Kính gửi: Bảo
hiểm Xã hội Việt Nam
Bộ Y tế nhận được Công văn số 3964/BHXH-CSYT ngày
05/11/2024, Công văn số 2354/BHXH-CSYT ngày 15/7/2024 và Công văn số
3993/BHXH-CSYT ngày 07/11/2024 của Bảo hiểm Xã
hội Việt Nam về việc giải quyết một số vướng mắc trong thanh toán chi phí khám
bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế. Sau
khi xem xét, Bộ Y tế có ý kiến như sau:
1. Việc xác định phạm vi hành
nghề của người hành nghề:
Theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh
thì phạm vi hành nghề là nội dung công việc mà người hành nghề được làm, được
thể hiện trong một hoặc các văn bản sau đây:
a) Phạm vi hành nghề trên giấy phép hành nghề;
b) Quyết định điều chỉnh phạm vi hành nghề do cơ
quan có thẩm quyền quy định tại Điều 28 của Luật Khám bệnh, chữa
bệnh cấp;
c) Văn bản cho phép thực hiện kỹ thuật của người chịu
trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định tại
khoản 3 Điều 10 và khoản 3 Điều 125 Nghị định số 96/2023/NĐ-CP.
Trong đó, pháp luật quy định điều kiện để cấp mới, điều
chỉnh hoặc cho phép thực hiện kỹ thuật là văn bản, chứng chỉ, chứng nhận đào tạo
và thẩm quyền cho phép gồm Bộ trưởng Bộ Y tế, Giám đốc Sở Y tế và người chịu
trách nhiệm chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và không có quy định giới
hạn nếu người hành nghề đủ điều kiện, khả năng thực hiện mà chỉ quy định nghiêm
cấm khám bệnh, chữa bệnh không đúng phạm vi hành nghề hoặc phạm vi hoạt động được
cơ quan có thẩm quyền cho phép.
Về một số nội dung cụ thể, Bộ Y tế có ý kiến như
sau:
1.1. Người chịu trách nhiệm chuyên môn của cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh có được quyết định cho phép người hành nghề thực hiện kỹ
thuật thuộc danh mục của chức danh chuyên môn khác không (ví dụ cho phép y sỹ
thực hiện dịch vụ kỹ thuật thuộc danh mục phạm vi hành nghề của điều dưỡng hoặc
bác sỹ hoặc kỹ thuật y):
Trả lời:
Khoản 3 Điều 10 Nghị định số
96/2023/NĐ-CP quy định:
“3. Trường hợp người hành nghề tham gia các khóa
đào tạo và được cấp chứng chỉ đào tạo kỹ thuật chuyên môn theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Nghị định này, chưa có trong phạm vi hành nghề
đã được cấp thì không phải thực hiện thủ tục điều chỉnh phạm vi hành nghề mà
căn cứ chứng nhận đào tạo kỹ thuật chuyên môn theo quy định tại khoản
2 Điều 12 Nghị định này và năng lực thực hiện kỹ thuật chuyên môn của người
hành nghề, người chịu trách nhiệm chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quyết
định việc cho phép người hành nghề thực hiện kỹ thuật đã được đào tạo bằng văn
bản.
Trường hợp người hành nghề được chuyển giao kỹ
thuật đối với kỹ thuật chưa có trong phạm vi hành nghề đã được cấp thì không phải
thực hiện thủ tục điều chỉnh phạm vi hành nghề mà căn cứ chứng nhận đủ năng lực
thực hiện kỹ thuật theo quy định tại điểm c khoản 4 Điều 85 Nghị
định này, người chịu trách nhiệm chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
quyết định việc cho phép người hành nghề thực hiện kỹ thuật đã được chuyển giao
bằng văn bản”.
Do vậy, người chịu trách nhiệm chuyên môn của cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh được quyết định cho phép người hành nghề thực hiện bất kỳ
kỹ thuật nào thuộc danh mục kỹ thuật đã được Bộ Y tế ban hành.
1.2. Các chức danh y sĩ đa khoa, y sĩ y học cổ truyền,
kỹ thuật y, hộ sinh có được “Khám bệnh, chữa bệnh, chỉ định các phương pháp
cận lâm sàng, thực hiện các phương pháp khám bệnh, chữa bệnh, chuyên môn kỹ thuật,
kê đơn thuốc, chỉ định các chế độ chăm sóc, chế độ dinh dưỡng, đánh giá kết quả
khám bệnh, chữa bệnh, tư vấn, giáo dục sức khỏe cho người bệnh theo chức danh
nghề nghiệp” theo danh mục tại phụ lục tương ứng không?
