|
Kính gửi:
|
- UBND thành phố Hà Nội;
- Sở Nội vụ thành phố Hà Nội.
|
Thực hiện Thông báo số
513-TB/ĐU, ngày 11/4/2026 của Đảng ủy UBND Thành phố thông báo Kết luận cuộc họp
Ban Thường vụ Đảng ủy UBND Thành phố ngày 10/4/2026 (Thông báo số 513-TB/ĐU) và
các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương, Thành phố về việc sắp xếp các
đơn vị sự nghiệp công lập thuộc UBND Thành phố; tiếp thu ý kiến chỉ đạo của đồng
chí Phó Chủ tịch UBND Thành phố tại cuộc họp ngày 16/4/2026, Sở Giáo dục và Đào
tạo báo cáo dự kiến Phương án sắp xếp các cơ sở giáo dục công lập trên địa bàn
Thành phố như sau:
A. ĐỐI VỚI
TRƯỜNG MẦM NON, TRƯỜNG PHỔ THÔNG (Trường THPT, THPT chuyên và
trường liên cấp có cấp học cao nhất là THPT, Trường Bồi dưỡng CBGD Hà Nội, trường
dành cho học sinh khuyết tật; Trường trung học cơ sở, tiểu học, các trường liên
cấp, mầm non công lập)
I. NGUYÊN
TẮC SẮP XẾP
1. Trong
quá trình triển khai việc rà soát, sắp xếp các cơ sở giáo dục công lập trên địa
bàn Thành phố, Sở Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo thực hiện tuân thủ theo các văn bản
chỉ đạo:
- Nghị quyết số 02-NQ/TW, ngày
17/3/2026 của Bộ Chính trị về xây dượng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ
nguyên mới;
- Dự thảo Luật Thủ đô năm
2026;
- Dự thảo Quy hoạch tổng thể
Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm.
- Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày
25/10/2017 Hội nghị Trung ương 6 khóa XII về “một số vấn đề về tiếp tục đổi mới,
sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực,
hiệu quả”;
- Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày
25/10/2017 Hội nghị Trung ương 6 khóa XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức
và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp
công lập;
- Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày
22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo;
- Nghị quyết 79-NQ/TW ngày
06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước;
- Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày
07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam;
- Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày
9/9/2025 của Bộ Chính trị “Về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ,
chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân”;
- Nghị quyết số 281/NQ-CP ngày
15/9/2025 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết
số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và
đào tạo;
- Nghị quyết 105/NQ-CP ngày
08/4/2026 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Kết luận số
210-KL/TW ngày 12/11/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục
xây dựng, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị trong thời gian tới;
- Quyết định số 1569/QĐ-TTg
ngày 12/12/2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch Thủ đô Hà Nội thời
kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050;
- Công văn số 59-CV/BCĐ ngày
12/9/2025 của Ban Chỉ đạo Trung ương tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW về việc sắp
xếp đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước và đầu mối bên trong các cơ
quan, tổ chức trong hệ thống chính trị;
- Kế hoạch số 130/KH-BCĐTKNQ18
ngày 21/9/2025 của Ban Chỉ đạo về tổng kết thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW của
Chính phủ về sắp xếp đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức
bên trong hệ thống hành chính nhà nước (Kế hoạch số 130);
- Công văn số 8150/BNV-TCBC
ngày 18/9/2025 của Bộ Nội vụ về việc sắp xếp đơn vị sự nghiệp theo Công văn
số 59-CV/BCĐ ngày 12/9/2025 của Ban Chỉ đạo Trung ương về tổng kết Nghị quyết số
18-NQ/TW;
- Công văn số 6165/BGDĐT-GDPT
ngày 02/10/2025 của Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn việc sắp xếp, tổ chức các
cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên;
- Công văn số 131-CV/ĐU ngày
12/11/2025 của Đảng ủy Bộ Giáo dục và Đào tạo về công tác sắp xếp, tổ chức các
cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên;
- Công văn số 7907/BGDĐT-GDPT
ngày 02/12/2025 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc triển khai Kế luận
221-KL/TW;
- Chương trình số 05-CT/TU ngày
12/01/2026 của Thành ủy Hà Nội về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết
số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và
đào tạo;
- Kế hoạch số 45/KH-UBND ngày
29/01/2026 của UBND Thành phố về Kế hoạch thực hiện Chương trình hành động số
05-CT/TU ngày 12/01/2026 của Ban Thường vụThành ủy Hà Nội thực hiện Nghị quyết
số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và
đào tạo;
- Kế hoạch số 09-KH/TU, ngày
26/11/2025 của Thành ủy Hà Nội về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện tổ chức bộ
máy của hệ thống chính trị Thành phố;
- Công văn số 5200/UBND-SNV
ngày 22/9/2025 của UBND Thành phố về việc sắp xếp đơn vị sự nghiệp công lập,
doanh nghiệp Nhà nước, tổ chức bên trong hệ thống hành chính nhà nước;
- Công văn số 19222/VP-KGVX
ngày 21/11/2025 của Văn phòng UBND Thành phố về việc triển khai thực hiện
Công văn số 131-CV/ĐU ngày 12/11/2025 của Đảng ủy Bộ Giáo dục và Đào tạo;
- Công văn số 20312/VP-NC ngày
05/12/2025 của Văn phòng UBND Thành phố về việc tham mưu tổ chức thực hiện Kế
hoạch số 09-KH/TU ngày 26/11/2025 của Ban Thường vị Thành ủy;
- Công văn số 6827/SNV-SBN ngày
14/11/2025 của Sở Nội vụ về việc rà soát, xây dựng phương án sắp xếp, tổ chức
lại các đơn vị sự nghiệp công lập; Công văn số 817/SNV-SBN ngày 10/02/2026 của
Sở Nội vụ về việc đôn đốc thực hiện các nội dung về sắp xếp tổ chức bộ máy.
2. Nguyên tắc
sắp xếp
1. Việc rà soát, sắp xếp các
cơ sở giáo dục công lập trên địa bàn Thành phố thực hiện tuân thủ theo các
văn bản chỉ đạo của Trung ương và Thành phố.
2. Quán triệt nghiêm túc Nghị
quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục
và đào tạo; Nghị quyết số 02- NQ/TW, ngày 17/3/2026 của Bộ Chính trị về xây
dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới; Chương trình hành động số
05-CT/TU ngày 12/01/2026 của Thành ủy Hà Nội.
3. Chỉ đạo, thực hiện đúng
quan điểm của Ban Chỉ đạo Trung ương tại Kế hoạch số 130/KH-BCĐTKNQ18 ngày
21/9/2025 về tổng kết thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW của Chính phủ về sắp xếp
đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức bên trong hệ thống
hành chính nhà nước; Nghị quyết 105/NQ-CP ngày 08/4/2026 của Chính phủ ban hành
Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 210-KL/TW ngày 12/11/2025 của
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện tổ
chức bộ máy của hệ thống chính trị trong thời gian tới;
4. Thực hiện tinh gọn tối thiểu
50% đầu mối quản lý hành chính, nâng cao chất lượng, hiệu quả quản trị nhà trường,
tăng số lượng giáo viên trực tiếp giảng dạy; hạn chế tối đa việc thay đổi địa
điểm trường học, bảo đảm thuận lợi cho học sinh, phù hợp với quy hoạch mạng lưới
cơ sở giáo dục; việc giảng dạy của giáo viên, đặc biệt là việc học tập của học
sinh, vẫn diễn ra bình thường, không làm ảnh hưởng đến phục vụ nhu cầu của người
dân, bảo đảm các chế độ, chính sách đối với trẻ em, học sinh, giáo viên.
5. Việc sắp xếp phải tuân thủ
các quy định hiện hành về quy mô trường, lớp, tiêu chuẩn cơ sở vật chất, định
mức giáo viên; gắn với quy hoạch, quy mô dân số, mật độ dân cư và điều kiện địa
lý; thực hiện đúng các chuẩn, tiêu chuẩn theo quy định đối với giáo dục mầm
non, phổ thông; tuyệt đối không làm ảnh hưởng đến quyền học tập của học sinh.
6. Đảm bảo không làm giảm cơ hội
tiếp cận giáo dục của trẻ em, học sinh; an toàn thuận lợi trong quá trình đến
trường của trẻ em, học sinh; không thực hiện sáp nhập nếu khoảng cách địa lý
hoặc điều kiện giao thông không phù hợp; đáp ứng yêu cầu về công tác phổ cập
giáo dục và giáo dục bắt buộc.
7. Đảm bảo số điểm trường phân
bố hợp lý. Từng bước đổi mới mô hình quản lý, quản trị trường phổ thông theo hướng
tinh gọn bộ máy quản lý hành chính, tăng quyền tự chủ và trách nhiệm giải
trình; tiến tới nâng mức tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập lên nhóm 2
theo quy định của Chính phủ, Bộ Tài chính và Thành phố.
8. Bảo đảm mỗi đơn vị hành
chính cấp xã có ít nhất một trường mầm non, một trường tiểu học và một trường
trung học cơ sở; ưu tiên mô hình trường phổ thông có nhiều cấp học tại các khu
vực dân cư thưa thớt hoặc nơi có điều kiện đi lại khó khăn.
9. Không sáp nhập trường mầm
non với trường phổ thông.
10. Về định mức số lượng người
làm việc vị trí việc làm lãnh đạo, quản lý; định mức số lượng người làm việc
vị trí việc làm chức danh nghề nghiệp chuyên ngành; định mức số lượng người
làm việc vị trí việc làm chuyên môn dùng chung; vị trí việc làm hỗ trợ phục
vụ tại các trường sau sắp xếp thực hiện theo quy định hiện hành của Bộ Giáo
dục và Đào tạo tại Thông tư số 19/2023/TT-BGDĐT ngày 30/10/2023, Thông tư số
20/2023/TT-BGDĐT ngày 30/10/2023.
