Kính gửi: Sở Tư pháp
thành phố Hồ Chí Minh
Trả lời Công văn số
481/STP-TC ngày 15/7/2025 của Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh về việc trả lời
vướng mắc liên quan đến việc giải quyết thủ tục hành chính, Cục Bổ trợ tư pháp
đã rà soát và trả lời vướng mắc của địa phương, trong đó: có 03 vướng mắc chung
(liên quan đến hồ sơ, tiêu chuẩn, điều kiện giải quyết thủ tục hành chính; lý lịch
tư pháp trong một số thủ tục hành chính; phí, lệ phí) và 06 vướng mắc chuyên
ngành (về luật sư, công chứng, đấu giá tài sản, quản tài viên, trọng tài thương
mại, hòa giải thương mại) (có gửi Phụ lục kèm theo).
Cục Bổ trợ tư pháp thông
tin Sở Tư pháp để biết, tham khảo./.
|
Nơi nhận:
- Thứ trưởng Mai Lương Khôi (để báo
cáo);
- Cục trưởng (để báo cáo);
- Các Phó Cục trưởng (để biết);
- Lưu: VT, VPC (TTgH).
|
KT. CỤC TRƯỞNG
PHÓ CỤC TRƯỞNG
Đoàn Văn Hường
|
PHỤ LỤC
(Kèm theo Công văn số 1290/BTTP-VP ngày 08/8/2025 của Cục Bổ
trợ tư pháp)
I.
Hướng dẫn chung về thông tin lý lịch tư pháp trong một số thủ tục hành chính
- Theo quy định của Nghị
định số 121/2025/NĐ-CP thì “cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có
trách nhiệm cung cấp thông tin cho cơ quan yêu cầu trong thời hạn 03 ngày làm
việc kể từ ngày nhận được yêu cầu. Thời gian phối hợp cung cấp thông tin lý lịch
tư pháp không tính vào thời gian giải quyết thủ tục hành chính”. Do vậy, Sở
Tư pháp có trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư
pháp để đảm bảo về thời hạn cung cấp thông tin lý lịch tư pháp.
- Việc yêu cầu cung cấp
thông tin về lý lịch tư pháp nhằm đảm bảo cấp chứng chỉ hành nghề trong lĩnh vực
bổ trợ tư pháp (Chứng chỉ hành nghề luật sư cho người đủ tiêu chuẩn, điều kiện
luật sư; cấp chứng chỉ hành nghề đấu giá, bổ nhiệm công chứng viên...). Do vậy,
trường hợp người đề nghị đã cung cấp Phiếu Lý lịch tư pháp theo đúng quy định
thì đề nghị Sở Tư pháp không cần yêu cầu cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch
tư pháp cung cấp thông tin.
II.
Hướng dẫn các lĩnh vực cụ thể
1.
Lĩnh vực Luật sư
a) Về thành phần hồ
sơ, tiêu chuẩn, điều kiện giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực luật sư
Đối với TTHC đăng ký hoạt
động tổ chức hành nghề luật sư (tương tự đối với các TTHC thay đổi người đại diện
theo pháp luật của Văn phòng luật sư, công ty luật trách nhiệm hữu hạn một
thành viên, thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty luật trách nhiệm
hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty luật hợp danh...): Theo quy định của Luật
Luật sư thì luật sư thành lập hoặc tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư
phải có ít nhất hai năm hành nghề liên tục làm việc theo hợp đồng lao động cho
tổ chức hành nghề luật sư hoặc hành nghề với tư cách cá nhân theo hợp đồng lao
động cho cơ quan, tổ chức. Như vậy, đây là điều kiện bắt buộc khi luật sư thành
lập hoặc tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư. Tại hồ sơ đăng ký hoạt động
tổ chức hành nghề luật sư có yêu cầu cung cấp bản sao Chứng chỉ hành nghề luật
sư, bản sao Thẻ luật sư của luật sư thành lập văn phòng luật sư, thành lập hoặc
tham gia thành lập công ty luật. Do vậy, đề nghị Sở Tư pháp căn cứ bản sao Chứng
chỉ hành nghề luật sư, bản sao Thẻ luật sư của luật sư để đánh giá về điều kiện
có ít nhất hai năm hành nghề liên tục. Trong trường hợp cần thiết, Sở Tư pháp
có thể yêu cầu tổ chức hành nghề luật sư cung cấp giấy tờ chứng minh đáp ứng đủ
điều kiện.