Trả lời:
- Đối với chức danh chuyên môn là y sỹ đa khoa, y sỹ
y học cổ truyền:
Điểm b khoản 1 Điều 10 Thông tư liên
tịch số 10/2015/TTLT-BYT-BNV của Bộ Y tế, Bộ Nội vụ quy định mã số, tiêu
chuẩn chức danh nghề nghiệp bác sĩ, bác sĩ y học dự phòng, y sỹ quy định: “Nhiệm
vụ: Tham gia sơ cứu ban đầu, khám bệnh, chữa bệnh thông thường cho nhân dân tại
trạm y tế và quản lý sức khỏe cộng đồng khu vực phụ trách”.
Khoản 1 và khoản 2 Điều 2 Luật Khám
bệnh, chữa bệnh quy định:
“1. Khám bệnh là việc người hành nghề khám bệnh,
chữa bệnh sử dụng kiến thức, phương pháp, kỹ thuật chuyên môn để đánh giá tình
trạng sức khỏe, nguy cơ đối với sức khỏe và nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người
bệnh.
2. Chữa bệnh là việc người hành nghề khám bệnh,
chữa bệnh sử dụng kiến thức, phương pháp, kỹ thuật chuyên môn để giải quyết
tình trạng bệnh, ngăn ngừa sự xuất hiện, tiến triển của bệnh hoặc đáp ứng nhu cầu
chăm sóc sức khỏe của người bệnh trên cơ sở kết quả khám bệnh.”
Như vậy, người được cấp giấy phép hành nghề (chứng
chỉ hành nghề) với chức danh y sỹ được thực hiện khám bệnh, chữa bệnh, chỉ định
các phương pháp cận lâm sàng, thực hiện các phương pháp khám bệnh, chữa bệnh,
chuyên môn kỹ thuật, kê đơn thuốc, chỉ định các chế độ chăm sóc, chế độ dinh dưỡng,
đánh giá kết quả khám bệnh, chữa bệnh, tư vấn, giáo dục sức khỏe cho người bệnh.
- Đối với chức danh chuyên môn là hộ sinh:
Phạm vi hành nghề của chức danh hộ sinh thực hiện
theo quy định tại Phụ lục số XIII - Danh mục kỹ thuật chuyên môn khám bệnh, chữa
bệnh của người hành nghề chức danh hộ sinh ban hành kèm theo Thông tư số
32/2023/TT-BYT và theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 2 Thông
tư 23/2011/TT-BYT thì “Hộ sinh viên tại các trạm y tế xã khi không có
bác sĩ, y sĩ được chỉ định thuốc cấp cứu trong trường hợp đỡ đẻ”.
Như vậy, người được cấp giấy phép hành nghề (chứng
chỉ hành nghề) với chức danh hộ sinh được thực hiện các công việc theo quy định
tại các văn bản nêu trên.
- Đối với chức danh chuyên môn là kỹ thuật y:
Phạm vi hành nghề của chức danh kỹ thuật y thực hiện
theo quy định tại Phụ lục số XIV - Danh mục kỹ thuật chuyên môn khám bệnh, chữa
bệnh của người hành nghề chức danh kỹ thuật y ban hành kèm theo Thông tư số
32/2023/TT-BYT.
Như vậy, người được cấp giấy phép hành nghề (chứng
chỉ hành nghề) với chức danh kỹ thuật y được thực hiện các công việc theo quy định
tại Thông tư số 32/2023/TT-BYT.
1.3. Tại Phụ lục số VI (danh mục kỹ thuật chuyên
môn khám bệnh, chữa bệnh của người hành nghề chức danh bác sỹ với phạm vi
hành nghề y học cổ truyền” và Phụ lục số VIII (danh mục kỹ thuật chuyên
môn khám bệnh, chữa bệnh của người hành nghề chức danh bác sỹ với phạm vi hành
nghề răng hàm mặt): Không có dịch vụ “Khám bệnh”. Đề nghị Bộ Y tế cho ý kiến
về việc bác sĩ có phạm vi hành nghề y học cổ truyền và răng hàm mặt có được
khám bệnh cho người bệnh và quỹ BHYT có thanh toán tiền khám bệnh khi các bác
sĩ này thực hiện khám bệnh cho người bệnh BHYT.
