THÔNG TƯ
SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA THÔNG TƯ SỐ
85/2020/TT-BCA NGÀY 03 THÁNG 8 NĂM 2020 CỦA BỘ TRƯỞNG BỘ CÔNG AN QUY ĐỊNH VIỆC
TIẾP NHẬN, XỬ LÝ, GIẢI QUYẾT TỐ CÁO VÀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT TỐ CÁO TRONG
CÔNG AN NHÂN DÂN; THÔNG TƯ SỐ 145/2020/TT-BCA NGÀY 29 THÁNG 12 NĂM 2020 CỦA BỘ
TRƯỞNG BỘ CÔNG AN QUY ĐỊNH THẨM QUYỀN, TRÌNH TỰ, THỦ TỤC, BIỆN PHÁP BẢO VỆ TÍNH
MẠNG, SỨC KHỎE, TÀI SẢN, DANH DỰ, NHÂN PHẨM CỦA NGƯỜI TỐ CÁO VỀ HÀNH VI THAM
NHŨNG, LÃNG PHÍ; THÔNG TƯ SỐ 98/2021/TT-BCA NGÀY 20 THÁNG 10 NĂM 2021 CỦA BỘ
TRƯỞNG BỘ CÔNG AN QUY ĐỊNH VỀ CÔNG TÁC TIẾP CÔNG DÂN ĐẾN KHIẾU NẠI, TỐ CÁO, KIẾN
NGHỊ, PHẢN ÁNH TRONG CÔNG AN NHÂN DÂN; THÔNG TƯ
SỐ 19/2022/TT-BCA NGÀY 29 THÁNG 4 NĂM 2022 CỦA BỘ TRƯỞNG BỘ CÔNG AN QUY ĐỊNH VIỆC
TIẾP NHẬN, PHÂN LOẠI, XỬ LÝ ĐƠN KHIẾU NẠI, ĐƠN KIẾN NGHỊ, PHẢN ÁNH TRONG CÔNG
AN NHÂN DÂN; THÔNG TƯ SỐ 23/2022/TT-BCA NGÀY 16 THÁNG 5 NĂM 2022 CỦA BỘ TRƯỞNG
BỘ CÔNG AN QUY ĐỊNH THẨM QUYỀN, TRÌNH TỰ, THỦ TỤC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TRONG
CÔNG AN NHÂN DÂN
Căn cứ Luật Khiếu nại số 02/2011/QH13;
Căn cứ Luật Tiếp công dân số 42/2013/QH13;
Căn cứ Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13;
Căn cứ Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số
99/2015/QH13;
Căn cứ Luật Tố cáo số 25/2018/QH14;
Căn cứ Luật Thi hành án hình sự số 41/2019/QH14;
Căn cứ Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng
hình sự số 02/2021/QH15; Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự số 99/2025/QH15;
Căn cứ Nghị định số 64/2014/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2014 của Chính
phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật
Tiếp công dân;
Căn cứ Nghị định số 22/2019/NĐ-CP ngày 25 tháng 02 năm 2019 của
Chính phủ quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo trong Công an nhân dân; Nghị
định số 224/2025/NĐ-CP ngày 14 tháng 8 năm
2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Điều 5 Nghị định số
22/2019/NĐ-CP ngày 25 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ quy định về tố cáo và
giải quyết tố cáo trong Công an nhân dân;
Căn cứ Nghị định số 124/2020/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2020 của
Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Khiếu nại;
Căn cứ Nghị định số
02/2025/NĐ-CP ngày 18 tháng 02 năm 2025 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an;
Căn cứ Nghị định số
11/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều
của Nghị định số 02/2022/NĐ-CP ngày 28/12/2022 của Chính phủ quy định chi tiết
một số điều của Luật Cảnh sát cơ động, Nghị định
số 06/2024/NĐ-CP ngày 15/11/2025 của Chính phủ quy định về chính sách đối với lực
lượng Cảnh vệ và công tác cảnh vệ, Nghị định số 02/2025/NĐ-CP ngày 18 tháng 02
năm 2025 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức
của Bộ Công an;
Theo đề nghị của Chánh
Thanh tra Bộ Công an;
Bộ trưởng Bộ Công an ban
hành Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 85/2020/TT-BCA ngày 03 tháng 8 năm 2020 của Bộ
trưởng Bộ Công an quy định việc tiếp nhận, xử lý, giải quyết tố cáo và quản lý
công tác giải quyết tố cáo trong Công an nhân dân; Thông tư số 145/2020/TT-BCA ngày 29 tháng 12 năm 2020 của Bộ
trưởng Bộ Công an quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục, biện pháp bảo vệ tính
mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người tố cáo về hành vi tham
nhũng, lãng phí; Thông tư số 98/2021/TT-BCA
ngày 20 tháng 10 năm 2021 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về công tác tiếp
công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trong Công an nhân dân;
Thông tư số 19/2022/TT-BCA ngày 29 tháng 4
năm 2022 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định việc tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn
khiếu nại, đơn kiến nghị, phản ánh trong Công an nhân dân; Thông tư số 23/2022/TT-BCA ngày 16 tháng 5 năm 2022 của Bộ
trưởng Bộ Công an quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại
trong Công an nhân dân.