II. PHƯƠNG
ÁN SẮP XẾP ĐỐI VỚI CÁC TRƯỜNG TRỰC THUỘC SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
1. Đối với
Trường THPT: Giữ nguyên
- Số trường trước sắp xếp: 124
trường;
- Số trường sau sắp xếp: 124
trường;
Vì hiện tại, nhu cầu về chỗ học
cho học sinh THPT ở Hà Nội vẫn đang có xu hướng gia tăng. Bên cạnh đó, về cơ bản,100%
trường THPT công lập đáp ứng đủ tiêu chuẩn, điều kiện về quy mô số lớp, số học
sinh theo quy định. Cụ thể: Trong năm học 2025-2026, trường học có quy mô số lớp
và số học sinh thấp nhất là Trường THPT Đỗ Mười (trường mới thành lập chỉ có học
sinh khối lớp 10), với tổng số 10 lớp, và 418 học sinh (tuyển sinh đủ 3 khóa sẽ
có quy mô khoảng 1.300 học sinh); trường học có quy mô số lớp cao nhất là Trường
THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam với tổng số 69 lớp; trường học có quy mô số học
sinh cao nhất là Trường THPT Việt Đức với tổng số 2.621 học sinh. Trung bình
toàn Thành phố là 41,6 lớp/trường, 44,5 học sinh/lớp.
Hiện nay, mạng lưới trường học
trên địa bàn Thành phố đã cơ bản đáp ứng được quy định mỗi xã, phường có từ 3 đến
5 vạn dân có 01 trường THPT công lập, nhằm đảm bảo chỗ học cho con em nhân dân
trên địa bàn theo quy định. Thực hiện chủ trương của Thành phố, Sở GDĐT đang
tham mưu triển khai công tác chuẩn bị đầu tư xây dựng 06 trường phổ thông liên
cấp tiên tiến, hiện đại có diện tích đất từ 5 ha trở lên trên địa bàn Thành
phố. Hiện nay có 03 trường THPT tự bảo đảm chi thường xuyên. Có 121 đơn vị
tự đảm bảo chi thường xuyên do tham gia thí điểm đặt hàng dịch vụ giáo dục.
Cơ cấu tổ chức, bộ máy và mạng
lưới các trường THPT công lập của Hà Nội hiện đang ổn định và hoạt động có hiệu
quả. Quy mô giáo dục THPT ổn định và có bước phát triển tốt. Chất lượng giáo dục
THPT của Hà Nội, cả chất lượng đại trà và chất lượng mũi nhọn ngày càng được
nâng cao, Hà Nội ngày càng có nhiều học sinh đạt giải trong các kỳ thi học sinh
giỏi quốc gia và quốc tế, khẳng định vị trí đứng đầu cả nước về chất lượng giáo
dục THPT.
2. Đối với
02 Trường Mầm non trực thuộc Sở: Chuyển về thuộc phường quản lý.
- Số trường trước sắp xếp: 02
trường;
- Số trường sau sắp xếp: 02 trường;
Thực hiện Nghị quyết số
19-NQ/TW về sắp xếp tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập, 02 trường mầm
non trực thuộc Sở (Trường mầm non B và Trường mầm non Việt Triều Hữu nghị) đã
tiên phong thực hiện chuyển đổi mô hình sang công lập tự chủ tài chính. Đây
là mô hình cần tiếp tục nghiên cứu, triển khai trong thời gian tới.
Do đó, Sở Giáo dục và Đào tạo đề
xuất phương án sắp xếp như sau: Giữ nguyên mô hình tổ chức 02 trường mầm non và
chuyển về trực thuộc UBND phường quản lý (Trường Mầm non B thuộc UBND Phường
Cửa Nam và Trường Mầm non Việt Triều Hữu nghị thuộc UBND Phường Kim Liên).
3. Đối với
Trường dành cho trẻ khuyết tật: Giữ nguyên
Trong đó, tiếp tục rà soát và
triển khai mô hình Trường dành cho trẻ khuyết tật theo hướng:
- Trường PTCS Nguyễn Đình Chiểu:
Bổ sung cấp THPT và tổ chức lại theo mô hình trường phổ thông nhiều cấp học có
lớp chuyên biệt;
- Trường PTCS Xã Đàn và Trường
Tiểu học Bình Minh: Sáp nhập lại theo mô hình trường phổ thông chuyên biệt sau
khi Thành phố hoàn thành dự án xây dựng trường chuyên biệt cho trẻ khuyết tật
thành phố Hà Nội (cụm trường tiểu học Bình Minh và Phổ thông cơ sở Xã Đàn) tại
phường Thạch Bàn, quận Long Biên (cũ).
- Đối với các Trường phổ thông
chuyên biệt trực thuộc xã, phường:
+ Rà soát, tổ chức lại 4 trường
chuyên biệt để nâng cao hiệu quả hoạt động, đáp ứng nhu cầu học tập của học
sinh khuyết tật trên địa bàn Thành phố.
+ Đề xuất chuyển công tác quản
lý đối với các đơn vị về trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo (các đơn vị này hiện
đang phục vụ nhu cầu của Nhân dân không chỉ trên địa bàn xã, phường mà cả các địa
bàn lân cận thuộc Thành phố).
Hiện nay, số trẻ khuyết tật
trên địa bàn Thành phố có nhu cầu học tại các trường chuyên biệt ngày càng
tăng. Đối với những học sinh có khiếm khuyết nặng (về trí tuệ, nghe, nói,
nhìn), việc học hòa nhập tại các trường bình thường thường rất khó khăn do các
em không thể theo kịp chương trình chung. Trường chuyên biệt cung cấp một môi
trường được thiết kế riêng với học sinh khuyết tật. Việc duy trì các trường để
đảm bảo quyền tiếp cận giáo dục bình đẳng cho mọi trẻ em, không để ai bị bỏ lại
phía sau. Cụ thể hóa các quy định của Đảng và Nhà nước về giáo dục đặc biệt
phù hợp với thực tế Thủ đô. Việc tiếp tục tổ chức lại và phát triển các trường
chuyên biệt trên địa bàn Thành phố cần được quan tâm đầu tư.
4. Đối với
Trường Bồi dưỡng cán bộ Giáo dục Hà Nội: Nghiên cứu tổ chức lại
để nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả hoạt động.
- Số trường trước sắp xếp: 01
trường;
- Số trường sau sắp xếp: 01 trường;
Vì Hà Nội là địa phương có quy
mô giáo dục lớn (2.950 cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục nghề nghiệp),
số lượng cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên các cơ sở giáo dục trên địa bàn
nhiều (124.192 giáo viên), công tác bồi dưỡng đội ngũ hằng năm giúp đội ngũ cán
bộ quản lý, giáo viên cập nhật kiến thức mới đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đổi mới
của ngành thực sự cần thiết và quan trọng.
Trong thời gian tới sẽ tổ chức
lại Trường Bồi dưỡng cán bộ Giáo dục Hà nội theo quan điểm: Sắp xếp lại và phát
triển Trường Bồi dưỡng cán bộ Giáo dục Hà Nội theo định hướng trở thành trung
tâm bồi dưỡng cán bộ, viên chức toàn thành phố. Trong đó, đối với viên chức quản
lý khối giáo dục sẽ tập trung vào nâng cao năng lực quản trị nhà trường và bảo
đảm chất lượng giáo dục nội bộ làm trọng tâm. Tổ chức hoạt động theo hướng liên
thông giữa bồi dưỡng phát triển năng lực và đánh giá, bảo đảm chất lượng. Trường
Bồi dưỡng cán bộ Giáo dục Hà Nội là nơi thực thi mọi chính sách đột phá phát
triển giáo dục và đào tạo. Nhiệm vụ chiến lược của nhà trường: Phát triển
năng lực quản trị nhà trường: Xây dựng và triển khai hệ thống bồi dưỡng
theo khung năng lực chuẩn hóa, tổ chức các chương trình đào tạo theo mô-đun
năng lực (dài hạn và tín chỉ hóa). Kiểm định và Bảo đảm chất lượng giáo dục:
Hỗ trợ các cơ sở giáo dục thực hiện tự đánh giá, chuẩn bị đánh giá
ngoài; xây dựng hệ thống dữ liệu chất lượng và cung cấp phân tích (cơ chế
kiểm sát, đánh giá hiệu quả thực thi tại nhà trường) làm cơ sở điều hành
dựa trên bằng chứng cho Sở Giáo dục và Đào tạo.
Lộ trình thực hiện tự chủ một
phần kinh phí chi thường xuyên. Nhà trường xác định lộ trình tự chủ tài chính
theo hai giai đoạn:
+ Giai đoạn 2026 - 2027: duy
trì ổn định nguồn ngân sách nhà nước cấp cho các nhiệm vụ bồi dưỡng bắt buộc;
đồng thời triển khai thí điểm các dịch vụ tư vấn bảo đảm chất lượng và đánh giá
độc lập theo đơn đặt hàng của các cơ sở giáo dục; đạt mục tiêu là đơn vị tự bảo
đảm từ 10% đến dưới 30% chi thường xuyên.
+ Giai đoạn 2028 - 2030: phấn
đấu nâng dần mức độ tự chủ chi thường xuyên thông qua đa dạng hóa sản phẩm bồi
dưỡng theo nhu cầu và dịch vụ tư vấn quản trị nhà trường dựa trên nền tảng dữ
liệu số; đạt mục tiêu là đơn vị tự bảo đảm từ 30% đến dưới 70% chi thường
xuyên.
III. PHƯƠNG
ÁN SẮP XẾP CÁC TRƯỜNG THUỘC UBND CẤP XÃ QUẢN LÝ
1. Phương
án sắp xếp do các phường, xã đề xuất
(1) Giữ nguyên hiện trạng
mạng lưới trường mầm non, tiểu học, THCS: 108 phường, xã
UBND các phường, xã đã tiến
hành rà soát, đánh giá, đối chiếu quy mô số lớp trung bình của các trường trên
địa bàn 126 xã, phường so với tiêu chuẩn tối thiểu/tối đa do Bộ Giáo dục và Đào
tạo quy định. Kết quả cụ thể:
- Bậc học Mầm non:
+ Về quy mô số lớp trung bình/1
trường: Phần lớn tập trung ở mức từ 9 đến 15 lớp (64 xã, phường) và từ trên 15 lớp
đến 30 lớp (60 xã, phường). Không có xã, phường nào có quy mô số lớp trung bình
vượt mức tối đa theo quy định.
+ Về quy mô số học sinh trung
bình/1 lớp: 42/126 xã, phường có quy mô số học sinh trung bình vượt mức quy định
(trên 30 trẻ/lớp). Số trẻ trung bình cao nhất/lớp đạt 42,2 trẻ, vượt mức tối đa
1,41 lần (địa bàn Phường Tây Mỗ, Phường Từ Liêm).