Trả lời:
Khoản 2 Điều 10 Thông tư số
32/2023/TT-BYT quy định:
“2. Phạm vi hành nghề của người hành nghề bao gồm
việc khám bệnh, chữa bệnh, chỉ định các phương pháp cận lâm sàng, thực hiện các
phương pháp khám bệnh, chữa bệnh, chuyên môn kỹ thuật, kê đơn thuốc, chỉ định
các chế độ chăm sóc, chế độ dinh dưỡng, đánh giá kết quả khám bệnh, chữa bệnh,
tư vấn, giáo dục sức khỏe cho người bệnh theo chức danh nghề nghiệp và quy định
của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định tại Điều 11 Thông tư này
tương ứng với từng chức danh.”.
Như vậy, phạm vi hành nghề bao gồm thực hiện hoạt động
khám bệnh.
1.4. Điều 11 Thông tư số
32/2023/TT-BYT quy định phạm vi hành nghề của người hành nghề theo từng chức
danh được quy định tại các Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư số 32/2023/TT-BYT
tương ứng với từng chức danh nghề nghiệp. Tuy nhiên, tại khoản
2 Điều 10 Thông tư số 32/2023/TT-BYT quy định “Phạm vi hành nghề của người
hành nghề bao gồm việc khám bệnh, chữa bệnh, chỉ định các phương pháp cận
lâm sàng, thực hiện các phương pháp khám bệnh, chữa bệnh, chuyên môn kỹ thuật,
kê đơn thuốc, chỉ định các chế độ chăm sóc, chế độ dinh dưỡng, đánh giá kết quả
khám bệnh, chữa bệnh, tư vấn, giáo dục sức khỏe cho người bệnh theo chức danh
nghề nghiệp và quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định tại Điều
11 Thông tư này tương ứng với từng chức danh”. Như vậy, theo các
quy định nêu trên, người hành nghề trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh cho người
bệnh có được chỉ định các dịch vụ kỹ thuật (bao gồm cả các xét nghiệm cận lâm
sàng, chụp X quang, phẫu thuật, thủ thuật) không có tên trong phụ lục thuộc phạm
vi hành nghề của người hành nghề đó hay không?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 10
Thông tư số 32/2023/TT-BYT quy định “Phạm vi hành nghề của người hành
nghề bao gồm việc khám bệnh, chữa bệnh, chỉ định các phương pháp cận lâm sàng,
thực hiện các phương pháp khám bệnh, chữa bệnh, chuyên môn kỹ thuật, kê đơn thuốc,
chỉ định các chế độ chăm sóc, chế độ dinh dưỡng, đánh giá kết quả khám bệnh, chữa
bệnh, tư vấn, giáo dục sức khỏe cho người bệnh theo chức danh nghề nghiệp và
quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định tại Điều 11 Thông tư
này tương ứng với từng chức danh”. Như vậy người hành nghề được phép chỉ định
các phương pháp cận lâm sàng (bao gồm các kỹ thuật về xét nghiệm, chẩn đoán
hình ảnh, thăm dò chức năng...) để khám bệnh, chữa bệnh.
1.5. Khoản 1 Điều 55 Thông tư số
32/2023/TT-BYT quy định “Trường hợp người hành nghề đã được cấp chứng chỉ
hành nghề (sau đây là giấy phép hành nghề) theo quy định tại Luật khám bệnh, chữa
bệnh số 40/2009/QH12 thì phạm vi hành nghề được áp dụng theo quy định tại Thông
tư này”. Tuy nhiên, một số chức danh nghề đã được cấp chứng chỉ hành nghề
có phạm vi hoạt động chuyên môn chưa được quy định tại Thông tư số
32/2023/TT-BYT nên chưa có căn cứ xác định phạm vi hành nghề của người hành nghề.
Trả lời:
- Bác sỹ đa khoa có phạm vi hành nghề là “khám bệnh,
chữa bệnh đa khoa”: Phạm vi hành nghề của bác sỹ đa khoa tương đương với phạm
vi hành nghề “Y khoa”.