Điều 1. Sửa
đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 85/2020/TT-BCA ngày 03 tháng 8 năm
2020 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định việc tiếp nhận, xử lý, giải quyết tố cáo
và quản lý công tác giải quyết tố cáo trong Công an nhân dân
1. Sửa đổi,
bổ sung khoản 1 Điều 4 như sau:
“1. Tố cáo của người nước
ngoài và việc giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức,
người nước ngoài tại Việt Nam thuộc thẩm quyền giải quyết của Công an nhân dân
được áp dụng theo quy định của Luật Tố cáo,
Nghị định số 31/2019/NĐ-CP ngày 10 tháng 4
năm 2019 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức thi
hành Luật Tố cáo (gọi tắt là Nghị định số 31/2019/NĐ-CP), Nghị định số 22/2019/NĐ-CP ngày 25 tháng 02 năm 2019 của
Chính phủ quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo trong Công an nhân dân (gọi tắt
là Nghị định số 22/2019/NĐ-CP) (được sửa đổi,
bổ sung năm 2025) và Thông tư này.”.
2. Sửa đổi,
bổ sung điểm b khoản 1 Điều 6 như
sau:
“b) Đối với tố cáo không thuộc
thẩm quyền giải quyết của mình, nhưng thuộc trách nhiệm giải quyết của Công an
nhân dân, thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được tố cáo, cơ
quan, đơn vị tiếp nhận tố cáo phải chuyển đến Thủ trưởng cơ quan, đơn vị Công
an có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại Điều 5 Nghị định số
22/2019/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung năm 2025) để xem xét, giải quyết; đồng
thời thông báo bằng văn bản cho người tố cáo và cơ quan thanh tra Công an cùng
cấp với cơ quan, đơn vị có thẩm quyền giải quyết tố cáo biết;”.
3. Sửa đổi,
bổ sung Điều 8 như sau:
“Điều 8. Thẩm quyền giải
quyết tố cáo
1. Thẩm quyền giải quyết tố
cáo hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, đơn vị, cán bộ, chiến sĩ Công an
trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ thực hiện theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 22/2019/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung năm
2025).
2. Khi xét thấy cần thiết, Bộ
trưởng Bộ Công an thụ lý, giải quyết tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp
dưới có nội dung tố cáo phức tạp, gây dư luận xấu trong xã hội, ảnh hưởng
nghiêm trọng đến uy tín của ngành Công an.”.
4. Sửa đổi,
bổ sung khoản 6 Điều 18 như
sau:
“6. Cơ quan An ninh điều tra,
Cơ quan Cảnh sát điều tra, cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam, cơ quan thi hành
án hình sự các cấp trong Công an nhân dân giúp Thủ trưởng cùng cấp thống nhất
quản lý về công tác giải quyết tố cáo thuộc lĩnh vực của mình. Hằng tháng, quý,
6 tháng, năm, Cơ quan An ninh điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra, cơ quan quản
lý tạm giữ, tạm giam, cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an có trách
nhiệm báo cáo kết quả giải quyết tố cáo lên Bộ trưởng và thông báo cho Thanh
tra Bộ Công an biết, theo dõi; Cơ quan An ninh điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều
tra, cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh có trách nhiệm giúp Thủ trưởng cùng cấp báo cáo kết quả giải quyết tố cáo
lên Thủ trưởng cấp trên trực tiếp (qua cơ quan Thanh tra cùng cấp với Thủ trưởng
cấp trên trực tiếp).”.
