TIÊU CHUẨN VIỆT
NAM
TCVN
7538-3 : 2005
ISO
10381-3 : 2001
CHẤT
LƯỢNG ĐẤT - LẤY MẪU - PHẦN 3: HƯỚNG DẪN AN TOÀN
Soil quality
- Sampling - Part 3: Guidance on safety
Lời nói đầu
TCVN 7538-3 : 2005 hoàn toàn tương
đương với ISO 10381-3 : 2001.
TCVN 7538-3 : 2005 do Ban kĩ thuật
Tiêu chuẩn TCVN / TC 190 “Chất lượng đất” biên soạn, Tổng
cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng đề nghị, Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành.
TCVN 7538 gồm các tiêu chuẩn sau, với tên chung Chất
lượng đất - Lấy mẫu
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
TCVN 7538-3 : 2005 (ISO 10381-3: 2001)
Phần 3: Hướng dẫn
an toàn
TCVN 5960 : 1995 (ISO 10381-6: 1993)
Hướng dẫn về thu thập, vận chuyển và lưu giữ mẫu đất để đánh giá các quá trình
hoạt động của vi sinh vật hiếu khí tại phòng thí nghiệm.
Bộ tiêu chuẩn ISO 10381 còn các tiêu
chuẩn sau:
ISO 10381-1 : 2002 Soil quality -
Sampling - Part 1: Guidance on the design of sampling programmes.
ISO 10381-4 : 2003 Soil quality -
Sampling - Part 4: Guidance on the procedure for investigation of natural,
near-natural and cultivated sites.
ISO 10381-5 : 2005 Soil quality -
Sampling - Part 5: Guidance on procedure for the investigation of urban
and industrial sites vvith regard to soil contamination.
ISO 10381-7 : 2005 Soil quality -
Sampling - Part 7: Guidance on sampling of soil gas.
ISO 10381-8, Soil quality - Sampling -
Part 8: Guidance on the
sampling of stockplies
Lời giới thiệu
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
CHẤT LƯỢNG ĐẤT
- LẤY MẪU - PHẦN 3:
HƯỚNG DẪN AN TOÀN
Soil quality
- Sampling - Part 3: Guidance on safety
1. Phạm vi áp dụng
Tiêu chuẩn này đưa ra hướng dẫn vể mối
nguy hại tồn tại trong điều tra nghiên cứu và lấy mẫu đất và các vật liệu khác,
bao gồm mối nguy hại sẵn có trong quá trình lấy mẫu nhất là ở nơi bị ô nhiễm và
các nguy hại vật lý khác, cần lưu ý để hạn chế và giảm thiểu rủi ro
khi lấy mẫu hoặc ở nơi điều tra nghiên cứu.
Tiêu chuẩn này đưa ra hướng dẫn về mối
nguy hại có thể gặp ở nơi điều tra nghiên cứu.
- Khái quát;
- Trên đất nông nghiệp;
- Trên đất bị nhiễm bẩn;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
và những chỉ dẫn các hoạt động làm
tăng rủi ro. Sau đó mô tả quy
trình đã được chấp nhận để kiểm soát các rủi ro này.
Tiêu chuẩn này đề cập đến vấn
đề an toàn trong lấy mẫu và trong điều tra nghiên cứu mà không đưa ra những hướng
dẫn cho những tình huống khác như xây dựng.
CHÚ THÍCH: Những nơi trước đây dùng để
sản xuất đạn và
dụng cụ chiến tranh tạo nên vấn đề đặc biệt đối với người điều
tra nghiên cứu và những người liên quan khi lấy mẫu ở những địa điểm
đó. Hướng
dẫn ở tiêu
chuẩn
sẽ hỗ trợ cho những tình huống
này, nhưng hướng dẫn bổ sung về những biện pháp phòng ngừa phải nhận được từ những
chuyên gia chịu
trách nhiệm về những hoạt động trước đây ở những địa điểm này.
2. Thủ tục đầu tiên
Những hoạt động thường ngày đều ẩn
chứa một yếu tố rủi ro và rủi ro này sẽ tăng lên trong môi trường lạ. Ngay khi lấy
mẫu ở vùng nông
nghiệp, người lấy mẫu cũng gặp phải những rủi ro bởi bản chất của
đất và những mối
nguy hại có thể có là chưa biết.
Khi nghiên cứu nơi bị nhiễm bẩn, rủi
ro tăng lên do sự có mặt của hóa chất, các hợp chất và tác nhân có hại cho sức
khỏe con người. Khi nghiên cứu những nơi trước đây sản xuất công nghiệp, nguy
cơ thương tích vật lý có thể tăng lên do có thể có những hầm hố dưới lòng đất
chưa được lấp đầy. Hầm có thể tồn tại khi đốt nhiên liệu dưới đất (ví dụ bãi rác thải khi
đốt than).
Thương tích vật lý có thể xảy ra ở bất
cứ tình huống lấy mẫu nào khi sử dụng máy móc; Các mối nguy hại này cũng xảy ra
khi lấy mẫu đất nông nghiệp và những vùng bị nhiễm bẩn. Thương tích sẽ nặng hơn
ở những nơi có
máy móc lớn hơn và địa điểm điều tra nghiên cứu rộng hơn, và ngay những vết
thương nhẹ cũng là con đường để chất độc và tác nhân gây bệnh đi vào cơ thể.
Cần chú ý an toàn khi đến khảo sát vị
trí nghiên cứu trước khi bắt đầu điều tra nghiên cứu đầy đủ, nhất là những
nguy hại tiềm ẩn còn chưa xác định được.
Đối tượng chính của hướng dẫn an toàn
này là:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
b) Chỉ rõ quy trình quản lý an toàn công
việc và xử lý tình huống thích hợp
trong trường hợp xảy ra sự cố.
c) Chỉ rõ biện pháp an toàn để bảo vệ con
người và làm sạch các phương tiện để giảm thiểu nguy hại và
d) Chỉ rõ cần chọn quy trình làm việc nào
để giảm thiểu nguy hại từ chất nhiễm bẩn và nguy hại vật lý liên quan đến lấy mẫu
và sử dụng máy
3. Khái niệm về mối
nguy hại, rủi ro và an toàn
Không thể xác định mọi mối nguy hại xuất
hiện ở nơi làm việc và cũng không thể đưa ra hướng dẫn về rủi ro trong mọi tình
huống. An toàn phụ thuộc vào thái độ và sự tiếp cận với mỗi tình huống mà mối nguy hại sẽ
được phát hiện, đánh giá và những chú ý cần phải có.
Những người chịu trách nhiệm,
lâp kế hoạch, thanh tra, nhân viên và tất cả những người tiến hành công việc đều
chịu trách nhiệm về an toàn. Trách nhiệm này không chỉ đối với người
làm việc mà còn liên quan đến cộng đồng nói chung, người có thể sống hoặc làm việc gần địa
điểm điều tra nghiên cứu hoặc được phép hay không được phép đi vào địa điểm điều
tra nghiên cứu khi đang tiến hành công việc.
Hướng dẫn trong tiêu chuẩn này phải được
áp dụng cùng với các quy định về pháp luật của quốc gia và quốc tế về sức khỏe và
an toàn khi làm việc.
Nói chung, để đạt được điều kiện làm
việc an toàn đòi hỏi các tổ chức tuyển dụng chấp nhận “chính sách" và vận
hành hoạt động sẽ yêu cầu và cho phép.
- Xác định độc hại và đánh giá rủi ro.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Nếu không, cần kiểm soát rủi ro thông qua các
quy trình vận hành thích hợp và
- Nếu không, cần bảo vệ con người khỏi những rủi
ro khó tránh khỏi.
Nếu cần thì đào tạo, ghi chép các quy
trình đã được thừa nhận và những tai nạn. Nếu có thể, cần thiết lập mạng lưới
giám sát sức khỏe và các chương trình kiểm soát.
Bằng những cách này có thể giảm rủi ro
đến mức tối thiểu chấp nhận được.
Để giảm rủi ro và xác định quy trình
quản lý cần phải:
- Xác định mối nguy hại,
- Xác định trong hoàn cảnh nào độc hại có thể
gây rủi ro,
- Định lượng rủi ro hiện có.
Đối với những vùng bị nhiễm bẩn, phải
nghiên cứu tài liệu khi xác định mối nguy hại từ ô nhiễm và những điều kiện vật
lý.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
4.1. Khái quát
Điều này đề cập đến mối nguy hại tồn tại
ở địa điểm có thể ảnh hưởng tới người điều tra nghiên cứu.
