Kính
gửi: Thủ tướng Chính phủ
Thực hiện quy định về
chế độ báo cáo tình hình giải ngân tại Luật Đầu tư công năm 2024 và Nghị định số
85/2025/NĐCP ngày 08/4/2025 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều
của Luật Đầu tư công (sửa đổi tại Nghị định số số 275/2025/NĐ-CP ngày
18/10/2025), Bộ Tài chính báo cáo tình hình
phân bổ, giải ngân kế hoạch đầu tư công 12 tháng năm 2025; các khó khăn vướng mắc
ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân vốn đầu tư công
năm 2025 và giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công như sau:
I.
TÌNH HÌNH PHÂN BỔ, GIẢI NGÂN KẾ HOẠCH ĐẦU TƯ CÔNG 12 THÁNG NĂM 2025
1. Kế
hoạch đầu tư công nguồn NSNN năm 2025
a) Căn cứ quy định Luật
Đầu tư công, Nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã giao[1]
kế hoạch đầu tư vốn ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2025 cho các bộ, cơ quan
trung ương là 913,216,2 tỷ đồng, bao gồm: vốn NSTW là 437.488,9 tỷ đồng (vốn
trong nước là 412.899,6 tỷ đồng[2], vốn nước ngoài là 24.589,3 tỷ đồng)
và vốn NSĐP là 475.727,3 tỷ đồng. Trong đó, vốn NSTW bố trí cho dự
án, nhiệm vụ thuộc 03 Chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG) là 24.460,1
tỷ đồng[3]. Cụ thể:
- Kế hoạch đầu tư công
giao đầu năm 2025 là 825.922,3 tỷ đồng[4].
- Kế hoạch đầu tư công
vốn NSTW năm 2025 được giao bổ sung là 87.293,9 tỷ đồng[5] (bao gồm:
2.498,3 tỷ đồng vốn CTMTQG; 84.795,68 tỷ đồng từ nguồn tăng thu NSTW các năm
2021, 2022, 2023, 2024). Trong đó, số kế hoạch vốn giao bổ sung sau ngày
30/9/2025 và bổ sung thực hiện Nghị quyết số Nghị quyết số 57-NQ/TW[6]
là 27.429,6 tỷ đồng.
b) Kế hoạch vốn cân đối
NSĐP năm 2025 các địa phương giao tăng so với kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao
(theo số liệu cập nhật đến thời điểm báo cáo) là 198.191,2 tỷ đồng.
c) Kế hoạch vốn các năm
trước được phép kéo dài tính đến thời điểm báo cáo là 66.269 tỷ đồng;
trong đó: NSTW là 37.459,1 tỷ đồng[7], NSĐP là 29.276,2 tỷ đồng.
Như vậy, tổng kế hoạch
giao năm 2025 đến thời điểm báo cáo (kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, kế hoạch
vốn cân đối địa phương giao tăng, kế hoạch các năm trước chuyển sang) là 1.177.676,5
tỷ đồng.
2.
Tình hình triển khai phân bổ chi tiết kế hoạch vốn cho các nhiệm vụ, dự án tại
các bộ, cơ quan trung ương và địa phương
- Tính đến hết ngày
31/12/2025, tổng số vốn các bộ, cơ quan trung ương và địa phương đã phân bổ
chi tiết cho các nhiệm vụ, dự án là 1.105.357,8 tỷ đồng (bao gồm NSTW là
431.457,2 tỷ đồng, NSĐP là 673.918,5 tỷ đồng). Nếu không tính kế hoạch vốn cân
đối NSĐP các địa phương giao tăng (198.191,2 tỷ đồng), tổng số vốn đã phân bổ
chi tiết là 907.184,5 tỷ đồng, đạt 99,3% kế hoạch vốn Thủ tướng
Chính phủ đã giao.
- Số vốn còn lại chưa
triển khai phân bổ chi tiết cho các dự án là 6.031,7 tỷ đồng[8]
vốn NSTW (chiếm 0,7% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao) của 06 bộ, cơ
quan trung ương và 20 địa phương.
Nguyên nhân chủ yếu do:
(i) một số bộ, cơ quan và địa phương đề nghị hoàn trả vốn do không còn nhu cầu
sử dụng (trong đó, khoảng 919,6 tỷ đồng của 11 bộ, cơ quan và địa phương
đề xuất điều chỉnh giảm kế hoạch vốn (bao gồm cả vốn các CTMTQG) đã được Bộ Tài
chính tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ để
bổ sung dự phòng NSTW năm 2025[9]); (ii) đang hoàn thiện các thủ tục đầu
tư dự án do mới được Thủ tướng Chính phủ giao bổ sung, việc điều chỉnh kế hoạch
vốn năm 2025 giữa các bộ, cơ quan trung ương và địa phương sau ngày 30/9/2025
và điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn NSTW giai đoạn 2021-2025;
(iii) một số địa phương chưa phân bổ vốn nước ngoài của các dự án ODA do chưa
ký Hiệp định;...
3.
Tình hình giải ngân kế hoạch đầu tư công vốn NSNN năm 2025:
a) Về giải
ngân vốn kế hoạch năm trước kéo dài sang năm 2025:
Giải ngân từ đầu năm đến
ngày 31/12/2025 là 49.689,2 tỷ đồng, đạt 75% kế hoạch (66.269 tỷ
đồng).
b) Về giải ngân vốn kế
hoạch năm 2025:
- Giải ngân từ đầu năm
đến ngày 31/12/2025 là 755.141,6 tỷ đồng, đạt 82,7% kế hoạch Thủ
tướng Chính phủ giao (913.216,2 tỷ đồng); trong đó: vốn NSTW là 279.713,9
tỷ đồng, đạt 63,9%; vốn NSĐP là 475.427,7 tỷ đồng, đạt 99,9%.
So với cùng kỳ tháng
12/2024[10]
cao hơn 2,4% về tỷ lệ và 206.564,1 tỷ đồng về số tuyệt đối; mặc
dù vốn NSĐP có tỷ lệ giải ngân cao, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm 2024 (85,4%),
song tiến độ giải ngân vốn NSTW còn thấp, giảm 7,7% so với cùng kỳ năm 2024
(71,6%).