Điều 2. Sửa
đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 145/2020/TT-BCA ngày 29 tháng 12 năm
2020 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục, biện pháp
bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người tố cáo về
hành vi tham nhũng, lãng phí
1. Sửa đổi,
bổ sung điểm b, điểm c khoản 2 Điều 5 như sau:
“b) Người có thẩm quyền giải
quyết tố cáo quy định tại các khoản 3, 4, 5 Điều 13; khoản 2 Điều
14; khoản 2 Điều 15; khoản 2 Điều 17; Điều 18 và Điều 19 Luật
Tố cáo kịp thời đề nghị, yêu cầu áp dụng biện pháp bảo vệ đến Giám đốc Công
an cấp tỉnh. Khi nhận được đề nghị, yêu cầu bảo vệ, Giám đốc Công an cấp tỉnh
xem xét, quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ hoặc chỉ đạo Công an các đơn vị trực
thuộc có liên quan ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ;
c) Người có thẩm quyền giải
quyết tố cáo quy định tại Điều 21 Luật Tố cáo kịp thời đề
nghị, yêu cầu áp dụng biện pháp bảo vệ đến Trưởng Công an xã, phường, đặc khu
(sau đây gọi chung là Trưởng Công an cấp xã). Khi nhận được đề nghị, yêu cầu bảo
vệ, Trưởng Công an cấp xã xem xét, quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ. Trường
hợp có khó khăn, vướng mắc, Trưởng Công an cấp xã kịp thời báo cáo Giám đốc
Công an cấp tỉnh để chỉ đạo giải quyết;”.
2. Sửa đổi, bổ sung một số
khoản của Điều 7 như sau:
a) Sửa đổi,
bổ sung khoản 1 Điều 7 như
sau:
“1. Người có thẩm quyền giải
quyết tố cáo quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số
22/2019/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung năm 2025) khi nhận được văn bản đề nghị
áp dụng biện pháp bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của
người tố cáo về hành vi tham nhũng, lãng phí và xét thấy đề nghị bảo vệ là có
căn cứ, có tính xác thực hoặc trong quá trình giải quyết tố cáo thấy có căn cứ
quy định tại khoản 3 Điều 3 Thông tư này thì kịp thời quyết
định áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người được bảo vệ có địa chỉ nơi ở hoặc
nơi có tài sản trong phạm vi địa bàn thuộc thẩm quyền.
Trường hợp người được bảo vệ
có địa chỉ nơi ở hoặc nơi có tài sản ngoài địa bàn thuộc thẩm quyền thì người
có thẩm quyền giải quyết tố cáo quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị
định số 22/2019/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung năm 2025) đề nghị Trưởng Công
an cấp xã có liên quan quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ, đồng thời báo cáo
Giám đốc Công an cấp tỉnh để theo dõi, chỉ đạo.”;
b) Sửa đổi,
bổ sung khoản 3 Điều 7 như
sau:
“3. Người có thẩm quyền giải
quyết tố cáo quy định tại khoản 3 Điều 5 Nghị định số
22/2019/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung năm 2025) khi nhận được văn bản đề nghị
áp dụng biện pháp bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của
người tố cáo về hành vi tham nhũng, lãng phí và xét thấy đề nghị bảo vệ là có
căn cứ, có tính xác thực hoặc trong quá trình giải quyết tố cáo thấy có căn cứ
quy định tại khoản 3 Điều 3 Thông tư này thì kịp thời đề
nghị Trưởng Công an cấp xã có liên quan quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ.
Trường hợp người được bảo vệ
là phạm nhân tại trại giam, trại viên tại cơ sở giáo dục bắt buộc, trại viên tại
cơ sở cai nghiện bắt buộc, nhân viên Trung tâm an ninh hàng không quốc gia, học
sinh tại trường giáo dưỡng: khi nhận được văn bản đề nghị áp dụng biện pháp bảo
vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người tố cáo về hành vi
tham nhũng, lãng phí và xét thấy đề nghị bảo vệ là có căn cứ, có tính xác thực
hoặc trong quá trình giải quyết tố cáo thấy có căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 3 Thông tư này thì Giám thị trại giam, Giám đốc
cơ sở giáo dục bắt buộc, Trưởng cơ sở cai nghiện bắt buộc, Giám đốc Trung tâm
an ninh hàng không quốc gia, Hiệu trưởng trường giáo dưỡng kịp thời quyết định
áp dụng biện pháp bảo vệ.”;
c) Sửa đổi,
bổ sung khoản 4 Điều 7 như
sau:
“4. Người có thẩm quyền giải
quyết tố cáo quy định tại khoản 4 Điều 5 Nghị định số
22/2019/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung năm 2025) khi nhận được văn bản đề nghị
áp dụng biện pháp bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của
người tố cáo về hành vi tham nhũng, lãng phí và xét thấy đề nghị bảo vệ là có
căn cứ, có tính xác thực hoặc trong quá trình giải quyết tố cáo thấy có căn cứ
quy định tại khoản 3 Điều 3 Thông tư này thì kịp thời quyết
định áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người được bảo vệ có địa chỉ nơi ở hoặc
nơi có tài sản trong phạm vi địa bàn thuộc thẩm quyền hoặc chỉ đạo Trưởng Công
an cấp xã có liên quan quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ. Thanh tra Công an cấp
tỉnh có trách nhiệm tham mưu với Giám đốc Công an cấp tỉnh để chỉ đạo một đồng
chí Phó Trưởng Công an cấp xã, Phó Trưởng đồn Công an hoặc đơn vị, cá nhân khác
có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ trong trường hợp người bị tố
cáo là Trưởng Công an cấp xã, Trưởng đồn Công an.