Có nhiều loại nguy hại đã được xác định
trong những hoàn cảnh khác nhau. Những mối nguy hại này gây hàng loạt hiệu ứng,
từ dị ứng da, các tổn thương vật lý đơn giản cho đến những ảnh hưởng, gây tử
vong. Khi thiết lập quy trình an toàn thích hợp không những phải xem xét mối nguy
hại mà còn phải biết mối nguy hại xảy ra với người điều tra nghiên cứu và lấy mẫu
như thế nào. Trong phần lớn trường
hợp, mối nguy hại là do hiệu ứng độc cấp tính nhưng với người điều tra nghiên cứu và lấy mẫu thường xuyên cũng có thể
là độc mãn tính.
4.2. Nhiễm độc do tiếp xúc
Tiếp xúc trực tiếp với hóa chất như
các dung môi clo hóa, benzen,
hắc ín, dầu và mỡ,
phenol, crom (VI), thuốc bảo vệ thực vật (ví dụ thuốc trừ sâu, trừ cỏ,
trừ nấm) và nhiều chất khác có thể gây hiệu ứng với con người. Những hiệu ứng
này có thể là nấm ngứa da và nếu sự hấp phụ xảy ra có thể có nhiều hiệu ứng
nghiêm trọng khác.
Một số hóa chất tiềm ẩn gây ung thư
qua tiếp xúc với da.
Tẩy nhờn da làm giảm khả năng hấp thụ các hợp chất ngăn ngừa sự
lây nhiễm.
Một vài hoá chất có thể bị
nấp thụ qua da và gây hại nếu tiếp xúc lâu dài hoặc với nồng độ đủ lớn. Nếu da bị
rách hoặc trầy xước, hấp
phụ dễ xảy ra và dễ
bị nhiễm khuẩn, ví dụ như uốn ván, mưng mủ. Bệnh Weih có thể truyền qua
chỗ da bị rách, nhưng
loại vi khuẩn Leptospira có thể thấm sâu qua da nếu da bị ngâm lâu trong nước.
Mắt có thể bị đau khi tiếp
xúc với ánh sáng quá mạnh trong khi làm việc với chất lỏng hoặc vật liệu ướt, và khi tiếp
xúc với tay bẩn, găng và quần áo. Mắt cũng bị đau khi bị kích thích và có thể
loại trừ bằng cách tắm, nhưng những vật làm trầy xước và dung môi có thể gây hỏng
vĩnh viễn.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Chất ô nhiễm từ nơi lấy mẫu
có thể vào cơ thể qua đường ăn, hút thuốc, uống nước hoặc lau mặt không cẩn thận
bằng tay hoặc găng bị nhiễm bụi bẩn chất ô nhiễm.
Vì các niêm mạc này nhạy cảm hơn da
nên chất ô nhiễm ở mức
thấp cũng gây nên các tác hại đáng kể. Nếu vô ý nuốt phải chất ô nhiễm thì dạ
dày sẽ khó chịu và các triệu chứng khác sẽ xuất hiện. Cũng có thể quá trình
tiêu hóa sẽ đẩy nhanh sự hấp thụ chất độc và gây ra các tác hại lâu dài.
4.4. Nhiễm độc qua đường hô hấp
Khí và hơi độc có thể gây nhiều hiệu ứng,
từ đau đầu cho đến tử vong, mức độ độc hại phụ thuộc vào độc tính của hóa chất
và thời gian tiếp xúc. Cacbon dioxyt và hydro sunfua đều gây ra các hiệu
ứng trên. Các dung môi và hợp chất tương tự có thể gây hiệu ứng buồn ngủ.
Hiệu ứng tạo nên do một vài chất tăng
lên khi hút thuốc lá, vì sức nóng của thuốc lá có thể là nguyên nhân tạo ra những
chất độc hơn khói thuốc, ví dụ hơi của dung môi clo hóa chuyển thành cacbonyl
clorua (COCI2 phosgen) nhờ nhiệt của điều thuốc lá.
Sự tiếp xúc có thể xảy ra khi hít phải
bụi, sợi và khói. Bụi có thể gây nhiều tác hại khác nhau. Ví dụ silic và amiăng
là trơ về hóa học nhưng rất nguy hiểm nếu hít phải. Những bụi khác chứa
hydrocacbon đa vòng hoặc dioxin có thể gây ung thư, trong khi những hóa chất
khác có thể gây độc.
Nhiễm độc do hít thở tăng lên trong
quá trình lấy mẫu (ví dụ hít phải khói xả hoặc bụi khi khoan bê tông) hơn là do
chất ô nhiễm ở nơi lấy mẫu.
Hiệu ứng do hít thở là khác
nhau, đối với một vài chất, hiệu ứng xuất hiện ngay, một vài chất khác gây hiệu
ứng lâu dài, đòi hỏi thời gian hồi phục lâu hơn.
4.5. Tiếp xúc với mối nguy
hại vật lý
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Trong khi điều tra nghiên cứu không được xuống
những phẫu diện như
các giếng thử, nhưng nếu
bắt
buộc xuống thì phải chú ý khả năng sập giếng. Mối nguy hại này sẽ trở nên
nghiêm trọng nếu giếng đào sâu hơn 1,2 m.
Phẫu diện cũng nguy hiểm cho người ở ngay mặt đất
nếu nền độ không ổn định,
có thể sập đổ xuống đáy phẫu diện, nguy hiểm tăng lên cùng với độ sâu và độ
không ổn định của đất.
4.6. Tiếp xúc với lửa và
chất nổ
Lửa ngầm rất nguy hiểm do
trong hầm ngầm có thể tạo ra khí độc như cacbon dioxyt và cacbon monoxyt.
Những chất dễ cháy và khí nổ ở những
nơi như bãi san lấp, hầm nhiên liệu dưới lòng đất có thể gây ra mối nguy hại nếu
vô ý để gây lửa.
Dùng chất nổ chỉ trong trường hợp cần
thiết khi nền đất quá cứng (ví dụ vùng băng giá).
Bom, mìn chưa nổ còn sót lại từ thời
chiến tranh cũng có thể gây mối nguy hại. Mối nguy hại do nổ bom đạn thường xảy
ra ở nơi đã được
dùng để sản xuất và xử lý chất nổ và đạn dược.
5. Mối nguy hại tiềm ẩn
tại nơi lấy mẫu và địa điểm điều tra nghiên cứu
5.1. Khái quát
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Tiêu chuẩn này không nói đến mối nguy
hại xuất hiện hàng ngày như dùng dụng
cụ sắc để đào (như dĩa) hoặc mối nguy hại khi đi đến nơi làm việc. Có thể cho rằng
những mối nguy hại như vậy có thể được người điều tra nghiên cứu và lấy mẫu giải
quyết thỏa đáng.
5.2. Mối nguy hại
chung
5.2.1. Mối nguy hại do hóa
chất rắn và lỏng
Những hóa chất này có thể nhìn thấy rõ
(như trong trường hợp hóa chất còn sót lại ở khu công nghiệp trước đây) hoặc không nhìn
thấy (như hóa chất bảo vệ thực vật ngoài cánh đồng). Khi đề ra phương
pháp an toàn cho điều tra nghiên cứu và lấy mẫu, cả hai trường hợp này đều phải
được xem xét và chú ý đến.
Mối nguy hại có thể do tiếp xúc ở những chỗ hở của quần áo
bảo hộ hoặc truyền qua tay nếu tạo thành bụi, có thể bị hít phải. Khi điều kiện
ẩm ướt hoặc có chất lỏng, cần tránh bị bắn vào người.
5.2.2. Mối nguy hại do khí
Vi đa số các điểm điều tra nghiên cứu
là ở ngoài trời nên nồng độ các khí độc đều được pha loãng vào không khí. Tuy vậy
có những trường
hợp
người khoan bị kiệt sức vì khói xả
và phải đưa đến bệnh viện, do vậy cần chú ý khi đánh giá mối nguy hại tiềm ẩn.
Trong những trường hợp đặc biệt (khi có phân
hủy yếm khí và sinh ra khí metan như ở nơi san lấp), sự pha loãng
khí bởi không khí có thể làm nồng
độ metan đạt ngưỡng nổ.
Trong những trường hợp khác, mặc dầu sự
pha loãng trong không khí không đạt đến nồng độ độc hại nhưng ở nồng
độ thấp của các
khí cũng gây ra những triệu chứng như nhức đầu, chảy nước mắt.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Khói xả của những động cơ đốt trong có
thể gây độc hại.
Khi điều tra nghiên cứu yêu cầu phải
xuống hố sâu hoặc nơi không thoáng, khả năng tạo khí nổ hoặc khí độc, tạo bầu
không khí thiếu oxy là
có thể xảy ra. Không khí thiếu oxy, thậm chí là chỉ thiếu một lượng nhỏ (1%)
cũng có thể gây tử vong.
5.2.3. Mối nguy hại do
nguyên nhân sinh học (vi khuẩn và virus)
Mặc dầu tai nạn do nguyên nhân sinh học
rất ít xảy ra, nhưng bệnh tật do vi khuẩn và virus thì rất nhiều. Những bệnh
này đôi khi không nguy hiểm và thường không dính dáng đến công việc. Vì vi khuẩn
phân bố rộng nên cần xem chúng như độc hại và cần chú ý để ngừa những tác hại
do chúng gây nên.
