướng dẫn của
Bộ GDĐT.
Thực hiện có hiệu quả các hình
thức, phương pháp kiểm tra đánh giá, đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì.
Khuyến khích các nhà trường xây dựng ngân hàng câu hỏi, ngân hàng đề kiểm tra.
Đối với các môn học, hoạt động giáo dục đánh giá bằng nhận xét, khuyến khích thực
hiện việc kiểm tra, đánh giá định kì thông qua bài thực hành, dự án học tập phù
hợp với đặc thù môn học, hoạt động giáo dục. Việc đổi mới phương pháp, hình thức
kiểm tra, đánh giá các môn học phải bảo đảm yêu cầu về tính trung thực, khách
quan, công bằng, đánh giá chính xác kết quả học tập và rèn luyện của học sinh.
Đối với môn Ngữ văn, thực hiện kiểm tra, đánh giá theo Công văn số
3175/BGDĐT-GDTrH ngày 21/7/2022 của Bộ GDĐT. Đối với môn Lịch sử, Địa lí, Lịch
sử và Địa lí tăng cường các câu hỏi nhằm khai thác, sử dụng các nguồn sử liệu,
tranh ảnh, lược đồ, bản đồ, câu hỏi mở nhằm tạo điều kiện cho học sinh biểu đạt
chính kiến của mình, hướng tới đánh giá phẩm chất và năng lực học sinh, khắc phục
tình trạng ghi nhớ một cách máy móc.
Thực hiện kiểm tra, đánh giá
theo hình thức trực tuyến khi đảm bảo đủ các điều kiện theo quy định Thông tư số
09/2021/TT-BGDĐT ngày 30/3/2021 của Bộ trưởng Bộ GDĐT quy định về quản lí và tổ
chức dạy học trực tuyến trong cơ sở GDPT và cơ sở giáo dục thường xuyên; bảo đảm
chất lượng, chính xác, hiệu quả, công bằng, khách quan, trung thực; đánh giá
đúng năng lực của học sinh.
Các Tổ/nhóm chuyên môn thường
xuyên tổ chức sinh hoạt chuyên môn, trao đổi kinh nghiệm trong thực hiện kiểm
tra, đánh giá; tăng cường sử dụng hệ thống quản lý học tập (LMS), học liệu số để
xây dựng các khóa học, chủ đề học tập nhằm phát huy khả năng tự học, học theo
hướng dẫn cho học sinh. Khuyến khích các Tổ/nhóm chuyên môn thảo luận, phối hợp
xây dựng kế hoạch bài dạy để giáo viên phụ trách lớp tham khảo khi thực hiện
các nội dung dạy học trên hệ thống quản lý LMS có kết hợp kiểm tra, đánh giá
thường xuyên để quá trình học tập cho học sinh trên internet được hiệu quả.
3. Tổ chức
kiểm tra, đánh giá định kì
Tổ chức các kì kiểm tra, đánh
giá định kì nghiêm túc, đúng quy định, đúng lịch kiểm tra thống nhất, đúng thời
lượng quy định, đúng nội dung và hình thức theo yêu cầu; đảm bảo kiểm tra được
mục tiêu đánh giá được năng lực toàn diện của học sinh. Trước khi kiểm tra đánh
giá, giáo viên và nhà trường cần xác định được mục tiêu năng lực cần kiểm tra
đánh giá, đảm bảo phù hợp mục tiêu giáo dục của nhà trường và của môn học hoặc
hoạt động giáo dục. Xác định hình thức kiểm tra, đánh giá phải đáp ứng được yêu
cầu về phát triển năng lực của học sinh.
Căn cứ chuẩn kiến thức, kỹ năng
trong chương trình và hướng dẫn thực hiện điều chỉnh nội dung giáo dục phổ
thông của Bộ GDĐT, không kiểm tra những nội dung vượt quá yêu cầu cần đạt hoặc
mức độ cần đạt của chương trình giáo dục phổ thông.
Nội dung đề kiểm tra được xây dựng
dựa trên ma trận đặc tả của đề kiểm tra, đáp ứng theo yêu cầu cần đạt của môn học
được quy định trong CT GDPT.
Đối với các môn học đánh giá bằng
nhận xét kết hợp đánh giá bằng điểm số, các cơ sở giáo dục ở cấp trung học phổ
thông xây dựng ma trận, bản đặc tả, đề kiểm tra và hướng dẫn chấm đề kiểm tra định
kì bảo đảm các yêu cầu về chuyên môn, kĩ thuật (tham khảo Phụ lục kèm theo Công
văn số 7991/BGDĐT-GDTrH ngày 17/12/2024 của Bộ GDĐT).