- Bác sỹ có giấy phép hành nghề với phạm vi hành
nghề “khám bệnh, chữa bệnh chuyên khoa Lao”: phạm vi hành nghề của bác sỹ
chuyên khoa quy định tại điểm c khoản 5 Điều 11 Thông tư số
32/2023/TT-BYT: “Bác sỹ chuyên khoa khác: Phạm vi hành nghề khám bệnh,
chữa bệnh quy định tại Phụ lục số V và Phụ lục số IX theo chuyên khoa ban hành
kèm theo Thông tư này”. Như vậy, bác sỹ có giấy phép hành nghề với phạm vi
hành nghề “khám bệnh, chữa bệnh chuyên khoa Lao” có phạm vi bao gồm Y khoa và
chuyên khoa Lao theo phụ lục số IX.
- Bác sỹ được cấp chứng chỉ hành nghề có phạm vi hoạt
động chuyên môn là “khám bệnh, chữa bệnh theo nguyên lý y học gia đình”: theo
quy định tại Điều 3 Thông tư số 21/2019/TT-BYT của Bộ Y tế
hướng dẫn thí điểm về hoạt động y học gia đình, cụ thể như sau:
“Điều 3. Nhiệm vụ của bác sĩ gia đình
Bác sĩ gia đình thực hiện các nhiệm vụ quy định
tại khoản 2 Điều 2 Thông tư này theo phân công của người phụ
trách chuyên môn của cơ sở y học gia đình”.
Như vậy, theo quy định tại Thông tư số
21/2019/TT-BYT, phạm vi hành nghề của bác sỹ y học gia đình thực hiện như sau:
“d) Khám bệnh, chữa bệnh:
- Sơ cứu, cấp cứu;
- Khám sàng lọc, phát hiện sớm bệnh tật, đặc biệt
các bệnh dịch;
- Bệnh mạn tính, bệnh không lây nhiễm;
- Chăm sóc, khám bệnh, chữa bệnh tại nhà đối với
người bệnh theo danh mục quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này;
- Thực hiện các dịch vụ kỹ thuật trong:
+ Các gói dịch vụ y tế cơ bản quy định tại Thông
tư của Bộ trưởng Bộ Y tế;
+ Danh mục kỹ thuật của tuyến 3, tuyến 4 quy định
tại Thông tư của Bộ trưởng Bộ Y tế về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật, danh mục
kỹ thuật;
+ Các kỹ thuật chuyên môn khác, ở tuyến cao hơn
khi đủ điều kiện theo quy định.
Phạm vi hoạt động chuyên môn tối đa của cơ sở y
học gia đình, bác sĩ gia đình bao gồm các dịch vụ, kỹ thuật quy định tại điểm
này. Căn cứ điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân lực thực tế (chứng
chỉ hành nghề, văn bằng chuyên môn, giấy chứng nhận đào tạo về y học gia đình của
người hành nghề) của từng cơ sở y học gia đình, Bộ Y tế, Sở Y tế xác định phạm
vi hoạt động chuyên môn, danh mục kỹ thuật phù hợp đối với từng cơ sở y học gia
đình, phạm vi hoạt động chuyên môn của bác sĩ gia đình thuộc thẩm quyền quản
lý”.
- Y sỹ chuyên khoa khác chuyên khoa y học cổ truyền
(như y sỹ sản nhi; y sỹ răng trẻ em, …): theo quy định tại khoản
1 Điều 10 Thông tư liên tịch số 10/2015/TTLT-BYT-BNV của Bộ Y tế, Bộ Nội vụ
chỉ quy định chức danh “Y sỹ”, không quy định chức danh của y sỹ chuyên khoa
khác. Do vậy, đối với các chức danh y sỹ đã được cấp giấy phép hành nghề chuyên
khoa thì thực hiện theo phạm vi hành nghề đã được cấp phép.
- Kỹ thuật y phục hình răng; kỹ thuật viên gây mê hồi
sức; điều dưỡng nha khoa…:
+ Kỹ thuật y phục hình răng: làm việc tại xưởng
không tiếp xúc người bệnh nên không có danh mục kỹ thuật thực hiện.
+ Kỹ thuật y gây mê hồi sức: thực hiện các kỹ thuật
phần Gây mê hồi sức tại Phụ lục XII Thông tư số 32/2023/TT-BYT và được thực hiện
các kỹ thuật đánh dấu * tại phần Gây mê hồi sức tại Phụ lục XII.