Kể từ khi Luật Luật sư sửa
đổi năm 2012 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2025), Cục Bổ trợ tư pháp chưa nhận được
phản ánh liên quan đến vấn đề này. Do vậy, trong thời gian tới, khi sửa đổi Luật
Luật sư, Bộ Tư pháp sẽ nghiên cứu, thiết kế thành phần hồ sơ cho phù hợp với điều
kiện.
b) Về thẩm quyền của Sở
Tư pháp trong việc hướng dẫn hoặc từ chối cấp chứng chỉ hành nghề luật sư
Theo quy định tại khoản 3 mục I Phụ lục III kèm theo Nghị định số 121/2025/NĐ-CP
thì Sở Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, trong trường hợp cần thiết thì tiến
hành xác minh tính hợp pháp của hồ sơ và có văn bản đề nghị kèm theo hồ sơ cấp
Chứng chỉ hành nghề luật sư trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Trong thời
hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ của Sở Tư pháp, Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư; trường hợp từ
chối phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Điểm đ khoản
2 Điều 6 Thông tư số 09/2025/TT-BTP quy định
Sở Tư pháp có trách nhiệm “thẩm định, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
xem xét, quyết định cấp, cấp lại, thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư; cần nhận
đào tạo nghề luật sư ở nước ngoài”.
Do vậy, căn cứ các quy định
nêu trên, đối với các hồ sơ chưa đầy đủ giấy tờ, chưa thống nhất thông tin ...
thì đề nghị Sở Tư pháp hướng dẫn người đề nghị cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư
hoàn thiện, bổ sung hồ sơ. Trường hợp có căn cứ cho rằng người đề nghị không đủ
tiêu chuẩn luật sư theo quy định, đề nghị Sở Tư pháp báo cáo Chủ tịch Ủy ban
nhân dân tỉnh quyết định việc từ chối cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư.
c) Về phí, lệ phí
Trường hợp người đề nghị
đã nộp lệ phí cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư, phí thẩm định tiêu chuẩn, điều
kiện hành nghề luật sư (900.000 đồng) theo Thông tư số 220/2016/TT-BTC mà chưa
được Bộ Tư pháp xem xét cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư thì đề nghị Sở Tư pháp
hướng dẫn người đề nghị có văn bản yêu cầu Cục Bổ trợ tư pháp hoàn trả lệ phí,
phí (trong đó ghi rõ số tài khoản hoàn trả phí) kèm theo bản phô tô giấy nộp tiền
vào tài khoản để Cục Bổ trợ tư pháp xem xét, hoàn trả lệ phí, phí theo quy định.
Người đề nghị nộp lệ phí, phí chỉ cơ quan tiếp nhận hồ sơ giải quyết TTHC theo
quy định tại Điều 3 Nghị định số 121/2025/NĐ-CP và Thông tư
số 64/2025/TT-BTC.
2.