Một vài mối nguy hại do
sinh học không phải là đặc tính vùng (ví dụ bệnh uốn ván, thương hàn và bệnh
Weil) và yêu cầu phải chú ý.
Bệnh Weil (bệnh vàng da do vi khuẩn
Leptospira) sinh ra do tiếp xúc với nước bị nhiễm nước tiểu của chuột (xem
4.2). Do vậy, mỗi nguồn nước ở ngoài nhà đều có thể là nguồn gây độc nếu vùng
này có nhiều chuột sinh sống, ví dụ như bãi chôn lấp. Nhiễm Leptospira gây tử
vong nếu không được phát hiện sớm.
Nơi có mầm mống bệnh than
cũng gây nguy hiểm (xem 5.3.4).
5.2.4. Mối nguy hại do phóng
xạ
Mối nguy hại do phóng xạ thường không
lớn ở những địa điểm điều tra nghiên cứu và lấy mẫu thông thường. Mối nguy hại
do phóng xạ từ những hoạt động trước đó phải được xác định khi nghiên cứu tài
liệu. Ở mọi địa điểm điều tra nghiên cứu, sự tiếp xúc nhất thời phải đảm bảo ở liều bức xạ
không gây nguy hại nhưng vẫn phải phòng ngừa và giám sát chặt chẽ
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Mối nguy hại vật lý là một phần của đời sống
hàng ngày. Tuy nhiên, người điều tra nghiên cứu lấy mẫu ở những nơi không
quen thuộc địa hình thì các mối nguy hại này có thể gây những nguy hiểm thực sự.
Trong một số trường hợp chúng có thể đe dọa đời sống, và chỉ gây thương tích
như bong gân hoặc gãy xương.
Nền đất có thể gập ghềnh như có ổ gà bị che khuất bởi
cây cỏ, ở những nơi bị
bỏ hoang, các thanh rào hoặc mảnh vỡ có thể gây vấp ngã. Mảnh thủy tinh có thể gây nguy hiểm nếu dẫm phải
chúng.
Các phẫu diện có thể là mối nguy hại do
thành
không
vững có thể bị sập hoặc ở nơi đất không bền, bị cây che lấp
không nhìn thấy rõ hoặc nắp đậy không chịu được trọng lượng người, thí dụ hố tạo
nên khi đốt nhiên liệu
dưới đất.
Dây điện ở trên cao
cũng gây nguy hại, nhất là khi khảo sát dùng sào và dùng máy móc có chiều cao (máy
đào có gầu gập: máy khoan) có thể gây chập điện hoặc bị điện giật chết.
Thiết bị ngầm dưới đất cũng gây nguy hại
nhất là thiết bị điện có thể giật chết người.
5.2.6. Mối nguy hại do máy
móc
Bất cứ máy móc nào cũng có thể gây
nguy hại nếu không vận hành cẩn thận và tuân theo hướng dẫn của nhà sản xuất và
các quy định về an toàn. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, các khía cạnh này
không được quan tâm và đánh giá đầy đủ.
Khi thiết lập vị trí lấy mẫu ở chỗ cần
phá vỡ bê tông, sự phá bê tông có thể
tạo ra những mảnh vụn bay tung toe.
Tiếng ồn của máy móc cũng có thể là mối
nguy hại, đặc biệt khi dùng máy khoan phá bê tông, dùng máy nặng hoặc chất nổ.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Máy móc phải luôn vận hành theo đúng
cách. Đối với những máy lớn, điều quan trọng là người điều tra nghiên cứu không
được đứng ở vị trí máy có thể va chạm khi đang vận hành hoặc đứng quá gần hoặc
đang tiến hành công việc mà người lái không nhìn thấy. Những người không được
đào tạo không bao giờ được vận hành những máy móc như vậy.
Đối với tất cả các máy, đặc biệt là những
máy móc lớn, cần chú ý khi di chuyển vị trí để đảm bảo nền đất không bị
sụt dưới sức nặng của máy. Điều này đặc biệt quan trọng ở những nơi có cây cối
dày đặc và những nơi có khoảng trống ngầm (chỗ đất lún, hầm nhiên liệu cũ).
Máy móc bị sa lầy có thể gây nguy hại
do chuyển động đột ngột khi máy được giải phóng.
Các máy móc dùng động cơ đốt trong có
thể là mối nguy hại do phát thải khí xả.
Máy móc chạy điện có thể gây nguy hại do dò điện
xuống đất hoặc chập mạch điện.
Dùng máy đào tại chỗ điều tra nghiên cứu
có thể gây nguy hại cho công việc và nguy hiểm cho người vận hành và người điều
tra nghiên cứu.
5.3. Những mối nguy hại
đặc thù ở đất nông nghiệp
5.3.1. Khái quát
Mối nguy hại có thể xuất hiện ở nông
trại và những thiết
bị nông nghiệp do máy móc, súc vật, kho chứa hóa chất, kho chứa vật liệu sản xuất,
các phương tiện như hố để thức ăn gia súc, địa điểm chứa xi măng, hố nước mặn.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Hóa chất được dùng rộng rãi
trong nông nghièp do nhiều
lý do
và cũng có nhiều phương pháp
dùng. Hóa chất được dùng bao gồm phân bón. ví dụ amoni nitrat, vôi, phân bón,
các chất khoáng nhằm tăng
kim loại vết, hóa
chất bảo
vệ thực vật
(ví dụ thuốc trừ sâu, trừ cỏ, trừ nấm), các chất thải hữu cơ.
Hoá chất có thể được bón trực tiếp vào
lòng đất, rải trên mặt đất, phun trên bề mặt bằng máy hoặc máy bay.
Khi hóa chất được dùng trực tiếp, có
thể xảy ra trường hợp dùng quá mức do máy dừng hoặc do máy hỏng và là nguyên
nhân làm tăng nồng độ hóa chất và tăng mối nguy hại. Mối nguy hại này không xảy
ra khi phun trên không nhưng có thể xảy ra khi dùng máy phun.
Lượng hóa chất có thể gây nguy hại phụ thuộc vào
bản chất của hóa chất, các chất hữu cơ (kể cả hóa chất bảo vệ thực vật) gây
nguy hại nhiều nhất và các chất khoáng gây nguy hại ít hơn.
Những vùng sử dụng hóa chất lặp lại
nhiều lần có thể xảy ra sự tích lũy hóa chất, nhất là đối với các chất vô cơ và chất hữu
cơ bền vững.
5.3.3. Mối nguy hại do khí (xem thêm
5.2.2)
Hầu như không có mối nguy hại do khí ở
vùng đất nông nghiệp. Trong một vài trường hợp có thể có sunfua hydro từ đất
lầy bị xáo trộn do lấy mẫu hoặc khi dùng bùn xấu mới đưa lên khu vực. Mối nguy
hại có thể xảy ra trên đất nông nghiệp nếu đất này mới khai thác trên nền đất
cũ hoặc có các hố chôn xác súc vật chưa phân hủy hoàn toàn.
5.3.4. Mối nguy hại do
sinh học (vi khuẩn và virus) (xem thêm 5.2.3)
Đưa bùn cống thải và xác súc vật vào đất
nông nghiệp có thể tạo
nên rất nhiều vi khuẩn. Dùng bùn đã xử lý làm giảm lượng vi khuẩn gây bệnh rất
nhiều so với bùn chưa xử lý. Tuy nhiên, nếu dùng bùn chưa xử lý thì vi khuẩn và
virus gây bệnh tạo nên mối nguy hại rất nghiêm trọng cho người lấy mẫu, nhất là
lúc đang xử lý. Không nên vào vùng đang phun aerosol. Rủi ro do bùn cống thải
gây ra nói chung sẽ giảm rõ rệt sau 10 tháng dùng.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các nguy hại tiềm ẩn khác cũng gồm cả
bệnh than và các bệnh truyền nhiễm từ động vật. Các nguy hại này có thể
gặp phải nhất là khi chôn xác súc vật hoặc xử lý da súc vật.
5.3.5. Mối nguy hại do phóng
xạ
(xem thêm 5.2.4)
Nguy mối hại do phóng xạ thường chỉ tổn tại
khi có bụi phóng xạ, hoặc do tai nạn hoặc đến gần thiết bị hạt nhân. Trong những
trường hợp này, mối nguy hại là rõ ràng và do vậy cần phải đề phòng.
5.3.6 Mối nguy hại
do địa hình
Nguy hại thay đổi theo bản chất địa
hình, đất cày hoặc đất không bằng
phẳng sẽ xuất hiện
các rủi ro nếu
không chú ý khi đi ngang qua. Trên đồng cỏ cần chú ý hang thỏ (và hang các động
vật khác) nhất là những nơi có cây cối mọc cao và rậm rạp che kín không nhìn thấy
mặt đất, các hang hóc và chỗ lõm bị che khuất.