Nếu không tính 11.140,7
tỷ đồng đang trình Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh giảm kế hoạch đầu tư công
NSTW năm 2025 để bổ sung dự phòng NSTW năm 2025, thì tỷ lệ giải ngân 12 tháng đạt
83,7% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao (902.075,6 tỷ đồng)
- Kết quả đến hết tháng
12/2025, so với kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, có 11 bộ, cơ quan
trung ương và 15 địa phương có tỷ lệ giải ngân đạt từ mức bình quân
chung cả nước, bao gồm: Ngân hàng Phát triển; Tổng công ty đầu tư phát triển đường
cao tốc Việt Nam; Đài Truyền hình Việt Nam; Bộ Công Thương; Kiểm toán Nhà nước;
Văn phòng Trung ương Đảng; Bộ Tài chính; Tập đoàn Điện lực Việt Nam; Bộ Nội vụ;
Bộ Quốc phòng; Bộ Tư pháp; Ninh Bình; Hà Tĩnh; Lào Cai; Thanh Hóa; Phú Thọ;
Thái Nguyên; Thành phố Hà Nội; Thành phố Hải Phòng; Bắc Ninh; Quảng Ninh; Gia
Lai; Cao Bằng; Tây Ninh; Đồng Tháp; Nghệ An.
Tuy nhiên, hầu hết các
bộ có tỷ lệ giải ngân cao nhưng kế hoạch vốn thấp (06/11 đơn vị[11])
hoặc không giải ngân theo dự án (02 đơn vị[12]); 05/15
địa phương[13] có tỷ lệ giải ngân vốn
cân đối NSĐP cao, trong khi tỷ lệ giải ngân vốn NSTW thấp hơn bình quân cả nước
(63,9%)
Còn 22 bộ, cơ
quan trung ương và 17 địa phương có tỷ lệ giải ngân đạt dưới bình quân
chung cả nước[14], bao gồm: Văn phòng Chính phủ; Bộ
Dân tộc và Tôn giáo; Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; Bộ Y tế; Bộ
Khoa học và Công nghệ; Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam; Liên hiệp các Hội văn
học nghệ thuật Việt Nam; Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; Viện Hàn lâm
Khoa học Xã hội Việt Nam; Liên minh Hợp tác xã Việt Nam; Đại học Quốc gia Thành
phố Hồ Chí Minh; Đại học Quốc gia Hà Nội; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Văn hóa,
Thể thao và Du lịch; Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Tòa án nhân dân tối cao;
Thông tấn xã Việt Nam; Bộ Ngoại giao; Bộ Xây dựng; Viện kiểm sát nhân dân tối
cao; Thanh tra Chính phủ; Đài Tiếng nói Việt Nam; Tuyên Quang; Cần Thơ; Quảng
Trị; Đắk Lắk; Vĩnh Long; Lâm Đồng; Khánh Hòa; Điện Biên; Sơn La; Thành phố Đà Nẵng;
Cà Mau; An Giang; Thành phố Hồ Chí Minh; Quảng Ngãi; Thành phố Huế; Lạng Sơn;
Hưng Yên.
(Chi
tiết tình hình phân bổ và giải
ngân kế hoạch đầu tư công vốn NSNN 12 tháng năm 2025 tại các Phụ lục kèm theo)
II. KẾT
QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TRONG VIỆC THỰC HIỆN KẾ HOẠCH ĐẦU TƯ CÔNG TRONG 12 THÁNG NĂM 2025
Việc đạt được kết quả
tiến bộ trong giải ngân đầu tư công là nhờ có sự chỉ đạo, điều hành sát sao,
quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thông qua các hội nghị thúc đẩy
tăng trưởng đầu tư công và nhiều văn bản chỉ đạo đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư
công ngay từ những tháng đầu năm;
sự vào cuộc mạnh mẽ của các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương; công
tác rà soát, kiểm tra, đôn đốc thường xuyên và kịp thời của các đoàn công tác;
đặc biệt, việc giao chỉ tiêu giải ngân đầu tư công làm cơ sở đánh giá thi đua
và công tác cải cách thể chế tiếp tục là điểm sáng giúp tháo gỡ nhiều điểm nghẽn
trong quy trình triển khai thực hiện các dự án. Cụ thể:
1. Công tác cải cách thể
chế liên quan đến đầu tư công tiếp
tục được đẩy mạnh, góp phần bảo đảm yêu cầu xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật kiến tạo, phát triển và tăng trưởng kinh tế; tập
trung tháo gỡ vướng mắc, điểm nghẽn về thể chế để thúc đẩy phát triển sản xuất,
kinh doanh, trọng tâm là tháo gỡ điểm nghẽn, vướng mắc trong thực hiện và giải
ngân vốn đầu tư công
(1) Để
đảm bảo thực chất, hiệu quả, thông suốt, không bị gián đoạn khi thực hiện sắp xếp
đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp (trong đó có công
tác giải ngân vốn đầu tư công), Chính phủ đã quyết liệt chỉ đạo và kịp thời ban
hành 28 Nghị định về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền khi triển khai
mô hình chính quyền địa phương 02 cấp làm căn cứ cho các bộ, cơ quan trung
ương, địa phương tổ chức triển khai thực hiện. Các địa phương cũng đã tập trung
rà soát, ban hành kịp thời các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, cụ thể hóa việc thực
hiện các Nghị định mới của Chính phủ, đảm bảo tính thống nhất giữa văn bản của
trung ương và địa phương, phù hợp với mô hình đơn vị hành chính 02 cấp.
(2) Chính phủ đã ban
hành Nghị định số 275/2025/NĐ-CP ngày 18/10/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Nghị định số 85/2025/NĐCP ngày 08/4/2025 của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành một số điều của Luật Đầu tư công. Nghị định đã sửa đổi, hoàn thiện để phù
hợp với các quy định pháp luật liên quan (bao gồm: Luật Đầu tư công (được sửa đổi,
bổ sung tại Luật số 90/2025/QH15), Luật Ngân sách nhà nước (sửa đổi), Luật Khoa
học công nghệ, đổi mới sáng tạo và Luật Công nghiệp công nghệ số); bổ sung các
nội dung Luật sửa 8 Luật giao Chính phủ quy định chi tiết (ngoài các nội dung của
Luật số 58/2024/QH15)[15]; tiếp tục sửa đổi theo tinh thần
phân cấp, phân quyền triệt để và cắt giảm, đơn giản hóa tối đa các thủ tục hành
chính[16].