Lĩnh vực Đấu giá tài sản
Về thành phần hồ sơ,
tiêu chuẩn, điều kiện giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài
sản
Thực hiện chủ trương cắt
giảm, đơn giản hóa TTHC được nêu tại Nghị quyết số 66/NQ-CP ngày 26/3/2025 của
Chính phủ về chương trình cắt giảm, đơn giản hóa TTHC liên quan đến hoạt động sản
xuất, kinh doanh năm 2025 và 2026, Bộ Tư pháp đã thực hiện rà soát, cắt giảm
thành phần hồ sơ các TTHC trong lĩnh vực đấu giá tài sản nói chung và thủ tục cấp
chứng chỉ hành nghề đấu giá nói riêng trên nguyên tắc Cơ quan thực hiện TTHC
khai thác thông tin, dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu quốc gia, Cơ sở dữ liệu chuyên
ngành và hệ thống thông tin theo quy định pháp luật và bổ sung giấy tờ, tài liệu
vào thành phần hồ sơ của cá nhân, tổ chức thực hiện thủ tục hành chính trên môi
trường điện tử, không yêu cầu cá nhân, tổ chức cung cấp, xuất trình những giấy
tờ, tài liệu này, nhằm cắt giảm chi phí tuân thủ, tạo điều kiện thuận lợi cho
người dân, doanh nghiệp khi thực hiện TTHC.
Do đó, trong quá trình thẩm
tra hồ sơ, đối với việc thẩm tra các yêu cầu như: đạt yêu cầu kiểm tra kết quả
tập sự hành nghề đấu giá, thì cơ quan thực hiện TTHC có thể tra cứu trên Cơ sở
dữ liệu chuyên ngành và hệ thống thông tin trên Cổng Thông tin điện tử của Cục
Bổ trợ tư pháp. Đối với thông tin liên quan đến lý lịch tư pháp như không thuộc
trường hợp bị kết án và bản án đã có hiệu lực pháp luật... thì thực hiện theo khoản 2a Điều 14 Luật đấu giá tài sản sửa đổi năm 2024 theo đó
trong quá trình thẩm tra hồ sơ cấp Chứng chỉ hành nghề đấu giá, cơ quan có thẩm
quyền cấp Chứng chỉ hành nghề đấu giá có quyền yêu cầu cơ quan cấp Phiếu lý lịch
tư pháp cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 của người đề nghị cấp Chứng chỉ hành nghề
đấu giá theo trình tự, thủ tục của pháp luật về lý lịch tư pháp.
3. Lĩnh
vực Công chứng
a) Về thành phần hồ
sơ, tiêu chuẩn, điều kiện giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực công chứng
Thực hiện chủ trương về cắt
giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, trong quá trình xây dựng Luật Công chứng
năm 2024 và Nghị định số 104/2025/NĐ-CP, các giấy tờ trong hồ sơ đề nghị bổ nhiệm
công chứng viên đã được cắt giảm để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân.
Hiện nay, trình tự, thủ tục bổ nhiệm công chứng viên đang được quy định tại Nghị
định số 121/2025/NĐ-CP ngày 11/6/2025 của Chính phủ quy định về phân quyền,
phân cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp (có hiệu lực thi hành từ
ngày 01/7/2025). Tiếp tục thực hiện chủ trương về đơn giản hóa thủ tục hành
chính, hồ sơ đề nghị bổ nhiệm công chứng viên quy định tại Nghị định số
121/2025/NĐ-CP cũng không có bằng cử nhân luật hoặc thạc sĩ luật hoặc tiến sĩ
luật do khi tham dự khóa đào tạo nghề công chứng, Học viện Tư pháp - cơ sở đào
tạo nghề công chứng đã thẩm tra hồ sơ đăng ký tham gia khóa đào tạo, bảo đảm những
người tham dự khóa đào tạo nghề công chứng là người có bằng cử nhân luật hoặc
thạc sĩ luật hoặc tiến sĩ luật theo quy định của khoản 1 Điều 11
Luật Công chứng năm 2024.