Trường hợp người được bảo vệ
có địa chỉ nơi ở hoặc nơi có tài sản ngoài địa bàn thuộc thẩm quyền thì người
có thẩm quyền giải quyết tố cáo quy định tại khoản 4 Điều 5 Nghị
định số 22/2019/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung năm 2025) đề nghị Giám đốc
Công an cấp tỉnh có liên quan quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ.”.
Điều 3. Sửa
đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 98/2021/TT-BCA ngày 20 tháng 10 năm
2021 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về công tác tiếp công dân đến khiếu nại,
tố cáo, kiến nghị, phản ánh trong Công an nhân dân
1. Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 4 như sau:
“4. Công an xã, phường, đặc
khu (gọi chung là Công an cấp xã); đồn Công an bố trí địa điểm, bảo đảm cơ sở vật
chất, phương tiện cần thiết phục vụ việc tiếp công dân.”.
2. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 5 như sau:
“2. Các đơn vị thuộc cơ quan
Bộ nơi không có tổ chức thanh tra, đơn vị thuộc Công an cấp tỉnh, Công an cấp
xã, đồn Công an phải tổ chức trực ban theo quy định, khi có công dân đến khiếu
nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thì cán bộ trực ban phải báo cáo Thủ trưởng
cùng cấp cử cán bộ để tiếp công dân theo quy định.”.
3. Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 2 Điều 6 như sau:
“c) Thủ trưởng đơn vị có chức
năng quản lý nhà nước thuộc Công an cấp tỉnh có trụ sở độc lập định kỳ tiếp
công dân mỗi tháng ít nhất hai ngày tại địa điểm tiếp công dân của đơn vị
mình;”.
Điều 4. Sửa
đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 19/2022/TT-BCA ngày 29 tháng 4 năm
2022 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định việc tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn khiếu
nại, đơn kiến nghị, phản ánh trong Công an nhân dân
1. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 2 như sau:
“1. Các đơn vị thuộc cơ quan
Bộ; Công an tỉnh, thành phố; Công an xã, phường, đặc khu; đồn Công an (sau đây
gọi chung là Công an đơn vị, địa phương).”.
2. Sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 10 như sau:
“5. Đối với khiếu nại quyết định,
hành vi trái pháp luật trong thi hành án hình sự thì cán bộ xử lý đơn đề xuất
chuyển Thủ trưởng cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền xem xét, giải quyết theo
quy định tại các khoản 4, 5, 6 và 7 Điều 178 Luật Thi hành án
hình sự.”.
3. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 19 như sau:
“2. Cơ quan quản lý thi hành
án hình sự Bộ Công an, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh có trách
nhiệm giúp Thủ trưởng cơ quan, đơn vị Công an cùng cấp quản lý về công tác giải
quyết khiếu nại thuộc lĩnh vực thi hành án hình sự của đơn vị, địa phương.”.