(3) Chính phủ đã ban
hành một số Nghị quyết đặc thù để bảo đảm không làm gián đoạn hoạt động phát
triển kinh tế - xã hội trong thời gian chưa ban hành các Luật, cụ thể:
- Nghị quyết số
66.2/2025/NQ-CP ngày 28/8/2025 quy định về xử lý khó khăn, vướng mắc về việc điều
chỉnh quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh khi thực hiện sắp
xếp đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp; trong đó quy định
các chính sách cụ thể nhằm hạn chế tối đa việc phát sinh quy trình, thủ tục điều
chỉnh các loại quy hoạch để bổ sung dự án làm
kéo dài thời gian, làm ảnh hưởng tiến độ triển khai dự án.
- Nghị quyết số
66.4/2025/NQ-CP ngày 21/9/2025 về các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm tháo gỡ
khó khăn trong triển khai Luật Địa chất và khoáng sản năm 2024; giúp tháo gỡ
ngay nhiều khó khăn, vướng mắc có tính chất đặc thù, đặc biệt, cấp bách trong
thủ tục hành chính, quy trình cấp phép, điều chỉnh giấy phép khai thác, sử dụng
khoáng sản, quy định về không đấu giá quyền khai thác khoáng sản,... nhằm đáp ứng
yêu cầu tiến độ cung cấp nguyên vật liệu cho các công trình, dự án, đặc biệt là
các công trình, dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia.
- Nghị quyết số 254/2025/QH25
ngày 11/12/2025 về một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong
tổ chức thi hành Luật Đất đai; theo đó, đã thiết lập các cơ chế, chính sách
linh hoạt về thu hồi đất, bồi thường, giao đất và quản lý đất đai, đồng thời
đơn giản hóa thủ tục hành chính và tăng cường năng lực thực thi tại địa phương,
giúp rút ngắn thời gian giải phóng mặt bằng, giảm vướng mắc pháp lý và tranh chấp,
tạo điều kiện thuận lợi cho đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án.
(4) Nhằm đáp ứng yêu cầu
cấp bách về đồng bộ hóa hệ thống pháp luật về đầu tư công, Chính phủ ban hành
Nghị định số 254/2025/NĐ-CP ngày 26/9/2025 của Chính phủ quy định về quản lý,
thanh toán, quyết toán dự án sử dụng vốn đầu tư công[17];
trong đó, sửa đổi các quy định về thanh toán vốn đầu tư công theo hướng phân cấp,
phân quyền triệt để cho chủ đầu tư lập đề nghị thanh toán, quản lý tạm ứng vốn
theo hợp đồng/dự toán, thu hồi tạm ứng và chịu trách nhiệm toàn diện về tính
chính xác của các nội dung kê khai tại hồ sơ thanh toán. Đồng thời, đơn giản
hóa hồ sơ, thủ tục, đặc biệt là thủ tục giải ngân cho các dự án khoa học công
nghệ, chuyển đổi số; thời gian thanh toán vốn rút ngắn từ 3 ngày thành tối đa 2
ngày làm việc, riêng tạm ứng vốn là trong 01 ngày làm việc. Việc cải cách triệt
để thủ tục giải ngân được xem là bước đi chiến lược trong quá trình hiện đại
hóa quản lý tài chính công, nâng cao hiệu lực, hiệu quả chi tiêu ngân sách, phù
hợp với cơ cấu tổ chức bộ máy Chính phủ, chính quyền địa phương sau khi thực hiện
chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính các cấp và thúc đẩy phát triển bền vững.
Ngoài ra, về công tác
quản lý tạm ứng vốn đầu tư công, các nội dung tại Chỉ thị số 20/CT-TTg ngày
12/7/2025 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc chấn chỉnh, tăng cường quản
lý tạm ứng vốn đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước của các bộ, cơ quan trung
ương và địa phương đến nay đã được quy định đầy đủ tại Nghị định số
254/2025/NĐ-CP quy định về quản lý, thanh toán, quyết toán dự án sử dụng vốn đầu
tư công, trong đó tăng cường trách nhiệm của chủ đầu tư và cơ quan cấp trên của
chủ đầu tư.
(5) Nhằm hoàn thiện thể
chế, đảm bảo đồng bộ với các luật đã được Quốc hội ban hành tại kỳ họp thứ 9 và
giải quyết một số vướng mắc thực tế trong quá trình thực thi và quản lý, trong
đó có công tác giải ngân vốn đầu tư công, Bộ Tài chính đã nghiên cứu, sửa đổi một
số Luật đã được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 10, cụ thể:
- Luật Quy hoạch (sửa đổi):
Luật đã sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm hoàn thiện hệ thống quy hoạch; làm
rõ mối quan hệ và cơ chế xử lý mâu thuẫn giữa các quy hoạch, khắc phục tình trạng
chồng chéo gây chậm trễ trong triển khai dự án đầu tư công; rà soát, sửa đổi
danh mục quy hoạch ngành, bổ sung quy hoạch chi tiết ngành; đẩy mạnh phân cấp,
phân quyền trong hoạt động quy hoạch gắn với cơ chế kiểm tra, giám sát, đồng thời
đơn giản hóa trình tự, thủ tục lập, thẩm định, điều chỉnh
quy hoạch, góp phần rút gọn thời gian chuẩn bị đầu tư các dự án.
- Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Quản lý nợ công: Luật đã bổ sung, sửa đổi các quy định để
thực hiện phân cấp, phân quyền đối với quy trình phê duyệt các kế hoạch vay, trả
nợ; hoạt động vay, trả nợ nước ngoài của Chính phủ, vay của chính quyền địa
phương; bỏ quy định về xây dựng Chương trình quản lý nợ công 3 năm để đảm bảo đồng
bộ với Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Đầu tư công sửa đổi và rút ngắn thời gian
tiến hành các quy trình, thủ tục về thỏa thuận vay nước ngoài. Điều chỉnh các
quy định về huy động, sử dụng vốn vay nước ngoài của Chính phủ để đẩy nhanh tiến
độ triển khai các dự án, mở rộng ưu đãi và điều kiện tiếp cận vốn vay nước
ngoài. Bổ sung quy định cho phép cấp phát toàn bộ vốn vay ODA, vay ưu đãi nước
ngoài của Chính phủ đối với các địa phương chưa đảm bảo cân đối 100% thu - chi
NSNN (nhận trợ cấp từ NSTW). Đây là quy định mới có tính “đột
phá” để thực hiện chủ trương của Đảng, Chính phủ về tăng cường phân cấp, phân
quyền đối với các địa phương.