+ Điều dưỡng nha khoa…: thực hiện phạm vi hoạt động
quy định tại Phụ lục XII Thông tư số 32/2023/TT-BYT.
1.6. Khoản 5 Điều 10 Thông tư số
32/2023/TT-BYT quy định nguyên tắc xác định phạm vi hành nghề của người
hành nghề là: “Không phân biệt người hành nghề làm việc ở các cấp chuyên môn
kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh và thời gian hành nghề khám bệnh, chữa bệnh”.
Tuy nhiên, tại điểm b khoản 1 Điều 10 Thông tư liên tịch số
10/2015/TT- BYT-BNV ngày 27/5/2015 của Bộ Y tế và Bộ Nội vụ (vẫn còn hiệu lực
thi hành) quy định nhiệm vụ của chức danh “y sỹ” là “Tham gia sơ cấp cứu ban
đầu, khám bệnh, chữa bệnh thông thường cho nhân dân tại trạm y tế xã và
quản lý sức khỏe cộng đồng khu vực phụ trách” và tại Thông tư số 03/2023/TT-BYT
ngày 17/02/2023 của Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn vị trí việc làm, định mức số lượng
người làm việc, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp trong đơn vị sự
nghiệp y tế công lập, chức danh y sỹ chỉ có trong cơ cấu viên chức theo chức
danh nghề nghiệp tại trạm y tế xã (điểm c khoản 2 Điều 5).
Như vậy, theo quy định tại khoản 5 Điều 10 Thông tư số
32/2023/TT-BYT thì y sỹ có được khám bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh không phải là trạm y tế xã hay không?
Theo quy định tại khoản 5 Điều 10
Thông tư số 32/2023/TT-BYT nguyên tắc xác định phạm vi hành nghề của người
hành nghề là: “Không phân biệt người hành nghề làm việc ở các cấp chuyên môn
kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh và thời gian hành nghề khám bệnh, chữa bệnh”.
Trả lời:
Pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh không quy định về
việc y sỹ có được khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở nào mà chỉ quy định muốn hành
nghề khám bệnh, chữa bệnh thì phải có giấy phép hành nghề (chứng chỉ hành nghề)
và phải đăng ký hành nghề, trừ một số trường hợp theo quy định của pháp luật.
1.7. Khoản 4 Điều 2 Nghị định số
96/2023/NĐ-CP quy định “Thay đổi chức danh chuyên môn là việc người hành
nghề đề nghị được chuyển từ chức danh chuyên môn này sang chức danh chuyên môn
khác khi đáp ứng đủ các điều kiện và không tiếp tục hành nghề theo chức danh
chuyên môn đã được cơ quan có thẩm quyền cấp trước đó” và tại điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị định số 96/2023/NĐ-CP quy định cấp
mới giấy phép hành nghề khi “Người hành nghề thay đổi chức danh chuyên môn
đã được ghi trên giấy phép hành nghề quy định tại điểm b khoản
1 Điều 30 của Luật khám bệnh, chữa bệnh”.
Thực tế, một số người hành nghề có chứng chỉ hành
nghề cấp trước ngày 01/01/2024 được cấp có thẩm quyền ra quyết định bổ sung phạm
vi chuyên môn mà không cấp mới chứng chỉ hành nghề: Trên chứng chỉ hành nghề của
người hành nghề, mục văn bằng chuyên môn ghi “Điều dưỡng”, mục phạm vi
hoạt động chuyên môn ghi “Thực hiện phạm vi hoạt động chuyên môn theo quy định
tại Thông tư số 26/2015/TT-BYT-BNV ngày 07/10/2015 quy định mã số, tiêu chuẩn
chức danh nghề nghiệp điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật y”, người hành nghề này
có quyết định bổ sung phạm vi chuyên môn với chức danh “y sĩ” và phạm vi chuyên
môn là “khám bệnh, chữa bệnh thông thường tại tuyến xã”. Như vậy, hiện nay người
hành nghề này có được thực hiện đồng thời các phạm vi hoạt động chuyên môn được
ghi trên chứng chỉ hành nghề và quyết định bổ sung phạm vi chuyên môn hay
không?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 4 Điều 2
Nghị định số 96/2023/NĐ-CP “4. Thay đổi chức danh chuyên môn là việc người
hành nghề đề nghị được chuyển từ chức danh chuyên môn này sang chức danh chuyên
môn khác khi đáp ứng đủ các điều kiện và không tiếp tục hành nghề theo chức
danh chuyên môn đã được cơ quan có thẩm quyền cấp trước đó”. Do vậy, người
hành nghề chỉ được đăng ký hành nghề với một chức danh chuyên môn đã được xác định
trong danh sách đăng ký hành nghề.