Những vùng đất mềm do chứa
nước có thể là mối nguy hại nghiêm trọng nhất là khi bị thực vật che phủ.
5.3.7. Mối nguy hại do máy
móc
(xem thêm 5.2.6)
Trong đa số trường hợp lấy mẫu cho mục
đích nông nghiệp đều dùng khoan
tay để lấy mẫu ở độ sâu khoảng 250 mm, hoặc dùng khoan máy hoặc đầu dò đặt trên
xe hoặc xe kéo.
Sử dụng khoan tay ở độ sâu 250 mm thường
không nguy hiểm.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
5.3.8. Mối nguy hại do vật
nuôi
Những người nghiên cứu đất nông nghiệp
trước tiên cần đi đến địa điểm điều tra nghiên cứu. Để tiếp cận với điểm lấy mẫu,
cần lùa vật
nuôi khỏi nơi làm việc.
5.4. Những mối nguy hại
đặc thù khi điều tra nghiên cứu ô nhiễm
5.4.1. Khái quát
Trước khi đến khảo sát vị trí lấy mẫu,
cần nghiên cứu
tài liệu. Những nghiên cứu này sẽ cung cấp một vài hướng dẫn về mối nguy hại do
hóa chất, vật lý và sinh học có thể tồn tại, tạo thuận lợi cho việc đánh giá vấn đề
tồn tại và những biện pháp phòng ngừa thích hợp.
5.4.2. Mối nguy hại do hóa
chất
(xem thêm 5.2.1)
Cần biết người sử dụng địa điểm trước
đây để có vài chỉ báo về hóa chất đã có cũng như các chỉ báo về các nguy hại cụ
thể. Nguy hại ở những vùng
như vậy luôn lớn hơn ở những vùng chưa phát triển vì các hóa chất và vật liệu bị
nhiễm bẩn đã có từ trước. Nguy hại sẽ tăng lên khi địa điểm này đã được dùng để
điều chế hóa chất hoặc dùng để đổ chất thải. Những địa điểm như vậy gồm công việc
về khí, sản xuất
hóa chất, phân bón, dược phẩm, hóa chất bảo vệ thực vật hoặc những nơi đã dùng
để đổ chất thải nguy hại. Cần lưu ý rằng mọi vùng công nghiệp ít nhiều đều dùng
đến hóa chất mà đa số là chất độc hại.
5.4.3. Mối nguy hại do khí (xem thêm
5.2.2)
Nhiều khí độc bao gồm cả hydro sunfua và
hydro xyanua có thể tồn tại ở những nơi bị nhiễm bẩn do những người sử dụng
trước gây nên. Những khí này có thể được thoát ra khi đào phẫu diện và gây nguy
hại.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Cacbon dioxyt và cacbon monoxyt có thể
bị lưu giữ trong đất ở nơi đã hoặc
đang đốt nhiên liệu.
Thường không phải đi xuống phẫu diện để lấy
mẫu hoặc điều tra nghiên cứu.
nhưng nếu phải xuống đo trực tiếp thì cần chú ý để trong phẫu diện
không có khí độc hoặc thiếu
oxy.
Khi khoan, khí thoát ra từ
lỗ khoan được không khí pha loãng thường không đủ để gây nguy hại. Ở nơi có nồng độ dung môi cao cũng cần
đề phòng đặc biệt. Những người
làm việc ở gần lỗ khoan gặp rủi ro lớn nhất do hơi và khí độc thoát ra.
Ở những nơi nồng độ metan cao có thể gây cháy hoặc nổ
do tia lửa ở phẫu diện hoặc lỗ khoan hở. Trong các trường hợp này. sự pha loãng của không
khí có thể dẫn đến nồng độ mêtan đạt ngưỡng cháy nổ (5% đến 15% thể tích trong
không khí).
5.4.4. Mối nguy hại do sinh
học (vi khuẩn và virus) (xem thêm 5.2.3)
Rủi ro có thể do nhiễm uốn ván ở mọi nơi và
những rủi ro khác liên quan đến lai lịch sử dụng đất.
Khi điều tra nghiên cứu ở những vùng đất
bị lãng quên và nơi đổ chất thải, khả năng nhiễm khuẩn cao. Ở những địa điểm
cụ thể khác như lò mổ, nhà xác, nơi thuộc da, nơi chế tạo dược phẩm có thể xuất
hiện mối nguy hại do khả năng nhiễm khuẩn vào đất.
5.4.5. Mối nguy hại do phóng
xạ
(xem thêm 5.2.4)
Ngoài bụi phóng xạ như đã nêu ở 5.3.5,
những hoạt động công nghiệp từ trước có thể đã sử dụng chất phóng xạ. Việc sử dụng
hay khả năng sử dụng các chất phóng xạ từ trước phải được nghiên cứu tài liệu.
Việc sử dụng chất phóng xạ thường được kiểm soát chặt chẽ bởi cơ quan có thẩm
quyền thích hợp, chính cơ quan này sẽ cho lời khuyên về rủi ro phóng xạ tiềm ẩn ở những địa
điểm đặc biệt này.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Nhà cửa cũ, đặc biệt là nhà cửa công
nghiệp đã qua sử dụng, có thể gây nguy hại do tồn tại amiăng ở trạng thái tự do
sẵn sàng phát tán. Nguy hại tương tự cũng xuất hiện ở những đường ống cũ. Những công trình kiến
trúc có thể gây nguy hại nếu ở trong tình trạng đổ nát do những rung động tạo
ra khi điều tra nghiên cứu có thể gây đổ công trình. Những khoảng trống sinh ra do quá
trình tạo khí hoặc thùng chứa nhiên liệu dưới đất không được bảo dưỡng, làm
nắp yếu là các nguy cơ đối với người và xe cộ qua lại.
Những mạng lưới dịch vụ chính như khí, điện (gồm cả
các đường dây trên cao), chất đốt và nước (ở một mức độ nào đó) đều có thể gây
nguy hại vì chúng không
được ngắt hoàn toàn mặc dù các cơ quan có thẩm quyền đã khẳng định việc
ngắt này.
5.4.7. Mối nguy hại do địa
hình
Mối nguy hại do cấu trúc vật lý như lề đường hoặc nền
móng thường là rõ ràng nhưng nếu chúng bị che khuất bởi thực vật cũng gây nên
nguy hại. Hầm hố dưới đất không được lấp kín cũng gây nguy hại do vậy các nghiên cứu
tài liệu phải chỉ ra
được sự có mặt của các hầm
hố này từ người sử dụng trước. Hầm chứa nước bẩn (bị nhiễm bẩn) hoặc bể sắt thép hỏng là những mối nguy nại, nhất là khi phẫu diện
được đào ở những
nơi này.
Hầm hố có thể tạo nên do đốt nhiên liệu
dưới lòng đất hoặc
do nước bào mòn ở vài tầng đất.
Những vùng đất được san lấp thường không bền
vững.
Những hố chứa nước bị nhiễm bẩn như những
hố giữ khí trước đây cũng gây nên nguy hại.
5.4.8 Mối nguy hại
do máy móc
(xem thêm 5.2.6)
Nếu sử dụng khoan tay thì độ sâu đạt
được thường lớn hơn khi lấy mẫu ở đất nông nghiệp. Ở độ sâu này khiến cho người
vận hành căng thẳng hơn và nguy cơ bị bong gân cũng lớn hơn. Nếu dùng
khoan máy thì nguy cơ bị thương càng lớn hơn do gặp vật cản hay các vấn đề khác
nảy sinh khi khoan quá nhanh.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Nếu dùng máy để phá vật cản, các mảnh vỡ bay
ra có thể gây nguy hại cho mọi người trong khu vực.
Phẫu diện để lấy mẫu có thể gây nguy hại
do đất không bền vững và thành hố có thể đổ sập. Khi có nước ngầm hoặc đào vào
đất ướt có thể gây bắn tóe, nếu vào mắt thì rất nguy hiểm. Nếu nước ngầm bị nhiễm
bẩn do hắc ín hoặc hóa chất thì có thể gây nên thương tật vĩnh viễn.
Sử dụng máy để đào hay tạo lỗ khoan
giúp xuyên nhanh vào lòng đất. Nhưng nếu có các thiết bị công trình dưới đất
thì dễ gây tổn thất. Nếu trường hợp đó là các thiết bị cấp điện hoặc khí đốt có
thể gây hậu quả xấu. Tổn thất về đường ống nước chủ yếu gây khó khăn
cho người dùng nước mà không ảnh hưởng đến người điều tra nghiên cứu tại địa điểm.
Khi dùng máy móc trong điều tra nghiên
cứu, phải xem xét đến khả năng bom đạn còn sót lại từ thời chiến tranh và các
hoạt động quân sự và cần phải cẩn thận.