Đối với việc xác định người
đề nghị bổ nhiệm công chứng viên tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, trong văn bản
đề nghị bổ nhiệm công chứng viên quy định tại Thông tư số 11/2025/TT-BTP ngày
25/6/2025 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của các
Thông tư thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Tư pháp đã có các mục để người đề nghị bổ
nhiệm kê khai liên quan đến việc chấp hành Hiến pháp và pháp luật (có bị xử lý
kỷ luật, bị xử lý vi phạm hành chính, bị truy cứu trách nhiệm hình sư... hay
không). Trong trường hợp cần thiết thì Sở Tư pháp có thể tiến hành xác minh
tính hợp pháp của hồ sơ theo quy định tại mục I Phụ lục IV Nghị
định số 121/2025/NĐ-CP. Hình thức xác minh do Sở Tư pháp xem xét, quyết định
theo thẩm quyền.
b) Đối với thủ tục
thay đổi nội dung đăng ký hoạt động, không quy định Văn phòng công chứng phải nộp
lại giấy đăng ký hoạt động, nhưng quy định kết quả giải quyết là ghi nhận nội
dung thay đổi vào giấy đăng ký hoạt động của Văn phòng công chứng
Thực hiện chủ trương về cắt
giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, trong quá trình xây dựng Luật Công chứng
năm 2024 và Nghị định số 104/2025/NĐ-CP, các giấy tờ trong hồ sơ thay đổi nội
dung đăng ký hoạt động của Văn phòng công chứng đã được cắt giảm để tạo điều kiện
thuận lợi hơn cho người dân.
Hiện nay, hồ sơ, trình tự,
thủ tục thay đổi nội dung đăng ký hoạt động của Văn phòng công chứng được quy định
tại Điều 21 Nghị định số 104/2025/NĐ-CP, đề nghị Sở Tư pháp
thành phố Hồ Chí Minh nghiên cứu, thực hiện.
4.
Lĩnh vực quản lý và thanh lý tài sản
a) Về thủ tục đăng ký
hành nghề quản tài viên
Khi thực hiện đăng ký
hành nghề Quản tài viên Sở Tư pháp nơi nhận hồ sơ sẽ tra cơ sở dữ liệu về Quản
tài viên để thực hiện đăng ký, không yêu cầu người dân nộp bản sao chứng chỉ
hành nghề Quản tài viên (Việc tra cứu dữ liệu về QTV hiện nay được thực hiện tại
STP nơi QTV đăng ký hộ khẩu thường trú (thường là STP nơi Quản tài viên đề nghị
cấp CCHNQTV) hoặc Danh sách Quản tài viên do Bộ Tư pháp lập, công bố theo quy định.
b) Về thẩm quyền xem
xét, giải quyết thủ tục cấp chứng chỉ hành nghề quản tài viên
- Về thẩm quyền từ chối cấp
chứng chỉ hành nghề QTV: Theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Nghị định
số 112/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định lĩnh vực bổ
trợ tư pháp thì thẩm quyền cấp chứng chỉ hành nghề QTV là Chủ tịch UBND tỉnh,
thành phố, do đó, thẩm quyền từ chối cấp chứng chỉ hành nghề QTV là Chủ tịch
UBND tỉnh, thành phố nếu hồ sơ không hợp lệ hoặc không đủ điều kiện được cấp;
- Về hướng dẫn của STP
trong trường hợp hồ sơ đề nghị cấp CCHNQTV chưa hợp lệ: Về nguyên tắc, cơ quan
tiếp nhận thủ tục hành chính (ban đầu) của cá nhân, tổ chức khi tiếp nhận hồ sơ
có trách nhiệm đối chiếu quy định về thành phần hồ sơ, các điều kiện khác, nếu
thấy hồ sơ chưa hợp lệ thì cơ quan tiếp nhận thủ tục hành hành chính có trách
nhiệm hướng dẫn cho tổ chức, cá nhân bổ sung hồ sơ theo quy định. Khi hồ sơ đã
hợp lệ thì chuyển đơn vị có thẩm quyền thẩm tra hồ sơ. Như vậy, Sở Tư pháp khi
tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp CCHNQTV của cá nhân có trách nhiệm kiểm tra, đối
chiếu hồ sơ, hướng dẫn cá nhân bổ sung, hoàn thiện hồ sơ theo quy định. Khi nhận
đủ hồ sơ hợp lệ thì thực hiện thẩm định, trình UBND tỉnh, thành phố theo quy định,
và thanh lý tài sản.