- Bậc Tiểu học:
+ Không có xã, phường nào có
quy mô số lớp trung bình/1 trường dưới mức tối thiểu (dưới 10 lớp). Đa số các
đơn vị hoạt động với quy mô từ 21-40 lớp (78 xã, phường), 38 xã, phường có từ
10-20 lớp và 10 xã, phường có quy mô trên 40 lớp.
+ Về quy mô số học sinh trung
bình/1 lớp: 75/126 xã, phường có quy mô số học sinh trung bình vượt mức quy định
(trên 35 học sinh/lớp). Số học sinh trung bình cao nhất/lớp đạt 53 học sinh, vượt
mức tối đa 1,51 lần (địa bàn Phường Kiến Hưng).
- Bậc Trung học cơ sở:
+ Không có xã, phường nào có
quy mô số lớp trung bình/1 trường dưới mức tối thiểu (dưới 8 lớp). Phân bổ chủ
yếu ở mức từ 9 đến 22 lớp (64 xã, phường) và từ trên 22 lớp đến 45 lớp (55 xã,
phường).
+ Về quy mô số học sinh trung
bình/1 lớp: 24/126 xã, phường có quy mô số học sinh trung bình vượt mức quy định
(trên 45 học sinh/lớp). Số học sinh trung bình cao nhất/lớp đạt 51,1 học sinh,
vượt mức tối đa 1,14 lần (địa bàn Phường Hoàng Liệt).
Tất cả các trường có cơ sở vật
chất đáp ứng yêu cầu dạy và học; đội ngũ giáo viên đảm bảo về số lượng, chất lượng
và cơ cấu môn học. Các trường phân bố hợp lý, cách nhau phù hợp, hiện tại quy
mô các trường đang phù hợp với tình hình thực tế tại các địa phương để nâng
cao chất lượng dạy và học.
(2) Đề nghị sắp xếp, tổ
chức lại mạng lưới trường mầm non, tiểu học, THCS: 18 xã, phường (Gồm
các xã, phường: (1). Phường Bạch Mai (2). Phường Bồ Đề (3). Phường Chương Mỹ
(4). Phường Cửa Nam (5). Phường Hà Đông (6). Phường Hai Bà Trưng (7). Phường Hồng
Hà (8). Phường Ngọc Hà (9). Phường Sơn Tây (10). Xã An Khánh (11). Xã Chương
Dương (12). Xã Đan Phượng (13). Xã Phú Cát (14). Xã Phúc Lộc (15). Xã Thạch Thất
(16). Xã Yên Bài (17). Xã Phú Nghĩa (18). Xã Minh Châu).
Việc đề nghị sắp xếp lại vì:
(1) Quy mô trường, lớp và học
sinh quá nhỏ, dưới mức chuẩn tối thiểu
Đây là lý do phổ biến nhất tại
nhiều địa phương, khi các trường không đáp ứng được quy định về số lượng lớp học
hoặc sĩ số theo Điều lệ trường học hiện hành:
+ Không đủ số lớp tối thiểu:
Nhiều trường chỉ có từ 5 đến 8 lớp học (ví dụ: THCS Phú Mãn thuộc xã Phú Cát chỉ
có 05 lớp; Trường Mầm non Huyện thuộc xã Đan Phượng có 8 lớp; THCS Vân Hà và
Tiểu học Vân Hà thuộc xã Phúc Lộc đều chỉ có 5 lớp).
+ Quy mô học sinh thấp, tuyển
sinh khó khăn: Một số trường gặp khó khăn trong tuyển sinh dẫn đến số học sinh
rất ít, sĩ số không đảm bảo như Trường THCS Hồng Hà (phường Sơn Tây) hay các
trường mầm non tại Phường Cửa Nam.
+ Việc sáp nhập nhằm tạo ra
các trường mới có quy mô học sinh và số lớp đủ lớn (ví dụ: sáp nhập tại xã Thạch
Thất và Yên Bài để trường mới có quy mô từ 20-30 lớp), đáp ứng tiêu chuẩn quy định.
(2) Diện tích đất chật hẹp, cơ
sở vật chất thiếu thốn và xuống cấp
Đặc biệt phổ biến tại các khu
trung tâm hoặc các khu vực dân cư cũ, điều kiện cơ sở hạ tầng không cho phép
nhà trường phát triển:
+ Diện tích không đạt chuẩn và
khó mở rộng: Nhiều trường có diện tích quá nhỏ, đan xen trong khu dân cư, nằm
sâu trong ngõ hẹp (ví dụ: Trường Mầm non Chim Non thuộc phường Ngọc Hà chỉ có
252,2m2; các trường tại Phường Hai Bà Trưng).
+ Cơ sở vật chất xuống cấp, thiếu
an toàn: Một số trường có cơ sở vật chất cũ, xuống cấp trầm trọng, vị trí giao
thông không thuận tiện (như Mầm non Bắc Cầu thuộc phường Bồ Đề).
+ Không đủ điều kiện đạt chuẩn
Quốc gia: Do thiếu diện tích để xây dựng các phòng học tối thiểu, phòng chức
năng, phòng bộ môn, hoặc sân chơi (ví dụ: Trường Mẫu giáo số 8 và THCS Phúc Xá
thuộc phường Hồng Hà; các trường chưa đạt chuẩn tại phường Hà Đông).
(3) Khoảng cách địa lý quá gần,
gây chồng chéo địa bàn
Sự phân bố trường học do lịch
sử để lại khiến một số đơn vị nằm quá sát nhau, dẫn đến lãng phí và cạnh tranh
nguồn tuyển sinh không cần thiết:
+ Có những trường mầm non hoặc
tiểu học chỉ cách nhau từ 200m đến dưới 1,5km (ví dụ: Trường Mầm non Đinh Tiên
Hoàng và Trường Mầm non Hoa Sen thuộc phường Hồng Hà cách nhau chưa đến 200m;
Trường Mầm non Thị trấn Phùng và Trường Mầm non Huyện thuộc xã Đan Phượng cách
nhau 250m; 03 trường mầm non tại phường Cửa Nam).
+ Việc các trường cùng cấp nằm
gần nhau gây thu hẹp quy mô tuyển sinh của từng trường (như trường hợp tại xã
Thạch Thất).
(4) Nâng cao hiệu quả quản lý
và tối ưu hóa nguồn lực
Việc sáp nhập giúp tập trung
nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất, tránh tình trạng đầu tư dàn trải, chắp vá, đặc
biệt đối với các điểm trường lẻ.
Giúp tinh gọn bộ máy, nâng cao
hiệu quả quản lý, điều hành và sử dụng nguồn lực giáo viên, ngân sách nhà nước
tại địa phương.
(5) Phù hợp với đặc thù địa giới
hành chính và định hướng phát triển
+ Điều chỉnh theo địa giới: Trường
hợp chuyển giao Trường Mầm non Khu công nghiệp Phú Nghĩa từ xã Phú Nghĩa về
Phường Chương Mỹ quản lý do địa điểm thực tế của trường hiện đang nằm trên địa
giới hành chính của Phường Chương Mỹ.
+ Chuyển đổi sang mô hình liên
cấp: Xã đảo Minh Châu (địa bàn biệt lập, đi lại khó khăn phụ thuộc vào đò
ngang) đề xuất xây dựng Đề án Trường liên cấp (Tiểu học, THCS và THPT) trên cơ
sở sáp nhập, nâng cấp nhằm phù hợp với đặc thù khu vực và thực hiện theo
đúng Thông báo kết luận của Thành ủy.
Tổng hợp chung Phương án
sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục công lập trực thuộc phường, xã do UBND
phường, xã đề xuất như sau:
(1) Đối với Trường Mầm non:
- Số trường trước sắp xếp: 811
trường;
- Số trường sau sắp xếp: 788
trường (Giảm 23 trường);
(2) Đối với Trường Tiểu học:
- Số trường trước sắp xếp: 728
trường;
- Số trường sau sắp xếp: 724
trường (Giảm 04 trường);
(3) Đối với Trường Trung học
cơ sở:
- Số trường trước sắp xếp: 614
trường;
- Số trường sau sắp xếp: 606
trường (Giảm 8 trường);
(4) Đối với Trường liên cấp:
- Trường liên cấp tiểu học và
THCS: 01 trường (tăng 01 trường);
- Trường liên cấp tiểu học,
THCS và THPT: 01 trường (tăng 01 trường);
2. Phương
án sắp xếp do Sở Giáo dục và Đào tạo đề xuất
Căn cứ các văn bản chỉ đạo của
Trung ương và Thành phố; Căn cứ Nghị quyết số 105/NQ-CP ngày 08/4/2026 của
Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 210-KL/TW
ngày 12/11/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây
dựng, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị trong thời gian tới,
đã định hướng: “Chỉ thực hiện sáp nhập trường, điểm trường trong phạm vụ một
đơn vị hành chính cấp xã”; “Bảo đảm mỗi đơn vị hành chính cấp xã có ít nhất một
trường mầm non, một trường tiểu học và một trường trung học cơ sở; ưu tiên mô
hình trường phổ thông có nhiều cấp học tại các khu vực dân cư thưa thớt hoặc
nơi có điều kiện đi lại khó khăn”.
Thực hiện nguyên tắc: Việc sắp
xếp phải tuân thủ các quy định hiện hành về quy mô trường, lớp, tiêu chuẩn cơ
sở vật chất, định mức giáo viên; gắn với quy hoạch, quy mô dân số, mật độ dân
cư và điều kiện địa lý; thực hiện đúng các chuẩn, tiêu chuẩn theo quy định đối
với giáo dục mầm non, phổ thông; tuyệt đối không làm ảnh hưởng đến quyền học tập
của học sinh.
Để giảm đầu mối, tinh gọn bộ
máy quản lý hành chính (giảm số lượng Hiệu trưởng, kế toán, văn thư...) mà vẫn
giữ nguyên số lượng các cơ sở trường học hiện có, để không làm ảnh hưởng đến
nhu cầu học tập của học sinh, căn cứ vào quy mô trường, lớp, học sinh tại các
phường, xã, sau khi rà soát, Sở Giáo dục và Đào tạo dự kiến Phương án sắp xếp
các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở thuộc các phường, xã như sau:
2.1. Mục đích
- Tối ưu hóa quy mô và mạng lưới
trường lớp: Hình thành các trường có quy mô lớp và số lượng học sinh phù hợp,
đáp ứng yêu cầu thực hiện chính quyền địa phương hai cấp.