2. Công tác chỉ đạo điều
hành kế hoạch đầu tư công năm 2025 được thực hiện quyết liệt, thường xuyên,
liên tục, tập trung giải quyết các điểm nghẽn, vướng mắc trong giải ngân vốn đầu
tư công
- Tại
các phiên họp Chính phủ thường kỳ hằng tháng, đầu tư công là một trong những nội
dung trọng tâm được thể hiện trong các Nghị
quyết phiên họp Chính phủ thường kỳ; Thường trực Chính phủ đã tổ chức 04 Hội
nghị trực tuyến với các bộ, cơ quan trung ương và địa phương để thúc đẩy động lực
tăng trưởng đầu tư công. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 08 Chỉ thị, Công điện
và nhiều văn bản chỉ đạo đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công; đồng thời, thường
xuyên, liên tục có nhiều chuyến công tác, làm việc với các địa phương để giải
quyết vướng mắc, kiến nghị và kiểm tra thực tế địa bàn, đôn đốc triển khai các
dự án, công trình quan trọng quốc gia.
- Để đảm bảo công tác
chỉ đạo điều hành được thực hiện tập trung, thống nhất
và kịp thời có các giải đáp, hướng dẫn, phương án xử lý tổng thể và đồng bộ đối
với các nội dung vướng mắc, điểm nghẽn trong giải ngân vốn đầu tư công của từng
bộ, cơ quan trung ương và địa phương, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định
số 2179/QĐ-TTg ngày 06/10/2025[18] về việc phân công Thành viên Chính
phủ chủ trì làm việc với các địa phương về tình hình sản xuất kinh doanh, đầu
tư công, xuất nhập khẩu, xây dựng hạ tầng, nhà ở xã hội, chương trình mục tiêu
quốc gia và thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp[19].
3. Vốn đầu tư công được
bố trí tập trung hơn, tiếp tục khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, phân tán,
lãng phí; tăng cường quyền tự chủ, chủ động, trách nhiệm của các cấp,
các ngành trong lựa chọn, phê duyệt, phân bổ vốn cho dự án cụ thể theo đúng mục
tiêu, định hướng phát triển; bảo đảm tính công khai, minh bạch trong công tác
phân bổ vốn đầu tư. Vốn NSTW được dồn lực vào các dự án quan trọng quốc gia, dự
án đường cao tốc, dự án liên vùng, dự án trọng điểm, tạo ra động lực mới, không
gian mới phát triển kinh tế, khai thác tốt tiềm năng, thế mạnh và nâng cao năng
lực cạnh tranh quốc gia. Theo báo cáo của Bộ Xây dựng[20], kế
hoạch đến hết năm 2025 hoàn thành 3.803km đường bộ cao tốc (trong đó: tuyến
chính cao tốc 3.345km, nút giao và đường dẫn 458km), mục tiêu phấn đấu hoàn
thành 5.000km vào năm 2030. Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về công
tác chuẩn bị tổ chức Lễ khánh thành, khởi công các dự án, công trình quy mô lớn,
ý nghĩa chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Bộ Xây dựng đã
tổng hợp 245 dự án, công trình trên địa bàn 34 tỉnh/thành phố đủ điều kiện để
khởi công, khánh thành, trong đó khởi công 155 dự án, công trình; khánh thành
90 dự án.
4. Vốn đầu tư công đã
góp phần thúc đẩy
cơ cấu lại
đầu tư và cơ cấu lại
các ngành, vùng lãnh thổ; cơ bản bảo đảm tương quan hợp
lý giữa phát triển kinh tế - xã hội và an sinh xã hội, giữa các ngành, lĩnh vực,
các địa phương, vùng miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu
số và các vùng khó khăn khác, đồng thời vẫn đảm bảo bố trí vốn cho các vùng
kinh tế động lực, cực tăng trưởng. Những dự án hoàn thành đã tạo sự chuyển biến
rõ nét về hạ tầng giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, quốc phòng,
an ninh, công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giai đoạn này.
5. Các bộ, cơ quan
trung ương và địa phương đã tăng cường quản lý, sử dụng hiệu quả vốn đầu tư
công theo quy định, thực hiện nghiêm chế độ báo cáo theo định
kỳ hằng tháng, thường xuyên cập nhật tình hình thực hiện và giải
ngân kế hoạch vốn đầu tư công, kịp thời tổng hợp các khó khăn, vướng mắc
trong quá trình thực hiện để có giải pháp tháo gỡ, đẩy nhanh
tiến độ giải ngân. Kỷ luật, kỷ cương trong đầu tư công từng bước được tăng cường,
hằng tháng các bộ, cơ quan trung ương và địa phương có tỷ lệ giải ngân dưới mức
trung bình cả nước đều tổ chức đánh giá thực trạng, xác định nguyên nhân khách
quan, chủ quan, trách nhiệm của các cá nhân có liên quan và người đứng đầu, rút
ra bài học kinh nghiệm để triển khai kế hoạch được tốt hơn.
6. Các bộ, cơ quan
trung ương và địa phương đã thành lập
các Tổ công tác thúc đẩy giải
ngân kế hoạch đầu tư vốn NSNN; thường xuyên rà soát, kiểm
tra, đôn đốc tiến độ thực hiện dự án, đẩy nhanh tiến độ thi công, tập trung
hoàn thiện các thủ tục pháp lý, nghiệm thu khối lượng hoàn thành. Rà soát, đánh
giá chi tiết, cụ thể về khả năng giải ngân của từng dự án, đề xuất điều chuyển
kế hoạch vốn giữa các dự án chậm giải ngân sang các dự án có tiến độ giải ngân
tốt, có nhu cầu bổ sung vốn, cắt giảm kế hoạch vốn của các dự án không có khả
năng hoàn thành khối lượng theo chỉ tiêu đặt ra, đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt
bằng (GPMB), tháo gỡ khó khăn vướng mắc liên quan đến đất đai, tài nguyên. Các
thành viên Tổ công tác đặc biệt theo chức năng, nhiệm vụ được giao chủ động rà
soát, đôn đốc, phối hợp, hỗ trợ các chủ đầu tư trong quá trình triển khai thực
hiện dự án và quyết liệt, chủ động, kịp thời tháo gỡ nhanh nhất những vướng mắc
về thủ tục liên quan thuộc lĩnh vực phân công theo dõi.
