|
TỔNG CỤC THUẾ
CỤC THUẾ TP HÀ
NỘI
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 39245/CT-TTHT
V/v trả lời chính sách thuế
|
Hà Nội, ngày 12 tháng 6 năm 2017
|
Kính gửi: Công ty TNHH Tham &Wong
M&E Việt Nam.
(Địa chỉ: Tầng
6, số 148 Hoàng Quốc Việt, P. Nghĩa Tân, Q. Cầu Giấy, TP. Hà Nội. MST: 0105235859)
Trả lời công văn số 0104/2017/CV-TWME ngày 17/04/2017
và công văn bổ sung thông tin, tài liệu số 0105/217/CV-TWME ngày 17/05/217 của
Công ty TNHH Tham &Wong M&E Việt Nam (sau đây gọi tắt là đơn vị) hỏi về
chính sách thuế, Cục Thuế TP Hà Nội có ý kiến như sau:
- Căn cứ Thông tư số 103/2014/TT-BTC ngày 06/08/2014
của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế áp dụng đối với tổ chức, cá
nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập tại Việt Nam:
+ Tại Điều 1 hướng dẫn đối tượng áp dụng:
“Hướng dẫn tại Thông tư này áp dụng đối với các đối tượng
sau (trừ trường hợp nêu tại Điều 2 Chương I):
1. Tổ chức nước ngoài kinh doanh có cơ sở thường trú tại Việt
Nam hoặc không có cơ sở thường trú tại Việt Nam; cá nhân nước ngoài kinh doanh
là đối tượng cư trú tại Việt Nam hoặc không là đối tượng cư trú tại Việt Nam
(sau đây gọi chung là Nhà thầu nước ngoài, Nhà thầu phụ nước ngoài) kinh doanh
tại Việt Nam hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng, thỏa
thuận, hoặc cam kết giữa Nhà thầu nước ngoài với tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc
giữa Nhà thầu nước ngoài với Nhà thầu phụ nước ngoài để thực hiện một phần công
việc của Hợp đồng nhà thầu...”
- Căn cứ Hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam và Chính
phủ Singapore về tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với
thuế đánh vào thu nhập.
+ Tại Điều 1 quy định phạm vi áp dụng:
“Hiệp định này được áp dụng cho các đối tượng là những
đối tượng cư trú của một hoặc của cả hai Nước ký kết.”
+ Tại Điều 7 quy định về lợi tức doanh nghiệp:
“1/ Lợi tức của xí nghiệp tại một Nước ký kết sẽ chỉ
chịu thuế tại Nước đó, trừ trường hợp xí nghiệp có tiến hành hoạt động kinh
doanh tại Nước ký kết kia thông qua một cơ sở
thường trú tại Nước kia. Nếu xí nghiệp có hoạt động kinh doanh theo cách trên, thì các
khoản lợi tức của xí nghiệp có thể bị đánh thuế tại Nước kia, nhưng chỉ trên phần lợi tức phân bổ cho cơ sở thường trú đó...”
- Căn cứ Điều I, Điều II Nghị định thư thứ hai điều
chỉnh Hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Singapore về tránh đánh
thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đánh vào thu nhập.
- Căn cứ Điều 11, Mục 2 Thông tư số 205/2013/TT-BTC
ngày 24/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện các hiệp định tránh đánh
thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu
nhập và tài sản giữa Việt Nam và các nước và vùng lãnh thổ có hiệu lực thi hành
tại Việt Nam, quy định về việc xác định nghĩa vụ thuế đối với thu nhập từ hoạt
động kinh doanh:
“1. Trường hợp doanh nghiệp nước ngoài tiến hành hoạt động sản
xuất, kinh doanh tại Việt Nam nhưng không thành lập pháp nhân tại Việt Nam.
1.1. Nghĩa vụ thuế
Theo quy định tại Hiệp định, thu nhập từ hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp nước ngoài chỉ bị đánh thuế tại Việt Nam nếu doanh nghiệp
đó có một cơ sở thường trú tại Việt Nam và thu nhập đó liên quan trực tiếp hoặc
gián tiếp đến cơ sở thường trú đó. Trong trường hợp này doanh nghiệp đó chỉ bị
đánh thuế tại Việt Nam trên phần thu nhập phân bổ cho cơ sở thường trú đó.
1.2. Định nghĩa cơ sở thường trú
1.2.1. Theo quy định tại Hiệp định, “cơ sở thường trú” là một
cơ sở kinh doanh cố định của một doanh nghiệp, thông qua đó, doanh nghiệp thực
hiện toàn bộ hay một phần hoạt động kinh doanh của mình.
Một doanh nghiệp của Nước ký kết được coi là có cơ sở thường
trú tại Việt Nam nếu hội đủ ba điều kiện dưới đây:
a) Duy trì tại Việt Nam một “cơ sở” như một tòa nhà, một văn
phòng hoặc một phần của tòa nhà hay văn phòng đó, một phương tiện hoặc thiết bị,...;
và
b) Cơ sở này có tính chất cố định, nghĩa là được thiết lập tại
một địa điểm xác định và/hoặc được duy trì thường xuyên. Tính cố định của cơ sở
kinh doanh không nhất thiết phụ thuộc vào việc cơ sở đó phải được gắn liền với
một vị trí địa lý cụ thể trong một độ dài thời gian nhất định; và
c) Doanh nghiệp tiến hành toàn bộ hoặc một phần hoạt động
kinh doanh thông qua cơ sở này…
1.2.2. Một doanh nghiệp của một Nước ký kết sẽ được coi là
tiến hành hoạt động kinh doanh thông qua một cơ sở thường trú tại Việt Nam
trong các trường hợp chủ yếu sau đây:
…
c) Doanh nghiệp đó thực hiện việc cung cấp dịch vụ bao gồm cả
dịch vụ tư vấn ở Việt Nam thông qua nhân viên của doanh nghiệp hoặc một đối tượng
khác với điều kiện các hoạt động dịch vụ nói trên trong một dự án hoặc các dự
án có liên quan, kéo dài tại Việt Nam trong một khoảng thời gian hay nhiều khoảng
thời gian gộp lại quá 183 ngày trong mỗi giai đoạn 12 tháng…”
Căn cứ các quy định trên, trường hợp đơn vị ký hợp đồng
với Công ty ở Singapore (sau đây gọi tắt là Nhà thầu nước ngoài) làm nhà thầu
phụ cho đơn vị để cùng đơn vị tư vấn thiết kế cơ điện cho các dự án xây dựng tại
Việt Nam với thời gian kéo dài từ 1 năm trở lên thì Nhà thầu nước ngoài được xác định là tiến hành hoạt động,
kinh doanh thông qua cơ sở thường trú tại Việt Nam thuộc đối tượng chịu thuế nhà thầu theo quy định tại Thông tư
số 103/2014/TT-BTC ngày 06/08/2014 của Bộ Tài chính, không thuộc diện miễn thuế
TNDN theo Điều 7 Hiệp định giữa
Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Singapore về tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa
việc trốn lậu thuế đối với thuế đánh vào thu nhập.
Trường hợp còn vướng mắc đề nghị đơn vị liên hệ với P. Kiểm tra thuế số 1 để được hướng dẫn.
Cục Thuế TP Hà Nội trả lời để đơn vị được biết và thực
hiện./.
|
Nơi nhận:
- Như trên;
- Phòng Kiểm tra thuế số 1;
- Phòng Pháp chế;
- Lưu: VT, TTHT(2).
|
KT. CỤC TRƯỞNG
PHÓ CỤC TRƯỞNG
Mai Sơn
|