1.8. Về danh mục và đối tượng thực hiện các kỹ thuật
tại Phụ lục số XII ban hành kèm theo Thông tư số 32/2023/TT-BYT
- Nhiều kỹ thuật đánh dấu “*” được thực hiện bởi
các bác sỹ còn điều dưỡng chỉ là người phụ giúp bác sỹ thực hiện kỹ thuật mà
không phải người thực hiện kỹ thuật độc lập. Vậy điều dưỡng là người phụ giúp
các bác sỹ thực hiện kỹ thuật này có thuộc đối tượng mà Thông tư quy định phải
là điều dưỡng đại học hoặc có chứng chỉ chuyên khoa hay không? Thực tế, trong
các trường đào tạo điều dưỡng ở bất kì trình độ nào cũng đều học các quy trình
phụ giúp bác sỹ thực hiện các thủ thuật nên đủ khả năng và đảm bảo các điều kiện
tham gia thực hiện các thủ thuật đó: Việc điều dưỡng phụ giúp các bác sỹ thực
hiện kỹ thuật đánh dấu “*” không quy định trình độ đào tạo hoặc có chứng chỉ
chuyên khoa. Trình độ đào tạo hoặc chứng chỉ đào tạo của điều dưỡng chỉ áp dụng
với các kỹ thuật đánh dấu “*” do điều dưỡng thực hiện độc lập (do bác sỹ hoặc điều
dưỡng chỉ định).
- Trong danh mục kỹ thuật của chuyên ngành Phục hồi
chức năng có một số kỹ thuật được quy định trong Phụ lục số XII còn phần lớn được
quy định trong Phụ lục số XIV (Danh mục kỹ thuật chuyên môn khám bệnh, chữa bệnh
của người hành nghề có chức danh kỹ thuật y). Vậy những điều dưỡng có chứng chỉ
đại học có chứng chỉ đào tạo về chuyên ngành phục hồi chức năng có được thực hiện
các kỹ thuật quy định tại Phụ lục XIV hay không?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 3 Điều 125
Nghị định số 96/NĐ-CP: Trường hợp người hành nghề tham gia các khóa đào
tạo và được cấp chứng chỉ đào tạo kỹ thuật chuyên môn theo quy định tại khoản 3 Điều 128 Nghị định này hoặc chứng chỉ hoặc giấy chứng
nhận (bao gồm cả các chứng chỉ, giấy chứng nhận được cấp trước ngày 01 tháng 01
năm 2024) chưa có trong phạm vi hành nghề đã được cấp thì không phải thực hiện
thủ tục điều chỉnh phạm vi hành nghề mà căn cứ chứng nhận đào tạo kỹ thuật
chuyên môn do cơ sở đào tạo hợp pháp cấp và năng lực thực hiện kỹ thuật chuyên
môn của người hành nghề, người chịu trách nhiệm chuyên môn của cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh quyết định việc cho phép người hành nghề thực hiện kỹ thuật đã được
đào tạo bằng văn bản.
Trường hợp người hành nghề được chuyển giao kỹ
thuật đối với kỹ thuật chưa có trong phạm vi hành nghề đã được cấp thì không phải
thực hiện thủ tục điều chỉnh phạm vi hành nghề mà căn cứ chứng nhận đủ năng lực
thực hiện kỹ thuật theo quy định tại điểm c khoản 4 Điều 85 Nghị
định này, người chịu trách nhiệm chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
quyết định việc cho phép người hành nghề thực hiện kỹ thuật đã được chuyển giao
bằng văn bản”.
Do vậy, những điều dưỡng có văn bằng đại học có chứng
chỉ đào tạo về chuyên ngành phục hồi chức năng được thực hiện các kỹ thuật quy
định tại Phụ lục XIV Thông tư số 32/2023/TT-BYT nếu được người phụ trách chuyên
môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có văn bản cho phép thực hiện.