III.
CÁC KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC ẢNH HƯỞNG ĐẾN TIẾN ĐỘ GIẢI NGÂN VỐN ĐẦU TƯ CÔNG 12
THÁNG NĂM 2025
Năm 2025 là năm ghi nhận
lượng vốn đầu tư công lớn nhất từ trước tới nay, khiến áp lực giải
ngân vốn đầu tư công gia tăng. Đồng thời, tình hình thiên tai diễn biến hết sức
phức tạp (tính đến cuối tháng 11 cả nước xảy ra 14 cơn bão, đặc biệt là một đợt
thiên tai dồn dập trong quý 4), gây thiệt hại nặng nề về con người lẫn cơ sở vật
chất phục vụ công tác thi công các công
trình, dự án. Việc đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công vào thời điểm cuối năm
đòi hỏi sự nỗ lực, quyết tâm mạnh mẽ, vượt bậc của các bộ, cơ quan trung ương
và địa phương, vừa khắc phục hậu quả thiên tai, vừa phấn đấu đẩy mạnh tiến độ để
đáp ứng mục tiêu đã được Đảng, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đề ra.
Trong tháng 12, tiến độ
giải ngân chung của cả nước đã tăng tốc mạnh mẽ so với những tháng liền kề và
tiếp tục vượt tỷ lệ giải ngân cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, với mục tiêu giải
ngân đạt 100% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, kết quả giải ngân đầu tư công
vẫn chưa đáp ứng kỳ vọng.
Trên cơ sở báo cáo của
các bộ, cơ quan trung ương và địa phương, Bộ Tài chính đã nhận diện và tổng hợp
các khó khăn, vướng mắc chủ yếu còn tồn tại ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân kế
hoạch đầu tư công năm 2025. Theo đó, việc giải ngân đầu tư công chưa đáp ứng kỳ
vọng xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan, chủ quan, cụ thể như sau:
1.
Nguyên nhân chủ quan:
(1)
Một số bộ, cơ quan trung ương và địa phương lập kế hoạch chưa bám sát thực tế,
đăng ký nhu cầu vốn chưa phù hợp với năng lực thực hiện
(bao gồm cả nguồn vốn thực hiện các CTMTQG), dẫn đến trường hợp có dự án thừa vốn,
dự án thiếu vốn, nhiều trường hợp không phân bổ hết kế hoạch vốn giao, phải điều
chỉnh nhiều lần hoặc hoàn trả kế hoạch vốn, ảnh hưởng đến tỷ lệ giải ngân và hiệu
quả sử dụng vốn.
Bộ Tài chính đã có nhiều
văn bản đôn đốc các bộ, cơ quan trung ương và địa phương thực hiện phân bổ và
báo cáo nhu cầu sử dụng vốn năm 2025[21]. Đồng thời, Bộ Tài chính đã tổng hợp
đề xuất của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương trả vốn NSTW và nhiều lần
báo cáo cấp thẩm quyền[22] cho phép điều chuyển cho các bộ, cơ
quan trung ương và địa phương có nhu cầu bổ sung vốn.
(2)
Công tác điều hành, tổ chức triển khai thực hiện GPMB, tái
định cư chưa thực sự quyết liệt. Nhiều địa phương đã tập
trung chỉ đạo, quyết tâm, đẩy mạnh công tác bồi thường tái định cư, sớm bàn
giao mặt bằng cho dự án. Tuy nhiên, tại một số cơ quan, địa phương, đây vẫn là
vướng mắc lớn nhất, tồn tại kéo dài, gây chậm trễ dây chuyền cho dự án, làm ảnh
hưởng đến tiến độ thi công và giải ngân vốn (cụ thể như khó khăn trong việc xác
định giá đất đền bù do chưa đạt được thỏa thuận đối với người dân, chậm bàn
giao mặt bằng; xác định nguồn gốc sử dụng đất của các hộ gặp nhiều khó khăn do
chuyển nhượng nhiều lần; chưa hoàn thành thủ tục giao đất).
(3) Hạn
chế trong năng lực, trách nhiệm của chủ đầu tư, Ban quản lý dự án, nhà thầu, sự
phối hợp giữa các bên liên quan. Một số ban quản lý dự
án, chủ đầu tư và nhà thầu chưa chủ động, thiếu quyết liệt trong tổ chức thi
công; năng lực hạn chế, chưa bố trí đủ nhân lực, máy móc, phương tiện; còn biểu
hiện e ngại, sợ sai, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm... Thiếu sự kiểm tra, giám
sát, thống nhất với đơn vị tư vấn về các yêu cầu thiết kế dẫn đến chất lượng hồ
sơ trình cơ quan chuyên môn thẩm định chưa cao, mất nhiều thời gian chỉnh sửa,
hoàn thiện hồ sơ làm chậm tiến độ. Công tác phối hợp giữa các Sở ban ngành, các
Ban quản lý dự án, các chủ đầu tư trong quá trình triển khai thực hiện các thủ
tục đầu tư, tháo gỡ các khó khăn vướng mắc chưa chặt chẽ và chưa kịp thời. Hồ
sơ thanh toán nộp chậm, dẫn đến dồn khối lượng giải ngân vào cuối năm.
2.