5.5. Mối nguy hại khi
điều tra nghiên cứu địa chất và địa kỹ thuật
5.5.1. Khái quát
Điều tra nghiên cứu địa chất và địa kỹ
thuật có thể thực hiện ở những địa điểm khác nhau có thể từ cánh đồng đến những
điểm công nghiệp bị bỏ hoang. Tham khảo thêm 5.3 và 5.4 cùng những điều dưới
đây.
5.5.2. Mối nguy hại do hóa
chất
(xem thêm 5.2.1)
Tùy theo bản chất của từng địa điểm,
mối nguy hại nêu ở 5.3.2 và
5.4.2 có thể được áp dụng cho những nơi nhiên cứu địa chất hoặc cho những
mục đích tương tự. Mối nguy hại này là do nồng độ của các chất độc.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Mối nguy hại có thể tồn tại trong các điều
tra nghiên cứu đất nông nghiệp và đất bị nhiễm bẩn và cũng có thể tồn tại ở các
điều tra nghiên cứu địa chất. Xem 5.3.3 và 5.4.3.
Điều tra nghiên cứu địa chất có thể
gồm cả xuống hầm sâu hoặc
hang của khu mỏ cũ hoặc
lối vào. Ở những nơi chật hẹp cần chú ý đặc biệt vì nồng độ của mêtan, cacbon
dioxyt và hydro sunfua là rất cao hoặc có thể thiếu oxy không khí.
5.5.4. Mối nguy hại do sinh
học (vi khuẩn và virus) (xem thêm 5.2.3)
Các mối nguy hại này được trình bày trong 5.3 4
và 5.4.4.
5.5.5 Mối nguy hại do
phóng xạ
Ngoài các mối nguy hại đã nêu ở 5.3.5
và 5.4.5, có thể các phóng xạ tự nhiên như khí (radon) hoặc từ đá (granit) gây
nguy hại cho người lấy mẫu nếu người lấy mẫu tiếp xúc với các chất này một số lần nhất
định. Sự tiếp xúc này sẽ trở nên nghiêm trọng nếu người lấy mẫu phải thường
xuyên làm việc trong không gian hạn chật hẹp như hầm dưới lòng đất hoặc hầm mỏ.
5.5.6. Mối nguy hại do địa
hình
(xem thêm 5.2.5)
Ngoài những mối nguy hại trên đất nông
nghiệp như đã nêu trong 5.3.6 và 5.4.7, ở những kết cấu không an toàn có thể xuất
hiện nguy hại nếu làm việc trong hầm, hầm lò hoặc lối vào. Trong những nơi này, cần
có đánh giá của các kỹ sư chuyên nghiệp
để xác định mức độ nguy hại. Làm việc ở nơi chật hẹp nguy cơ bị thương dễ xảy
ra.
5.5.7. Mối nguy hại do máy
móc
(xem thêm 5.5.3)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
6. Biện pháp phòng ngừa
về an toàn
6.1. Chính sách an
toàn
Mọi tổ chức liên quan đến điều tra
nghiên cứu và lấy mẫu phải có chính sách an toàn. Và những chính sách an toàn
này đặt ra những yêu cầu để làm việc an toàn. Gắn liền với chính sách an toàn
là điều kiện sử dụng người lao động. Chính sách an toàn phải
- Căn cứ vào luật pháp về các quy chế hiện
hành;
- Coi trọng người làm việc và phòng hộ cho
họ khỏi các mối nguy hại trong khi điều tra nghiên cứu và lấy mẫu;
- Tôn trọng yêu cầu và tuân thủ các quy
trình vận hành
chuẩn nếu có.
- Mô tả trách nhiệm của mỗi thành viên trong đội
điều tra nghiên cứu, kể cả trách nhiệm với mỗi hợp đồng phụ và với cộng đổng.
- Cấm hút thuốc, ăn uống trong khi lấy mẫu hoặc
khi làm các điều tra nghiên cứu khác.
- Chính sách phải được hỗ trợ bởi các quy
trình chuẩn đặt ra các quy định làm việc an toàn chung và ở những vị trí đặc biệt như những
nơi chật
hẹp.
Quy trình chuẩn này phải bao
gồm cung cấp và sử dụng quần
áo, thiết bị bảo
hộ, dùng số người
tối thiểu ở nơi lấy mẫu. Quy trình tiêu chuẩn cũng chỉ rõ các yêu cầu khi tiếp
xúc với cơ
sở cứu nạn
địa phương, phương pháp thông tin, phương pháp tẩy rửa và loại chất ô nhiễm
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Để đảm bảo an toàn cho người ở địa điểm
điều tra nghiên cứu và lấy mẫu, cần lập kế hoạch và quản lý an toàn. Kế hoạch
này đòi hỏi sự kết hợp giữa các biện pháp có thể bao gồm
- Đánh giá nguy hại tại địa điểm,
- Tránh mọi mối nguy hại nếu có,
- Lựa chọn phương pháp lấy mẫu luôn chú ý đến
an toàn,
- Cung cấp và sử dụng thiết bị bảo vệ cá nhân.
- Cung cấp thiết bị để phát hiện môi trường
nguy hại,
- Cung cấp những phương tiện cá nhân thích hợp,
- Cung cấp thiết bị và phương tiện loại ô nhiễm
cá nhân,
- Chỉ định người chịu trách nhiệm về việc thực
thi kế hoạch và các biện pháp an toàn,
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Lập thành văn bản các quy trình làm việc an
toàn,
- Hệ thống "cho phép làm việc",
- Cung cấp thông tin cho những người liên quan,
- Đào tạo,
- Cung cấp phương tiện sơ cứu,
- Lập kế hoạch và sử dụng quy trình cấp cứu
- Lắp đặt hệ thống báo hiệu "sự cố"
và các phóng xạ có thể có
- Giám sát sức khỏe
- Sự phù hợp với chính sách an toàn của công ty
(xem 6.1)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Một vài biện pháp bảo vệ, monitoring và kiểm
soát được trình bày trong bảng 1. Một số biện pháp này được trình bày chi tiết
trong 6.3.
Bảng 1 - Các
biện pháp đảm
bảo
sức khỏe và an toàn có thể cần thiết khi điều tra
nghiên cứu
Quần áo và
trang bị bảo hộ
Thiết bị
monitoring
Quy trình
an toàn
Quần áo, bốt, găng và mũ
Bảo vệ mắt
Bảo vệ tai
Mặt nạ và bộ lọc
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Dụng cụ an toàn và dây
Đèn pin
Dụng cụ dập lửa
Dụng cụ sơ
cứu
Monitor khí cầm tay
Detector khí tự động
Monitor cá nhân
Monitoring môi trường
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Hệ thống cho phép làm việc
Khai báo dịch vụ cấp cứu
Đến điện thoại
Thiết bị loại ô nhiễm cho cây cối
Thiết bị loại ô nhiễm cho người Quy trình lấy mẫu an toàn
Quy trình xử lý mẫu an toàn
Gọi xe cứu thương.
Trước khi tiến hành điều tra nghiên cứu
ở một địa điểm,
cần đánh giá mức
độ nguy hại ở nơi đó. Đánh giá này đặc biệt
quan trọng đối với khu công nghiệp cũ hoặc nơi đổ chất thải. Nếu làm quen địa
điểm là một phần của cuộc điều tra nghiên cứu thì đánh giá nguy hại phải được dựa
trên các kết quả đã được nghiên cứu tài liệu. Có thể hoàn thành đánh giá chỉ
khi điều tra nghiên cứu bước đầu đã xong và phải xem xét lại nếu tiếp tục điều
tra nghiên cứu. Nếu có nghi ngờ sự tồn tại hoặc có ô nhiễm thì phải dùng các trang
bị bảo hộ.
Phải tuân thủ luật pháp quốc gia và hệ
thống kiểm soát sức khỏe cho những người tiếp xúc với chất độc. Các
yêu cầu cụ thể có
thể khác nhau nhưng thường là
- Tránh tiếp xúc chất độc nếu có thể;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Nếu không, sử dụng trang bị bảo vệ cá nhân.
Có thể yêu cầu
- Cung cấp thông tin và đào tạo.
- Chương trình chăm sóc sức khỏe và
- Duy trì hồ sơ cá nhân về thời gian cá nhân tiếp
xúc với chất độc.
Nếu không có những yêu cầu chính thức,
những yêu cầu trên là cơ sở cho chính sách bảo vệ cá nhân khỏi các chất
độc hại.