- Tinh gọn bộ máy quản lý: Tinh
gọn tối thiểu 50% đầu mối quản lý hành chính các cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học,
trung học cơ sở công lập ở từng phường, xã (tinh giảm các chức danh lãnh đạo và
bộ phận gián tiếp), nâng cao chất lượng, hiệu quả quản trị nhà trường, tập
trung nguồn lực cho công tác chuyên môn.
- Nâng cao hiệu quả sử dụng
nguồn lực: Khắc phục tình trạng cơ sở vật chất xuống cấp, diện tích nhỏ hẹp
hoặc các trường nằm quá gần nhau gây chồng chéo địa bàn tuyển sinh.
- Đổi mới mô hình quản trị: Triển
khai các mô hình trường học đa cơ sở, trường nhiều cấp học (Tiểu học, THCS) và
giao quyền tự chủ toàn diện hơn cho các cơ sở giáo dục.
2.2. Mô hình trường học khi
sắp xếp
a) Mô hình trường học đa
cơ sở
Trường học đa cơ sở là trường học
được sáp nhập từ 2 trường trở lên cùng cấp học; sau khi sắp xếp, tổ chức lại vẫn
giữ nguyên các cơ sở trường học trước khi sáp nhập. UBND các phường, xã rà soát
các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở có quy mô lớp/trường thấp để sắp
xếp thành trường học đa cơ sở, cụ thể:
- Ưu tiên áp dụng đối với các
trường (cùng cấp học), có địa bàn phục vụ liền kề hoặc gần nhau, quy mô chưa
tương xứng với nhu cầu thực tế, còn dư địa dùng chung bộ máy quản lý, đồng thời
không làm ảnh hưởng đến việc đi lại, học tập bình thường của trẻ em, học sinh.
- Việc lựa chọn mô hình trường
học đa cơ sở phải được xem xét tổng hợp trên các phương diện: quy mô học sinh
và lớp học hiện có, khả năng sử dụng chung đội ngũ và cơ sở vật chất, mức độ
thuận lợi về giao thông, an toàn đưa đón học sinh, khả năng tổ chức bán trú, học
02 buổi/ngày, điều kiện hạ tầng số và khả năng quản trị thống nhất giữa các cơ
sở.
- Sau khi sắp xếp, tổ chức lại
theo mô hình trường học đa cơ sở, phải bảo đảm đầu mối quản lý được tinh gọn,
chức năng nhiệm vụ rõ ràng; giữ ổn định hoạt động dạy học; có lộ trình đầu tư,
cải tạo, khai thác hiệu quả quỹ đất, cơ sở vật chất hiện có và dự phòng khả
năng mở rộng trong dài hạn phù hợp định hướng phát triển không gian đô thị, dân
cư của Thủ đô.
b) Mô hình trường nhiều cấp
học (trường liên cấp)
Đối với trường tiểu học và trường
trung học cơ sở trên cùng địa bàn xã, phường có quy mô lớp/trường thấp, vị trí
gần nhau nhưng không thuận lợi để sắp xếp, tổ chức lại thành trường học đa cơ sở,
nghiên cứu sắp xếp, tổ chức lại theo mô hình trường nhiều cấp học (trường liên
cấp), cụ thể:
- Việc tổ chức trường nhiều cấp
học phải bảo đảm phù hợp đặc điểm dân cư, bán kính phục vụ, khả năng dùng chung
hạ tầng, thiết bị, không gian giáo dục và bộ máy quản trị; đồng thời bảo đảm
yêu cầu riêng của từng cấp học, nhất là an toàn học đường, tổ chức chuyên môn,
bán trú, giáo dục thể chất, y tế học đường và công tác phổ cập giáo dục.
- Chỉ xem xét mô hình trường
nhiều cấp học khi phương án này tạo điều kiện nâng cao chất lượng quản trị, sử
dụng hiệu quả quỹ đất và cơ sở vật chất, thuận lợi cho người học, phù hợp với
xu hướng phát triển các cơ sở giáo dục có nhiều cấp học, chất lượng cao, hiện
đại của Thủ đô.
2.3. Tiêu chí sắp xếp
a) Tiêu chí chung
UBND các xã, phường rà soát các
trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở có quy mô lớp/trường thấp để sắp xếp
thành trường học đa cơ sở, trường nhiều cấp học (tiểu học và trung học cơ sở) cụ
thể:
- Mỗi trường sau khi sắp xếp có
không quá 3 cơ sở.
- Trường mầm non: sau khi sắp xếp,
tổ chức lại thành trường có tối thiểu 22 lớp và không quá 30 lớp/trường, không
quá 35 trẻ/lớp mẫu giáo; Đối với những trường khi sắp xếp có số lớp/trường vượt
quá quy định, các địa phương báo cáo cấp có thẩm quyền quyết định.
- Trường tiểu học: sau khi sắp
xếp, tổ chức lại thành trường có tối thiểu 35 lớp và có không quá 40 lớp/trường,
không quá 35 học sinh/lớp (vùng nông thôn không quá 30 học sinh/lớp); Đối với
những trường khi sắp xếp có số lớp/trường vượt quá quy định, các địa phương báo
cáo cấp có thẩm quyền quyết định.
- Trường trung học cơ sở: sau
khi sắp xếp, tổ chức lại thành trường có tối thiểu 40 lớp và có không quá 45 lớp/trường,
không quá 45 học sinh/lớp (vùng nông thôn không quá 40 học sinh/lớp). Đối với
những trường khi sắp xếp có số lớp/trường vượt quá quy định, các địa phương báo
cáo cấp có thẩm quyền quyết định.
- Trường tiểu học và trung học
cơ sở: sau khi sắp xếp, tổ chức lại thành trường nhiều cấp học có tối thiểu 45
lớp và có không quá 50 lớp/trường; không quá 40 học sinh/lớp với tiểu học;
không quá 45 học sinh/lớp đới với trung học cơ sở. Đối với những trường khi sắp
xếp có số lớp/trường vượt quá quy định, các địa phương báo cáo cấp có thẩm quyền
quyết định.
Việc sắp xếp, tổ chức lại các
đơn vị quy mô nhỏ theo mô hình đa cơ sở, trường nhiều cấp học phải hướng tới
hình thành các trường có quy mô phù hợp, tập trung nguồn lực đầu tư cơ sở vật
chất, đội ngũ giáo viên, nâng cao hiệu quả quản trị nhà trường và chất lượng
giáo dục.
Các tiêu chí xây dựng cần hướng
tới mục tiêu tinh gọn tối thiểu 50% đầu mối quản lý hành chính, nâng cao chất
lượng, hiệu quả quản trị nhà trường, tăng số lượng giáo viên trực tiếp giảng
dạy và các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về quy mô trường, lớp, tiêu chuẩn
cơ sở vật chất, định mức giáo viên.
Ngoài việc lựa chọn một trong
hai mô hình nêu trên, UBND các phường, xã khi xây dựng phương án sắp xếp, tổ
chức lại các cơ sở giáo dục công lập cần bổ sung, lượng hóa và giải trình rõ
các nhóm tiêu chí sau:
- Nhóm tiêu chí về quy hoạch và
phát triển lâu dài: phù hợp Quy hoạch Thủ đô Hà Nội thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn
đến năm 2050 và định hướng Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm; việc
xây dựng phương án sắp xếp phải căn cứ quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê
duyệt, quy mô dân số, mật độ dân cư, nhu cầu học tập theo địa bàn, điều kiện
địa lý, giao thông và khả năng đáp ứng của cơ sở vật.
- Nhóm tiêu chí về tiếp cận
giáo dục và chất lượng phục vụ: bảo đảm mỗi đơn vị hành chính cấp xã có đủ trường
mầm non, tiểu học, trung học cơ sở phù hợp nhu cầu thực tế; không làm giảm cơ
hội tiếp cận giáo dục; chú trọng bán kính đi học hợp lý, an toàn giao thông, khả
năng tiếp cận của trẻ em mầm non, học sinh tiểu học, học sinh khuyết tật và các
nhóm yếu thế; bảo đảm điều kiện tổ chức học 02 buổi/ngày, bán trú, giáo dục
hòa nhập, chuyển đổi số và liên thông dữ liệu quản trị nhà trường.
- Nhóm tiêu chí về hiệu quả quản
trị và sử dụng nguồn lực: đánh giá cụ thể mức độ tinh gọn đầu mối, giảm khâu
trung gian, tăng tỷ lệ giáo viên trực tiếp giảng dạy; khả năng sử dụng chung
phòng học bộ môn, thư viện, nhà thể chất, bếp ăn, hạ tầng công nghệ thông
tin; phương án khai thác trụ sở, quỹ đất, cơ sở vật chất dôi dư sau sắp xếp; mức
độ huy động nguồn lực xã hội hóa và khả năng hình thành các cơ sở giáo dục chất
lượng cao, hiện đại, thích ứng chuyển đổi số.
b) Tiêu chí cụ thể
UBND phường, xã căn cứ quy định
hiện hành xây dựng các tiêu chí cụ thể sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo
dục công lập trên địa bàn phường, xã quản lý, trên cơ sở tuân thủ mục đích, yêu
cầu và các nguyên tắc sắp xếp tại văn bản này; kịp thời báo cáo về Sở Giáo
dục và Đào tạo các vấn đề vướng mắc ngoài thẩm quyền để tổng hợp, báo cáo và
xin ý kiến chỉ đạo của UBND Thành phố.
2.4. Dự kiến kết quả sắp xếp,
tổ chức lại: Mô hình trường học đa cơ sở
Với tiêu chí trên, kết quả sắp
xếp dự kiến như sau:
(1) Đối với Trường Mầm non:
- Tổng số trường mầm non: 811,
trong đó:
+ Số trường có dưới 22 lớp: 734
trường;
+ Số trường có từ 22 đến 30 lớp:
37 trường;
+ Số trường có trên 30 lớp:
không.
- Tổng số trường thuộc diện phải
sáp nhập, tổ chức lại: 734 trường;
- Dự kiến số trường giảm so với
trước sáp nhập, tổ chức lại: 416 trường.
(2) Đối với Trường Tiểu học:
- Tổng số trường tiểu học: 728,
trong đó:
+ Số trường có dưới 35 lớp: 624
trường;
+ Số trường có từ 35 đến 40 lớp:
63 trường;
+ Số trường có trên 40 lớp: 41
trường.
- Tổng số trường thuộc diện phải
sáp nhập, tổ chức lại: 624 trường;
- Dự kiến số trường giảm so với
trước sáp nhập, tổ chức lại: 221 trường.