Nguyên nhân khách quan:
(1) Diễn
biến thời
tiết bất thường,
phức tạp là nguyên nhân của nhiều hệ quả lớn dẫn tới việc thi công
các công trình không đảm bảo tiến độ. Từ tháng 9 đến nay, nước ta liên tiếp hứng
chịu 08 cơn bão liên tiếp, đặc biệt là đợt mưa lũ lịch sử trên diện rộng sau
bão số 12 và bão số 13 kéo theo những ảnh hưởng
nghiêm trọng (nhất là khu vực miền núi phía Bắc, Trung Bộ và Tây Nguyên), tác động
trực tiếp đến tiến độ thi công dự án, đặc biệt là các dự án giao thông trọng điểm,
do nền đường bị hư hỏng, nước ngập công trường, mạng lưới giao thông bị cản trở,
chia cắt làm chậm tiến độ vận chuyển nguyên vật liệu, điều kiện thi công bất lợi,
nguy hiểm cho công nhân,... Do đó, các địa phương cần thời gian để khôi phục hậu
quả mưa bão và ổn định trạng thái thi công; áp lực lớn giải ngân lớn dồn vào thời
điểm cuối năm.
(2)
Liên quan đến cơ chế chính
sách:
Mặc dù các cơ chế chính
sách về quản lý đầu tư công đã được sửa đổi, khắc phục trong thời gian qua song
cơ chế chính sách vẫn còn một số vướng mắc, vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn ảnh
hưởng đến tiến độ thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn của các dự án, như:
- Về quy định điều kiện
bố trí tạm cư theo Luật Đất đai 2024[23]: Theo quy định tại khoản
3 Điều 80, điều kiện thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển
kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng là phải hoàn thành việc bố trí
tái định cư theo quy định của Luật, song chưa có quy định bố trí tạm cư hoặc hỗ
trợ tiền thuê nhà ở trong trường hợp chờ bố trí tái định cư[24].
- Về điều chỉnh giá hợp
đồng theo Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu và các Nghị định hướng dẫn: chưa có hướng
dẫn chi tiết về phương thức điều chỉnh giá hợp đồng, xử lý trượt giá trong điều
kiện biến động mạnh về giá vật liệu xây dựng.
- Về công tác thẩm định,
cấp phép theo Luật Bảo vệ môi trường và các Nghị định hướng dẫn: công tác thẩm
định báo cáo đánh giá tác động môi trường và cấp giấy phép môi trường chưa được
quy định rõ thời hạn tổng thể cho từng loại dự án, thiếu cơ chế ràng buộc trách
nhiệm giữa cơ quan thẩm định và chủ đầu tư khi hồ sơ phải chỉnh sửa nhiều lần.
- Về
lĩnh vực đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng vốn ngân sách: vướng
mắc trong việc áp dụng Nghị định số 73/2019/NĐ-CP và Nghị định số 82/2024/NĐ-CP
sửa đổi, bổ sung, do thiếu hướng dẫn chi tiết về trình tự thẩm định dự án công
nghệ thông tin, phân loại dự án, tiêu chuẩn kỹ thuật
và cơ chế thuê dịch vụ công nghệ thông tin, nhất là các dự án có tính chất đầu
tư xây dựng - công nghệ kết hợp[25].
(3) Về
nguồn cung nguyên vật liệu, biến động giá: tình
trạng khan hiếm vật liệu xây dựng (đất, cát, đá đắp) trong khi nhu cầu thi công
cao, khó khăn trong việc huy động thiết bị và vật tư xây dựng do phần lớn nguồn
lực tập trung cho các công trình trọng điểm quốc gia, phải triển khai đồng thời
nhiều dự án giao thông trọng điểm trên địa bàn; giá nhiều nguyên vật liệu tăng
gấp 1,5-2 lần so với thời điểm mời thầu làm tăng chi phí và phải điều chỉnh tổng
mức đầu tư; một số địa phương khó khăn trong việc bố trí vốn thuê tư vấn định
giá đất.
(4) Về
quy trình, thủ tục thực hiện và giải ngân dự án ODA
phụ thuộc nhiều vào chính sách, ý kiến của nhà tài trợ; các quy trình, quy định
thử nghiệm đặc thù của dự án tại nước sở tại mất nhiều thời gian; khác biệt giữa
pháp luật sở tại và pháp luật Việt Nam. Cụ thể như: (i) dự án đang chờ điều chỉnh,
gia hạn thời gian thực hiện, thời gian giải ngân hoặc chưa hoàn thiện các thủ tục
điều chỉnh, ký kết Hiệp định vay; (ii) tiến hành các thủ tục đấu thầu chậm (bao
gồm cả các gói thầu đấu thầu quốc tế), chậm ký kết hợp đồng và vướng mắc trong
công tác GPMB; chậm nhận được ý kiến không phản đối của nhà tài trợ hoặc ý kiến
chấp thuận của nhà tài trợ đối với hồ sơ mời thầu, hồ sơ có liên quan đến sửa đổi
thỏa thuận vay; (iv) một số dự án đang thực hiện thủ tục pháp lý với nhà tài trợ
nước ngoài (giới thiệu chữ ký, tài khoản của ban quản lý dự án) sau khi sáp nhập
các các địa phương, chuyển sang chính quyền 2 cấp...
(5)
Liên quan đến mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp:
Qua thời gian triển
khai mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp,
Bộ Tài chính nhận thấy,
nhiều địa phương đã nỗ lực, tập trung cho công tác kiện toàn, sắp xếp đơn vị
hành chính và vận hành mô hình
chính quyền mới, chỉ đạo sát sao, duy trì tiến độ triển khai và giải ngân vốn đầu
tư công các dự án. Mặc dù vậy, một số bộ, địa phương vẫn còn phát sinh khó
khăn, vướng mắc trong bối cảnh sắp xếp, sáp nhập, chuyển đổi trạng thái, ảnh hưởng
trực tiếp đến tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, cụ thể như sau:
- Một số xã mới hình
thành hoặc hợp nhất chưa có người phụ trách đầu tư công, cán bộ phải
kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ mới; thiếu cán bộ trực tiếp thống kê bàn giao, do nhiều
cán bộ phụ trách đã được chuyển công tác hoặc nghỉ theo chủ trương tinh giản biên
chế;
- Việc sáp nhập các tỉnh
dẫn tới cùng một địa phương song có nhiều bảng giá đất, ảnh hưởng đến việc
xây dựng phương án bồi thường GPMB do phải thiết lập lại bảng giá đất mới; công
tác GPMB thay đổi đơn vị thực hiện về cấp xã, phường dẫn đến gián đoạn triển
khai thực hiện do các đơn vị phường, xã mới cần thời gian
để tiếp cận và thành lập hội đồng bồi thường GPMB;
- Một số dự án, nhất là
dự án có phạm vi triển khai rộng, qua địa bàn nhiều xã, được chuyển giao nhiệm
vụ chủ đầu tư, bàn giao hồ sơ chậm; việc rà soát, cập nhật lại thông tin, số liệu,
điều chỉnh danh mục và cơ cấu vốn mất nhiều thời gian;
phải điều chỉnh lại chủ trương đầu tư, quy mô và phạm vi dự án, làm chậm tiến độ
lập báo cáo nghiên cứu khả thi, lựa chọn nhà thầu, kéo dài giải ngân.