- Ngoài ra, đối với các dịch vụ kỹ thuật như Nội
soi, siêu âm, phẫu thuật… bác sỹ là người thực hiện chính, điều dưỡng chỉ là
người phụ giúp, đồng thời các dịch vụ này không có tên trong danh sách kỹ thuật
quy định tại Phụ lục số XII. Tuy nhiên, việc mã hoá dữ liệu Người thực hiện tại
Bảng 3 Chỉ tiêu chi tiết dịch vụ kỹ thuật và vật tư y tế của Quyết định
130/QĐ-BYT và Quyết định số 4750/2023/QĐ-BYT có quy định: “Ghi mã nhân viên
y tế thực hiện dịch vụ kỹ thuật (là mã định danh y tế của nhân viên y tế). Trường
hợp có nhiều nhân viên y tế cùng thực hiện thì ghi mã định danh y tế của các
nhân viên y tế, cách nhau bằng dấu chấm phẩy “;””. Vậy trong trường hợp này
có cần phải có tên điều dưỡng trong ekip thực hiện cần mã hoá dữ liệu hay
không?
Trả lời:
Đề nghị ghi mã nhân viên y tế thực hiện dịch vụ kỹ
thuật (là mã định danh y tế của nhân viên y tế). Trường hợp có nhiều nhân viên
y tế cùng thực hiện thì ghi mã định danh y tế của các nhân viên y tế, cách nhau
bằng dấu chấm phẩy .
2. Về việc thanh toán một số dịch
vụ kỹ thuật do điều dưỡng hạng 4 thực hiện trước ngày 01/01/2024: Điều 7 Thông tư số 35/2019/TT-BYT ngày 30/12/2019 của Bộ Y tế
quy định phạm vi hoạt động chuyên môn đối với người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh
đã quy định phạm vi hoạt động chuyên môn của điều dưỡng: “Người hành nghề là
điều dưỡng viên, hộ sinh viên, kỹ thuật viên được thực hiện phạm vi hoạt động
chuyên môn tương ứng quy định tại Thông tư số 26/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 07
tháng 10 năm 2015 của Bộ Y tế và Bộ Nội vụ Quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh
nghề nghiệp điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật y”.
Tại khoản 1 Điều 6 Thông tư liên tịch
số 26/2015/TTLT-BYT-BNV, nhiệm vụ của điều dưỡng hạng 4 không quy định thực
hiện các dịch vụ kỹ thuật điều trị cho người bệnh. Do đó, không có căn cứ để
phân công Điều dưỡng hạng 4 thực hiện các dịch vụ kỹ thuật điều trị cho người bệnh
như quy định tại khoản 1 Điều 11 Nghị định số 155/2018/NĐ-CP
ngày 12/11/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến điều
kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Y tế. Nội dung
này, tại mục 4.2 khoản 4 Công văn số 129/BYT-KCB ngày
10/01/2024 của Bộ Y tế đã nêu: “Trong thời gian chờ các quy định mới nêu
trên (mục 3.1; 3.2) Bộ Y tế có văn bản chỉ đạo các cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh không phân công điều dưỡng hạng IV thực hiện các kỹ thuật
phục hồi chức năng”. Vì vậy, không có cơ sở để cơ quan BHXH thanh toán chi
phí các dịch vụ kỹ thuật do điều dưỡng hạng IV thực hiện như đề nghị của Bộ Y tế
tại Công văn số 3300/BYT-KCB.
Trả lời:
Pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh không quy định việc
áp dụng hạng điều dưỡng trong khám bệnh, chữa bệnh mà chỉ quy định người cung cấp
dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh phải đáp ứng đủ điều kiện theo quy định. Do vậy
người được giấy phép hành nghề (chứng chỉ hành nghề) với chức danh điều dưỡng
được phép thực hiện khám bệnh, chữa bệnh theo phạm vi hành nghề được cấp có thẩm
quyền phê duyệt.
Công văn này thay thế hướng dẫn tại mục
4.2 khoản 4 Công văn số 129/BYT-KCB ngày 10/01/2024.
Trên đây là ý kiến của Bộ Y tế để Bảo hiểm Xã hội
Việt Nam được biết và thực hiện.
|
Nơi nhận:
- Như trên;
- Bộ trưởng (để báo cáo);
- Bộ Tài chính (để biết);
- Lưu: VT, KCB.
|
KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Trần Văn Thuấn
|