(3) Đối với Trường Trung học
cơ sở:
- Tổng số trường trung học cơ sở:
614, trong đó:
+ Số trường có dưới 40 lớp: 555
trường;
+ Số trường có từ 40 đến 45 lớp:
23 trường;
+ Số trường có trên 45 lớp: 36
trường.
- Tổng số trường thuộc diện phải
sáp nhập, tổ chức lại: 555 trường;
- Dự kiến số trường giảm so với
trước sáp nhập, tổ chức lại: 201 trường.
Như vậy, dự kiến tổng số trường
mầm non, tiểu học, trung học cơ sở trước, sau sắp xếp:
- Tổng số trường trước sắp xếp:
2153 trường.
- Tổng số trường sau sắp xếp:
dự kiến 1315 trường (giảm 838 trường).
Trong đó:
(1)Trường mầm non:
- Trước sắp xếp: 811 trường.
- Sau sắp xếp: 395 trường.
(giảm 416 trường)
(2) Trường tiểu học:
- Trước sắp xếp: 728 trường.
- Sau sắp xếp: 507 trường.
(giảm 221 trường)
(3) Trường trung học cơ sở:
- Trước sắp xếp: 614 trường.
- Sau sắp xếp: 413 trường.
(giảm 201 trường)
B. ĐỐI VỚI
CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP, TRƯỜNG ĐẠI HỌC (Trường Đại học,
Cao đẳng; Trung cấp và Trung tâm GDNN-GDTX)
I. NGUYÊN
TẮC SẮP XẾP
1. Ngoài bám sát các văn bản
chỉ đạo chung đã nêu tại mục 1.2.I, cần quán triệt thực hiện các văn bản đặc
thù sau:
- Quyết định số 2239/QĐ-TTg
ngày 30/12/2021 của Thủ tướng Chính phủ “Phê duyệt Chiến lược phát triển giáo
dục nghề nghiệp giai đoạn 2021- 2030, tầm nhìn đến năm 2045”;
- Quyết định số 73/QĐ-TTg ngày
10/02/2023 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo
dục nghề nghiệp thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045;
- Công văn số 8562/BGDĐT-TCCB
ngày 25/12/2025 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc định hướng sắp xếp, tổ chức
lại cơ sở giáo dục đại học công lập và cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập;
- Công văn số 22000/VP-KGVX
ngày 29/12/2025 của Văn phòng UBND Thành phố về việc tham mưu thực hiện Công
văn số 8562/BGDĐT-TCCB ngày 25/12/2025 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc định
hướng sắp xếp, tổ chức lại cơ sở giáo dục đại học công lập và cơ sở giáo dục
nghề nghiệp công lập.
2. Nguyên tắc sắp xếp
- Việc rà soát, sắp xếp các cơ
sở giáo dục công lập trên địa bàn Thành phố thực hiện tuân thủ theo các văn bản
chỉ đạo của Trung ương và Thành phố.
- Việc sắp xếp, tổ chức lại
các đơn vị sự nghiệp công lập phải căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của đơn vị;
kế thừa và phát huy kết quả đã triển khai; đúng với chủ trương sắp xếp, tinh gọn
tổ chức bộ máy của Trung ương, hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo; bảo đảm hoạt
động hiệu lực, hiệu quả, không chồng chéo, không bỏ sót chức năng, nhiệm vụ
của từng loại hình cơ sở giáo dục; việc sắp xếp không làm ảnh hưởng đến chất
lượng, hiệu quả cung ứng dịch vụ sự nghiệp công theo tinh thần chỉ đạo tại Kế
hoạch số 130/KH-BCĐTKNQ18 ngày 21/9/2025.
- Đảm bảo phù hợp với Quy hoạch
mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045
đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 73/QĐ-TTg ngày
10/02/2023 và dự thảo Quy hoạch Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm hướng tới sự gắn
kết chặt chẽ với 09 cực phát triển của Thủ đô.
- Trước mắt chưa giải thể các
trường mà thực hiện ưu tiên hình thức sắp xếp tái cấu trúc và hợp nhất với cơ
sở giáo dục khác (sáp nhập các trường trung cấp hoặc trường cao đẳng vào trường
cao đẳng khác) có tính tương đồng hoặc bổ trợ về lĩnh vực, ngành nghề đào tạo;
sự thuận lợi về vị trí địa lý.
- Sau sắp xếp không còn trường
trung cấp công lập thuộc Thành phố. Các trường sau sắp xếp phải đáp ứng các điều
kiện thành lập theo quy định của pháp luật hiện hành (trừ trường đặc thù là
Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội); tiếp tục thực hiện tự chủ chi thường
xuyên trở lên; đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực với nguồn lực mạnh và quy mô tuyển
sinh lớn. Các trường khi thực hiện sáp nhập: giai đoạn trước mắt giữ nguyên về
trụ sở làm việc, cơ sở vật chất, tài sản, cơ chế tài chính, biên chế được
giao, cán bộ hiện có… của các trường.
- Rà soát, điều chỉnh quỹ đất của
một số trường đảm bảo sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất đã được bố trí: (1) điều
chỉnh phần diện tích đất sử dụng của các trường có quỹ đất lớn, không sử dụng
hết công năng cho các trường đang thiếu diện tích đất sử dụng tối thiểu theo
quy định; (2) Xem xét bàn giao lại cho Thành phố sử dụng vào mục đích khác đối
với các địa điểm đào tạo manh mún, nhỏ lẻ, không sử dụng hiệu quả sau khi các
trường đã được sắp xếp ổn định.
- Bảo đảm nguyên tắc dân chủ,
công khai, minh bạch trong quá trình tổ chức thực hiện, cách làm bài bản,
khoa học, thận trọng.
II. MỤC
TIÊU, CHỈ TIÊU
1. Mục tiêu
a) Giáo dục nghề nghiệp
Sắp xếp, tổ chức lại hệ thống
các trường cao đẳng, trung cấp công lập theo hướng tinh gọn, hoạt động đào tạo
và nghiên cứu hiệu quả, chất lượng cao, đa ngành, đa lĩnh vực, nguồn lực mạnh,
quy mô tuyển sinh lớn; hình thành một số trường cao đẳng công lập chất lượng
cao là trụ cột, hạt nhân dẫn dắt hoạt động, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực của
Thủ đô và hội nhập quốc tế. Trong đó:
- Giảm tối thiểu 50% đầu
mối các trường cao đẳng, trung cấp công lập thuộc Thành phố, hạn chế tối đa
tình trạng phân tán, chồng chéo ngành nghề, lĩnh vực đào tạo.
- Nâng cao quy mô và chất lượng
đào tạo tại các trường sau sắp xếp.
- Hình thành các trường cao đẳng
công lập đạt chuẩn quốc gia.
- Tăng tỷ lệ trường tự chủ
tài chính, nâng cao hiệu quả hoạt động.
b) Giáo dục thường xuyên
- Sắp xếp, tổ chức lại hệ thống
29 trung tâm GDNN-GDTX giảm khoảng 50% đầu mối đơn vị sự nghiệp.
- Sau sắp xếp các đơn vị hoạt động
theo 02 mô hình:
(1) Mô hình trung tâm GDTX:
Thực hiện chức năng chính là đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng giúp mọi người đều có
cơ hội học tập, học suốt đời và học để nâng cao chất lượng cuộc sống cũng như
đóng góp cho xã hội, cụ thể:
+ Đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng
của mọi người trong xã hội, hướng tới xây dựng một xã hội học tập theo tinh thần
giáo dục suốt đời. Mở rộng cơ hội học tập cho tất cả mọi đối tượng, đặc biệt
là những người không có điều kiện theo học trong hệ thống giáo dục chính quy,
giúp họ có thể học tiếp, học lại và nâng cao trình độ.
+ Đảm nhiệm vai trò quan trọng
trong việc đảm bảo công bằng xã hội, tạo điều kiện cho người dân ở mọi vùng
miền, đặc biệt là những nhóm yếu thế, được tiếp cận giáo dục. Đồng thời, hoạt
động đào tạo cũng gắn liền với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của từng địa
phương.
+ Thúc đẩy phong trào học tập
trong cộng đồng, khuyến khích mỗi người chủ động học tập suốt đời. Nội dung và
hình thức đào tạo ngày càng đa dạng, linh hoạt, kết hợp giữa học trực tiếp và ứng
dụng công nghệ, góp phần thực hiện Chuyển đổi số trong giáo dục.
+ Góp phần nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực thông qua việc bổ túc văn hóa, đào tạo nghề và trang bị các kỹ
năng cần thiết, phù hợp với yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa – hiện đại
hóa. Việc học không chỉ dừng lại ở kiến thức mà còn gắn với thực tiễn lao động
và nhu cầu của thị trường.
(2) Mô hình trường trung học
nghề: Chuyển đổi một số trung tâm GDNN-GDTX thành mô hình trường trung học nghề
nhằm kết hợp giữa học văn hóa cấp THPT và đào tạo nghề ngay từ bậc trung học, với
mục tiêu:
- Góp phần phân luồng học sinh
sau trung học cơ sở, giảm áp lực thi cử. Thay vì tất cả học sinh đều theo hướng
học lên trung học phổ thông và đại học, một bộ phận sẽ chuyển sang học nghề sớm,
phù hợp với năng lực và nhu cầu của bản thân.
- Học sinh sau khi học xong
chương trình trung học nghề vừa có trình độ văn hóa phổ thông tương đương cấp
THPT, vừa có kỹ năng nghề nghiệp cơ bản; vẫn đảm bảo cho học sinh cơ hội học tập
tiếp lên cao. Sau khi tốt nghiệp, người học có thể tiếp tục học lên cao đẳng,
đại học theo ngành nghề đã chọn, phù hợp với định hướng giáo dục suốt đời.
2. Chỉ tiêu
a) Giáo dục nghề nghiệp
- Số lượng trường sau sắp xếp:
hình thành 08 trường cao đẳng công lập chủ lực trở thành các trường chất lượng
cao, không còn trường trung cấp công lập.
- Quy mô đào tạo: tuyển sinh của
các trường đến năm 2030 đạt từ 30.000 đến 40.000 lượt người/năm, trong đó:
trình độ cao đẳng, trung cấp chiếm khoảng 75%-85%. Tăng tỷ lệ đào tạo trình độ
cao đẳng và đào tạo các ngành nghề trọng điểm, ngành nghề lĩnh vực công nghệ.