Hình thức, cấu trúc đề kiểm tra
theo hướng đổi mới (tự luận, trắc nghiệm, trắc nghiệm kết hợp tự luận, tỉ lệ
các mức độ câu hỏi, …) do Hiệu trưởng quyết định sau khi họp thống nhất với Tổ
chuyên môn; đảm bảo được đánh giá, phân loại học sinh theo quy định của Thông
tư 22/2021/TT-BGDĐT và theo Quy chế kiểm tra đánh giá của nhà trường.
Thời gian kiểm tra định kì của
năm học 2025 - 2026 (Nhà trường chỉ tổ chức kiểm tra, đánh giá cuối kì theo
hình thức tập trung và đề chung).
- Kiểm tra, đánh giá giữa kì 1:
Sau tuần thứ 8 của học kì 1.
- Kiểm tra, đánh giá cuối kì 1:
Thời điểm hoàn thành ngày 03/01/2026.
- Kiểm tra, đánh giá giữa kì 2:
Sau tuần thứ 7 của học kì 2.
- Kiểm tra, đánh giá cuối kì 2:
Thời điểm hoàn thành ngày 16/5/2026.
Đối với các môn học, hoạt động
giáo dục có tiến trình dạy học khác với tiến trình chung, tiến độ thực hiện kiểm
tra đánh giá giữa kì, cuối kì được nhà trường xây dựng đảm bảo phù hợp với tiến
trình dạy học của môn học, hoạt động giáo dục được quy định trong chương trình
đồng thời đảm bảo thời điểm hoàn thành theo Quyết định số 640/QĐ-UBND.
4. Xây dựng
kế hoạch kiểm tra, đánh giá
Căn cứ trên Kế hoạch kiểm tra,
đánh giá của nhà trường và của tổ/nhóm chuyên môn, giáo viên xây dựng kế hoạch
kiểm tra, đánh giá cụ thể cho từng lớp, khối lớp được phụ trách.
- Công khai cho học sinh số lần,
số điểm, hình thức kiểm tra, đánh giá thường xuyên và định kì; cách thức chọn lựa
kết quả kiểm tra, đánh giá đối với những kiểm tra, đánh giá thường xuyên thực
hiện nhiều lần trước khi tổ chức kiểm tra, đánh giá.
- Công khai kế hoạch, tiêu chí
kiểm tra đánh giá cho học sinh; tổ chức thực hiện kiểm tra, đánh giá học sinh đảm
bảo công bằng, khách quan và đúng quy định.
- Tăng cường ứng dụng công nghệ
thông tin, phần mềm máy tính trong tổ chức, quản lý và thực hiện kiểm tra, đánh
giá học sinh.
Hiệu trưởng tăng cường giám sát
trong công tác kiểm tra đánh giá học sinh; thực hiện công tác kiểm tra nội bộ
nhà trường đối với hoạt động kiểm tra, đánh giá để điều chỉnh kịp thời các sai
sót.
III. Kết quả
môn học và kết quả các môn học sau mỗi học kì, cả năm học
Đối với các môn học đánh giá bằng
nhận xét kết hợp đánh giá bằng điểm số: nhận xét sự tiến bộ về thái độ, hành
vi, kết quả học tập môn học sau mỗi học kì, cả năm học; tính điểm trung bình
môn học và tính điểm trung bình các môn học sau mỗi học kì, cả năm học.
Đối với các môn học đánh giá bằng
nhận xét: Nhận xét môn học sau mỗi học kì, cả năm học theo hai mức: Đạt và Chưa
đạt; nhận xét về năng khiếu (nếu có).
IV. Công tác
quản lý và báo cáo trong kiểm tra, đánh giá định kì
Trường tổ chức tập huấn, xây dựng
ma trận, đặc tả, soạn thảo đề kiểm tra của từng môn học trong bài kiểm tra định
kì và theo yêu cầu cần đạt của môn học được quy định trong Chương trình môn học.
Xây dựng ngân hàng câu hỏi theo bảng ma trận đặc tả theo từng nội dung kiến thức.
Thực hiện kiểm tra cuối kì theo khung thời gian hướng dẫn của Sở GDĐT.
Các đơn vị thực hiện công khai
các nội dung trên cổng thông tin đơn vị:
- Quy chế kiểm tra, đánh giá của
nhà trường: trước 15/9/2025.
- Ma trận, đặc tả và đề kiểm
tra cuối kì học kì 1 và học kì 2: sau 10 ngày kết thúc kiểm tra cuối kì.
Đề nghị lãnh đạo các cơ sở giáo
dục triển khai thực hiện theo hướng dẫn của công văn này./.
|
Nơi nhận:
- Như trên;
- Giám đốc (để báo cáo);
- Lưu: VT, GDPT.
|
KT. GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC
Nguyễn Bảo Quốc
|