5.
Lĩnh vực trọng tài thương mại
a) Một số TTHC quy định
cá nhân, tổ chức nộp trực tiếp đến Chủ tịch UBND cấp tỉnh (không quy định việc
nộp hồ sơ cho Sở Tư pháp, không quy định việc Sở Tư pháp trình hồ sơ cho Chủ tịch
UBND thành phố) như thủ tục chấm dứt hoạt động trung tâm trọng tài, chấm dứt hoạt
động Chi nhánh, Văn phòng đại diện của Tổ chức trọng tài nước ngoài tại Việt
Nam trong trường hợp Chi nhánh, Văn phòng đại diện của Tổ chức trọng tài nước
ngoài bị chấm dứt hoạt động theo quyết định của Tổ chức trọng tài nước ngoài hoặc
Tổ chức trọng tài nước ngoài thành lập Chi nhánh, Văn phòng đại diện tại Việt
Nam đã chấm dứt hoạt động ở nước ngoài
Tại mục V,
X Phụ lục II Nghị định số 121/2025/NĐ-CP ngày 11/6/2025 quy định về phân
quyền, phân cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của bộ tư pháp có quy định
trình tự, thủ tục chấm dứt hoạt động trung tâm trọng tài theo điều lệ của trung
tâm trọng, chấm dứt hoạt động của Chi nhánh, Văn phòng đại diện của Tổ chức trọng
tài nước ngoài tại Việt Nam đều quy định trình tự chấm dứt hoạt động theo đó
trong trường hợp chấm dứt hoạt động thì Trung tâm trọng tài, Chi nhánh, Văn
phòng đại diện của Tổ chức trọng tài nước ngoài tại Việt Nam phải thông báo bằng
văn bản về việc chấm dứt hoạt động cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Sở Tư
pháp nơi Trung tâm trọng tài, Chi nhánh, Văn phòng đại diện của Tổ chức trọng
tài nước ngoài tại Việt Nam đặt trụ sở, đây là cơ sở để Sở Tư pháp tiếp tục
tham mưu cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh thực hiện trình tự thủ tục đối với việc chấm
dứt hoạt động của Trung tâm trọng tài, Chi nhánh, Văn phòng đại diện của Tổ chức
trọng tài nước ngoài là tiếp tục tham mưu Chủ tịch UBND cấp tỉnh ban hành Quyết
định về việc chấm dứt hoạt động của Trung tâm trọng tài, Chi nhánh, Văn phòng đại
diện của Tổ chức trọng tài nước ngoài khi các tổ chức này trọng tài nộp báo cáo
hoàn tất việc thanh toán xong các khoản nợ và hoàn tất các vụ việc đã nhận.
b) Đối với thủ tục
thay đổi nội dung Giấy đăng ký hoạt động của Chi nhánh Trung tâm trọng tài khi
thay đổi Trưởng Chi nhánh, địa điểm đặt trụ sở của Chi nhánh trong phạm vi tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương, quy định thành phần hồ sơ không có giấy đăng
ký hoạt động của tổ chức trọng tài thương mại, nhưng kết quả giải quyết là ghi
nhận nội dung thay đổi vào giấy đăng ký hoạt động của tổ chức trọng tài thương
mại
Nhằm thực hiện chủ trương
cắt giảm, đơn giản hóa TTHC được nêu tại Nghị quyết số 66/NQ-CP ngày 26/3/2025 của
Chính phủ về chương trình cắt giảm, đơn giản hóa TTHC liên quan đến hoạt động sản
xuất, kinh doanh năm 2025 và 2026, đối với việc thay đổi nội dung Giấy đăng ký
hoạt động do Sở Tư pháp đã cấp và lưu hồ sơ nên không yêu cầu tổ chức nộp lại.