- Phấn đấu 100% các trường cao
đẳng công lập trở đạt chuẩn quốc gia. Ưu tiên đầu tư phát triển 02 trường trở
thành trường trọng điểm, chất lượng cao, tiệm cận các nước.
b) Giáo dục thường xuyên
Trên cơ sở định hướng mô hình cấu
trúc phát triển Thủ đô Hà Nội với việc 9 cực phát triển theo dự thảo “Quy
hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm”, mạng lưới trung tâm giáo dục
thường xuyên, trường trung học nghề sẽ được phân bố hợp lý giữa các khu vực, đảm
bảo mỗi cực phát triển đều có ít nhất một trung tâm giáo dục nghề nghiệp –
giáo dục thường xuyên hoặc trường trung học nghề,
Sau sắp xếp, toàn Thành phố có
09 trung tâm GDNN-GDTX, hình thành thành 05 trường trung học nghề tại khu vực
xa trung tâm Thành phố, nơi có số lượng dân số đông hoặc khu vực liên phường,
xã chưa có hoặc có rất ít trường cao đẳng, trung cấp trên địa bàn để phục vụ
nhu cầu học tập tại chỗ, thuận lợi trong việc tiếp cận với giáo dục của người
dân.
III.
PHƯƠNG ÁN SẮP XẾP
1. Đối với
các trường cao đẳng và trung cấp
1.1. Giữ nguyên để thực
hiện tái cấu trúc đối với 01 trường: Trường
Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội:
Đây là trường đặc thù duy nhất
của thành phố Hà Nội trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật và năng khiếu, là đơn
vị duy nhất của Thành phố thực hiện nhiệm vụ này trong định hướng phát triển
văn hóa Thủ đô. Do vậy, giữ ổn định nhà trường, tăng cường đầu tư, mở rộng cơ sở
vật chất, hướng tới đảm bảo điều kiện thành lập theo quy định của pháp luật hiện
hành.
Trường đặt tại khu vực trung
tâm, là nơi tập trung các thiết chế văn hóa, nghệ thuật lớn của Thủ đô. Việc
giữ nguyên và phát triển trường gắn với cực đô thị trung tâm là phù hợp với định
hướng phát triển Hà Nội trở thành trung tâm lịch sử - văn hóa sáng tạo của cả
nước và khu vực. Nhà trường sẽ đóng vai trò cung cấp nguồn nhân lực chất lượng
cao trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, thiết kế sáng tạo, góp phần
thúc đẩy công nghiệp văn hóa - một trụ cột quan trọng trong chiến lược phát
triển Thủ đô.
1.2. Sáp nhập, hợp nhất với
cơ sở giáo dục khác đối với 18 trường:
(1) Hợp nhất Trường Cao đẳng
Y tế Hà Đông với Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội
Phương án nhằm tập trung nguồn
lực đào tạo nhân lực y tế chất lượng cao cho Thủ đô. Về cơ sở vật chất, cả
hai trường hiện tại đều chưa đáp ứng đủ điều kiện về diện tích đất sử dụng tối
thiểu theo quy định của pháp luật hiện hành. Việc hợp nhất giúp Thành phố dễ
dàng bố trí bổ sung quỹ đất tập trung, dự kiến là 7ha tại xã Xuân Mai để xây
dựng cơ sở đào tạo mới hiện đại, kết hợp xây dựng và phát triển Trung tâm
thực hành chăm sóc người cao tuổi. Về ngành nghề, hai trường có sự tương đồng
tuyệt đối khi cùng đào tạo nhóm ngành Y - Dược và Chăm sóc sức khỏe. Khoảng
cách địa lý giữa trụ sở chính tại nội thành và cơ sở dự kiến tại ngoại thành tạo
thành trục kết nối thuận lợi, có tính bao phủ. Phương án phát triển sau hợp nhất
hướng tới việc xây dựng một ngôi trường đầu đàn trong hệ thống giáo dục nghề
nghiệp y tế của Thành phố. Trong dài hạn, khi đảm bảo các tiêu chuẩn về hạ tầng
và giảng viên, trường sẽ có lộ trình nâng cấp thành trường đại học, góp phần giải
quyết tình trạng thiếu hụt nhân lực y tế chuyên sâu cho Hà Nội và các tỉnh lân
cận.
(2) Sáp nhập Trường Trung cấp
nghề Cơ khí I Hà Nội, Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Thăng Long vào
Trường Cao đẳng nghề Việt Nam - Hàn Quốc thành phố Hà Nội
Phương án này tập trung vào việc
xóa bỏ sự manh mún trong đào tạo kỹ thuật tại khu vực Đông Anh (trước đây).
Trường Trung cấp nghề Cơ khí I Hà Nội và Trường Cao đẳng nghề Việt Nam - Hàn
Quốc TPHN có vị trí địa lý sát nhau, cùng chung nhóm ngành nghề đào tạo về cơ
khí và công nghệ kỹ thuật. Trong khi đó, Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc
Thăng Long bổ sung thêm mảng dịch vụ, du lịch và chăm sóc sắc đẹp. Việc hội tụ
này giúp trường sau sáp nhập đảm bảo các điều kiện về diện tích đất nhờ quỹ đất
rộng lớn để phát triển nhà trường trở thành trường cao đẳng chất lượng cao gắn
với cực công nghiệp phía Bắc (khu vực Đông Anh - Sóc Sơn - Mê Linh). Khoảng
cách địa lý thuận lợi giữa các điểm đào tạo giúp tối ưu hóa công tác quản lý.
(3) Sáp nhập Trường Trung cấp
nghề Tổng hợp Hà Nội vào Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Tây
Việc sáp nhập này dựa trên
sự tương đồng và bổ trợ về ngành nghề giữa hai đơn vị có vị trí địa lý rất gần
nhau (cách khoảng 2km tại khu vực Xuân Mai). Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Tây
có thế mạnh đặc thù về nông nghiệp công nghệ cao và quỹ đất cực lớn (hơn
68ha). Trong khi đó, Trường Trung cấp nghề Tổng hợp là đơn vị duy nhất của Thành
phố bảo tồn các nghề truyền thống về thủ công mỹ nghệ. Sau sáp nhập và đổi
tên, trường sẽ tập trung phát triển đa ngành, trong đó mũi nhọn là kỹ thuật,
công nghệ thông tin và nông nghiệp hiện đại. Giải pháp này không chỉ nâng
cao vị thế đào tạo mà còn mang ý nghĩa bảo tồn văn hóa Thủ đô thông qua việc
duy trì và phát huy các ngành nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống gắn với cực
phía Tây Nam của Thủ đô.
(4) Sáp nhập Trường Trung cấp
nghề Giao thông công chính Hà Nội vào Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội
Phương án nhằm hình thành một
trường cao đẳng chất lượng cao kiểu mẫu, kết hợp thế mạnh của hai đơn vị đào tạo
hàng đầu của hai khối (trung cấp và cao đẳng), gắn với cực phía Tây, nơi đang
hình thành trung tâm công nghệ cao, đổi mới sáng tạo của Thủ đô. Hai trường
đang đào tạo đa ngành nghề, kết quả hoạt động tốt và ổn định. Trường Cao đẳng
Công nghệ cao Hà Nội đã đáp ứng chuẩn diện tích, có hạ tầng hiện đại và đang
được định hướng trở thành trường trọng điểm chất lượng cao; Trường Trung cấp nghề
Giao thông công chính Hà Nội với các nhóm ngành mũi nhọn về công nghệ ô tô và
vận tải. Sự tương đồng trong lĩnh vực kỹ thuật giúp việc sáp nhập thuận lợi
hơn. Về vị trí địa lý, các cơ sở tại Tây Mỗ (Nam Từ Liêm) và Minh Khai (Bắc Từ
Liêm) nằm trong trục phát triển phía Tây Thành phố, rất thuận tiện cho việc
di chuyển và quản lý tập trung. Phương án phát triển tập trung vào việc biến
cơ sở tại Minh Khai thành trung tâm chuyên sâu về công nghệ ô tô và lái xe, tận
dụng tối đa năng lực đào tạo đa ngành của trường Cao đẳng để hình thành trường
cao đẳng trọng điểm, chất lượng cao, kiểu mẫu dẫn dắt hoạt động giáo dục nghề
nghiệp Thủ đô, phục vụ đắc lực cho nhu cầu lao động kỹ thuật trong bối cảnh
cách mạng công nghiệp 4.0, tiệm cận khu vực và quốc tế.
(5) Sáp nhập Trường Trung cấp
Kỹ thuật Tin học Hà Nội, Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật và Công nghệ Hà Nội
vào Trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội
Trường Cao đẳng nghề Công nghiệp
Hà Nội hiện có thế mạnh trong đào tạo các ngành kỹ thuật công nghiệp, cơ điện
tử, tự động hóa, công nghệ chế tạo, là nền tảng quan trọng để tích hợp và
nâng cao chất lượng đào tạo các ngành công nghệ thông tin, tin học ứng dụng và
kinh tế kỹ thuật.
Hai trường trung cấp được đề xuất
sáp nhập đều có quy mô đào tạo còn phân tán, hiệu quả tuyển sinh chưa cao,
nhưng lại có thế mạnh riêng về đào tạo tin học, công nghệ thông tin, kế toán,
quản trị kinh doanh và một số ngành kỹ thuật ứng dụng. Việc sáp nhập sẽ tạo điều
kiện tích hợp các ngành nghề này vào lĩnh vực đào tạo của trường cao đẳng,
hình thành chuỗi đào tạo hoàn, gắn kết giữa kỹ thuật sản xuất với quản trị, vận
hành và chuyển đổi số trong doanh nghiệp.
Sau sáp nhập, Trường Cao đẳng
nghề Công nghiệp Hà Nội sẽ trở thành cơ sở đào tạo có quy mô lớn, đa ngành
trong lĩnh vực công nghiệp - công nghệ - kinh tế kỹ thuật gắn với cực công
nghiệp phía Nam - Tây Nam, có khả năng cung cấp nguồn nhân lực chất lượng
cao, đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp hiện đại và kinh tế số của Thành
phố.
(6) Sáp nhập và hợp nhất Trường
Trung cấp nghề Nấu ăn - Nghiệp vụ du lịch và thời trang Hà Nội, Trường Cao đẳng
Cộng đồng Hà Nội vào Trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch Hà Nội
Trường Cao đẳng Thương mại và
Du lịch Hà Nội hiện có thế mạnh về đào tạo quản trị du lịch, khách sạn, thương
mại, marketing và dịch vụ, đóng vai trò là cơ sở đào tạo nòng cốt trong lĩnh
vực này.