6.3. Biện pháp phòng
ngừa an toàn liên quan đến các mối nguy hại đặc thù
6.3.1. Khái quát
Nhìn chung, biện pháp phòng ngừa an
toàn với mối nguy hại đặc thù không phụ thuộc vào loại và địa điểm đang tiến
hành điều tra nghiên cứu. Một số đề
phòng cần được nhấn mạnh hơn, ví dụ các chú ý liên quan đến máy móc phụ thuộc
vào kích thước của máy và bản chất máy sử dụng.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Ở những vùng còn sót lại đạn của chiến tranh,
khi đào phẫu diện phải quan sát kỹ và mời người có thẩm quyển tới địa điểm nếu
gập các sự cố bất thường
Đào bằng máy luôn phải quan sát kỹ ở những nơi có
hoặc không có công
trình ngầm dưới đất,
đào bằng tay là an toàn
hơn.
6.3.2 Hóa chất
Đề phòng với hóa chất để bảo vệ người điều tra
nghiên cứu người lấy mẫu hoặc những người khác có liên quan ở
nơi lấy mẫu, tránh tiếp xúc với hóa chất, ăn phải hay hít phải các chất ô nhiễm,
khói hoặc khí.
Trong hầu hết trường hợp lấy mẫu,
chân, tay là bộ phận tiếp xúc đầu tiên với nơi lấy mẫu, sau đó đến mặt. Phần còn
lại của cơ thể có thể tiếp xúc với địa điểm là do bị ngã hay bị bắn tóe.
Cần đi ủng an toàn với hóa chất để tránh tiếp
xúc với địa điểm. Không nên dùng ủng buộc dây vì có khả năng chất nhiễm bẩn thấm
vào chân nhất là trong điều kiện ẩm ướt.
Cần đi găng để tránh tiếp xúc tay với chất nhiễm
bẩn, mặc quần áo phù hợp làm giảm nguy cơ tiếp xúc của phần còn lại
của cơ thể. Găng tay phải bền, an toàn hóa chất và quần áo phải bằng vải bông dầy. Nếu có thể,
nên mặc quần áo không thấm.
Chú ý cẩn thận khi tháo găng để tránh bị nhiễm
bẩn mặt từ tay, nhưng khó tránh khỏi bị bắn vào mặt. Ở nơi dễ bị bắn
tóe, nhất là nơi có chất độc hại lỏng, ít nhất phải đeo kính bảo vệ mắt và tốt
nhất là bảo vệ cả khuôn mặt.
Khi làm việc ở vùng bị ở nhiễm do hóa
chất độc hại thì cần thiết phải bảo vệ mắt như dùng kính an toàn hoặc bảo vệ mặt.
Cần hết sức tránh hít hoặc ăn phải chất ô nhiễm
khi hút thuốc hoặc ăn uống và đảm bảo tốt tiêu chuẩn vệ sinh cá
nhân, kể cả rửa tay trước và sau khi đi vệ sinh, rửa tay và mặt trước khi ăn, uống hay
hút thuốc. Cấm hút
thuốc, ăn uống ngoại trừ ở những nơi đặc biệt. Hút thuốc, ăn, uống cũng bị cấm ở những nơi
nghi ngờ bị ô nhiễm.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Mặc quần áo bảo hộ được xem là biện pháp
chính để tránh phát tán ô nhiễm tại nơi điều tra nghiên cứu nhưng áo quần bảo hộ
sau đó phải được xử lý bằng các phương pháp thích hợp.
Mặc quần áo bảo hộ với một thiết bị cấp không
khí độc lập là cần thiết để bảo vệ người điều tra nghiên cứu khỏi tiếp
xúc với chất độc trong những trường hợp đặc biệt.
Mọi thiết bị, máy móc và lốp xe cần được làm sạch
đúng cách trước khi rời địa điểm bị nhiễm bẩn để ngăn ngừa phát tán ô
nhiễm.
6.3.3. Khí
Trong mọi trường hợp đều có sự pha
loãng của khí thoát ra.
Tuy vậy cần phải vận hành theo cách để giảm thiểu các khí thoát
ra. Mọi người phải đứng xuôi chiều gió sao cho không bị các khí thổi vào.
Nếu nghi ngờ có khí độc phải dùng thiết
bị monitor khí trước khi bắt đầu công việc để đảm bảo không có khí độc. Điều này đặc biệt
quan trọng ở những nơi chật
hẹp và nơi tiến hành công việc ở độ sâu từ 1 m đến 1,2 m dưới lòng đất, nhưng
trong bất kỳ trường hợp nào cũng phải thận trọng vì khí có thể được thoát ra hoặc
tạo ra trong quá trình điều tra nghiên cứu.
Nếu phải làm việc dưới lòng đất hoặc ở
nơi kín, cần thăm dò khí cháy,
khí độc và hàm lượng oxy trước khi tiếp cận lấy mẫu và cần duy trì monitoring
trong suốt quá trình làm việc. Chỉ những người được đào tạo mới được thực hiện
những công việc như vậy. Trong những hoàn cảnh như thế, phải chuẩn bị phương
pháp rút lui an toàn và cấp cứu trước khi công việc bắt đầu. Những người ở
ngoài địa điểm làm việc cần biết báo động và tiến hành cấp cứu, sử dụng quần áo
bảo hộ và máy thở. Những người không được bảo hộ thì không được vào cấp cứu (nếu
không số người tử vong sẽ tăng lên).
Ở nơi có nguy cơ khí hay hơi cháy, thiết bị
monitoring sử dụng phải có cấu tạo an toàn.
Trong một vài trường hợp, cần thiết phải
cấp nguồn không khí độc lập từ bên ngoài để thở, ví dụ dùng máy thở. Tuy nhiên
người sử dụng phải được hướng dẫn cụ thể và được đào tạo trước khi sử dụng.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Người làm việc với máy cần đứng ở vị
trí mà họ không hít phải khói xả.
6.3.4. Mối nguy hại do sinh
học
(vi khuẩn và virus)
Những đề phòng liên quan đến nguy hại
hóa chất (6.3.2) cũng tương tự như mối nguy hại do vi khuẩn. Tuy nhiên, cần đề
phòng khả năng bị nhiễm bệnh vàng da (bệnh Weil) do tiếp xúc với nước bị nhiễm
bẩn do nước giải của chuột (xem 4.2). Trong tình huống đó cần mặc quần áo không
thấm nước.
Cần tiêm phòng thương hàn, viêm gan, uốn ván
cho những người điều tra nghiên cứu.
6.3.5. Mối nguy hại do phóng
xạ
Ở những nơi có thể có mối nguy hại do phóng xạ,
tối thiểu phải đeo dụng cụ monitoring liều nhiễm, tốt hơn nên mang theo thiết bị đo phóng xạ của các cơ quan có thẩm quvền cung cấp. Nếu phải làm việc thường xuyên dưới đất có
hoạt độ radon đáng kể thì cần có chỉ dẫn của chuyên gia.
6.3.6 Địa hình
Những mối nguy hại do địa hình là rõ
ràng nên cần quan sát xem nên đặt chân vào chỗ nào. Tuy vậy, người điều tra
nghiên cứu hoặc lấy mẫu cần được cảnh bảo về những vùng đất lạ và phải hết sức
cẩn thận khi đi trên vùng đất này.
Cần chú ý đề phòng khi tiến hành điều tra nghiên cứu
ở vùng đất không bền vững, có
thể sập đổ đột ngột, hầm hoặc những chướng
ngại vật. Và đặc
biệt
chú ý ở những nơi mặt
đất bị cây cối mọc che phủ. Trong những trường hợp đó nên đốn cây và
kiểm tra nền đất trước khi đi qua, đặc biệt là khi dùng máy nặng.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Không được chạy ở nơi điều tra
nghiên cứu.
Cần chú ý đặc biệt khi làm việc ở gần vực nước
như sông, hồ, bến cảng,...
Nếu cần lấy mẫu nước, địa điểm lấy mẫu phải được
an toàn, nếu cần thì căng dây để phòng người lấy mẫu bị ngã xuống nước.
Không nên đào giếng thử ở nơi đất
không vững, dễ sụp đổ. Những nơi
này có thể không nhận thấy được từ trên mặt đất. Thành giếng thử phải được kiểm
tra mọi phía để đảm bảo đất là vững chắc, không bị sụp trước khi đến gần.
Khi cần, phải chống đỡ thành giếng
thử. Phải luôn chống đỡ thành giếng nếu như có người xuống hố đào sâu hơn 1 m đến
1,2 m.
Phẫu diện có người xuống cần được chống
đỡ do người có chuyên môn thực hiện.
Giếng thử cần lấp càng sớm càng tốt và
không được để ngỏ qua đêm. Nếu không thể lấp hố ngay thì phải rào bảo vệ để
tránh nguy hiểm.
Các hố đào, hầm lò và lối vào
cần có kỹ sư chuyên
môn đánh giá mức ổn định của thành và trần trước khi tiến hành công việc. Khi
làm việc ở những nơi này, trần thường thấp, do vậy phải đội mũ bảo hiểm.
6.3.7. Máy móc
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Đi ủng có bao ngón chân bằng thép, đội
mũ bảo hiểm khi cần sẽ giảm được
nguy hại. Cần hết sức chú
ý khi vận hành máy móc đảm bảo nền đặt máy là vững chắc và người điều khiển có
thể nhìn được: máy đang làm gì và những người khác trong khu vực đang làm gì.