(6) Một
lượng vốn tương đối lớn
mới được Thủ tướng Chính phủ giao bổ sung[26].
Một số địa phương vẫn đang triển khai hoàn thiện các thủ tục đầu tư, lựa chọn
nhà thầu, chưa có khối lượng để giải ngân.
(7)
Một số địa phương[27] báo cáo có tỷ lệ giải ngân nguồn
NSĐP cao, trong khi tỷ lệ giải ngân nguồn NSTW thấp, do các địa phương tập
trung nguồn vốn NSĐP để thực hiện công tác GPMB; các dự án sử dụng nguồn NSĐP
là các dự án có tổng mức đầu tư nhỏ, quy trình, thủ tục để thực hiện đơn giản
hơn.
Đánh giá chung:
Cùng mặt bằng pháp lý, cùng bối cảnh sắp xếp tổ chức bộ máy và chuyển giao sang
mô hình chính quyền mới, có bộ, cơ quan trung ương, địa phương giải ngân tốt
nhưng vẫn có những bộ, cơ quan trung ương, địa phương giải ngân chưa tốt. Việc
đạt được kết quả giải ngân tốt nhờ có sự quyết liệt và quyết tâm chính trị
trong công tác chỉ đạo, điều hành, đặc biệt là vai trò của người đứng đầu,
thành lập các Tổ công tác giải ngân do Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND làm Tổ
trưởng; sớm xác định vấn đề “nút thắt” trong công tác bồi thường, GPMB, huy động
cả hệ thống chính trị vào cuộc, thành lập ban chỉ đạo riêng để tháo gỡ khó khăn
tại hiện trường, tăng cường tuyên truyền, vận động người dân đồng thuận, kiên
quyết cưỡng chế thu hồi đất; thiết lập cơ chế giám sát chặt chẽ theo tuần,
tháng, quý; tăng cường kỷ luật tài chính - đầu tư, gắn trách nhiệm giải ngân với
công tác thi đua, công khai danh sách các dự án, chủ đầu tư, nhà thầu chậm tiến
độ cùng với cơ chế “thưởng - phạt” rõ ràng.
III.
KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP
1.
Đối với kế hoạch vốn đầu tư công nguồn NSNN năm 2025:
Với mục tiêu phấn đấu tỷ
lệ giải ngân vốn đầu tư công năm 2025 đạt 100% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ
giao, góp phần thúc đẩy tăng trưởng cả năm đạt
8,3-8,5%, các bộ, cơ quan trung ương và địa
phương trong thời gian chỉnh lý quyết toán theo quy định (hết ngày 31/01/2026)
cần khẩn trương hoàn thiện thủ tục thanh toán đối với khối lượng công việc hoàn
thành.
2.
Đối với kế hoạch vốn đầu tư công nguồn NSNN năm 2026:
Để phấn đấu mục tiêu
tăng trưởng cả nước trong năm 2026 từ 10% trở lên, các bộ, cơ quan trung ương
và địa phương cần nghiêm túc rút kinh nghiệm, khắc phục các tồn tại, hạn chế đã
được nhận diện từ quá trình thực hiện các dự án trong năm 2025, áp dụng triển
khai các giải pháp đột phá, mạnh mẽ và quyết liệt hơn nữa trong quản lý và sử dụng
vốn đầu tư công, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư
công ngay từ đầu năm 2026, đặc biệt là các dự án quan trọng quốc gia, các công
trình trọng điểm và các CTMTQG. Trên cơ sở đó, các bộ, cơ quan trung ương và địa
phương cần triển khai một số các giải pháp cụ thể như sau:
- Xác định việc giải
ngân vốn đầu tư công năm 2026 là một trong những nhiệm vụ chính trị trọng tâm cần
sự tham gia của tất cả các cấp, các ngành ngay từ những tháng đầu năm; hoàn
thành các mục tiêu đặt ra của kế hoạch đầu
tư công năm 2026.
- Khẩn trương hoàn
thành phân bổ chi tiết kế hoạch vốn đầu tư công nguồn NSNN năm 2026, báo cáo
Bộ Tài chính kết quả phân bổ kế hoạch trước ngày 10/01/2026; đồng thời,
toàn bộ phương án phân bổ kế hoạch vốn
phải được báo cáo trên Hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu quốc gia về đầu tư
công theo đúng quy định pháp luật về đầu tư công và Quyết định số 2691/QĐ-TTg
ngày 10/12/2025 của Thủ tướng Chính phủ về giao kế hoạch đầu tư đầu tư công nguồn
NSNN năm 2026 cho các bộ, cơ quan trung ương và địa phương.
- Phát huy mạnh mẽ vai
trò người đứng đầu các bộ, cơ quan, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền địa
phương trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện, kịp thời tháo gỡ khó khăn
vướng mắc theo thẩm quyền hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền giải quyết; Thực hiện
xây dựng kế hoạch giải ngân theo từng tháng, quý cho từng nhiệm vụ, dự án; Phân
công Lãnh đạo chịu trách nhiệm theo dõi tiến độ thực hiện và giải ngân của từng
nhiệm vụ, dự án, đôn đốc, kịp thời tháo gỡ khó khăn; Kết quả giải ngân của từng
nhiệm vụ, dự án được phân công theo dõi là căn cứ để đánh giá, bình xét thi đua
của các cấp, các ngành và mức độ hoàn thành nhiệm vụ năm 2026 của người đứng đầu.