Sở Tư pháp có thể ban hành văn bản riêng để ghi nhận nội dung thay đổi nội dung
đăng ký hoạt động của Chi nhánh Trung tâm trọng tài.
c) Nghị định số
121/2025/NĐ-CP phân quyền cấp phép thành lập cho tổ chức trọng tài cho Chủ tịch
UBND cấp tỉnh, theo quy định tên của tổ chức trọng tài thương mại không được
trùng tên hoặc gây nhầm lẫn với các tổ chức trọng tài thương mại trong cả nước,
tuy nhiên hiện nay chưa có cơ sở dữ liệu để tra cứu tên gọi của các tổ chức trọng
tài thương mại
Hiện nay Bộ Tư pháp đang
xây dựng cơ sở dữ liệu bổ trợ tư pháp thống nhất trong phạm vi toàn quốc, trong
đó có lĩnh vực trọng tài thương mại, hiện nay số lượng tổ chức trọng tài không
nhiều, cả nước có 54 Trung tâm trọng tài và 01 Văn phòng đại diện của Ủy ban trọng
tài Hàn Quốc đã được Bộ Tư pháp công bố trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ Tư
pháp. Do đó, đề nghị Sở Tư pháp rà soát, tra cứu để thực hiện.
d) Trường hợp tổ chức
trọng tài thương mại được Bộ Tư pháp cấp giấy phép trước ngày 01/7/2025 nhưng
chưa thực hiện thủ tục cấp Đăng ký hoạt động lần đầu tại Sở Tư pháp: theo Nghị
định số 121/2025/NĐ-CP và Quyết định số 1856/QĐ-BTP ngày 23/6/2025 của Bộ Tư
pháp không có thủ tục đăng ký hoạt động (chỉ có thủ tục thành lập, đăng ký hoạt
động Trung tâm trọng tài).
Tại khoản
3 Điều 42 (Điều khoản chuyển tiếp) Nghị định số 121/2025/NĐ-CP có quy định:
“Đối với các hồ sơ đề nghị
thực hiện thủ tục hành chính quy định tại các Điều 7, 8, 31,
32, 33, 34, 35, 36, 37 và 38 của Nghị định
này đã được nộp đến Bộ Tư pháp trước ngày Nghị định này có hiệu lực thì thực hiện
theo quy định tại Nghị định số 63/2011/NĐ-CP.” Như vậy trường hợp Trung tâm trọng
tài được Bộ Tư pháp cấp giấy phép trước ngày 01/7/2025 nhưng chưa thực hiện thủ
tục cấp Đăng ký hoạt động lần đầu tại Sở Tư pháp thì Sở Tư pháp tiếp tục thực
hiện đăng ký cho Trung tâm trọng tài theo Nghị định số 63/2011/NĐ-CP.
6.
Lĩnh vực hòa giải thương mại
Nghị định số
121/2025/NĐ-CP phân quyền cấp phép thành lập cho tổ chức hòa giải cho Chủ tịch
UBND cấp tỉnh, theo quy định tên của tổ chức hòa giải thương mại không được
trùng tên hoặc gây nhầm lẫn với các tổ chức hòa giải thương mại trong cả nước,
tuy nhiên hiện nay chưa có cơ sở dữ liệu để tra cứu tên gọi của các tổ chức hòa
giải thương mại
Hiện nay Bộ Tư pháp đang xây dựng cơ sở dữ liệu bổ
trợ tư pháp thống nhất trong phạm vi toàn quốc, hiện nay số lượng tổ chức hòa
giải thương mại không nhiều, cả nước có 17 Trung tâm hòa giải thương mại đã được
Bộ Tư pháp công bố trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ Tư pháp. Do đó, đề nghị Sở
Tư pháp rà soát, tra cứu để thực hiện.