Người làm việc phải luôn đảm bảo cho người điều khiển máy nhìn thấy họ trước
khi lấy mẫu, đo chiều sâu hoặc thực hiện bất kỳ quan sát nào khác.
Khi dùng khoan tay nhất là ở những độ sâu lớn,
cần đảm bảo để có thể không bị căng thẳng. Khi dùng khoan máy, không nên
bức bách khi khoan hoặc để khoan ở tốc độ quá nhanh để giảm nguy cơ xảy ra tai
nạn do vật cản hoặc do thay đổi chuyển động của máy.
Khi vận hành có thể tạo ra những mảnh
vỡ, phải đeo kính bảo vệ mắt.
Khi vận hành máy, có thể tạo
tiếng ổn hoặc máy phát ra tiếng ồn, phải đeo dụng cụ bảo vệ tai.
Ở những vùng đất có nước, có khả năng gây bắn chất ô nhiễm, người lấy mẫu cần đứng cách
xa một khoảng hoặc
phải được bảo hộ để không bị bắn vào người.
Đặc biệt chú ý bảo vệ mắt và mặt.
Khi dùng máy chạy bằng động cơ đốt
trong, cần lưu ý vị trí đứng để không hít phải khói xả.
Khi làm việc với máy chạy điện, điều
cơ bản là thiết bị phải trong các điều kiện an toàn điện và vận hành ở điện thế
thấp (tham khảo các yêu cầu an toàn
quốc gia). Khi có rủi
ro
về khí hoặc khói cháy, phải dùng các thiết bị an toàn.
Cần chú ý khi di chuvển máy lần đầu trên nền
đất, nền đất xốp sẽ sụp đổ dưới trọng lượng của máy. Đối với vùng đất điều
tra nghiên cứu có nhiều cây cối cần kiểm tra đường đi của máy trước khi chuyển
máy đến địa điểm điều tra nghiên cứu, không di chuyển máy qua chỗ đất mềm, có hầm
hố.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Ở những địa điểm có dây điện căng trên
không, mọi điều tra nghiên cứu phải được giữ ở một khoảng cách an toàn tối đường
điện, cần hết sức chú ý khi dùng sào quan sát, máy móc có chiều cao như máy
đào, máy khoan.
Nếu cần thì đánh dấu những vùng an
toàn lân cận với đường điện bằng bảng cảnh báo nguy hiểm sáng màu, hoặc bằng
các phương tiện thích hợp khác.
6.4. Các biện pháp an
toàn
6.4.1. Khái quát
Mỗi điểm cần được nghiên cứu trước khi
tới khảo sát và
các biện pháp an toàn cần được trù định. Trường hợp điều tra nghiên cứu đất
nông nghiệp, sự thay đổi dường như rất ít giữa điểm này với điểm khác. Khi điều
tra nghiên cứu trên đất bị nhiễm bẩn, mặc dầu những yêu cầu chung vẫn được
giữ, nhưng vẫn cần có những chú ý đặc biệt hoặc những áp dụng chính xác hơn do
tính đặc thù của địa điểm.
Đa số các trường hợp, tối thiểu cần
hai người trên một địa điểm vì cần liên lạc với bên ngoài. Nếu chỉ có một người ở địa điểm. Ví dụ cho các mục đích
nông nghiệp, phải thiết lập hệ
thống báo cáo để đảm bảo an toàn cho người đó.
Khi công việc lấy mẫu đã hoàn tất, cần
phải tháo bỏ cẩn thận quần áo bảo hộ và gấp lại để tránh phát tán chất ô nhiễm. Nếu
cần làm sạch áo quần, phải gửi đến người làm sạch chuyên nghiệp và ghi lại các chú thích về mọi
ô nhiễm nguy hại có thể xảy ra. Trong mọi trường hợp, áo quần và
những trang bị bảo hộ khác không được mang về nhà để giặt và làm sạch.
Cần rửa mặt và tay và trước khi rời khỏi vị trí.
Dụng cụ lấy mẫu cần được làm sạch
để tránh lan rộng các chất ô nhiễm. Mẫu gửi đi phải được gắn nhãn thích hợp, đảm bảo
không có chất ô nhiễm ở ngoài thùng chứa. Nếu đã biết hoặc nghi ngờ có chất ô nhiễm đặc biệt
nguy hiểm, phải có ghi chú riêng trên nhãn để cảnh báo cho phòng
thí nghiệm hoặc người nhận mẫu. Phương
pháp gửi mẫu phải đảm
bảo cho mẫu đến
được nơi nhận mà không có vương vãi chất ô nhiễm.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
6.4.2. An toàn trên đất nông
nghiệp (xem
thêm 6.3)
Cần mang ủng an toàn chắc chắn, đi
găng và mặc quần áo bảo hộ thích hợp. Nếu sử dụng máy lấy mẫu, cần mang ủng có
bọc ngón bằng thép.
Phải chú ý những cánh đồng đã cày và
những khu vực có cây cao che phủ.
Phải đặc biệt chú ý khi làm việc cạnh
nơi có nước như sông, suối, hồ, ao và gần nơi để bùn hoặc phân bón nếu dùng máy để lấy
mẫu. Hết sức chú ý nếu biết hoặc nghi ngờ đất mới xử lý bằng hóa chất hoặc vài
nơi có thể gây
nguy hại.
Cần phải thông báo những nơi nuôi súc
vật và nếu cần chuyển chúng đi nơi khác trước khi bắt đầu công việc.
6.4.3. An toàn ở nơi bị ô
nhiễm
(xem thêm 6.3)
6.4.3.1. Điều tra nghiên cứu
bước đầu hoặc làm quen địa điểm
Cần mang ủng bền, an toàn với hóa chất,
đi găng và mặc quần áo bảo hộ. Nếu đất đã bị xáo trộn nên mang thiết bị thích hợp
và phụ kiện làm sạch cần thiết.
Phải thu thập một số thông tin về địa
điểm, một vài chỉ dẫn về khả năng tồn tại những hóa chất nguy hại và những mối
nguy hại vật lý từ những người đã sử dụng trước (ví dụ hầm hố dưới đất)
trước khi đến lần đầu.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Ở những nơi bị nhiễm bẩn nặng, tốt nhất nên
quan sát trước bằng ống nhòm hoặc camera video.
6.4.3.2. Địa điểm điều tra nghiên cứu
Ở những vùng bị nhiễm bẩn nặng, cần có một vị
trí sạch đã chọn và khi ra vào điểm này cần dùng một thiết bị loại ô nhiễm.
Nghiêm cấm ăn, uống, hút thuốc ở vị trí này.
Cần mang ủng dày và an toàn với hóa chất cùng với
găng và quần áo thích hợp. Nếu sử dụng máy thì ủng phải có bọc ngón chân bằng
thép và cần đội mũ bảo hiểm.
Những nghiên cứu tài liệu và khảo sát
địa điểm nghiên cứu lần đầu cần chỉ rõ:
a) Khả năng tồn tại hầm ngầm, hố và các bể chứa
dưới đất;
b) Vị trí của hầm hố và bể chứa dưới đất,
c) Sự tồn tại và vị trí các thiết bị dưới
đất,
d) Vị trí các tòa nhà không an toàn;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Cần tránh làm hỏng các công trình thiết
bị ngầm, nếu cần phải đào bằng tay. Thậm chí khi có thông tin về các thiết bị
đã được tắt nhưng vẫn phải chú ý đề phòng, đặc biệt là thiết bị điện.
Trước khi bắt đầu điều tra nghiên cứu,
cần phải biết chắc chắn có thể vào được hầm ngầm và thành các hố đào đã được chống
đỡ. Ngoài ra cũng cần đề phòng
chú ý đến trang bị an toàn và máy thở. Nếu trong quá trình làm việc cần phải đi xuống
hầm thì phải tiến
hành các biện pháp đề phòng chú ý bảo vệ người điều tra nghiên cứu vì có thể phải trở
lại địa điểm vào dịp khác.
Cần có nhà tắm và nhà vệ sinh cho mọi
người cũng như chỗ ăn uống ở xa nơi ô nhiễm. Đối với những điểm điều tra nghiên cứu
nhỏ, cần có chậu nhỏ, xà phòng, nước, khăn lau và để xa địa điểm ăn. Đối với những
điểm điều tra nghiên cứu lớn cần có nhà ăn tập thể và thiết bị loại ô nhiễm.
Phải làm sạch thiết bị lấy mẫu tại chỗ
hoặc phủ thiết bị lại sao cho ô nhiễm không phát tán khi vận chuyển thiết bị đến
nơi tẩy rửa.