- Rà soát, đẩy mạnh
phân cấp, phân quyền tạo sự chủ động đi cùng với các biện pháp kiểm tra, giám
sát chặt chẽ việc triển khai kế hoạch đầu tư công năm 2026, đảm bảo hiệu quả đầu
tư. Công tác kiểm tra, giám sát phải được tiến hành một cách thường xuyên, toàn
diện, công khai, dân chủ, thận trọng và chặt chẽ. Các cuộc kiểm tra phải bảo đảm
yêu cầu, chất lượng, giúp phát hiện sớm và đầy đủ các khó khăn, vướng mắc để đề
xuất biện pháp xử lý kịp thời. Tăng cường tư vấn, giám sát độc lập, trong đó có
giám sát cộng đồng nhằm nâng cao chất lượng công trình.
- Liên quan đến tháo gỡ
vướng mắc về cơ chế, chính sách: Các bộ, cơ quan ngang bộ tiếp tục rà soát, tổng
hợp các vướng mắc trong cơ chế chính sách liên quan đến giải ngân đầu tư công
theo chức năng nhiệm vụ để báo cáo, đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét, kịp thời
tháo gỡ.
- Đối với công tác
GPMB: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tháo gỡ nút thắt trong công tác GPMB, đảm bảo
mặt bằng sạch khi triển khai thi công dự án, không được để tình trạng dự án chờ
mặt bằng; Chỉ đạo các tổ chức chính trị xã hội tăng cường tham gia tuyên truyền
vận động nhân dân trong công tác bồi thường, GPMB.
- Đối với nguyên vật liệu:
Chủ động tổ chức thực hiện các nội dung, chính sách quy định tại Nghị quyết số
66.4/2025/NQ-CP ngày 21/9/2025; Thường xuyên theo dõi bám sát diễn biến thị trường
vật liệu xây dựng, đặc biệt là vật liệu chủ yếu phục vụ dự án đầu tư công, đề
xuất các giải pháp để bảo đảm cung cầu hàng hóa, giá cả vật liệu xây dựng; Các
bộ quản lý ngành, lĩnh vực theo phân công có phương án bảo đảm vật liệu xây dựng
đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu của các dự án, đặc biệt là dự án giao thông
quan trọng quốc gia, trọng điểm, liên vùng.
- Đối với các công
trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm trong lĩnh vực giao thông vận tải:
Bộ Xây dựng và các địa phương chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, nhà thầu tập trung
tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình, dự án
ngay từ đầu năm. Đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị đầu tư một số dự án đường sắt quan
trọng, nhất là tuyến đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam, các tuyến đường
sắt kết nối Việt Nam - Trung Quốc. Rà soát quy định pháp luật để phân cấp, phân
quyền tối đa cho các địa phương trong quản lý, đầu tư các tuyến đường cao tốc,
quốc lộ, không làm phát sinh thêm thủ tục hành chính.
- Liên quan đến tổ chức
chính quyền địa phương 02 cấp:
+ Tiếp tục rà soát, kịp
thời xử lý vướng mắc theo thẩm quyền; tổng hợp, báo cáo cấp thẩm quyền xử lý
triệt để các khó khăn, vướng mắc;
sắp xếp, đảm bảo bố trí cán bộ có đủ năng
lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu trong công tác quản lý và triển khai các dự án tại
địa phương, nhất là đối với các địa bàn vùng sâu, vùng xa; thường xuyên kiểm
tra, hỗ trợ các xã được giao chủ đầu tư trong việc tổ chức thực hiện các dự án
và đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công.
+ Các bộ, cơ quan ngang
bộ tiếp tục nghiên cứu, đánh giá, xác định chính xác các nội dung quy định pháp
luật được các cơ quan, địa phương phản ánh có khó khăn, vướng mắc cần xử lý và
kịp thời đề xuất phương án xử lý tối ưu, khả thi; chịu trách nhiệm về nội dung
tồn tại, vướng mắc liên quan đến phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền khi
tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp thuộc phạm vi lĩnh vực quản lý nhà nước của
bộ, ngành mình.
- Đối với công tác nghiệm
thu, thanh toán: Triển khai thực hiện theo Nghị định
số 254/2025/NĐ-CP ngày 26/9/2025 của Chính phủ, phát huy tối đa những quy định
mới về phân cấp, phân quyền, rút gọn thủ tục,
đơn giản hồ sơ thanh toán để giải ngân vốn đầu tư công đúng quy định; lập hồ sơ
thanh toán ngay đối với khối lượng hoàn thành đã được nghiệm thu tránh dồn vào
thời điểm cuối tháng và những tháng cuối năm. Kiểm soát chặt chẽ việc tạm ứng
và thu hồi tạm ứng theo quy định tại Nghị định số 254/2025/NĐ-CP đảm bảo chất
lượng giải ngân, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, đóng góp tỷ lệ
tăng trưởng trong kế hoạch năm 2026.
- Về chế độ báo cáo:
Nghiêm túc chấp hành chế độ báo cáo tình hình thực hiện, thanh toán vốn đầu tư
công năm 2026 theo Thông tư số 37/2025/TT-BTC ngày 12/6/2025 của Bộ Tài chính;
trong đó, lưu ý nội dung báo cáo phải phản ánh cụ thể, đầy đủ về các khó khăn,
vướng mắc còn tồn tại làm ảnh hưởng đến giải ngân vốn đầu tư công các dự án,
nguyên nhân và đề xuất giải pháp khắc phục. Đồng
thời, phối hợp chặt chẽ với Kho bạc Nhà nước khu vực để cập nhật kịp
thời số liệu giải ngân, đảm bảo chính xác, phục vụ công tác điều hành, chịu
trách nhiệm toàn diện về số liệu giải ngân báo cáo Bộ Tài chính.
Bộ Tài chính báo cáo Thủ
tướng Chính phủ./.
|
Nơi
nhận:
- Như trên;
- Phó TTgCP Hồ Đức Phớc (để báo cáo);
- Bộ trưởng (để báo cáo);
- Văn phòng Chính phủ;
- Cổng TTĐTCP (để đăng tải);
- Các đơn vị: NSNN, KTN, KTĐP, ĐCTC, VI,
KBNN, QLN, KHTC (bản điện tử);
- Cục CNTT (để đăng tải lên Cổng TTĐT và Hệ thống thông tin và CSDLQG về đầu
tư công);
- Lưu: VT, Vụ PTHT (5b).
|
KT.
BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Đỗ Thành Trung
|