Trường Trung cấp nghề Nấu ăn -
Nghiệp vụ du lịch và thời trang Hà Nội có thế mạnh nổi bật về đào tạo kỹ năng
nghề thực hành như chế biến món ăn, nghiệp vụ nhà hàng - khách sạn, thiết kế
thời trang và làm đẹp; trong khi đó, Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Nội có thế mạnh
về đào tạo các ngành kinh tế, đang phát triển các ngành về lĩnh vực dịch vụ.
Việc sáp nhập sẽ tạo ra sự bổ trợ chặt chẽ giữa đào tạo lý thuyết và thực
hành, giữa quản trị và vận hành, hình thành chuỗi đào tạo hoàn chỉnh từ kỹ năng
nghề đến năng lực quản lý trong lĩnh vực dịch vụ - du lịch.
Sau sáp nhập, nhà trường có điều
kiện tổ chức lại các ngành nghề theo hướng chuyên sâu, hình thành các nhóm
ngành mũi nhọn như du lịch - khách sạn - ẩm thực, thương mại - marketing, thời
trang - làm đẹp và dịch vụ chất lượng cao. Đồng thời, việc tập trung nguồn
lực sẽ giúp nâng cao chất lượng đội ngũ, hiện đại hóa cơ sở vật chất, tăng
quy mô tuyển sinh và xây dựng thương hiệu mạnh trong hệ thống giáo dục nghề
nghiệp của Thành phố. Đây là phương án có tính khả thi cao, vừa tinh gọn đầu mối,
vừa nâng cao chất lượng đào tạo, gắn với cực trung tâm phía Tây và mở rộng cơ
sở đào tạo nghề chất lượng cao về cực phía Tây Bắc của Thành phố về phát triển
dịch vụ - du lịch - thương mại, phù hợp với định hướng phát triển Hà Nội trở
thành trung tâm du lịch và dịch vụ lớn của cả nước.
(7) Sáp nhập Trường Trung cấp
nghề số 1 Hà Nội, Trường Trung cấp Xây dựng Hà Nội vào Trường Cao đẳng Điện tử
- Điện lạnh Hà Nội
Việc sáp nhập Trường Trung cấp
nghề số 1 Hà Nội và Trường Trung cấp Xây dựng Hà Nội vào Trường Cao đẳng Điện
tử - Điện lạnh Hà Nội là phù hợp với định hướng phát triển các cơ sở giáo dục
nghề nghiệp theo hướng tích hợp đa ngành kỹ thuật, trong đó lấy lĩnh vực công
nghệ điện, điện tử, điện lạnh làm trụ cột. Trường Cao đẳng Điện tử - Điện
lạnh Hà Nội hiện có thế mạnh trong đào tạo các ngành kỹ thuật điện, điện tử,
điện lạnh, tự động hóa và cơ điện, có nền tảng để mở rộng sang các lĩnh vực
kỹ thuật xây dựng và kỹ thuật tổng hợp.
Trường Trung cấp Xây dựng Hà Nội
có thế mạnh về đào tạo các nghề xây dựng, kỹ thuật công trình, trong khi Trường
Trung cấp nghề số 1 Hà Nội đào tạo đa dạng các nghề kỹ thuật cơ bản. Việc sáp
nhập sẽ giúp hình thành một cơ sở đào tạo kỹ thuật tổng hợp, kết nối giữa lĩnh
vực xây dựng với điện - điện tử - cơ điện, phù hợp với xu hướng phát triển
các công trình thông minh, đô thị thông minh và hạ tầng kỹ thuật hiện đại.
Phương án giúp khắc phục tình
trạng quy mô nhỏ lẻ, phân tán của các trường trung cấp, đồng thời tận dụng hiệu
quả cơ sở vật chất, xưởng thực hành và đội ngũ giảng viên. Sau sáp nhập, nhà
trường có thể tổ chức lại ngành nghề theo hướng tích hợp liên ngành, phát triển
các chương trình đào tạo gắn với thực tiễn doanh nghiệp và nhu cầu thị trường
lao động. Qua đó, nâng cao chất lượng đào tạo, tăng khả năng tự chủ và từng bước
xây dựng Trường Cao đẳng Điện tử
- Điện lạnh Hà Nội trở thành
cơ sở đào tạo chất lượng cao của Thành phố.
Trường Cao đẳng Điện tử - Điện
lạnh hiện có diện tích tại Cầu Giấy chưa đạt chuẩn, trong khi Trường Trung cấp
nghề số 1 tại Phú Xuyên có quỹ đất rộng hơn 48.000 m2. Việc sáp nhập cho phép
trường Cao đẳng mở rộng cơ sở 2 tại ngoại thành, phát triển trường gắn với cực
phía Nam của Thành phố, giúp giảm áp lực hạ tầng nội đô, đồng thời tập trung đầu
tư nâng cấp đồng bộ cả hai địa điểm để giữ vững uy tín trong đào tạo kỹ thuật
điện tử; thông qua sáp nhập đẩy mạnh đa ngành nghề, hình thành trường cao đẳng
với quy mô lớn.
2. Đối với
các trung tâm GDNN-GDTX:
2.1. Trước khi các cơ quan
Trung ương có hướng dẫn chi tiết về tiêu chí, điều kiện thành lập với loại hình
trường trung học nghề: Giữ nguyên 29 trung tâm.
Năm 2017, thực hiện chủ
trương “đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục”, căn cứ hướng dẫn của
Trung ương, Bộ GDĐT và các bộ, ngành liên quan, Sở Giáo dục và Đào tạo đã tham
mưu UBND Thành phố hợp nhất 03 trung tâm (Trung tâm dạy nghề, Trung tâm GDTX,
Trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp) thành một trung tâm mang
tên Trung tâm GDNN - GDTX có địa điểm tại 29 quận, huyện, thị xã (trước đây).
Các trung tâm GDNN - GDTX duy trì hoạt động từ năm 2017 đến nay; có chức năng vừa
thực hiện các chương trình giáo dục thường xuyên đáp ứng nhu cầu người học, học
tập suốt đời, vừa đào tạo nghề, vừa dạy văn hóa cho học sinh; đáp ứng được nhu
cầu học nghề và học văn hóa của mọi đối tượng học sinh. Trong thời gian vừa
qua, các Trung tâm GDNN - GDTX của Hà Nội hoạt động có hiệu quả, góp phần
không nhỏ vào việc xây dựng Hà Nội trở thành Thành phố học tập toàn cầu.
Với các định hướng chỉ đạo phát
triển, mục tiêu nêu trên, tại thời điểm hiện tại đề xuất vẫn giữ nguyên 29
trung tâm GDNN - GDTX để nghiên cứu, đánh giá thực trạng các điều kiện đảm bảo
mục tiêu đối với mô hình trung tâm giáo dục thường xuyên và trường trung học
nghề.
2.2. Sau khi cơ quan Trung
ương có hướng dẫn chi tiết về tiêu chí, điều kiện thành lập với loại hình trường
trung học nghề:
Phương án sắp xếp dự kiến
như sau:
(1). Khu vực nội đô - Cực
trung tâm
a) Khu vực nội đô hiện tại
có 06 Trung tâm GDNN-GDTX:
- Trung tâm GDNN-GDTX Ba Đình
- Trung tâm GDNN-GDTX Cầu Giấy
- Trung tâm GDNN-GDTX Nam Từ
Liêm
- Trung tâm GDNN-GDTX Nguyễn
Văn Tố - Hoàn Kiếm
- Trung tâm GDNN-GDTX Đống Đa
- Trung tâm GDNN-GDTX Hai Bà
Trưng
b) Phương án sắp xếp
Đây là khu vực có diện tích
nhỏ, cơ sở vật chất hạn chế, phân tán nhiều cơ sở, nhưng lại tập trung nhiều
trường cao đẳng, trung cấp. Do vậy, tại Cực đô thị trung tâm, khu vực nội đô
không cần duy trì nhiều trung tâm và không cần thiết chuyển đổi thành mô hình
trường trung học nghề. Phương án hợp nhất các đơn vị có khoảng cách địa lý gần
nhau giúp tăng quy mô, giảm chi phí quản lý, tận dụng cơ sở vật chất tốt hơn
Phương án cụ thể (06 Trung
tâm thành 02 Trung tâm):
- Hợp nhất 03 Trung tâm thành
01 Trung tâm GDNN-GDTX (Trung tâm GDNN-GDTX Ba Đình; Trung tâm GDNN-GDTX Cầu
Giấy; Trung tâm GDNN- GDTX Nam Từ Liêm).
- Hợp nhất 03 Trung tâm thành
01 Trung tâm GDNN-GDTX (Trung tâm GDNN-GDTX Nguyễn Văn Tố - Hoàn Kiếm; Trung
tâm GDNN-GDTX Đống Đa; Trung tâm GDNN-GDTX Hai Bà Trưng).
(2). Cực phía Bắc (Đông Anh
- Mê Linh - Sóc Sơn)
a) Khu vực hiện tại có 04
Trung tâm GDNN-GDTX:
- Trung tâm GDNN-GDTX Đông Anh
- Trung tâm GDNN-GDTX Mê Linh
- Trung tâm GDNN-GDTX Sóc Sơn
- Trung tâm GDNN-GDTX Tây Hồ
b) Phương án sắp xếp
Khu vực Đông Anh, lân cận nối
dài với khu trung tâm gần khu vực Tây Hồ, đây là khu vực đang có nhiều trường
trung cấp, cao đẳng. Do vậy, đề xuất hợp nhất thành 01 Trung tâm GDNN-GDTX để
thực hiện nhiệm vụ giáo dục thường xuyên.
Khu vực Mê Linh, Sóc Sơn có diện
tích rộng, quy mô đào tạo nghề cao, xa trung tâm, chưa có nhiều trường cao đẳng,
trung cấp, phù hợp để hợp nhất và chuyển đổi mô hình trường trung học nghề.
Phương án cụ thể (04 Trung
tâm thành 01 Trung tâm và 01 trường trung học nghề):
- Hợp nhất 02 Trung tâm thành
01 Trung tâm GDNN-GDTX (Trung tâm GDNN-GDTX Đông Anh; Trung tâm GDNN-GDTX
Tây Hồ).