Điều 5. Sửa
đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 23/2022/TT-BCA ngày 16 tháng 5 năm
2022 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết
khiếu nại trong Công an nhân dân
1. Sửa đổi, bổ sung một số
khoản của Điều 4 như sau:
a) Sửa đổi,
bổ sung khoản 1 Điều 4 như
sau:
“1. Trưởng Công an xã, phường,
đặc khu (sau đây gọi chung là Trưởng Công an cấp xã), Trưởng đồn Công an giải
quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của
mình và của cán bộ, chiến sĩ Công an do mình quản lý trực tiếp.”;
b) Sửa đổi,
bổ sung khoản 3 Điều 4 như
sau:
“3. Trưởng phòng và Thủ trưởng
đơn vị tương đương cấp phòng thuộc Công an tỉnh, thành phố; Giám thị trại giam,
Giám đốc cơ sở giáo dục bắt buộc, Hiệu trưởng trường giáo dưỡng, Giám đốc trung
tâm huấn luyện và bồi dưỡng nghiệp vụ thuộc Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ
sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng; Trưởng cơ sở cai nghiện bắt buộc; Giám
đốc Trung tâm an ninh hàng không quốc gia; Trung đoàn trưởng thuộc Bộ Tư lệnh cảnh
vệ; Giám đốc trung tâm huấn luyện và bồi dưỡng nghiệp vụ, Trung đoàn trưởng và
tương đương thuộc Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động giải quyết khiếu nại lần đầu đối
với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình và của cán bộ, chiến sĩ
Công an do mình quản lý trực tiếp.”;
c) Sửa đổi,
bổ sung khoản 4 Điều 4 như sau:
“4. Cục trưởng, Thủ trưởng
đơn vị tương đương cấp cục thuộc cơ quan Bộ Công an; Giám đốc Công an tỉnh,
thành phố giải quyết:
a) Khiếu nại lần đầu đối với
quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình và của cán bộ, chiến sĩ Công
an do mình quản lý trực tiếp, trừ khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết quy định
tại khoản 1 và khoản 3 Điều này;
b) Khiếu nại lần hai đối với
quyết định hành chính, hành vi hành chính mà Thủ trưởng cơ quan, đơn vị thuộc
quyền quản lý trực tiếp đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại
lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết.”.
2. Sửa đổi,
bổ sung điểm a khoản 1 Điều 5 như
sau:
“a) Trưởng phòng và Thủ trưởng
đơn vị tương đương cấp phòng thuộc Công an tỉnh, thành phố; Giám thị trại giam,
Giám đốc cơ sở giáo dục bắt buộc, Hiệu trưởng trường giáo dưỡng, Giám đốc trung
tâm huấn luyện và bồi dưỡng nghiệp vụ thuộc Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ
sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng; Trưởng cơ sở cai nghiện bắt buộc; Giám
đốc Trung tâm an ninh hàng không quốc gia; Trung đoàn trưởng thuộc Bộ Tư lệnh cảnh
vệ; Giám đốc trung tâm huấn luyện và bồi dưỡng nghiệp vụ, Trung đoàn trưởng và
tương đương thuộc Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động giải quyết khiếu nại lần đầu đối
với quyết định do mình ban hành;”.
Điều 6.
Bãi bỏ một số điều của Thông tư số 145/2020/TT-BCA ngày 29 tháng 12 năm 2020 của
Bộ trưởng Bộ Công an quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục, biện pháp bảo vệ
tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người tố cáo về hành vi
tham nhũng, lãng phí và Thông tư số 23/2022/TT-BCA ngày 16 tháng 5 năm 2022 của
Bộ trưởng Bộ Công an quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại
trong Công an nhân dân
1. Bãi bỏ khoản
2 Điều 7 Thông tư số 145/2020/TT-BCA ngày 29 tháng 12 năm 2020 của Bộ trưởng
Bộ Công an quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục, biện pháp bảo vệ tính mạng,
sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người tố cáo về hành vi tham nhũng,
lãng phí.
2. Bãi bỏ khoản
2 Điều 4 Thông tư số 23/2022/TT-BCA ngày 16 tháng 5 năm 2022 của Bộ trưởng
Bộ Công an quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại trong
Công an nhân dân.
Điều 7.
Điều khoản thi hành
Thông tư này có hiệu lực thi
hành kể từ ngày 29 tháng 8 năm 2025.
Điều 8.
Trách nhiệm tổ chức thực hiện
1. Thủ trưởng đơn vị thuộc cơ
quan Bộ Công an, Giám đốc Công an tỉnh, thành phố và các tổ chức, cá nhân có
liên quan chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này.
2. Thanh tra Bộ Công an có
trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc thực hiện Thông tư này.
Trong quá trình thực hiện, nếu
có khó khăn, vướng mắc, Công an đơn vị, địa phương, các tổ chức, cá nhân có
liên quan báo cáo về Bộ Công an (qua Thanh tra Bộ) để có hướng dẫn kịp thời./.
|
Nơi nhận:
- Thanh tra Chính phủ;
- Các đồng chí Thứ trưởng Bộ Công an;
- Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính Bộ Tư pháp;
- Các đơn vị thuộc cơ quan Bộ Công an;
- Công an tỉnh, thành phố;
- Cổng TTĐT Chính phủ, Cổng TTĐT Bộ Công an;
- Công báo;
- Lưu: VT, V03, X05 (P1).
|
BỘ TRƯỞNG
Đại tướng Lương Tam Quang
|