Bánh xe phải được rửa mỗi khi rời khỏi địa điểm,
đồng thời mọi hoạt động cũng được tiến hành để giảm thiểu khả năng truyền chất
nhiễm bẩn sang xe và bánh xe. Cần hạn chế tối thiểu xe cộ đến địa điểm.
6.4.4. An toàn khi điều tra
nghiên cứu địa chất (xem thêm 6.3)
Những quy định trong 6.4.2 và 6.4.3
cũng áp dụng cho điều tra nghiên cứu địa chất. Mối nguy hại và chú ý an toàn
tăng lên nếu công việc thực hiện duới lòng đất ở những nơi như các hầm, hầm lò
và lối vào.
Khi điều tra nghiên cứu dưới hầm, phải
chú ý đánh giá địa điểm lần đầu và kiểm tra độ bền cấu trúc do kỹ sư đảm nhiệm.
Phải đội mũ bảo hiểm và tiến hành monitoring không khí để kiểm tra hàm lượng
oxy và sự có mặt của khí độc.
Cần có phương tiện thông tin với mặt đất
cũng như hệ thống kiểm tra xem người đó đã lên mặt đất chưa.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
6.5. Trang bị an toàn
Bảng danh mục sau đây đưa ra hướng dẫn
về những trang bị cần cho nơi điều tra nghiên cứu và lấy mẫu an toàn. Những
trang bị này có thể có những thay đổi theo quy định của luật pháp hoặc yêu cầu
năng lực của địa phương.
Mặc dầu những trang bị an toàn nhất được
cung cấp và sử dụng
nhưng tính hiệu quả của nó có thể không còn do
thiếu cẩn thận hoặc vô ý của người
dùng. Tính an toàn khi lấy mẫu hoặc điều tra nghiên cứu cuối cùng là phụ thuộc
vào từng cá nhân. Điều cơ bản là những người liên quan phải nhận thức và hiểu được mối
nguy hại, và phải được
đào tạo cẩn thận để giảm thiểu mọi rủi ro. Danh mục gồm có:
- Ủng an toàn và bền với hóa chất (không
buộc dây) có bao ngón chân và bàn chân bằng thép;
- Găng (dày và an toàn với hóa chất);
- Quần áo bảo hộ (không thấm nước nếu cần);
- Bảo vệ mắt như kính, mặt nạ che mặt;
- Bảo vệ tai;
- Mũ bảo hiểm;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Dụng cụ làm việc an toàn;
- Máy thở và bộ phận vận hành;
- Nhà tắm và nhà vệ sinh (có thể thay đổi tùy
theo khả năng cung cấp, từ nước, xà
phòng và khăn cho thanh tra địa điểm tới thiết bị loại ô nhiễm hoàn toàn cho điều
tra nghiên cứu ở địa điểm công nghiệp cũ, ví dụ hóa chất);
- Thiết bị monitor khí;
- Thiết bị monitor phóng xạ;
- Monitor/detector thiết bị dưới đất;
- Điện thoại;
- Địa điểm ăn nghỉ;
- Thiết bị rửa xe để tránh mang chất ô nhiễm đến nơi khác.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
6.6. An toàn môi trường
chung
Mọi điều tra nghiên cứu lấy mẫu đều ít
nhiều ảnh huởng đến sự xáo trộn đất. Khi điều tra nghiên cứu trên đất nông nghiệp,
sự xáo trộn là rất nhỏ và hầu như không gây nguy hại cho môi trường. Trong những
trường hợp này, không cần những chú ý đặc biệt
để bảo vệ môi trường nói chung ngoài những biện pháp phòng ngừa đã nêu liên
quan đến sự phát tán chất nhiễm bẩn do áo quần hoặc từ ngoài thùng chứa mẫu.
Tuy vậy, việc kiểm tra những điểm nghi
ngờ bị nhiễm bẩn có thể gây nên một số rủi ro cho môi trường.
Mối nguy hại do phát tán ô nhiễm từ áo
quần, mẫu, máy móc và xe cộ đã được trình bày ở 6.3.2.
Điều tra nghiên cứu ở những nơi như vậy
dẫn đến kết quả là vật liệu bị nhiễm bẩn được đưa lên mặt đất và gây xáo trộn ở tầng đất sâu
cùng với sự khoan phá bề mặt đất.
Khi khoan tạo ra lượng đất đưa lên là
nhỏ và không gây nhiễm bẩn ở ngoài địa điểm. Những lượng đất như vậy cần gom lại và
để ở nơi thích hợp cho đến khi hoàn thành việc điều tra nghiên cứu.
Vật liệu được để trên mặt đất có thể
gây nguy hại cho môi trường do sự bốc mùi hoặc hơi. Mối nguy hại này rất khó kiểm
soát và chỉ có thể giảm thiểu bằng cách lấy mẫu nhanh và lấp phẫu diện ngay.
Khi lấp phẫu diện, mọi vật liệu nghi
ngờ phải được chôn sâu dưới đất, và nếu cần thì trải trên mặt phẫu diện một lớp
vật liệu sạch, hoặc tiến hành những biện pháp khác để không còn chất ô nhiễm
trên mặt đất khi đã hoàn thành điều tra nghiên cứu.
Các quy định địa phương có thể yêu cầu mang những
vật liệu nghi ngờ đi xa và lấp
phẫu diện lại bằng vật liệu sạch.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Nếu bề mặt đã bị ô nhiễm trước khi điều
tra nghiên cứu và gây ra các vấn đề môi trường cho động vật và chim và có thể
phát tán bụi, thì ngoài việc tiến hành các biện pháp phòng ngừa để giảm thiểu sự
xáo trộn và phát tán trong khi điều tra nghiên cứu, cần thông báo cho chủ đất
để thực hiện các biện pháp ngăn ngừa.
Khi tiến hành điều tra nghiên cứu ở
vùng đất bị nhiễm bẩn nặng, chỉ nên dùng kỹ thuật khoan lỗ hay kỹ thuật đầu dò mà không
đào lên, vì như vậy
sẽ giảm thiểu được sự xáo trộn và phát tán ô nhiễm.
Sự phát tán có thể tăng lên ở những nơi chất
ô nhiễm nằm dưới
lớp “không thấm nước" như đá răm trộn hắc ín hoặc bê tông. Nếu những lớp
đó bị chọc thủng và vật liệu "không thấm” không được đặt lại thì nước mưa
sẽ thấm qua gây ra sự “ngâm chiết” và phát tán ô nhiễm vào trong đất và nước ngầm.
Trong trường hợp đó thì phẫu diện cần được tráng lại bằng lớp phủ vật liệu
không thấm nước thích hợp và cần phải duy trì đến khi hố được hàn kín.
Khi tầng đất sét bị chọc thủng do đào
hoặc khoan sẽ tạo ra con đường làm tăng phát tán ô nhiễm, ví dụ thấm vào nước
ngầm. Trong trường hợp này, cần tránh phá vỡ những tầng đất bảo vệ như vậy. Khi
dùng khoan, có thể khoan thủng lớp đất không thấm rồi chèn vào đó
một nút bêtonít hoặc vật liệu tương tự, sau đó khoan lỗ có đường kính nhỏ hơn tới
độ sâu đã định. Bằng cách này ngăn cản được phát tán ô nhiễm.
THƯ MỤC TÀI
LIỆU THAM KHẢO
[1] TCVN 6663-1: 2002 (ISO 5667-1) Chất lượng
nước - Lấy mẫu. Phần 1: Hướng dẫn lập chương trình lấy mẫu.
[2] TCVN 5992: 1995 (ISO 5667-2) Chất lượng
nước - Lấy mẫu. Hướng dẫn kỹ thuật lấy mẫu.
[3] TCVN 5993: 1995 (ISO 5667-3) Chất lượng
nước - Lấy mẫu. Hướng dẫn bảo quản và xử lý mẫu.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[5] TCVN 5996: 1995 (ISO 5667-6) Chất lượng
nước - Lấy mẫu. Hướng dẫn lấy mẫu ở sông và suối.
[6] TCVN ISO 9000: 2000 (ISO 9000: 2000) Hệ
thống quản lý chất lượng - Cơ sở và từ vựng.
[7] TCVN 5960 : 1995 (ISO 10381-6: 1993)
Hướng dẫn về thu thập, vận chuyển và lưu giữ mẫu đất để đánh giá các quá trình
hoạt động của vi sinh vật hiếu khí tại phòng thí nghiệm.
[8] TCVN 6495-1: 1999 (ISO 11074-1) Chất
lượng đất - Từ vựng. Phần 1: Thuật ngữ
và định nghĩa liên quan đến bảo vệ và ô nhiễm đất.
[9] TCVN 6495-2: 2001 (ISO 11074-2) Chất
lượng đất - Từ vựng. Phần 2: Thuật ngữ và định nghĩa liên quan đến lấy mẫu.
[10] TCVN 6857 : 2000 (ISO 11259) Chất lượng
đất - Phương pháp đơn giản để mô tả đất.