- Hợp nhất 02 Trung tâm và chuyển
đổi sang mô hình trường trung học nghề (Trung tâm GDNN-GDTX Mê Linh + Trung
tâm GDNN-GDTX Sóc Sơn)
(3). Cực phía Đông (Gia Lâm
- Long Biên)
a) Khu vực hiện tại có 02
Trung tâm GDNN-GDTX:
- Trung tâm GDNN-GDTX Gia Lâm
- Trung tâm GDNN-GDTX Long Biên
b) Phương án sắp xếp
Hai trung tâm có quy mô trung
bình, phân tán nhiều cơ sở, khu vực này đang phát triển mạnh hệ thống cao đẳng.
Do vậy, hợp nhất 2 trung tâm để tập trung vào chức năng GDTX, không chuyển đổi
nghề.
Phương án cụ thể (02 Trung
tâm thành 01 Trung tâm): Hợp nhất 02 Trung tâm thành 01 Trung tâm GDNN-GDTX
(Trung tâm GDNN-GDTX Gia Lâm + Trung tâm GDNN-GDTX Long Biên).
(4). Cực phía Tây (Hòa Lạc -
Thạch Thất - Quốc Oai)
a) Khu vực hiện tại có 04
Trung tâm GDNN-GDTX:
- Trung tâm GDNN-GDTX Thạch Thất
- Trung tâm GDNN-GDTX Quốc Oai
- Trung tâm GDNN-GDTX Hoài Đức
- Trung tâm GDNN-GDTX Đan Phượng
b) Phương án sắp xếp
Khu vực này đã có các trường đại
học, trường cao đẳng. Do vậy, không cần thêm trường trung học nghề, định hướng
tinh gọn thành các trung tâm GDTX hỗ trợ đào tạo kỹ năng.
Phương án cụ thể (04 Trung
tâm thành 02 Trung tâm):
- Hợp nhất 02 Trung tâm thành
01 Trung tâm GDNN-GDTX (Trung tâm GDNN-GDTX Thạch Thất + Trung tâm GDNN-GDTX
Quốc Oai).
- Hợp nhất 02 Trung tâm thành
01 Trung tâm GDNN-GDTX (Trung tâm GDNN-GDTX Hoài Đức + Trung tâm GDNN-GDTX
Đan Phượng).
(5). Cực Tây Nam (Hà Đông -
Chương Mỹ)
a) Khu vực hiện tại có 02
Trung tâm GDNN-GDTX:
- Trung tâm GDNN-GDTX Hà Đông
- Trung tâm GDNN-GDTX Chương Mỹ
b) Phương án sắp xếp
Hà Đông, Chương Mỹ đã có các
trường cao đẳng, trường trung cấp. Do vậy, hợp nhất 02 trung tâm thành 01 Trung
tâm GDNN-GDTX để thực hiện đào tạo thường xuyên.
Phương án cụ thể: (02 Trung
tâm thành 01 Trung tâm): Hợp nhất 02 Trung tâm thành 01 Trung tâm GDNN-GDTX
(Trung tâm GDNN-GDTX Hà Đông + Trung tâm GDNN-GDTX Chương Mỹ).
(6). Cực Tây Bắc (Sơn Tây -
Ba Vì - Phúc Thọ)
a) Khu vực hiện tại có 03
Trung tâm GDNN-GDTX:
- Trung tâm GDNN-GDTX Sơn Tây
- Trung tâm GDNN-GDTX Ba Vì
- Trung tâm GDNN-GDTX Phúc Thọ
b) Phương án sắp xếp
Sơn Tây, Phúc Thọ đã có trường
cao đẳng, trường trung cấp. Việc hợp nhất thành 01 trung tâm GDNN-GDTX sẽ thuận
tiện cho các hoạt động giáo dục thường xuyên, đào tạo bổ trợ kỹ năng.
Ba Vì là khu vực xa trung tâm,
diện tích lớn, phù hợp đào tạo nghề, có thể chuyển đổi thành mô hình trường
trung học nghề để đáp ứng nhu cầu học nghề của liên xã phường quanh khu vực.
Phương án cụ thể (03 Trung
tâm thành 01 Trung tâm và 01 trường trung học nghề):
- Hợp nhất 02 Trung tâm thành
01 Trung tâm GDNN-GDTX (Trung tâm GDNN-GDTX Sơn Tây + Trung tâm GDNN-GDTX
Phúc Thọ).
- Chuyển đổi sang mô hình trường
trung học nghề đối với: Trung tâm GDNN-GDTX Ba Vì.
(7). Cực phía Nam (Hoàng Mai
- Thường Tín - Phú Xuyên)
a) Khu vực hiện tại có 04
Trung tâm GDNN-GDTX:
- Trung tâm GDNN-GDTX Phú Xuyên
- Trung tâm GDNN-GDTX Thường
Tín
- Trung tâm GDNN-GDTX Hoàng Mai
- Trung tâm GDNN-GDTX Thanh
Xuân
b) Phương án sắp xếp
Hợp nhất Trung tâm GDNN-GDTX
Hoàng Mai và Thanh Xuân để tinh gọn đầu mối, tránh phân tán, giàn trải, nâng
cao hiệu quả hoạt động.
Phú Xuyên, Thường Tín là khu
vực có ít các trường cao đẳng, trường trung cấp, có diện tích lớn, phù hợp
phát triển mô hình trung học nghề.
Phương án cụ thể (04 Trung
tâm thành 01 Trung tâm và 01 trường trung học nghề):
- Hợp nhất 02 Trung tâm thành
01 Trung tâm GDNN-GDTX (Trung tâm GDNN-GDTX Hoàng Mai + Trung tâm GDNN-GDTX
Thanh Xuân).
- Hợp nhất 02 Trung tâm và chuyển
đổi sang mô hình trường trung học nghề (Trung tâm GDNN-GDTX Phú Xuyên +
Trung tâm GDNN-GDTX Thường Tín).
(8). Cực phía Nam (Ứng Hòa -
Mỹ Đức)
a) Khu vực hiện tại có 02
Trung tâm GDNN-GDTX:
- Trung tâm GDNN-GDTX Ứng Hòa
- Trung tâm GDNN-GDTX Mỹ Đức
b) Phương án sắp xếp
Cả hai trung tâm đều ở khu vực
xa nội đô, quy mô đào tạo nghề lớn, phục vụ lao động nông thôn, hợp nhất để
hình thành trường nghề quy mô đủ lớn.
Phương án cụ thể (02 Trung
tâm thành 01 trường trung học nghề): Hợp nhất 02 Trung tâm và chuyển đổi
sang mô hình trường trung học nghề (Trung tâm GDNN-GDTX Ứng Hòa + Trung tâm
GDNN-GDTX Mỹ Đức).
(9). Cực sông Hồng (Thanh Trì
và vùng ven)
a) Khu vực hiện tại có 02
Trung tâm GDNN-GDTX:
- Trung tâm GDNN-GDTX Thanh Trì
- Trung tâm GDNN-GDTX Thanh Oai
b) Phương án sắp xếp
Hợp nhất Trung tâm GDNN-GDTX
Thanh Trì và Thanh Oai để tinh gọn đầu mối, tránh phân tán, giàn trải, nâng cao
hiệu quả hoạt động.
Phương án cụ thể (02 Trung
tâm thành 01 trường trung học nghề): Hợp nhất 02 Trung tâm và chuyển đổi
sang mô hình trường trung học nghề (Trung tâm GDNN-GDTX Thanh Trì + Trung
tâm GDNN-GDTX Thanh Oai).
Kết quả sau sắp xếp:
Tổng số đơn vị sau sắp xếp
là 14 đơn vị, gồm: 09 Trung tâm GDNN- GDTX và 05 trường trung học nghề.
3. Đối với
Trường Đại học Thủ đô Hà Nội: Giữ nguyên.
Hiện nay, thành phố Hà Nội đã
chủ trương đầu tư, phát triển trường Đại học Thủ đô Hà Nội với định hướng, chiến
lược rõ ràng thông qua Đề án phát triển Trường Đại học Thủ đô Hà Nội đến năm
2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã được UBND thành phố Hà Nội ban hành kèm theo Quyết
định số 6743/QĐ- UBND ngày 31/12/2023.
Thực trạng cho thấy, cùng với
sự quan tâm định hướng, đầu tư của Thành phố, với diện tích đất đai rộng lớn,
chất lượng đào tạo đạt chuẩn quốc tế, đội ngũ chuyên gia giỏi và năng lực tự
chủ tài chính vững vàng, Trường Đại học Thủ đô Hà Nội sở hữu những nền tảng vững
chắc và tiềm năng đột phá mạnh mẽ để trở thành một cơ sở giáo dục đại học đa
ngành, trọng điểm của Thành phố. Thành phố Hà Nội định hướng tái cấu trúc Trường
Đại học Thủ đô Hà Nội với hình thức tăng cường đầu tư, mở rộng hoạt động để hướng
tới mục tiêu đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp
phát triển bền vững của Thủ đô.
Tổng hợp chung Phương án
sắp xếp các Trường Đại học, Cao đẳng; Trung cấp và Trung tâm GDNN-GDTX như sau:
(1) Đối với Trường cao đẳng,
trung cấp:
- Số trường trước sắp xếp: 19
trường;
- Số trường sau sắp xếp: 08 trường
(giảm 11 trường);
(2) Đối với Trung tâm
GDNN-GDTX:
- Số Trung tâm GDNN-GDTX trước
sắp xếp: 29 trung tâm;
- Số Trung tâm GDNN-GDTX, Trường
trung học nghề sau sắp xếp: 14 (Trong đó Trung tâm GDNN-GDTX: 09 trung tâm; Trường
trung học nghề: 05 trường (giảm 15 Trung tâm GDNN-GDTX).
(3) Đối với Trường Đại học:
- Số trường trước sắp xếp: 01
trường;
- Số trường sau sắp xếp: 01 trường;
Trên đây là báo cáo của Sở Giáo
dục và Đào tạo về Phương án sắp xếp các cơ sở giáo dục công lập trên địa bàn
Thành phố. Sở Giáo dục và Đào tạo kính báo cáo và xin ý kiến chỉ đạo của UBND
Thành phố.
Trân trọng cảm ơn./.
|
Nơi nhận:
- Như trên;
- Đ/c Giám đốc Sở;
- Các đ/c Phó Giám đốc Sở;
- Lưu: VT, TCCB.
|
GIÁM ĐỐC
Nguyễn Văn Hiền
|